Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội. Trong Giáo trình Tiền lương – Tiền công PGS.TS Nguyễn Tiệp: Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với quy định tiền lương của Pháp luật lao động. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về tiền lương: là sự tự cam kết của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng và thực hiện hệ thống các quy định về Tiền lương, bằng các phương pháp quản lý thích hợp, công khai, minh bạch trên cơ sở tuân thủ pháp luật hiện hành nhằm kết hợp hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, nhu cầu của người lao động để đạt được mục tiêu phát triển bền vững
Trang 1KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
BỘ MÔN
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LAO ĐỘNG
Trang 2TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LAO ĐỘNG VỀ TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 4Tiền Lương của DN Ở
Trang 51/ Các khái niệm liên quan
- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo
vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội.
- Trong Giáo trình Tiền lương – Tiền công PGS.TS Nguyễn Tiệp: Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động
và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với quy định tiền lương của Pháp luật lao động.
PI: Cơ Sở Lý Luận Về TNXH của DN Trong Lĩnh Vực Tiền
Lương ở VN hiện nay.
Trang 6- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về tiền lương: là
sự tự cam kết của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng
và thực hiện hệ thống các quy định về Tiền lương, bằng các phương pháp quản lý thích hợp, công khai, minh bạch trên cơ sở tuân thủ pháp luật hiện hành nhằm kết hợp hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, nhu cầu của người lao động
để đạt được mục tiêu phát triển bền vững
Trang 72 Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp về vấn
đề Tiền lương theo Tiêu Chuẩn SA 8000:2008
8.1 Công ty phải tôn trọng quyền
của nhân viên được hưởng mức
lương đủ trang trải cuộc sống và
đảm bảo rằng nhân viên được trả
lương trong tuần làm việc bình
thường luôn đáp ứng được mức tối
thiểu theo luật định hoặc tổi thiểu
theo chuẩn của ngành công nghiệp
và phải đảm bảo đủ đáp ứng nhu
cầu cơ bản của nhân viên
8.2 Công ty phải đảm bảo rằng mọi khấu trừ lương không nhằm mục đích kỷ luật Trường hợp ngoại lệ được áp dụng đối với cả hai điều kiện sau đây:
a Khấu trừ lương nhằm mục đích kỷ luật được công nhận bởi pháp luật quốc gia b Tự do thương lượng thông qua thỏa ước lao động tập thể (có hiệu lực)
Trang 88.3 Công ty phải đảm bảo
cung cấp phiếu lương nêu chi
tiết và đầy đủ các khoản
lương và phụ cấp cho nhân
viên trong mỗi kỳ trả lương
Công ty phải đảm bảo rằng
lương và phụ cấp được chi trả
theo quy định của luật pháp
hiện hành và việc trả lương
8.5 Tổ chức không được gia hạn liên tục hợp đồng ngắn hạn đối với nhân viên, hoặc không có kế hoạch dạy nghề
cụ thể nhằm tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động theo luật pháp quốc gia, luật bảo hiểm xã hội và các quy định liên quan.
Trang 93 Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp về vấn
đề Tiền lương theo Bộ quy tắc ứng xử CoC 2014(Code of Conduct)
1 Nhà cung cấp và nhà máy phải trả mức lương thấp nhất cho người lao động (1) bằng mức lương tối thiểu theo luật qui định hoặc (2) bằng mức lương hiện hành đối với cùng loại hình công việc trong cùng ngành công nghiệp hoặc ngành công nghiệp tương tự với loại hình sở hữu giống như vậy trong cùng khu vực và phải đủ cho các nhu cầu cơ bản và chu cấp thêm các khoản tùy vào thiện chí của mình
2 Tất cả người lao động được cung cấp hợp đồng lao động soạn thảo rõ ràng về điều kiện lương và phương thức thanh toán trước khi kí kết
3 Không chấp nhận biện pháp trừ lương làm hình thức kỉ luật
4 Nhà cung cấp và nhà máy phải trả lương cho nhân viên cho những ngày phép và nghỉ lễ theo luật định áp dụng
5 Nhà cung cấp và nhà máy phải đảm bảo các phúc lợi cho người lao động ít nhất là các khoản bắt buộc theo luật áp dụng.
Trang 104 Nội dung Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp
về vấn đề Tiền lương ở Việt Nam hiện nay
+ Doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành của
nước sở tại trong vấn đề trả lương cho người lao động ( trả không thấp
hơn mức lương tối thiểu vùng hoặc ngành; không được khấu trừ lương
người lao động do kỷ luật; .) Doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện
trách nhiệm đối với người lao động trên cơ sở các quy định của luật lao
động, luật bảo hiểm xã hội Việc đảm bảo này phải được đề cập rõ trong
thỏa thuận hợp đồng lao động
+ Tiền lương trong doanh nghiệp phải đảm bảo tính công khai, minh
bạch, dễ tính, dễ hiểu;
+ Không được phân biệt đối xử khi trả lương;
+ Các quy định về tiền lương, phúc lợi và thu nhập sáng tạo khác phải
chi tiết rõ ràng, phải đáp ứng đủ nhu cầu cơ bản cho người lao động
Trang 115 Các nhân tố ảnh hưởng tới TNXH của DN về
Tiền lương ở VN hiện nay
Lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp
Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Lực lượng lao động
Cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức
xã hội Khách hàng, đối tác
Đối thủ cạnh tranh
Trang 126 Ý nghĩa của việc thực hiện TNXH của DN về Tiền lương trong lao động
- Tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt hiện nay
Trang 13- Vấn đề thù lao lao động sẽ được thực hiện tốt.
- Vấn đề an toàn và sức khỏe của người lao động được chú trọng.
=> Tạo ra môi trường làm việc an toàn, chế độ làm việc hợp lý.
Trang 14- Thoả mãn những yêu cầu cơ bản mà
họ đặt ra với doanh nghiệp: những sản
phẩm có chất lượng cao, có giá trị sử
dụng tốt, đảm bảo độ an toàn cao khi
sử dụng; được sống trong một môi
trường trong sạch, một xã hội mà các
vấn đề xã hội được giải quyết ở mức
Trang 15PII: Thực Trạng Thực Hiện TNXH Về Tiền Lương Của DN Ở Việt Nam Hiện Nay
1 Khái quát chung về TNXH của DN về Tiền lương ở Việt Nam hiện nay
Trang 162 Thực trạng thực hiện TNXH của DN về Tiền lương ở Việt Nam hiện nay
2.1 Về việc áp dụng và thực hiện quy định của pháp
luật về tiền lương trong DN
Trang 17Theo kết quả khảo sát của Oxfarm Việt Nam và Viện Nghiên cứu Công nhân và Công đoàn thực hiện tại một số doanh nghiệp dệt may trong nước, với công nhân may, tiền lương thực tế là lương theo sản phẩm Nếu không đủ số sản phẩm định mức để được lương tối thiểu, công nhân được bù lương Khoảng 45% công nhân được hỏi cho biết thỉnh thoảng hoặc thường xuyên được bù lương trong năm Với công nhân khác, tiền lương thực
tế là lương thời gian và chỉ nhỉnh hơn lương cơ bản một chút.Bên cạnh đó, khảo sát còn đưa ra những con số cho thấy hệ luỵ của lương không đủ sống: 69% công nhân cho biết họ không có
đủ tiền để trang trải nhu cầu sinh hoạt của mình, 31% không tiết kiệm được gì từ tiền lương trong tháng, 37% cho biết họ luôn ở trong tình trạng vay nợ từ bạn bè, người thân hay hàng xóm để bù lấp thiếu hụt chi tiêu trong tháng
Trang 182.2 Về tính minh bạch, dễ tính, dễ hiểu của tiền lương
Theo báo cáo của LĐLĐ TP.HCM, khi kiểm tra 19 DN về tình hình xây dựng, điều chỉnh LTT vùng năm 2016 trên địa bàn TP đã phát hiện: Các DN cắt giảm phụ cấp để chuyển sang lương, gây bất bình, bùng phát các vụ đình công
Cụ thể, 12/19 DN không áp dụng phụ cấp lương cho NLĐ; 7/19 DN áp dụng phụ cấp lương bằng tên gọi phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, chuyên cần, phụ cấp ăn ca; 13/19 DN không áp dụng các khoản bổ sung ngoài lương cho NLĐ; 6/19 DN áp dụng các khoản bổ sung với tên gọi thưởng năng suất, tiền ăn ca, điện thoại, xăng xe
Trong 4 tháng đầu năm đã xảy ra hàng chục cuộc đình công của CN vì
DN dùng “chiêu trò” khi điều chỉnh LTT Đơn cử, vụ 4.000 CN Cty
Woodworth Wooden Việt Nam sản xuất gỗ (huyện Củ Chi, TP.HCM),
khi điều chỉnh LTT, thay vì đưa vào lương cơ bản Cty lại đưa số tiền
này vào phụ cấp (chuyên cần, hoàn thành nhiệm vụ),
khiến NLĐ bị thiệt thòi khi thực hiện chính sách BHXH, BHYT
hoặc làm căn cứ để tính tiền tăng ca
Trang 19Vụ đình công kéo dài nhiều ngày và căng thẳng nhất phải kể đến trường hợp Cty TNHH Nissey Việt Nam đóng tại KCX Tân Thuận Theo đó, khi có nghị định về điều chỉnh LTT năm 2016, Cty lập tức cắt khoản phụ cấp 200.000 đồng/người/tháng, sau đó mới điều chỉnh tăng lương cơ bản cũng với mức tăng hơn 200.000 đồng/người/tháng Cách “xẻo” chỗ này “đắp” chỗ kia của Cty đã khiến lương cơ bản của
CN không tăng, sau khi đã trích đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp
Trang 20
2.3 Về vấn đề phân biệt đối xử trong trả lương
Trang 21Theo khảo sát 2018 , tiền lương bình quân tháng của lao động nữ là 4,712 triệu đồng/tháng so với nam giới là 5,172 triệu đồng/tháng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thu nhập của nữ giới thường thấp hơn nam 10%, trong đó bao gồm cả lý do từ chính bản thân lao động nữ ”
“
Trang 222.4 Mức độ đáp ứng nhu cầu từ tiền lương (Video)
Theo ông Lê Đình Quảng - Phó trưởng ban Quan hệ lao động (Tổng LĐLĐ VN), mức lương tối thiểu hiện đáp ứng được khoảng 95 % mức sống tối thiểu Đồng thời, lương tối thiểu cần đáp ứng được mức sống tối thiểu như quy định của Nghị quyết số 27-NQ/T.Ư.
Phần kèm theo trong định nghĩa “phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ” vốn được ghi trong Luật Lao động 2012 đã được chuyển vào nhóm 5 yếu tố xác định lương tối thiểu trong dự thảo sửa đổi.
Theo ông Vũ Quang Thọ, nếu áp dụng quy định của dự thảo sẽ vô hình bớt đi nhiều “vòng” bảo vệ cho người lao động Trong khi đó, định nghĩa cũ đã được Tổ chức lao động quốc tế công nhận.
“Qua khảo sát của Tổng LĐLĐ VN, trên 90 % công nhân lao động khi đi làm chỉ quan tâm tới tiền lương và việc làm Do đó, việc không gắn yếu tố đáp ứng mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ vào định nghĩa lương tối thiểu sẽ giảm đi sự bảo vệ cho người lao động” - ông Vũ Quang Thọ cho biết.
Trang 233 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện
trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp về Tiền lương
Lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp
Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Lực lượng lao động
Cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức
xã hội Khách hàng, đối tác
Đối thủ cạnh tranh
Trang 244 Hạn chế của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về Tiền lương trong lao động
Trang 251 Về phía Nhà Nước
- Ban hành quy định và các hướng dẫn về đối thoại xã hội ở cấp
quốc gia, cấp địa phương và cấp ngành trong lĩnh vực lao động –
tiền lương Cần tổ chức các đối thoại xã hội về tiền lương theo định
kỳ mỗi năm ít nhất 1 lần ở các cấp trên
- Điều chỉnh các quy định của pháp luật lao động về đóng bảo hiểm
xã hội cho người lao động để tránh việc trốn bảo hiểm xã hội;
– Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện danh mục nghề, công việc nặng
nhọc – độc hại nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong vấn đề
trả phụ cấp lương;
– Ban hành các mức sàn về lương đối với các trường hợp phải trả
lương với mức lương cao hơn bình thường
PIII: Giải pháp nhằm sửa đổi và nâng cao trách nhiệm xã hội của DN trong lao động ở
VN hiện nay
Trang 26- Tổ chức các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp kịp thời trong vấn đề về vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ sản phẩm, đào tạo nhân lực nhằm tăng nguồn vốn để trả lương cho người lao động.
- Tăng cường các hoạt động thành lập và kiện toàn tổ chức hoạt động của công đoàn
cơ sở
- Kiện toàn các tổ chức làm công tác hòa giải, trọng tài, tòa án lao động trong việc giải quyết tranh chấp các vấn đề liên quan đến lĩnh vực tiền lương Đội ngũ làm công tác hòa giải, trọng tài cũng cần phải nâng cao kiến thức kinh nghiệm, để có thể giải quyết các khiếu nại một cách công bằng nhất
Trang 272 Về phía công ty
– Tổ chức đối thoại giữa giám đốc điều hành và người lao động người lao động về vấn đề tiền lương theo định kỳ từ 3 – 6 tháng 1 lần để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh và vướng mắc trong vấn đề tiền lương;
– Công ty phải công khai quy chế trả lương, các khoản lương, các hệ thống khuyến khích, phúc lợi và tiền thưởng trên cơ sở quy định của luật;
– Người lao động phải được cung cấp các thông tin dễ hiểu về tiền lương và các khoản trợ cấp, phúc lợi xã hội của họ, không để họ bất mãn về khả năng thu thập thông tin
– Công ty cần cung cấp cho người lao động báo cáo lương trong từng giai đoạn trả lương, trong đó có các nội dung tiền lương, tiền làm thêm, tiền thưởng và tất cả các khoản khấu trừ.