TỔNG QUAN
LÝ DO NGHIÊN CỨU
Khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống được cải thiện, nhu cầu sinh hoạt và mức sống của người dân được nâng cao, dẫn đến tình trạng số người béo phì ngày càng gia tăng Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, nguyên nhân không chỉ do chế độ ăn uống thiếu cân đối mà còn liên quan đến giảm hoạt động thể lực, căng thẳng, ô nhiễm môi trường và các vấn đề xã hội Béo phì là một căn bệnh phức tạp, dễ dẫn đến các biến chứng lâu dài, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như tiểu đường, bệnh tim mạch, và gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của trẻ Theo WHO (2014), thừa cân, béo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong, khiến 2,8 triệu người tử vong mỗi năm, trong đó có 1,9 tỷ người trưởng thành trên toàn thế giới, trong đó 600 triệu người béo phì chiếm khoảng 13% dân số toàn cầu.
Theo WHO (2010), khoảng 10% trẻ em từ 6 đến 17 tuổi gặp vấn đề thừa cân, trong đó 2-3% bị béo phì Đến năm 2013, theo số liệu của WHO (2015), đã có khoảng 42 triệu trẻ dưới 5 tuổi mắc các vấn đề về thừa cân và béo phì, cho thấy sự gia tăng đáng báo động của tình trạng này ở trẻ nhỏ.
Tỷ lệ thừa cân, béo phì đang gia tăng không chỉ ở các nước thu nhập cao mà còn tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt ở các khu vực đô thị Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng này đang ngày càng phổ biến ở học sinh, gây lo ngại về ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Tại Việt Nam, giai đoạn 2002 – 2004, tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học là 9,4%, học sinh THCS là 6,1% và học sinh THPT là 4,8%, cho thấy xu hướng tăng đáng kể của vấn đề này trong giới trẻ.
Theo Bộ Y tế (2012), tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em từ 5 đến 19 tuổi tại thành phố là 37,4%, gấp 2,7 lần so với khu vực nông thôn (13,5%), khiến việc điều trị trở nên khó khăn, tốn kém và ít hiệu quả Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2008), chi phí chăm sóc y tế liên quan đến thừa cân, béo phì chiếm từ 2-7% tổng chi phí tại các quốc gia phát triển Do đó, việc phòng ngừa béo phì ở trẻ là chiến lược quan trọng giúp giảm tỷ lệ béo phì ở người lớn, hạn chế các bệnh mãn tính không lây liên quan đến béo phì và giảm gánh nặng chi phí y tế Chuyển dịch dinh dưỡng gắn liền với chuyển dịch kinh tế và dân số gây ra gánh nặng kép về bệnh liên quan đến dinh dưỡng, bao gồm suy dinh dưỡng và thừa cân, béo phì.
Một số nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu (2001), Đỗ Thị Kim Liên và ctg (2002),
Lê Thị Hải (2002), Cao Thị Yến Thanh và ctg (2004), Nguyễn Điểm (2007), Phan Thị Bích Ngọc (2010), Nguyễn Lân và Trịnh Bảo Ngọc (2013), Hà Văn Thiệu
Nghiên cứu của các tác giả như 2014, Trần Thị Xuân Ngọc (2017) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học, THCS và THPT Các phân tích này giúp xác định các nguyên nhân chính gây ra đề xuất các biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm giảm tỷ lệ thừa cân, béo phì trong học sinh.
Nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Liên và cộng sự (2002) cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ, và tỷ lệ này giảm dần từ nhóm 11 tuổi đến 14 tuổi Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhạn, Đặng Văn Hải, Phạm Văn Lục (2012) ghi nhận tỷ lệ thừa cân là 8,60% và béo phì là 1,75%, cao nhất ở nhóm học sinh 12 và 13 tuổi, sau đó giảm dần ở các nhóm tuổi cao hơn Các số liệu này cho thấy rõ xu hướng giảm của tỷ lệ thừa cân, béo phì theo tuổi trong độ tuổi THCS và sự khác biệt theo giới tính.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Lân và Trịnh Bảo Ngọc (2013), học sinh nam nữ độ tuổi 14 và 15 tại quận trung tâm Hà Nội có chiều cao và cân nặng cao hơn rõ rệt so với học sinh các quận ngoại thành Cụ thể, học sinh quận trung tâm có trọng lượng lớn hơn từ 3,7 đến 7,6 kg ở cả giới nam và nữ, đồng thời chiều cao cũng vượt trội so với học sinh ngoại thành từ 2,2 đến 5,4 kg.
Tỷ lệ thừa cân, béo phì cao nhất ở nhóm tuổi 10 (18,2%) và thấp nhất ở nhóm 14 tuổi (6,4%), cho thấy xu hướng gia tăng của tình trạng này theo độ tuổi Người béo phì nam (4,9%) có tỷ lệ cao hơn nữ (1,2%), với tỷ lệ cao nhất ở nhóm 10 tuổi (5,9%) và thấp nhất ở nhóm 14 tuổi (1,4%) Như vậy, thừa cân, béo phì ngày càng gia tăng, đặc biệt ở nhóm nhỏ tuổi, và tỷ lệ này cao hơn ở nam giới so với nữ giới.
Việc xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thừa cân, béo phì đến học sinh là yếu tố then chốt để đề xuất các chính sách phòng ngừa hiệu quả Tác giả đã lựa chọn thực hiện đề tài “Một số yếu tố tác động tới tình trạng thừa cân, béo phì của học sinh trung học phổ thông”, nhằm cung cấp các dữ liệu khoa học có giá trị thực tiễn trong bối cảnh hiện nay Nghiên cứu này mang ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về vấn đề sức khỏe học đường, giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng các giải pháp phòng ngừa phù hợp.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định tình trạng thừa cân, béo phì trong nhóm học sinh THCS từ 11 đến 14 tuổi tại TP giúp đánh giá mức độ phổ biến và các yếu tố nguy cơ liên quan Phân tích các yếu tố nguy cơ như chế độ ăn uống, hoạt động thể chất thiếu hợp lý và yếu tố lối sống nhằm hiểu rõ tác động đến tình trạng béo phì của học sinh Kết quả bước đầu cho thấy cần thiết xây dựng các giải pháp phòng chống thừa cân, béo phì phù hợp với đặc điểm của độ tuổi và môi trường sống Các biện pháp đề xuất bao gồm tuyên truyền giáo dục về dinh dưỡng hợp lý, khuyến khích hoạt động thể thao và tăng cường kiểm soát các yếu tố gây tăng cân ở học sinh THCS Việc thấu hiểu các yếu tố này giúp xây dựng chiến lược phòng chống béo phì hiệu quả, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của học sinh.
- Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh THCS từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại
- Phân tích các yếu tố kinh tế xã hộitác động đến tình trạng thừa cân và béo phì ở ở học sinh THCS từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại TP HCM
- Đề xuất các gợi ý, chính sách phòng chống thừa cân, béo phì ở học sinh THCS từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại TP HCM trong thời gian tới.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu thì luận văn cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Các yếu tố kinh tế xã hộinào tác động tới tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh THCS từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại TP HCM?
- Giải pháp phòng chống tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh THCS từ 11 tuổi đến 14 tuổi như thế nào?
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố kinh tế xã hội tác động tới tình trạngthừa cân, béo phì
- Đối tượng khảo sát: học sinh THCS từ 11 tuổi đến 14 tuổi
- Phạm vi nghiên cứu: 5 trường THCS tại TP HCM, gồm 2 nhóm là trường Quốc tế tư thục và trường công Nhà nước
Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018, tôi đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu để hoàn thiện luận văn thạc sĩ một cách đầy đủ và chất lượng nhất Quá trình này giúp tôi tích lũy kiến thức và nâng cao kỹ năng nghiên cứu trong lĩnh vực của mình Để xem chi tiết luận văn, vui lòng truy cập vào địa chỉ email của tôi: thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu định tính sử dụng bản câu hỏi thảo luận để khảo sát tình hình thừa cân, béo phì ở học sinh THCS từ 11 đến 14 tuổi tại TP HCM Phương pháp thảo luận tay đôi được thực hiện với sự tham gia của các giáo viên, phụ huynh và học sinh, nhằm hiểu rõ nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến cân nặng của học sinh trong độ tuổi này Các đối tượng thảo luận được chọn theo mục tiêu, đảm bảo thu thập dữ liệu chất lượng phù hợp với nghiên cứu.
Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện trên mẫu gồm 40 quan sát được chọn bằng phương pháp chọn mẫu phi xác xuất, đơn giản hóa quá trình thu thập dữ liệu Việc áp dụng kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực, đồng thời phù hợp cho khảo sát ban đầu Mẫu nghiên cứu là các học sinh trung học cơ sở, nhằm đánh giá sơ bộ tính hợp lý của phiếu khảo sát và đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu trước khi tiến hành nghiên cứu quy mô lớn hơn.
Nghiên cứu định lượng đã kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu dựa trên dữ liệu khảo sát từ 500 học sinh THCS tại 5 trường ở TP Hồ Chí Minh, sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 22 để thực hiện phân tích thống kê và T test Mô hình binary logit được sử dụng để đánh giá các yếu tố nguy cơ gây thừa cân, béo phì, trong đó biến độc lập là các yếu tố này Mô hình hồi quy binary logit có biến phụ thuộc là tình trạng thừa cân, béo phì của học sinh, giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng chính đến vấn đề này.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu này xem xét tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh THCS tại TP
- Nghiên cứu này xem xét các yếu tố ảnh hưởng tớithừa cân, béo phì ở học sinh THCS tại TP HCM năm học 2017 - 2018
Nghiên cứu chỉ ra tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh THCS tại TP HCM trong năm học 2017-2018, là bằng chứng khoa học khẳng định thừa cân, béo phì là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm lý của học sinh Kết quả này góp phần thúc đẩy các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này ở các độ tuổi và địa phương khác nhau, nhằm nâng cao nhận thức và xây dựng các giải pháp phòng chống hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu đã góp phần cung cấp các giải pháp phòng chống tình trạng thừa cân và béo phì ở học sinh, giúp gia đình và nhà trường cùng phối hợp hiệu quả trong việc duy trì sức khỏe tốt cho trẻ.
- Góp phần giúp các học sinh THCS có chế độ dinh dưỡng hợp lý hơn, tâm trạng tốt hơn
Nghiên cứu là luận cứ khoa học quan trọng giúp các cơ quan Nhà nước nhận diện rõ ràng sự vận động và tầm quan trọng của thừa cân, béo phì Thông qua các số liệu và phân tích khoa học, nghiên cứu cung cấp cơ sở để đề xuất chính sách can thiệp phù hợp nhằm hạn chế tình trạng thừa cân, béo phì Việc lập luận dựa trên nghiên cứu giúp thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
KẾT CẤU LUẬN VĂN
Kết cấu của nghiên cứu gồm 5 chương
Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó nêu rõ lý do và mục tiêu nghiên cứu để hướng đến việc giải quyết các vấn đề đặt ra Phần này còn xác định các câu hỏi nghiên cứu chính, đối tượng và phạm vi của nghiên cứu nhằm đảm bảo phạm vi phù hợp và rõ ràng Phương pháp thực hiện nghiên cứu được trình bày để người đọc hiểu cách tiếp cận và thực hiện các bước nghiên cứu một cách khoa học Chương này cũng nhấn mạnh ý nghĩa của nghiên cứu đối với lĩnh vực, cộng đồng hoặc thực tiễn, đồng thời giới thiệu kết cấu của luận văn giúp tổ chức nội dung rõ ràng, logic.
- Chương 2 là chương cơ sở lý thuyết bao gồm: các lý thuyết nền tảng, các nghiên cứu trước, tình trạng thừa cân, béo phì, khung nghiên cứu đề xuất
Chương 3 trình bày các phương pháp nghiên cứu bao gồm thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, cũng như các biến trong mô hình và cách xử lý dữ liệu một cách chính xác và hiệu quả.
Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu, bao gồm quá trình xử lý dữ liệu, phân tích số liệu và thảo luận các kết quả đạt được Phần này còn tập trung vào kiểm định mô hình nghiên cứu để đánh giá tính hợp lý và chính xác của các giả thuyết đề ra Các bước phân tích dữ liệu giúp làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố nghiên cứu, từ đó đưa ra các kết luận chính xác về giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu kết quả này đóng vai trò quan trọng trong việc xác nhận hoặc bác bỏ giả thuyết ban đầu, góp phần nâng cao giá trị khoa học của đề tài.
Chương 5 tổng kết kết quả nghiên cứu, nhấn mạnh các đề xuất chính nhằm phòng chống thừa cân, béo phì ở học sinh THCS, góp phần nâng cao nhận thức và thực tiễn chăm sóc sức khỏe học đường Nghiên cứu đã làm rõ tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp can thiệp phù hợp để giảm thiểu nguy cơ béo phì trong độ tuổi học sinh trung học cơ sở Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn đóng vai trò là căn cứ khoa học để xây dựng các chiến lược phòng chống béo phì hiệu quả hơn trong tương lai Tuy nhiên, nghiên cứu cũng gặp một số hạn chế về phạm vi và đối tượng khảo sát, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm mở rộng mẫu khảo sát và nâng cao độ chính xác của dữ liệu Việc thực hiện nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường nhận thức cộng đồng, giáo dục sức khỏe và góp phần xây dựng môi trường học đường lành mạnh cho học sinh THCS.
SỞ LÝ THUYẾT
GIỚI THIỆU
Chương 2 tổng hợp các khái niệm, quan điểm và các nghiên cứu trước có liên quan đến thừa cân, béo phì Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các thang đo của luận văn.
KHÁI NIỆM THỪA CÂN, BÉO PHÌ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2006), thừa cân được định nghĩa là tình trạng cân nặng vượt quá mức cân nặng lý tưởng phù hợp với chiều cao Trong khi đó, béo phì là tình trạng tích tụ mỡ quá mức, không bình thường và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, dù xảy ra cục bộ hay toàn diện.
Thuật ngữ "béo phì" (Obesity) chính thức được Noah Biggs sử dụng trong lĩnh vực y học từ năm 1651, phản ánh khái niệm về tình trạng tích tụ mỡ quá mức trong cơ thể Từ "Obesity" xuất phát từ tính từ "Obese," có nguồn gốc từ tiếng Latin "Obesus," mang ý nghĩa là béo, bụ bẫm Việc sử dụng thuật ngữ này trong y học giúp mô tả chính xác hơn về các vấn đề liên quan đến cân nặng và sức khỏe do mỡ thừa tích tụ.
2.2.2.1 Phân loại béo phì theo sinh bệnh học
Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng
Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh) là tình trạng béo phì do các vấn đề liên quan đến bệnh lý nội tiết gây ra Theo Jean Michel Lecerf (2001), Nguyễn Thị Lâm (2002), và Tổ chức Y tế Thế giới (2003), các nguyên nhân liên quan bao gồm suy giáp trạng, thường xuất hiện muộn, gây béo vừa phải, chậm phát triển thể chất và tinh thần, đi kèm với da khô và táo bón Ngoài ra, cường vỏ thượng thận do tổn thương tuyến yên hoặc u tuyến thượng thận dẫn đến tăng cortisol và insulin huyết, không dung nạp glucose, thường gây béo ở mặt và thân, cùng với tăng huyết áp.
Thiếu hormone tăng trưởng thường gây ra béo phì nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, chủ yếu ở thân và kèm theo chậm lớn Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng thường xuất hiện sau tuổi dậy thì và đi kèm với các dấu hiệu rậm lông, nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều Trong các trường hợp này, có thể gặp các u nang buồng trứng, làm ảnh hưởng đến sinh sản Béo phì do thiểu năng sinh dục hoặc các bệnh về não như tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh cũng là những nguyên nhân phổ biến, vì các tác nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến cảm giác đói và tăng insulin thứ phát, dẫn đến tích tụ mỡ quá mức.
2.2.2.2 Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2010) và Đỗ Thị Kim Liên cùng các cộng sự (2002), béo phì được phân loại dựa trên hình thái mô mỡ và độ tuổi bắt đầu xuất hiện, gồm bốn nhóm chính: béo phì bắt đầu từ nhỏ ở trẻ em và thanh thiếu niên, đặc trưng bởi sự tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ; béo phì bắt đầu ở người lớn, với sự tăng kích thước tế bào mỡ nhưng số lượng tế bào mỡ vẫn bình thường; béo phì xuất hiện sớm, trước 5 tuổi; và béo phì xuất hiện muộn sau 5 tuổi.
2.2.2.3 Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu
Nguyễn Thị Lâm (2002) và Tổ chức Y tế Thế giới (2003) đã phân loại béo phì dựa trên vùng phân bố của mô mỡ và vị trí của nó trong cơ thể Béo bụng, còn gọi là béo trung tâm hoặc béo hình quả táo, là dạng béo phì mà mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng, thường gặp ở thể Android hay béo kiểu đàn ông Trong khi đó, béo đùi, hay béo ngoại vi, là loại béo phì với mỡ chủ yếu tích tụ ở vùng mông và đùi, phù hợp với thể Gynoid hoặc béo kiểu đàn bà.
Phân loại béo phì giúp dự đoán chính xác nguy cơ sức khỏe liên quan đến tình trạng béo phì Béo bụng có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa Insulin máu, rối loạn Lipit máu và không dung nạp Glucose so với béo đùi Việc nhận biết loại béo phì này quan trọng để thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời, giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe.
2.2.2.4 Một số phân loại béo phì khác
Các nghiên cứu của Caterson & Gill (2002) cùng Brown, Kelly và Summerbell (2007) đã phân loại các loại béo phì khác nhau, trong đó có béo phì do sử dụng thuốc như corticoid liều cao và kéo dài, estrogen hoặc deparkin, có thể gây tăng cân đáng kể Bên cạnh đó, béo phì do khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi, thường xuất hiện ở trẻ béo phì từ nhỏ, có chiều cao cao hơn trung bình Đặc biệt, trẻ béo phì này thường có khối nạc tăng theo tuổi và biểu hiện phổ biến trong cộng đồng trẻ em béo phì Ngoài ra, cũng có các trường hợp thừa cân, thừa mỡ, trong đó có trẻ thừa cân nhưng chưa thừa mỡ hoặc thừa mỡ nhưng không thừa cân, mặc dù tỷ lệ này rất ít Một dạng béo phì khác là thừa mỡ nhưng không vượt quá giới hạn thừa cân, phản ánh các trạng thái cân nặng khác nhau của trẻ em.
2.2.3 Tình hình béo phì trên thế giới và Việt Nam
2.2.3.1 Tình hình thừa cân, béo phì trên thế giới
Tính đến năm 2015, toàn thế giới có 2,2 tỷ người, chiếm khoảng 30% dân số, mắc phải tình trạng thừa cân hoặc béo phì, với số người béo phì tăng gấp đôi tại 73 quốc gia và diễn biến phức tạp trên toàn cầu Mỹ dẫn đầu thế giới về tỷ lệ béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên với mức 13%, trong khi Việt Nam và Bangladesh có tỷ lệ người trưởng thành béo phì thấp nhất, chỉ khoảng 1% Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ trẻ em béo phì cao nhất, lần lượt là 15,3% và 14,4% Tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành ở Mỹ và Trung Quốc lần lượt là 79,4% và 57,3%, cho thấy sự gia tăng đáng báo động Mặc dù tỷ lệ béo phì ở trẻ em thấp hơn người lớn, nhưng tốc độ tăng nhanh hơn, dẫn đến khoảng 4 triệu ca tử vong năm 2015 liên quan đến chỉ số khối cơ thể (BMI) vượt quá 24,5 Sự gia tăng thừa cân, béo phì ở trẻ em trên toàn cầu đang trở thành vấn đề y tế nghiêm trọng, với tỷ lệ trung bình hàng năm là 10% Năm 2010, phân tích hơn 450 cuộc điều tra từ 144 quốc gia cho thấy có sự phổ biến đáng kể của tình trạng này trên toàn cầu.
Gần 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới đang gặp vấn đề về thừa cân và béo phì, trong đó có 35 triệu trẻ từ các nước đang phát triển và 8 triệu trẻ từ các nước đã phát triển Ngoài ra, có đến 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân trong tương lai, mở ra sự cần thiết cấp bách về các chiến lược phòng chống béo phì ở trẻ nhỏ.
Tỷ lệ trẻ em bị thừa cân, béo phì trên toàn cầu đã tăng từ 4,2% vào năm 1990 lên 6,7% vào năm 2010, và dự kiến sẽ đạt 9,1% vào năm 2020, tương đương khoảng 60 triệu trẻ em mắc các vấn đề về cân nặng Mặc dù tỷ lệ này ở châu Á không cao bằng châu Phi, nhưng số lượng trẻ em mắc thừa cân, béo phì tại châu Á lại rất lớn, phản ánh xu hướng gia tăng đáng báo động về sức khỏe trẻ nhỏ.
Số lượng trẻ em trên toàn thế giới đã tăng từ 13 triệu vào năm 1990 lên 18 triệu vào năm 2010, đứng đầu trong ba châu lục Các nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy trẻ em châu Á chiếm 50% tỷ lệ béo phì ở cùng độ tuổi trên toàn cầu vào năm 2016, trong khi tỷ lệ này ở các khu vực khác là khoảng 25%.
Hình 1 Số lượng và tỷ lệ béo phì trên thế giới năm 2016
Theo cafebiz (2017), tình hình thừa cân và béo phì tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng chú ý Các nghiên cứu từ các tác giả và viện nghiên cứu cho thấy rõ sự ngày càng phổ biến của tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em từ 6 đến 14 tuổi, đòi hỏi các giải pháp can thiệp kịp thời để kiểm soát vấn đề này.
Nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu (2001) tại quận Đống Đa, Hà Nội, cho thấy tỷ lệ học sinh từ 6 đến 11 tuổi mắc các vấn đề liên quan chiếm khoảng 9,9% Ngoài ra, nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Liên và cộng sự cũng tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và học tập của học sinh trong độ tuổi tiểu học, nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ và phát triển toàn diện cho trẻ em.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh Hà Nội từ 1995 đến 2000 cao hơn ở các bé trai so với các bé gái ở tất cả các nhóm tuổi Kết quả này cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì giảm dần theo độ tuổi từ 11 đến 14 tuổi Nghiên cứu của Lê Thị Hải (2002) về học sinh từ 6 đến 11 tuổi tại nội thành Hà Nội cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 4,1% Trong khi đó, Cao Thị Yến Thanh và cộng sự (2004) thực hiện nghiên cứu tại thành phố Buôn Ma Thuột, ghi nhận tỷ lệ thừa cân, béo phì là 10,4% ở nhóm tuổi này.
MÔ HÌNH LÝ THUYẾT ĐỀ XUẤT
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu phản ánh các yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân, béo phì của học sinh trung học cơ sở tại TP Hồ Chí Minh trong năm học 2017 – 2018 Mô hình này giúp xác định các nguyên nhân chính gây béo phì và cung cấp cơ sở để đưa ra các giải pháp phòng chống hiệu quả Các yếu tố như chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể chất, thói quen sinh hoạt và yếu tố tâm lý đã được xác định là những tác nhân chính ảnh hưởng đến tình trạng cân nặng của học sinh Kết quả nghiên cứu này góp phần nâng cao hiểu biết về nguyên nhân béo phì trong giới trẻ và hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các chiến lược phòng chống phù hợp.
Hình 3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Mô hình nghiên cứu tập trung vào các yếu tố như độ tuổi, giới tính, di truyền, yếu tố gia đình, thói quen ăn uống, sở thích ăn uống, hoạt động thể lực, hoạt động giải trí và thói quen sinh hoạt hàng ngày, nhằm phân tích ảnh hưởng của chúng đối với tình trạng thừa cân và béo phì ở học sinh THCS từ 11 đến 14 tuổi Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì tình trạng cân nặng của học sinh trong độ tuổi này Việc hiểu rõ mối liên hệ giữa các yếu tố này giúp đưa ra các giải pháp phòng tránh và kiểm soát béo phì hiệu quả, góp phần nâng cao sức khỏe và sự phát triển toàn diện của học sinh.
Tình trạng thừa cân, béo phì
Engaging in recreational activities is essential for maintaining a healthy lifestyle Developing positive daily habits can significantly improve overall well-being Proper time management and consistent routines contribute to greater productivity and personal growth Additionally, staying active through leisure activities helps reduce stress and enhances mental health Incorporating these practices into your daily schedule can lead to a more balanced and fulfilling life.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
GIỚI THIỆU
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu từ việc thiết kế quy trình thực hiện nghiên cứu, trình bày các phương pháp cụ thể, thiết kế mẫu nghiên cứu định tính, định lượng sơ bộ, định lượng chính thức.
QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Trong giai đoạn đầu tiên, chúng tôi tập trung xây dựng phiếu khảo sát và phát triển mô hình nghiên cứu nhằm xác định các giả thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh Quá trình này gồm hai bước chính: đầu tiên là thiết kế câu hỏi phù hợp để thu thập dữ liệu chính xác, sau đó là xác định các giả thuyết về các yếu tố như lối sống, chế độ ăn uống, hoạt động thể chất và các yếu tố tâm lý liên quan đến tình trạng béo phì của học sinh.
Bước 1 trong quá trình nghiên cứu là xây dựng phiếu khảo sát dựa trên cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đã được xác định Tiến hành khảo sát thử nghiệm với 10 người là giáo viên và phụ huynh qua phương pháp thảo luận tay đôi để kiểm tra tính rõ ràng và phù hợp của câu hỏi Cần hiệu chỉnh câu hỏi trong phiếu khảo sát để đảm bảo tính nhất quán, khả thi, dễ hiểu và chính xác Tiếp theo, thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ với mẫu gồm 40 học sinh theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện để đánh giá sơ bộ về tính hợp lý và độ tin cậy của các câu hỏi trong phiếu khảo sát, đảm bảo sự phù hợp cho nghiên cứu chính thức.
Sau khi tiến hành nghiên cứu định lượng sơ bộ và hoàn chỉnh các khái niệm nghiên cứu, chúng tôi xác định rõ tình trạng thừa cân và béo phì của học sinh Tiếp theo, xây dựng mô hình lý thuyết dựa trên các giả thuyết về tác động của các yếu tố nguy cơ đến tình trạng thừa cân, béo phì của học sinh, nhằm phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng và dự đoán xu hướng dịch bệnh.
Giai đoạn 2: Kiểm định mô hình nghiên cứu
Trong bước 3 của nghiên cứu định lượng chính thức, xác định rõ đối tượng khảo sát và phạm vi kiểm định giúp tạo nền tảng vững chắc cho quá trình nghiên cứu Việc xác định thang đo và giả thuyết phù hợp đảm bảo tính chính xác và khả thi của nghiên cứu Chuẩn bị bản khảo sát định lượng chi tiết, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, góp phần thu thập dữ liệu hiệu quả từ 500 học sinh tại TP Hồ Chí Minh Cỡ mẫu lớn và phân bổ hợp lý giúp tăng tính đại diện và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp khảo sát để thu thập dữ liệu và phân tích các câu hỏi nghiên cứu Các kiểm định quan trọng gồm kiểm định Wald với mức ý nghĩa Sig < 0.05 để xác định sự ảnh hưởng có ý nghĩa của các biến độc lập, kiểm định Omnibus nhằm đánh giá tổng thể phù hợp của mô hình hồi quy, và kiểm định Hosmer-Lemeshow để kiểm tra mức độ phù hợp của mô hình dựa trên phân phối dữ liệu thực tế Các yếu tố này giúp xác định độ chính xác và độ tin cậy của mô hình phân tích.
Quy trình thực hiện nghiên cứu được trình bày qua sơ đồ rõ ràng, bắt đầu từ việc tải xuống các tài liệu liên quan, chuẩn bị đề cương và kế hoạch nghiên cứu, đến việc phân tích dữ liệu và viết luận văn Quá trình này giúp đảm bảo tính hệ thống và khoa học trong việc hoàn thành luận văn thạc sĩ, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu và khả năng ứng dụng thực tiễn Hướng dẫn tải luận văn thạc sĩ mới nhất qua email đã giúp các học viên tiếp cận tài liệu dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Hình 4 Quy trình thực hiện nghiên cứu tóm tắt
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước
3.2.1 Một số thông tin về địa điểm và đối tượng nghiên cứu
TP HCM là thành phố lớn nhất Việt Nam về diện tích đô thị, với 2.095,5 km², dân số khoảng 8,611 triệu người, dân số thực 14 triệu người, mật độ dân số đạt 4.025 người/km² Đây còn là trung tâm kinh tế, văn hóa và giáo dục của cả nước, gồm 19 quận và 5 huyện Nghiên cứu được thực hiện tại 5 trường trung học cơ sở thuộc các quận/huyện đa dạng về điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội để đảm bảo tính khách quan Các trường nằm tại các quận/huyện như Quận 3 với Trường THCS Văn Lang, Quận 7 với Trường THCS Quốc tế Canada, Quận Bình Thạnh với Trường THCS Vinschool, huyện Cần Giờ với Trường THCS Cần Thạnh và huyện Củ Chi với Trường THCS Thị Trấn.
Xác định khái niệm nghiên cứu, nghiên cứu tài liệu
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết Định tính sơ bộ
(n) Phiếu khảo sát Định lượng chính thức (nP0)
Phân tích thống kê mô tả Phân tích hồi quy Binary Logistic
Kiểm tra độ thích hợp mô hình Kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết
Khảo sát định lượng sơ bộ nhằm mục đích thu thập dữ liệu chính xác về đối tượng nghiên cứu là học sinh trung học cơ sở (THCS) trong độ tuổi từ 11 đến 14 tuổi, cùng với cha mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng học sinh Dữ liệu này giúp phân tích các yếu tố liên quan đến quá trình phát triển và học tập của học sinh trong giai đoạn quan trọng này Thông tin nghiên cứu được tải xuống từ các nguồn đáng tin cậy như thư viện trực tuyến hoặc các tài liệu tham khảo mới nhất nhằm đảm bảo độ chính xác và cập nhật của dữ liệu.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018 Địa điểm nghiên cứu: Thực hiện tại 05 trường THCSnêu trên của TP.HCM
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu Đề tài đã sử dụng phương pháp nghiên cứu như sau: Thiết kế nghiên cứu; Cỡ mẫu cho đánh giá nhân trắc; Chọn mẫu bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản; Phân nhóm tuổi tính theo WHO; Đo chiều cao bằng thước microtoise độ chính xác 0,1 cm, đo cân nặng bằng cân điện tử seca độ chính xác 0,1kg và ghi kết quả với 1 số lẻ; Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng chỉ số Z-score của chiều cao theo tuổi (HAZ) để đánh giá suy dinh dưỡng, chỉ số BMI theo tuổi để đánh giá tình trạng gầy, béo phì; Phân tích số liệu bằng chương trình SPSS 22.0, các giá trị trung bình như cân nặng, chiều cao,…của đối tượng được so sánh bằng kiểm định One – sample T- Test, so sánh tỉ lệ phần trăm bằng χ 2 test
Các yếu tố gây ra tình trạng thừa cân, béo phì được phân tích bằng hồi quy Binary Logistic
3.2.2.1 Thiết kế nghiên cứu a) Nghiên cứu mô tả Điều tra trên nhóm học sinh của 05 trường trung học cơ sở của TP HCM để xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh lứa tuổi từ 11 tuổi đến 14 tuổi Tiêu chuẩn loại trừ: Đối tượng học sinh bị gù, vẹo cột sống bẩm sinh và mắc các bệnh mãn tính b) Cỡ mẫu tính tỷ lệ
Kích thước mẫu phù hợp cho nghiên cứu phụ thuộc vào phương pháp xử lý và mức độ tin cậy mong muốn, với mẫu cần đủ lớn để đảm bảo ước lượng chính xác Theo nguyên tắc tỉ lệ quan sát trên biến đo lường là 5:1, tốt nhất là 10:1 trở lên, tức là mỗi biến đo lường cần tối thiểu 5 đến 10 quan sát Với mô hình nghiên cứu lý thuyết có 32 tham số cần ước lượng, kích thước mẫu tối thiểu để đảm bảo độ tin cậy là 160 (bao gồm 5 quan sát cho mỗi tham số) Việc tăng số lượng mẫu sẽ giúp kết quả phân tích chính xác hơn, đặc biệt trong các nghiên cứu về xác suất những HS thừa cân, béo phì ở các trường học.
HS được khả sát thêm 340 Như vậy, tác giả chọn kích thước mẫu tính được sẽ là n
Nghiên cứu định lượng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm định lý thuyết khoa học, trong đó việc chọn mẫu là yếu tố quyết định chất lượng kết quả nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu phi xác suất được sử dụng để đảm bảo tính hợp lý của các câu hỏi khảo sát, giúp nâng cao độ chính xác và khả năng tổng quát của nghiên cứu Cụ thể, phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thước mẫu đề nghị dao động từ 25 đến 100 phần tử nhằm tối ưu hóa quá trình thu thập dữ liệu và đảm bảo tính khả thi của nghiên cứu.
Lập danh sách toàn bộ các trường THCS có trên địa bàn TP HCM tại 5 quận/huyện,chọn05 trường
Trong phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, mỗi trường trung học cơ sở (THCS) được coi là một chùm dữ liệu Cụ thể, tôi đã chọn ngẫu nhiên 5 trường THCS từ danh sách 269 trường, dựa trên phương pháp chọn mẫu xác suất theo kích thước quần thể Trong số đó, có 3 trường thuộc quận trung tâm và 2 trường thuộc huyện, đảm bảo tính đại diện và chính xác trong quá trình khảo sát.
Trong mỗi trường học, quá trình chọn mẫu được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng, với mỗi khối học tương đương một tầng Một lớp học được chọn ngẫu nhiên trong mỗi khối, và từ mỗi lớp, 25 học sinh được chọn để tham gia nghiên cứu Tổng cộng, mỗi trường trung học cơ sở có 6 khối, tương ứng với khoảng 100 học sinh được lựa chọn, và tổng số học sinh tham gia nghiên cứu là 500 em Quá trình này giúp đảm bảo mẫu đại diện cho toàn bộ học sinh của mỗi trường, phù hợp với các tiêu chuẩn nghiên cứu và quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên.
Bảng 2 Thống kê số trường THCS tại TP HCM năm học 2016-2017 Quận / huyện
Quận 5 7 Gò Vấp 15 Hóc Môn 13
Quận 6 10 Tân Bình 12 Bình Chánh 18
Quận 7 7 Tân Phú 12 Nhà Bè 6 tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Quận 8 12 Bình Thạnh 15 Cần Giờ 8
Nguồn: Cục thống kê TP HCM, 2017
Trong năm học 2017-2018, Quận 1 có tổng cộng 12 trường học, trong khi Quận Bình Thạnh có 16 trường Số lượng trường học ở hai quận này đã tăng thêm 3 trường so với số liệu thống kê của Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh năm 2017, cho thấy sự mở rộng và phát triển quy mô giáo dục tại các quận trung tâm thành phố.