Nếu nước áp dụng không tuânthủ,WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trả đũa.Thứ tư, tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa là quyền của bảo hộ của quốc gia,vùng lãnh thổ với nh
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại là xu thếnổi bật của kinh tế thế giới hiện nay Quá trình này đang diễn ra mạnh mẽ,thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giớitrong một sân chơi tự do cạnh tranh, công bằng Hòa mình trong xu thế đó, từkhi tiến hành đổi mới và chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường,ViệtNam đã tích cực tham gia vào các tổ chức của khu vực và thế giới như Hiệphội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM),Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), tham gia vàoCEPT và khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và gần đây nhất là tổ chứcthương mại thế giới WTO(7/11/2006) Đây là cột mốc quan trọng đánh dấutiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Bên cạnh đó, việc ký kết cáchiệp định thương mại tự do song phương cũng như đa phương đã tạo ra cơ hội
mở rộng quan hệ kinh tế, giao lưu với nhiều nước trên thế giới, đồng thời, cũngđặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thếgiới Nhất là trong bối cảnh tự do thương mại, hàng hóa từ các quốc gia khácnhau có thể xâm nhập thị trường nội địa một cách tự do, bình đẳng và không
bị hạn chế nhằm tìm kiếm cơ hội kinh doanh, thu lợi nhuận Từ đó đã nảysinh ra những tiêu cực do cạnh tranh gây ra, nhiều doanh nghiệp sản xuấtđứng trước nguy cơ phá sản, đổ vỡ do sự xâm nhập ồ ạt của hàng hóa nhậpkhẩu vào thị trường trong nước khi năng lực cạnh tranh của nhiều ngành sảnxuất nội địa còn yếu kém Đây không chỉ là khó khăn đối với Việt Nam màcòn là thách thức đối với nhiều nước đang phát triển Do đó, bên cạnh xâydựng thương hiệu thì tự vệ thương mại được xem là giải pháp hữu hiệu để bảo
hộ sản xuất trong nước
Tiền thân của WTO là GATT đã đề ra biện pháp khẩn cấp đối với việcnhập khẩu một số sản phẩm nhất định để bảo vệ nền sản xuất nội địa Trên cơ
Trang 2sở đó, WTO đã mở ra nhiều điều khoản liên quan đến các biện pháp tự vệthương mại trong hiệp định tự vệ thương mại cho phép các nước thành viên ápdụng với những tiêu chí cụ thể khi cần Với chiếc “van” này, nước nhập khẩu
có thể ngăn chặn tạm thời luồng hàng hóa nhập khẩu để giúp ngành sản xuấtnội địa tránh được những đổ vỡ Nếu như ở các nước phát triển trên thế giớinhư Mỹ, khối EU biện pháp tự vệ thương mại cũng như hệ thống pháp lý liênquan đã hình thành từ rất sớm và được sử dụng hiệu quả thì ở Việt Nam, việc
sử dụng cơ chế này vẫn là vấn đề mới mẻ Mặc dù thời gian qua, trong tiếntrình đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã có những nổ lực to lớn trong việc xâydựng hệ thống pháp luật cho phù hợp với pháp luật thế giới cũng như tạo rahành lang pháp lý cho các doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình đặc biệt là các công cụ phòng vệ thương mại.Thực tiễn thương mại của Việt Nam trong những năm qua đã chứng minhnhu cầu áp dụng biện pháp tự vệ trong trường hợp cần thiết trước sự nhập siêu
ồ ạt tràn lan của nhiều mặt hàng ngoại vào thị trường nội địa Gần đây,ViệtNam đã chính thức áp thuế tự vệ đối với mặt hàng dầu ăn nhập khẩu, đây làlần đầu tiên Việt Nam chính thức áp dụng biện pháp tự vệ kể từ khi có Pháplệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam được banhành năm 2002 Đây được xem là tín hiệu đáng mừng cho các doanh nghiệptrong nước để bảo vệ nền sản xuất nội địa trước xu hướng mở cửa hoàn toàntheo lộ trình cam kết khi gia nhập vào WTO
Xuất phát từ thực tiễn trên với mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơnvấn đề bảo hộ nền sản xuất trong nước, cụ thể là biện pháp tự vệ trong thươngmại trước xu hướng mở cửa thị trường ngày càng sâu rộng, từ đó có thể đónggóp một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về tự vệ thương mại củaViệt Nam cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của
các doanh nghiệp trong nước Em quyết định chọn đề tài “Các biện pháp tự vệ
trong thương mại quốc tế - Thực tiễn áp dụng của Việt Nam” làm đề tài khóa
luận của mình.Với lượng kiến thức còn hạn chế, bên cạnh đó, đây là một đề tài
Trang 3còn mới mẻ, nguồn tài liệu tham khảo ít ỏi nên khóa luận chắc không tránhkhỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, nhận xét củacác thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận đúng như tên gọi của nó: Các biệnpháp tự vệ trong thương mại quốc tế
Về phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề cụ thể của chế định biệnpháp tự vệ trong thương mại quốc tế, đó là:
- Pháp luật về tự vệ theo quy định của tổ chức thương mại thế giới (WTO)
- Pháp luật về tự vệ của một số quốc gia, khu vực điển hình trên thế giới
- Pháp luật và thực tiễn sử dụng biện pháp tự vệ thương mại của ViệtNam trong thời gian qua
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là :
- Nghiên cứu những vấn đề cụ thể của chế định các biện pháp tự vệ trongthương mại quốc tế theo quy định của WTO, theo pháp luật một số nước vàpháp luật Việt Nam
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng của Việt Nam trong thời gian và nhữngnguyên nhân của thực trạng đó
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về tự vệthương mại của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các biệnpháp tự vệ thương mại trong thời kỳ mở cửa, hội nhập
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ từng vấn đềtương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như so sánh, phân tích, tổnghợp, thống kê…dựa trên sự vận dụng các công trình nghiên cứu khoa học đãđược công bố, các văn bản pháp luật quốc tế, của các nước có liên quan vàViệt Nam, các tài liệu tham khảo Qua đó cho phép tìm hiểu các quy định
Trang 4pháp luật liên quan đến tự vệ thương mại của Tổ chức thương mại thế giới,quy định của pháp luật về tự vệ thương mại của một số nước, quy định củapháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp tự vệ của Việt Nam để từ đó có cáinhìn toàn diện hơn về vấn đề nghiên cứu.
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP
TỰ VỆ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nguyên tắc của việc áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm các biện pháp tự vệ trong thương mại
Tiền đề cho sự hình thành các quy định của pháp luật về biện pháp tự vệtrong thương mại quốc tế là “điều khoản giải thoát nghĩa vụ” được quy địnhtại điều XIX Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)
Lý do là trong hoàn cảnh bắt buộc phải mở cửa thị trường và thực thi cácchính sách tự do hóa thương mại khuôn khổ tổ chức thương mại thế giới(WTO), trong đó có nghĩa vụ về thuế Các quốc gia thành viên bên cạnh việcđược hưởng những lợi ích không thể phủ nhận do chính sách tự do hóathương mại mang lại như mở rộng thị trường, thúc đẩy phát triển, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế… thì cũng phải gánh chịu những thách thức và rủi ro khôngnhỏ cho nền kinh tế mỗi nước bởi tác động của mặt trái chính sách tự do hóa,đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại hàng hóa Một trong những hệ quả củaviệc thực hiện các cam kết về nghĩa vụ đó là các quốc gia thành viên phảichịu sức ép của cạnh tranh ngày một gia tăng khi gia nhập vào sân chơi mangtính chất toàn cầu hóa, nhất là các quốc gia có trình độ kém phát triển thìnhững tác động của chính sách tự do hóa được thể hiện rõ rệt nhất Tổ chứcthương mại thế giới (WTO) trong các Hiệp định đa biên của mình, ngoài việcthiết lập những quy định mang tính chất nghĩa vụ thì cũng đã mở ra nhiềuđiều khoản nhằm giải thoát các nước thành viên trong những trường hợp đặcbiệt Đó là những ngoại lệ cho phép Chính phủ các nước thành viên thực hiệnnhững hành động nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi của mình khi bị tác độngbởi chính sách tự do hóa thương mại
Điều XIX GATT 1994 quy định:
Trang 6Biện pháp khẩn cấp đối với việc nhập khẩu các sản phẩm nhất định
1 a) Nếu do hậu quả của những diễn tiến không lường trước được và
do kết quả của những nghĩa vụ, trong đó có những nhân nhượng thuế quan của một bên ký kết theo Hiệp định này, một sản phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng gia tăng và với các điều kiện đến mức gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nước, bên
ký kết đó có quyền ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút
bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan, đối với sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục tổn hại đó.
b) Nếu một bên ký kết đã chấp nhận một sự nhân nhượng liên quan tới một sự ưu đãi và sản phẩm là đối tượng ưu đãi được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết có tình huống như nêu tại điểm a) của khoản này tới mức mà nhập khẩu đó đã gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay trực tiếp cạnh tranh là các nhà sản xuất trên lãnh thổ của bên ký kết đang được hưởng hay đã được hưởng
sự ưu đãi đó, bên ký kết này có thể đề nghị bên ký kết đang nhập khẩu và bên
ký kết đang nhập khẩu có quyền tạm ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan đối với sản phẩm
đó và trong thời gian cần thiết để ngăn ngừa và khắc phục tổn hại đó ” 1
Như vậy, nếu do hậu quả của những tiến triển không thể lường trướcđược và do ảnh hưởng của các cam kết đối với một bên ký kết theo Hiệp địnhGATT, kể cả các nhượng bộ về thuế, bất kì sản phẩm nào được nhập khẩuvào lãnh thổ của bên kí kết đó với số lượng tăng và trong các điều kiện gây rahoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nướchoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nước của lãnh thổ đó thì bên kí kếtnày được quyền dừng việc thực hiện toàn bộ hay một phần nghĩa vụ hoặc rútlại hoặc sửa đổi nhượng bộ liên quan đến sản phẩm đó ở mức độ và trong
1 Xem thêm Diều 19 GATT 1994
Trang 7khoảng thời gian có thể là cần thiết để ngăn chặn hay khắc phục thiệt hại này.Trên cơ sở Điều XIX GATT, WTO trong hiệp định về tự vệ (SG) - mộttrong các hiệp định đa biên của tổ chức này, đã kế thừa và quy định rõ ràng,
cụ thể đầy đủ về mục đích; về thủ tục điều tra, áp dụng biện pháp tự vệthương mại một cách tạm thời theo nguyên tắc không phân biệt đối xử; về bồithường thiệt hại thương mại cho các nước có lợi ích thương mại bị ảnh hưởngxấu bởi việc áp dụng đó
Như vậy, biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa trước hết mang đặcđiểm của một hành vi phòng vệ thông thường đó là tự bảo vệ mình nhằmchống lại những tác động gây hại từ bên ngoài Đối tượng mà biện pháp tự vệhướng đến là những hành vi đến từ bên ngoài và những hành vi này có thểgây ra thiệt hại tổn thất cho chủ thể của những hành vi phòng vệ 1 [xem nhậndiện về tự vệ thương mại trong nhập khẩu hàng hóa] nên tự vệ là những hành
vi phòng vệ chính đáng Trong thương mại quốc tế, các biện pháp này baogồm đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia, biện pháp tự vệ, chống bán phá giá,chống trợ cấp,đây được xem là những biện pháp nhằm mục đích đảm bảothương mại công bằng
Biện pháp tự vệ theo tinh thần của GATT và Hiệp định tự vệ thì tự vệthương mại là biện pháp khẩn cấp đối với việc nhập khẩu một sản phẩm nhấtđịnh khi mà sản phẩm đó được nhập vào nước nhập khẩu với số lượng giatăng đột biến và với các điều kiện đến mức gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệthại nghiêm trọng cho nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hoặc sản phẩmcạnh tranh trực tiếp trong nước
Thiệt hại nghiêm trọng ở đây được hiểu là sự giảm sút đáng kể củangành công nghiệp trong nước Để xác định có hay không thiệt hại nghiêmtrọng cần phải làm rõ và căn cứ vào các chỉ tiêu như lượng hàng hóa nhậpkhẩu tăng tuyệt đối hay tương đối; lượng gia tăng nhập khẩu lấy đi bao nhiêuphần trăm thị phần trong nước; sự giảm sút thực tế về sản lượng, doanh số, thịphần, lợi nhuận, lỗ, năng suất, tỷ suất đầu tư, nhân công, việc làm
Ngành công nghiệp trong nước bị thiệt hại do sản phẩm nhập khẩu cạnh
Trang 8tranh không chỉ là những mặt hàng giống hệt nhau về nội dung mà còn mởrộng ra đối với những hàng hóa tương tự, những hàng hóa có khả năng cạnhtranh trực tiếp với hàng hóa nhập khẩu của nước đó.
1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp tự vệ
Thứ nhất, tự vệ trong thương mại là biện pháp được áp dụng đối với
hàng hóa, không áp dụng đối với dịch vụ, sở hữu trí tuệ hay đầu tư. 2
Mỗi nước nhập khẩu là thành viên của WTO đều có quyền áp dụng biệnpháp tự vệ miễn là tuân thủ theo các quy định chung của WTO về điều kiệnthủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ Các doanh nghiệp có thể yêu cầuChính phủ áp dụng biện pháp này để bảo vệ lợi ích của mình trước hàng hóanhập khẩu từ nước ngoài tràn vào trong những tình huống cụ thể
Thứ hai, biện pháp tự vệ trong thương mại là một trong ba trụ cột của hệ
thống các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp,
tự vệ) và được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự xâm nhập củahàng hóa nước khác Biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được ápdụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không côngbằng của hàng hóa nhập khẩu trong khi đó biện pháp tự vệ lại được áp dụngtrong điều kiện thương mại hoàn toàn bình thường, không có hành vi vi phạmpháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh
Thứ ba, tự vệ thương mại không phải một biện pháp miễn phí
Đây là biện pháp được thừa nhận trong thương mại quốc tế song đingược lại mục tiêu “tự do hóa thương mại” của WTO nên tự vệ thương mại làbiện pháp phải “trả tiền” Có nghĩa là, các nước được phép áp dụng nó để bảo
vệ nghành sản xuất của nước mình nhưng phải “trả giá” cho những thiệt hại
mà biện pháp này gây ra cho các nhà sản xuất nước ngoài như một hình thứccân bằng cam kết thương mại với nước khác3 Nước áp dụng biện pháp tự vệ
Trang 9thương mại phải bồi thường thương mại cho các nước có hàng hóa bị áp dụngbiện pháp này theo các điều kiện nhất định Nếu nước áp dụng không tuânthủ,WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trả đũa.
Thứ tư, tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa là quyền của bảo hộ của quốc
gia,vùng lãnh thổ với nhà sản xuất trong nước, khi thỏa mãn các điều kiệnnhất định được ghi nhận tại pháp luật quốc gia và đặt trong mối tương quanvới những quy định của pháp luật quốc tế: i) Có sự gia tăng đột biến của hànghóa nhập khẩu; ii) Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trựctiếp với hàng hóa đó bị thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng ; và iii)
Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệthại hoặc đe dọa thiệt hại nói trên4 Biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóađược áp dụng một cách không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa nhậpkhẩu liên quan.Việc tăng đột biến lượng nhập khẩu gây thiệt hại nói trên phải
là hiện tượng mà nước nhập khẩu không thể lường trước được khi đưa ra camkết trong khuôn khổ WTO
1.1.4 Ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế
Được thừa nhận là một công cụ bảo hộ thương mại hợp pháp, một biệnpháp tự vệ khi được sử dụng sẽ đem lại những tác động sau:
Thứ nhất, biện pháp tự vệ được xem là “chiếc van an toàn” giúp nước
nhập khẩu có thể hạn chế tạm thời luồng nhập khẩu, giảm nhẹ hay trợ giúpkhắc phục thiệt hại gây ra do việc nhập khẩu hàng hoá tăng một cách bấtthường, không thể lường trước vào thị trường nội địa nhằm tránh những đổ vỡcho ngành sản xuất nội địa
Khi thực hiện các cam kết về tự do hoá thương mại, các nước phải chấpnhận từ bỏ sự bảo hộ của mình đối với các mặt hàng sản xuất trong nước vàchấp nhận rằng hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào sẽ được hưởng các lợiích tương tự và bình đẳng như hàng hoá trong nước theo nguyên tắc đối xử
4 xem Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam tr.4.
Trang 10quốc gia Tuy nhiên, trong các quy định của WTO còn có những ngoại lệ nhấtđịnh nhằm đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong những trường hợpkhẩn cấp như cho phép các bên tham gia ký kết sử dụng các biện pháp tự vệtrong một khoảng thời gian hạn chế nhất định, không nhằm mục đích bảo hộlâu dài cho sản xuất nội địa mà chỉ để khắc phục hay giảm nhẹ những thiệt hạicho các doanh nghiệp trong nước trước tình huống bất thường từ việc hànghoá nước ngoài nhập khẩu không hạn chế về số lượng vào thị trường nội địacủa họ Các biện pháp tự vệ sẽ chấm dứt khi mối nguy hiểm trong tình huốngđặc biệt không còn nữa.
Thứ hai, các biện pháp tự vệ góp phần tăng cường, khuyến khích tính
cạnh tranh thông qua việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất chứ không phải vì mụcđích ưu đãi, bảo hộ ngành sản xuất trong nước hay hạn chế sự cạnh tranh củahàng hoá nước ngoài trong thị trường nội địa
Đây là một quy định mang tính chất nhân nhượng và ưu đãi dành chocác nước đang phát triển, các nước đang trong thời kỳ chuyển tiếp mà nềncông nghiệp của họ chưa sẵn sàng và cũng chưa đủ sức đương đầu với cạnhtranh quốc tế Theo đó, một khoảng thời gian hợp lý sẽ dành cho họ để họtháo gỡ những khó khăn trước mắt, tìm ra đối sách lâu dài để nâng cao sứchấp dẫn của sản phẩm mà họ làm ra, thúc đẩy cạnh tranh với hàng nhập khẩuthông qua những biện pháp thích hợp để thu hút sự lựa chọn của người tiêudùng đối với hàng nội địa, thông qua chiến lược tự điều chỉnh lại cơ cấu sảnxuất, nâng cao trình độ sản xuất, cải tiến quy trình công nghệ để có thể thíchứng được với sự thay đổi trên Do vậy, các biện pháp tự vệ chỉ mang tính chấtnhất thời và từng bước Trong thời hạn áp dụng sẽ được Chính phủ nới lỏng
và dần tiến tới xoá bỏ Mặt khác, những quy tắc của GATT cũng thừa nhậnrằng Chính phủ của các nước đang phát triển, trong khi theo đuổi nhữngchương trình và chính sách phát triển kinh tế có thể thấy cần hỗ trợ cho nhữngngành sản xuất mới hoặc cho sự phát triển hơn nữa những ngành sản xuấthiện có được quyền áp dụng các biện pháp tự vệ Các quy tắc về tự vệ cho
Trang 11mục đích này thường chứa đựng những điều kiện nghiêm ngặt hơn so với mụcđích trên.
Bên cạnh mặt tích cực, việc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại cóthể gây ra những tác động xấu như:
Việc áp dụng biện pháp tự vệ có thể dẫn đến sự bảo hộ cho hàng hóa nộiđịa một cách tràn lan, gây ra tâm lý ỷ lại của các nhà sản xuất trong nước làmgiảm khả năng cạnh tranh, phát triển thương hiệu của ngành sản xuất nội địa.Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp tự vệ sẽ làm giảm lượng hàng nhập khẩu, hạnchế cơ hội chongười tiêu dùng lựa chọn sản phẩm tương tự với giá rẻ hơn
Mặt khác, về nguyên tắc, các biện pháp tự vệ không đánh vào hàng xuấtkhẩu của một nước cụ thể mà áp dụng với một hàng hóa cụ thể của hàng loạtcác nước xuất khẩu vào thị trường nội địa Điều này có thể dẫn đến các nước
có mặt hàng bị áp dụng phát đơn kiện, làm ảnh hưởng đến quan hệ thươngmại giữa các quốc gia với nhau Hơn nữa, nước nhập khẩu có thể bị trả đũakhi các bên không đi đến thỏa thuận về việc bồi thường do áp dụng biện pháp
tự vệ
1.1.5 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ
1.1.5.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Đây là nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế, thể hiện sự bình đẳnggiữa các quốc gia trong quan hệ hợp tác kinh tế mà nội dung chủ yếu của nóđặt ra yêu cầu các quốc gia không được phân biệt đối xử đối với hàng hóa,dịch vụ của nhà cung cấp quốc gia khác Theo nguyên tắc này, biện pháp tự
vệ sẽ được áp dụng lên một loại hàng hóa nhập khẩu không phân biệt xuất xứcủa hàng hóa đó
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ nhất định: Hiệp định về tự
vệ thương mại của WTO quy định “ Trong trường hợp hạn ngạch được phân
bổ giữa các nước xuất khẩu, Thành viên áp dụng hạn chế này có thể tìm kiếm một thỏa thuận liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch cho tất cả các Thành viên có lợi ích cung cấp chính yếu đối với sản phẩm Trong trường hợp không
Trang 12áp dụng được phương pháp này, Thành viên nhập khẩu sẽ phân bổ cho các Thành viên có lợi ích cung cấp chủ yếu đối với sản phẩm này theo thị phần, tính theo tổng giá trị hay số lượng sản phẩm được nhập từ các Thành viên này trong một thời gian đại diện trước đó và có tính đến bất cứ một yếu tố đặc biệt nào đã hoặc có thể ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa này” 5 Theo đó, nước nhập khẩu khi áp dụng biện pháp tự vệ dưới hình thứchạn chế số lượng thì phải tham khảo ý kiến của các nước thành viên khác cólợi ích đáng kể liên quan đến hàng hóa bị áp dụng tự vệ thương mại để đưa ra
tỉ lệ phân bổ hạn ngạch
1.1.5.2 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ trong phạm vi và mức
độ cần thiết
Mục đích chính của các biện pháp tự vệ là nhằm giúp các ngành sản xuất
có thời gian điều chỉnh cơ cấu, hợp lý hóa sản xuất để khắc phục thiệt hại,đứng vững và thích nghi dần với sự cạnh tranh khốc liệt của hàng nhập khẩubên ngoài mà ngành phải đương đầu sau khi xóa bỏ những hạn chế Do đó,
Hiệp định SG tại khoản 1 điều 5 quy định: “Một Thành viên sẽ chỉ áp dụng
biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh” Thời hạn cho việc áp
dụng này theo quy định của Hiệp định SG tối đa là 8 năm cho một sản phẩm,đối với các nước đang phát triển có thể đề ra thời hạn tối đa là 10 năm
Tuy nhiên, ngay cả trong thời kỳ áp dụng, nếu những căn cứ điều kiệncho sự tồn tại của nó không còn thì nước áp dụng phải dỡ bỏ ngay hoặc đìnhchỉ biện pháp tự vệ đang áp dụng cho một loại hàng hóa đó Trong khi đang
áp dụng, nước áp dụng phải tiến hành rà soát các biện pháp tự vệ để đảm bảoquyền lợi cho nước bị áp dụng đồng thời đảm bảo sự luân chuyển hàng hóadiễn ra bình thường
5 Khoản 2a, Điều 5 Hiệp định về các biện pháp tự vệ thương mại 1994
Trang 131.1.5.3 Nguyên tắc ưu tiên cho các nước đang phát triển
Với 3/4 thành viên là các quốc gia đang phát triển và các quốc gia có nềnkinh tế chuyển đổi, WTO đã đưa ra nguyên tắc ưu tiên nhằm khuyến khíchphát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành cho các nước này những chế độđãi ngộ đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn vào hệthống thương mại đa biên Để thực hiện nguyên tắc này, WTO có những quyđịnh mang tính chất linh hoạt và ưu đãi nhất định cho các nước đang pháttriển, các nước có nền kinh tế chuyển đổi trong việc thực hiện các hiệp địnhcủa WTO như dành thêm một số quyền và không phải thực một số nghĩa vụ
Theo nguyên tắc này, Hiệp định SG quy định: “Các biện pháp tự vệ không
được áp dụng để chống lại hàng hóa có xuất xứ từ một Thành viên đang phát triển, nếu thị phần hàng hóa có liên quan được nhập từ Thành viên này không vượt quá 3%, với điều kiện là tổng số thị phần nhập khẩu từ các Thành viên đang phát triển, có thị phần nhập khẩu riêng lẻ nhỏ hơn 3%, không vượt quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu của hàng hóa liên quan” 6 Ngoài ra,một Thành viên đang phát triển có quyền kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tự
vệ trong thời hạn không quá 2 năm sau khi hết thời hạn tối đa là 8 năm
1.1.5.4 Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại
Biện pháp tự vệ trong nhập khẩu là một biện pháp “khắc phục thươngmại”, được áp dụng trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn bình thường, nênkhác với chống bán phá giá, chống trợ cấp của Chính phủ là những hành vicạnh tranh không lành mạnh Do đó, một nước thành viên khi áp dụng biệnpháp tự vệ phải đảm bảo bồi thường thỏa đáng cho nước bị áp dụng do nhữngthiệt hại mà biện pháp này gây ra cho nhà sản xuất nước ngoài
1.2 Pháp luật về tự vệ trong thương mại quốc tế
Kết quả của Vòng Uruguya về thương mại đa biên là sự ra đời của tổ
chức thương mại thế giới (WTO) và một hệ thống các quy tắc về thương mại
đa biên được thiết lập Trong vòng đàm phán đó, một thỏa thuận mới về điều
6 Khoản 1 Điều 9 Hiệp định về các biện pháp tự vệ thương mại 1994
Trang 14khoản XIX GATT đối với các biện pháp tự vệ được thông qua có giá trị ápdụng đối với tất cả các quốc gia thành viên.
Pháp luật về tự vệ thương mại mà cụ thể là tự vệ trong nhập khẩu hànghóa được xây dựng với tên gọi “Hiệp định về các biện pháp tự vệ” nhằm bảo
vệ các quốc gia nhập khẩu khỏi những tác động khi tham gia vào một thiếtchế thương mại mang tính chất toàn cầu Bên cạnh đó, Hiệp định cũng đưa ranhững quy định về việc bảo vệ quyền lợi của quốc gia cung ứng hàng hóa khi
bị quốc gia nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ
1.2.1 Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế
Hiệp định SG cho phép quốc gia nhập khẩu được quyền áp dụng biện pháp
tự vệ cho một sản phẩm sau khi cơ quan có thẩm quyền điều tra của thành viên
đó xác định được là sản phẩm đó được nhập vào lãnh thổ của mình khi có sự giatăng nhập khẩu, tương đối hay tuyệt đối so với sản xuất nội địa, và theo đó cóthể gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp sảnxuất nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranhtrực tiếp với sản phẩm đó Biện pháp được phép áp dụng trong trường hợp này là
áp dụng biện pháp hạn chế định lượng (biện pháp phi thuế quan) hoặc là tăngmức thuế đã cam kết vượt lên mức thuế trần (biện pháp thuế quan)
Hiệp định cũng quy định “Một thành viên sẽ không tìm kiếm, áp dụng
hay duy trì bất cứ một hạn chế xuất khẩu tự nguyện nào, thỏa thuận phân chia thị trường hay bất cứ biện pháp tương tự nào khác đối với việc xuất khẩu và nhập khẩu Những biện pháp này bao gồm những hành động do một thành viên đơn phương áp dụng cũng như là những hành động theo thỏa thuận, hiệp định hay hiểu biết giữa hai hay nhiều thành viên” 7 Theo đó, mộtthành viên khi áp dụng biện pháp tự vệ sẽ không được áp dụng biện pháp nàokhác như hạn chế xuất khẩu tự nguyện hay hàng rào kỹ thuật
Như vậy, trong trường hợp cần thiết phải áp dụng biện pháp tự vệthương mại thì một thành viên nhập khẩu có quyền sử dụng một trong các
7 Khoản 1b Điều 11 Hiệp định về các biện pháp tự vệ thương mại 1994
Trang 15từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác8 Đây là công cụ rất quantrọng để nhà nước thực hiện chính sách kinh tế của mình, việc đánh thuế quangiúp kiểm soát được hàng nhập khẩu vào thị trường nội địa Ngoài chức năngđiều tiết sản xuất, nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng; là nguồn thu quan trọngcủa ngân sách nhà nước Thuế quan có tác dụng bảo hộ hàng hóa tương tự,ngành kinh tế hàng hóa tương tự trong nước Việc đánh thuế cao vào hànghóa nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước có thể cạnh tranh được vớihàng nhập khẩu Đặc biệt là giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanhcác ngành non trẻ có thời gian trưởng thành và sinh lời để từ đó có thể cạnhtranh với hàng nhập khẩu.
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới trong khuôn khổ WTO, thôngqua các vòng đàm phán về lộ trình cắt giảm thuế quan, thuế suất ràng buộc sẽđược đưa vào danh mục thuế quan của mỗi quốc gia và được công bố rộngrãi WTO từ khi thành lập đã có 22.500 trang danh mục thuế quan cam kếtcủa các nước đối với một số loại hàng hóa cụ thể được thỏa thuận trongkhuôn khổ WTO; trong đó ghi rõ cam kết của từng nước theo danh mục hàng,
mã thuế, thuế suất cam kết, nhất là các cam kết giảm thuế và mức thuế trầnđối với hàng hóa nhập khẩu Đối với mức thuế trần, đó chính là các cam kếtkhông tăng thuế vượt quá một mức đã xác định, được gọi là mức trần, thường
là mức đang được áp dụng trên thực tế 9 Những cam kết này có giá trị ràngbuộc đối với các nước thành viên Mỗi nước tham gia thỏa thuận phải áp dụng
8 Xem giáo trình luật thương mại quốc tế, Đại học luật Hà Nội, tr.97
9 Xem giáo trình luật thương mại quốc tế, Đại học luật Hà Nội, tr.97
Trang 16thống nhất cam kết của mình đối với hàng hóa nhập khẩu của tất cả các nướcthành viên WTO phù hợp với nguyên tắc tối huệ quốc và những lộ trình cắtgiảm thuế quan (nếu có) căn cứ vào kết quả của những vòng đàm phán tiếptheo sau khi gia nhập Để đảm bảo kết quả đàm phán về thuế và nhằm mởrộng thương mại một cách ổn định, WTO đưa ra quy định cấm các nướcthành viên đánh thuế cao hơn mức thuế suất mà họ đã cam kết giảm hoặc giữnguyên và không cho phép các nước thành viên đơn phương tự ý thay đổi,nâng thuế suất nhượng bộ này10
Tuy nhiên, WTO cũng quy định một số trường hợp ngoại lệ, chẳng hạntrong trường hợp ngành sản xuất trong nước gặp khó khăn do lượng nhậpkhẩu tăng đột biến khi hàng hóa nước ngoài được nhập khẩu tự do do hệ quảcủa việc cắt giảm thuế quan và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, thì quốcgia nhập khẩu có quyền sử dụng biện pháp thuế quan bằng cách tăng thuếnhập khẩu nếu sau khi tiến hành điều tra, có đủ cơ sở để áp dụng Mức thuếtăng trong trường hợp này phải hợp lý, chỉ được duy trì trong thời gian cầnthiết và phải được dỡ bỏ dần Mục đích của việc áp dụng biện pháp thuế quan
là để giúp nước nhập khẩu tạm thời hạn chế nhập khẩu, có thời gian điềuchỉnh cơ cấu sản xuất, phục hồi nền sản xuất và thích nghi dần với sự cạnhtranh gia tăng của hàng nhập khẩu chứ không nhằm mục đích nào khác
Thứ hai: Biện pháp hạn chế định lượng (Biện pháp phi thuế quan).
Biện pháp hạn chế định lượng bao gồm các hình thức: hạn ngạch; giấyphép; cấm xuất khẩu, nhập khẩu;… do Chính phủ của một thành viên áp dụngnhằm hạn chế số lượng nhập khẩu từ những thành viên khác
Hạn chế định lượng là một trong những biện pháp được sử dụng để bảo
vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu.Đây là rào cản cứng, trực tiếp trong thương mại quốc tế, đi ngược lại với mụctiêu tự do hóa thương mại trong GATT/WTO11
Điều XI GATT quy định: ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại phí
10 Xem giáo trình luật thương mại quốc tế, Đại học luật Hà Nội Tr.56
11 Xem giáo trình luật thương mại quốc tế, Đại học luật Hà Nội, Tr.54
Trang 17khác, các nước thành viên không được phép tạo ra hay duy trì những biệnpháp như hạn ngạch, giấy phép hay các biện pháp khác nhằm hạn chế sốlượng nhập khẩu từ những thành viên khác, hay hạn chế số lượng xuất khẩuhoặc bán để xuất khẩu tới các thành viên khác
Như vậy, về nguyên tắc, biện pháp hạn chế định lượng bị cấm hoàn toàntrong khuôn khổ WTO Tuy nhiên, GATT 1994 vẫn cho phép các nước thànhviên áp dụng hạn chế định lượng trong một số trường hợp ngoại lệ Cụ thể làkhi ngành sản xuất trong nước bị hoặc có nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng do
sự gia tăng ồ ạt của hàng nhập khẩu cùng loại, thì biện pháp hạn chế số lượngđược cho phép áp dụng như là biện pháp tự vệ trong thời hạn nhất định đểngăn chặn thiệt hại hoặc cứu vãn ngành sản xuất trong nước12; Một số trườnghợp khác như khi một nước thành viên khác được cho phép áp dụng biệnpháp trả đũa đối với nước thành viên khác vì không tuân thủ nghĩa vụ củaGATT thì biện pháp hạn chế định lượng cũng được cho phép áp dụng trongmột chừng mực nhất định13; Hạn chế định lượng cũng được cho phép áp dụngvới mục đích bảo vệ cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia14, một sốngoại lệ chung như để bảo vệ sức khỏe con người, động vật, bảo vệ nguồn tàinguyên thiên nhiên, vì lý do quốc phòng an ninh lương thực (Điều XX, XXIGATT 1994) Khi áp dụng biện pháp hạn chế số lượng, các quốc gia phải tuânthủ nguyên tắc không phân biệt đối xử
Hiệp định về các biện pháp tự vệ thương mại tại Khoản 1 Điều 5 quy
định: “Nếu một biện pháp hạn chế định lượng được sử dụng, thì biện pháp
này sẽ không làm giảm số lượng nhập khẩu dưới mức nhập khẩu trung bình của 3 năm đại diện gần nhất có số liệu thống kê, trừ khi có sự biện minh rõ ràng rằng cần có một mức khác để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng”
Như vậy, để áp dụng biện pháp hạn chế định lượng thì quốc gia nhập
12 Điều XIX Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994
13 Khoản 2 Điều 23 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994
14 Điều 18 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994
Trang 18khẩu phải đảm bảo rằng biện pháp này sẽ không làm giảm số lượng nhậpkhẩu dưới mức nhập khẩu trung bình của 3 năm đại diện gần với thời điểm ápdụng và phải có số liệu thống kê cụ thể về mức nhập khẩu của 3 năm đó, haymột mức khác thấp hơn mức nhập khẩu trung bình của 3 năm gần nhất nếu cóbằng chứng rõ ràng cần phải áp dụng như vậy để ngăn ngừa hoặc khắc phụcthiệt hại nghiêm trọng.
Hiệp định cũng quy định nước nhập khẩu có thể áp dụng hạn chế nàybằng việc tiến hành đàm phán với các nước xuất khẩu có lợi ích chính yếu đốivới sản phẩm đó để thỏa thuận lại về việc phân bổ hạn ngạch dựa trên hạnngạch đã được phân bổ trước đó giữa các nước xuất khẩu Trong trường hợpkhông thỏa thuận được, nước nhập khẩu sẽ phân bổ các phần hạn ngạch chocác thành viên có lợi ích cung cấp chủ yếu sản phẩm đó tính theo tổng giá trịhoặc số lượng sản phẩm được nhập từ các thành viên này trong một thời gianđại diện trước đó Nước nhập khẩu khi thực hiện việc phân bổ phải tính đếnyếu tố đặc biệt có thể gây ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa đó
Hạn ngạch hay quotas là quy định của nhà nước về số lượng hoặc giá trịhàng hóa cao nhất được phép nhập khẩu trong một thời gian nhất định(thường là một năm)15
So với biện pháp thuế quan thì hạn ngạch có xu hướng ít được sử dụnghơn trong thương mại quốc tế vì tính ưu việt của thuế quan so với hạn ngạchnhập khẩu thể hiện qua:
Một là, việc áp dụng thế quan mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước Hai là, thuế quan minh bạch, rõ ràng, dễ dự đoán hơn so với hạn ngạch.
Việc điều hành, quản lý, phân bổ hạn ngạch nhập khẩu là một bài toán khó và
dễ kéo theo nhiều vấn nạn như tham ô, hối lộ
Ba là, về lý thuyết, nếu cả thuế quan và hạn ngạch đều hướng đến mục
tiêu hạn chế lượng nhập khẩu nhất định thì hạn ngạch làm giá trong nước bịđẩy lên rất nhiều so với thuế quan Do hạn ngạch là “hạn chế cứng”, nước
15
Xem Giáo trình luật kinh tế quốc tế, Đại học kinh tế Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 19xuất khẩu sẽ không thể tăng số lượng xuất khẩu vượt quá hạn ngạch cho dù có
cố gắng cải thiện về chất lượng và giá cả sản phẩm xuất khẩu tới mức nàochăng nữa16 Hơn nữa, khi nước nhập khẩu áp dụng biện pháp hạn ngạch thì
số lượng và đối tượng hạn chế hoàn toàn phụ thuộc vào nước nhập khẩu vàthường không minh bạch, nên có nhiều khả năng nước xuất khẩu sẽ bị phânbiệt đối xử Vì thế, tác động bảo hộ của hạn ngạch lớn hơn, nguy cơ gây bópméo thương mại nhiều hơn và có thể dẫn đến những “cuộc chiến thương mại”không cần thiết
Tóm lại, trong trường hợp cần áp dụng biện pháp tự vệ thương mại thìnước nhập khẩu cần cân nhắc lựa chọn một trong hai biện pháp hoặc là tăngthuế so với mức thuế trần đã cam kết hoặc là biện pháp hạn ngạch Tuy nhiên,trong tự do hóa thương mại hiện nay, các quốc gia có xu hướng sử dụng biệnpháp thuế quan truyền thống hoặc kết hợp giữa hai biện pháp hạn ngạch vàthuế quan tạo ra biện pháp hạn ngạch thuế suất thuế quan, tức là mức thuế sẽtăng dần lên tương ứng với số lượng hàng hóa nhập khẩu
1.2.2 Điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế
Trong thương mại quốc tế, một biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng khi hội
đủ ba điều kiện sau:
Thứ nhất: Hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số
lượng.
Điều kiện đầu tiên để quốc gia nhập khẩu được áp dụng biện pháp tự vệ
là số lượng hàng nhập khẩu tăng đột ngột, một cách tương đối hay tuyệt đối17
Sự gia tăng đó bao gồm sự gia tăng một cách tương đối hay tuyệt đối về sốlượng, khối lượng hay giá trị của loại hàng hoá đó so với số lượng, khối lượnghay giá trị của hàng hoá tương tự hoặc hàng hoá cạnh tranh trực tiếp được sảnxuất trong nước Hàng hóa nhập khẩu được coi là tăng đột biến về số lượngkhi có sự gia tăng tuyệt đối (ví dụ số lượng hàng hóa nhập khẩu tăng gấp đôi,gấp ba) hay tương đối (ví dụ lượng hàng hóa nhập khẩu dường như không
16 Xem giáo trình luật thương mại quốc tế, Đại học luật Hà Nội,tr.54
17 Điều 2 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
Trang 20tăng, nhưng cùng thời điểm đó số lượng hàng nhập khẩu lại giảm mạnh mộtcách rõ rệt) và phải diễn ra một cách đột ngột, nhanh, tức thời Đối với giá trị,cần lưu ý là sự gia tăng về giá trị nhập khẩu không phải là yếu tố bắt buộc đểđiều tra trong vụ việc tự vệ (ví như Vụ Giầy dép của Achentina)18.
Điều XIX GATT 1994 đưa ra khái niệm “không lường trước được”,không lường trước được nghĩa là có sự gia tăng một cách bất thường, là kết quảcủa những nghĩa vụ, của sự nhân nhượng thuế quan Diễn biến của sự biến đổi
đó phải xảy ra sau khi các bên đã đàm phán và không có gì để khẳng định đượcrằng các nhà đàm phán, những người đã đưa nhượng bộ, có thể hay lẽ ra phải
dự đoán được sự biến đổi đó khi đưa ra cam kết trong khuôn khổ WTO Cácnguyên tắc của WTO không đưa ra tiêu chí cụ thể về việc xác định sự gia tănghàng hoá nhập khẩu vì có thể mức nhập khẩu tuy tăng nhẹ nhưng lại gây thiệthại không hề nhỏ cho ngành sản xuất nội địa Do vậy, việc đưa ra một mức cụthể như vậy sẽ không thể phản ánh chính xác được sự gia tăng bất thường củaloại hàng hoá đó Các quy định này chủ yếu do các nước áp dụng xác định dựatrên số liệu thống kê hải quan
Thứ hai Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp
với hàng hoá đó bị thiệt hại hoặc đe doạ bị thiệt hại nghiêm trọng
Đây cũng là điều kiện quan trọng để có thể áp dụng biện pháp tự vệ vàđiều kiện này gắn liền với điều kiện về sự gia tăng đột biến của hàng nhậpkhẩu Theo Hiệp định SG, tổn hại nghiêm trọng được hiểu là sự suy giảm toàndiện đáng kể tới vị trí của ngành công nghiệp sản xuất nội địa Hoặc đe dọagây ra tổn hại nghiêm trọng là tổn hại nghiêm trọng rõ ràng sẽ xảy ra Một lưu
ý là “việc xác định nguy cơ tổn hại nghiêm trọng phải dựa trên cơ sở thực tếchứ không phải là phỏng đoán, viện dẫn hoặc khả năng xa”19 Như vậy, quốcgia nhập khẩu phải điều tra chứng minh được rằng ngành sản xuất nội địaphải chịu thiệt hại nghiêm trọng hoặc bị đe dọa thiệt hại nghiêm trọng do
18 Xem Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, http://moj.gov.vn
19 Khoản 1b Điều 4 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
Trang 21lượng hàng nhập khẩu tăng ồ ạt Cụ thể, về hình thức, các thiệt hại này có thểtồn tại dưới hai dạng là thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ thiệt hại rất gần; về mức
độ, các thiệt hại này phải ở mức nghiêm trọng, tức là ở mức cao hơn so vớithiệt hại đáng kể trong trường hợp các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợcấp Về phương pháp, cơ quan chức năng của nước nhập khẩu phải đánh giá,xem xét thiệt hại thực tế trên cơ cở phân tích tất cả các yếu tố liên quan đếnthực trạng của ngành sản xuất nội địa như: Tốc độ và sản lượng gia tăng nhậpkhẩu của sản phẩm liên quan một cách tuyệt đối hay tương đối; Lượng giatăng nhập khẩu lấy đi bao nhiêu phần trăm thị phần trong nước; Sự giảm sútthực tế về sản lượng, doanh số, thị phần, lợi nhuận, lỗ, năng suất, tỷ suất đầu
tư, nhân công, việc làm, Trách nhiệm điều tra chứng minh thiệt hại này sẽ domột cơ quan chức năng của mỗi quốc gia đảm nhiệm
Thứ ba Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột
biến và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại đó
Sự gia tăng số lượng hàng hóa nhập khẩu là hệ quả của chính sách tự dohóa thương mại và có mối quan hệ nhân quả với những thiệt hại xảy ra Quốcgia nhập khẩu phải chứng minh được rằng những thiệt hại nghiêm trọng hoặc
đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa là hệ quả củalượng hàng hóa nhập khẩu tăng đột biến Và hiện tượng tăng đột biến phải lànguyên nhân trực tiếp gây nên thiệt hại cho nền sản xuất hàng hóa trong nước.Nếu không chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa lượng nhập khẩucủa loại hàng hóa tăng đột biến có liên quan đến thiệt hại nghiêm trọng hoặc
đe dọa nghiêm trọng gây ra thì quốc gia nhập khẩu sẽ không thể áp dụng biện
pháp tự vệ “Khi có các yếu tố khác không phải là sự gia tăng nhập khẩu,
xuất hiện cùng một thời gian, gây ra tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp trong nước thì những tổn hại này sẽ không được coi là do sự gia tăng hàng nhập khẩu”20
1.2.3 Những quy định về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp
20 Khoản 2b Điều 4 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
Trang 22tự vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu
Trong trường hợp khẩn cấp cần ngăn chặn thiệt hại, cứu vãn nền sảnxuất trong nước đang bị hoặc có nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng do lượngnhập khẩu ồ ạt là hệ quả của việc thực hiện nghĩa vụ cắt giảm thuế quan vàxóa bỏ các hàng rào phi thuế quan khi tiến hành mở cửa thị trường, gia nhậpvào các thiết chế thương mại khu vực, toàn cầu Các quốc gia thành viên cóquyền viện dẫn các điều khoản về tự vệ theo Hiệp định về các biện pháp tự vệ
để bảo vệ nền sản xuất nước mình Việc điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ
sẽ do một cơ quan chuyên trách của mỗi quốc gia thực hiện Khác với các vụkiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp, WTO không có nhiều quy định chitiết về trình tự, thủ tục kiện áp dụng biện pháp tự vệ Các nước thành viên trênnền tảng các quy định của WTO, căn cứ vào tình hình, điều kiện của quốc giamình để nội luật hóa các cam kết Nhìn chung, pháp luật về tự vệ thương mạicủa Việt Nam và các nước quy định việc áp dụng biện pháp tự vệ được thựchiện theo trình tự sau
1.2.3.1 Thủ tục điều tra để áp dụng các biện pháp tự vệ.
Thứ nhất, nộp đơn và cung cấp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ
thương mại
Bên yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ nộp đơn yêu cầu và cung cấp hồ sơtrong đó có các tài liệu và thông tin liên quan đến hàng hóa thuộc đối tượng điềutra để áp dụng biện pháp tự vệ và các hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnhtranh trực tiếp Chủ thể nộp đơn yêu cầu vụ kiện áp dụng biện pháp thương mạithông thường là nhà sản xuất nội địa và Chính phủ quốc gia nhập khẩu
Việc nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ thường gây ra những xáotrộn, bất ổn định trong đời sống thương mại của nhà sản xuất Do đó, khoản 2
Điều 3 Hiệp định SG quy định “Mọi thông tin có tính chất bí mật hoặc được
cung cấp trên cơ sở bí mật phải được các cơ quan có thẩm quyền bảo quản tuyệt mật, dựa trên nguyên nhân được đưa ra Thông tin này sẽ không được tiết lộ nếu không được phép của bên cung cấp thông tin ” Thông thường thì
Trang 23những thông tin về vụ kiện tự vệ sẽ được bảo mật cho đến khi có quyết địnhđiều tra chính thức được ban bố.
Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia sau khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu thìphải chỉ định một cơ quan chuyên trách điều tra như Ủy ban Châu Âu, Ủy banthương mại quốc tế Hoa Kỳ, Bộ Công thương (Việt Nam), trường hợp hồ sơyêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ chưa đầy đủ thông tin thì phải thông báo chobên yêu cầu bổ sung thông tin trong một thời hạn nhất định Cơ quan có thẩmquyền sẽ không ra quyết định điều tra nếu các thông tin đó không được cungcấp trong thời hạn quy định
Thứ hai, giai đoạn điều tra
Sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu đầy đủ, hợp lệ, cơ quan có thẩm quyềnđiều tra phải ra quyết định điều tra và tiến hành điều tra Khoản 1, Điều 3,
hiệp định SG quy định: “Một Thành viên có thể áp dụng biện pháp tự vệ chỉ
sau khi cơ quan có thẩm quyền của Thành viên đó tiến hành điều tra theo thủ tục được xây dựng và công bố phù hợp với Điều 10 của Hiệp định GATT Việc điều tra sẽ bao gồm việc thông báo công khai cho tất cả các bên liên quan, thẩm vấn công khai hoặc các biện pháp thích hợp khác để nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, và các bên có liên quan có thể đưa chứng cứ, quan điểm của họ, bao gồm cả cơ hội được phản biện lý lẽ của bên kia và đưa ra quan điểm của mình nhằm xem xét việc áp dụng biện pháp này có phù hợp với lợi ích chung không Cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố báo cáo kết quả điều tra của mình và các kết luận thỏa đáng trên cơ sở các vấn đề thực tế và pháp lý”
Trang 24Như vậy, sau khi ra quyết định điều tra, cơ quan điều tra phải thông báocông khai quyết định điều tra cho các bên liên quan Nhà nhập khẩu, nhà xuấtkhẩu và các bên có liên quan được quyền đưa ra chứng cứ, quan điểm của họ
về vụ kiện tự vệ để đảm bảo quyền tố tụng của các bên Việc điều tra để đưa
ra kết luận và công bố kết quả điều tra của cơ quan điều tra phải dựa trên cơ
sở thực tiễn và pháp lý để đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả Các phiên tham vấn công khai sẽ được cơ quan có thẩm quyền tổ chứcvới sự tham gia của các bên liên quan đến quá trình điều tra và áp dụng cácbiện pháp tự vệ nhằm tạo điều kiện cho tất cả các bên liên quan trình bày ýkiến và cung cấp thông tin cần thiết Các bên liên quan đến quá trình điều tra
có quyền trình bày bằng các chứng cứ bằng văn bản; tiến hành tham luận vàthể hiện quan điểm về lợi ích kinh tế - xã hội khi áp dụng biện pháp tự vệ.Một lưu ý là các bên liên quan không bắt buộc phải có mặt tại các cuộc thamvấn; nếu bên nào không có mặt tại các cuộc tham vấn thì lợi ích của họ liênquan đến biện pháp tự vệ vẫn được bảo đảm
Trong khi điều tra để xác định xem hàng nhập khẩu gia tăng có gây rahoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng đối với sản xuất trong nước theo cácquy định của Hiệp định SG hay không, cơ quan chức năng sẽ đánh giá tất cảcác yếu tố liên quan tới đối tượng và có thể định lượng dựa trên tình hình sảnxuất của ngành này, đặc biệt là tốc độ và số lượng gia tăng nhập khẩu của sảnphẩm có liên quan một cách tương đối hay tuyệt đối, thị phần trong nước củaphần gia tăng nhập khẩu này, sự thay đổi mức bán hàng, sản xuất, năng suất,công suất sử dụng, lợi nhuận, lỗ và việc làm21
Giai đoạn điều tra kết thúc bằng việc cơ quan điều tra đưa ra kết luận vàcông bố kết quả điều tra dựa trên cơ sở thực tiễn và pháp lý về các yếu tố: tìnhhình nhập khẩu, tình hình thiệt hại, mối quan hệ giữa việc nhập khẩu và thiệthại Quốc gia nhập khẩu phải thông báo ngay lập tức cho Uỷ ban về các biệnpháp tự vệ về: (a) việc tiến hành điều tra liên quan tới tổn hại nghiêm trọng
21 Khoản 2 Điều 4 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
Trang 25hay đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng và các nguyên nhân; (b) kết luận vềtổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng do sự gia tăngnhập khẩu; và (c) quyết định áp dụng hoặc mở rộng biện pháp tự vệ22 Trongtrường hợp dự kiến áp dụng hay mở rộng biện pháp tự vệ, quốc gia nhậpkhẩu phải cung cấp tất cả thông tin cần thiết cho Uỷ ban về các biện pháp tự
vệ, bao gồm các chứng cứ về sự tổn hại nghiêm trọng hay đe dọa gây ra tổnhại nghiêm trọng do sự gia tăng nhập khẩu, mô tả rõ ràng loại sản phẩm liênquan, biện pháp dự kiến, thời điểm áp dụng dự kiến và tiến độ thực hiện tự dohóa biện pháp này
Dưới đây là bảng số liệu và biểu đồ mô tả các vụ điều tra tự vệ đượctiến hành trên thế giới từ 1995- 31/3/2013
Trang 26Kết hợp bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy số vụ điều tra các biện pháp
tự vệ trên toàn thế giới có chiều hướng tăng lên qua mỗi năm, đặc biệt năm
2002 là 34 vụ Từ năm 1996 đến 31/3/2013 tổng số vụ điều tra 225 vụ, cácnước khởi xướng việc điều tra tự vệ đứng đầu là Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa
Kỳ, Philippines và EU
Cùng với các công cụ phòng vệ khác là chống bán phá giá, chống trợ cấpthì các quốc gia ngày càng có ý thức sử dụng biện pháp tự vệ để bảo vệ nềnsản xuất nước mình trước xu hướng tự do hóa ngày càng sâu rộng hiện nay
1.2.3.2 Quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự vệ
Quốc gia nhập khẩu phải ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biệnpháp tự vệ trên cơ sở kết luận điều tra chính thức của cơ quan có thẩm quyềnđiều tra Quyết định này phải được công bố công khai
Các biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng trong giới hạn cần thiết để ngăncản hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điềuchỉnh cơ cấu sản xuất nội địa23.Và việc áp dụng phải được thực hiện trênnguyên tắc không phân biệt đối xử, tức là các biện pháp tự vệ sẽ được ápdụng đối với sản phẩm nhập khẩu bất kể sản phẩm đó có nguồn gốc, xuất xứ
từ quốc gia nào
Như vậy khác với biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợcấp (chỉ áp dụng đối với nhà xuất khẩu từ một hoặc một số nước xuất khẩunhất định bị điều tra), biện pháp tự vệ áp dụng cho tất cả các nhà sản xuất,xuất khẩu của tất cả các nước xuất khẩu đang xuất mặt hàng đó sang nướcnhập khẩu Trừ trường hợp ngoại lệ được quy định tại Khoản 1 Điều 9 Hiệp
định SG: “Các biện pháp tự vệ không được áp dụng để chống lại hàng hóa có
xuất xứ từ một nước Thành viên đang phát triển…”
Quốc gia nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp tự vệ dưới hình thức:
Thứ nhất, tăng thuế so với mức thuế trần đã cam kết (một mức thuế suất
cao hơn rất nhiều sẽ đánh lên phần hàng hóa nhập khẩu vượt quá số lượng,
23 Khoản 7 Điều 1 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
Trang 27khối lượng, giá trị hàng hóa nhập khẩu đã quy định).
Thứ hai, áp dụng biện pháp định lượng với điều kiện: “biện pháp này sẽ không làm giảm số lượng nhập khẩu dưới mức nhập khẩu trung bình của 3 năm đại diện gần nhất có số liệu thống kê, trừ khi có sự biện minh rõ ràng rằng cần có một mức khác để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng”24 Trường hợp biện pháp tự vệ là hạn ngạch, nước nhập khẩu cần tiếnhành thoả thuận với các nước xuất khẩu, chủ yếu về việc phân định hạnngạch Nếu không đạt được thoả thuận, việc phân bổ sẽ được thực hiện theothị phần tương ứng của từng nước xuất khẩu trong giai đoạn trước đó
Một biện pháp tự vệ tạm thời cũng có thể được áp dụng trong giai đoạnđiều tra nếu có bằng chứng rõ ràng rằng việc gia tăng nhập khẩu đã gây rahoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng mà không có biện pháp ngăn chặnkịp thời thì hậu quả sẽ không thể khắc phục được Biện pháp tạm thời được ápdụng trong trường hợp này là hình thức tăng thuế vì nếu sau đó kết quả điềutra chính thức xác định rằng sự gia tăng nhập khẩu không gây ra hoặc đe dọagây ra tổn hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất nội địa thì phải hoàn trảlại Và việc bồi thường này dễ dàng xác định dựa trên mức thuế suất bổ sung
mà nước xuất khẩu đã thực hiện
Khi được phép áp dụng biện pháp tự vệ, các thành viên phải nhanhchóng khắc phục thiệt hại và điều chỉnh lại cơ cấu của ngành sản xuất nội địachứ không phải nhằm mục đích hạn chế cạnh tranh
Dưới đây là bảng số liệu và biểu đồ mô tả tình hình sử dụng các biệnpháp tự vệ trên thế giới tính đến 31/3/2013
Trang 28Nguồn: Hội đồng tư vấn các biện pháp phòng vệ thương mại quốc tế VCC
Biểu đồ 2
Kết hợp biểu đồ 1 và biểu đồ 2 ta thấy, số vụ áp dụng biện pháp tự vệmặc dù có xu hướng tăng tuy nhiên chỉ chiếm khoảng 50% số vụ điều tra cácbiện pháp tự vệ giai đoạn 1995 -31/3/2013 (123/225 vụ) Như vậy có thể thấy
để áp dụng các biện pháp tự vệ không phải là dễ, đòi hỏi phải trải qua quátrình điều tra kỹ lưỡng với thủ tục chặt bởi nếu áp dụng biện pháp này thìChính phủ phải bồi thường thương mại cho các nước có hàng hoá bị áp dụngbiện pháp tự vệ với những điều kiện nhất định Do đó, so với chống bán phágiá, chống trợ cấp thì các quốc gia rất thận trọng, cân nhắc khi sử dụng công
cụ phòng vệ này
1.2.3.3 Thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ
Thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ là khoảng thời gian cần thiết để ngănchặn hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và tạo điều kiện để điều chỉnh cơcấu của nền sản xuất nội địa Thời hạn này theo Điều 7 Hiệp định tự vệ là
Trang 29không được vượt quá 4 năm, bao gồm cả thời gian áp dụng biện pháp tự vệtạm thời Trong trường hợp cần thiết thì có thể gia hạn một lần không quá 4năm, đối với các thành viên đang phát triển là không quá 6 năm tiếp theo.Việc gia hạn phải được thực hiện theo thủ tục chặt chẽ với điều kiện vẫn cònthiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngànhsản xuất trong nước và có các bằng chứng chứng minh rằng ngành sản xuất
đó đang điều chỉnh để nâng cao khả năng cạnh tranh Trường hợp áp dụngbiện pháp tự vệ tạm thời thì thời hạn áp dụng không được quá 200 ngày Nếukết quả điều tra xác định rằng sự gia tăng nhập khẩu không gây ra hoặc đedọa gây ra tổn hại nghiêm trọng đối với nền sản xuất nội địa thì biện pháp tạmthời đó phải được dỡ bỏ ngay
Như vậy, toàn bộ thời gian áp dụng cho một biện pháp tự vệ, kể cả thờigian áp dụng biện pháp tạm thời, thời gian bắt đầu áp dụng và bất cứ sự giahạn nào cũng không được vượt quá 8 năm, đối với các nước đang phát triển là
10 năm
Trang 30Tuy nhiên, thời gian tối đa cho việc áp dụng biện pháp tự vệ không cónghĩa là quốc gia nhập khẩu sẽ áp dụng biện pháp tự vệ trong suốt thời gian
đó, mà trong khi áp dụng, quốc gia nhập khẩu phải từng bước nới lỏng để đẩynhanh tốc độ hóa Trong thời kỳ áp dụng, nếu căn cứ, điều kiện cho việc ápdụng không còn nữa thì quốc gia nhập khẩu phải đình chỉ ngay hoặc hủy bỏbiện pháp đang áp dụng đối với loại hàng hóa đó Trường hợp một biện phápđược áp dụng trên 3 năm thì phải được xem xét lại giữa kỳ để cân nhắc khảnăng chấm dứt hoặc giảm mức áp dụng mạnh hơn nữa
1.2.3.4 Các quy định về rà soát, đình chỉ, gia hạn việc áp dụng, tái áp dụng biện pháp tự vệ
Xuất phát từ mục đích không nhằm hạn chế cạnh tranh và để tránh tìnhtrạng nước nhập khẩu lạm dụng biện pháp tự vệ để bảo hộ nền sản xuất trongnước, Hiệp định về các biện pháp tự vệ đưa ra những điều khoản ràng buộccác nước thành viên khi áp dụng biện pháp tự vệ phải tuân thủ để tránh tìnhtrạng vượt quá mức cần thiết
Rà soát: Hiệp định này quy định trong trường hợp thời gian áp dụng biện
pháp tự vệ vượt quá 3 năm, thành viên áp dụng biện pháp này phải tiến hành
rà soát thực tế trước khi hết một nửa thời gian này để ra quyết định thích hợp.Sau khi rà soát thực tế, quốc gia áp dụng ra một trong ba quyết định: Duy trìbiện pháp tự vệ đang được áp dụng hoặc giảm nhẹ mức độ áp dụng biện pháp
đó hoặc đình chỉ biện pháp đang được áp dụng
Đình chỉ và gia hạn: Quốc gia nhập khẩu phải ra quyết định đình chỉ
biện pháp tự vệ đang áp dựng nếu các điều kiện cho việc áp dụng biện pháp tự
vệ không còn tồn tại hoặc việc tiếp tục áp dụng biện pháp tự vệ thương mạigây ra thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội trong nước Ngược lại,trường hợp thời hạn áp dụng đã hết mà biện pháp đã áp dụng vẫn còn cầnthiết để ngăn chặn hay khắc phục thiệt hại nghiêm trọng, phục hồi ngành sảnxuất thì có thể gia hạn việc áp dụng Thủ tục cho việc gia hạn áp dụng biệnpháp tự vệ được thực hiện tương tự thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ
Trang 31và dựa trên hồ sơ yêu cầu gia hạn áp dụng biện pháp tự vệ của đại diện ngànhsản xuất hàng hóa đó
Hồ sơ yêu cầu gia hạn phải bao gồm bằng chứng cho thấy ngành sảnxuất trong nước đó đã được thực hiện các biện pháp điều chỉnh cần thiết đểnâng cao khả năng cạnh tranh
Tái áp dụng: Khoản 5 Điều 7 Hiệp định về các biện pháp tự vệ quy định:
“Không biện pháp tự vệ nào được áp dụng lại đối với việc nhập khẩu một sản
phẩm đã bị áp dụng một biện pháp này sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực trong thời hạn bằng thời hạn mà biện pháp đó đã được áp dụng trước đây, với điều kiện thời hạn không áp dụng phải ít nhất là 2 năm” Như vậy, hiệp
định cấm tái áp dụng biện pháp tự vệ đã áp dụng đối với một sản phẩm trongthời hạn bằng với thời hạn mà biện pháp đó đã được áp dụng trước đó Việctái áp dụng chỉ có thể được thực hiện trong thời kỳ tiếp theo sau đó 2 năm.Tuy nhiên, trong trường hợp một biện pháp tự vệ đã được áp dụng đối vớimột loại sản phẩm có thời hạn dưới 6 tháng thì có thể tái áp dụng lại biệnpháp đó khi có đủ hai điều kiện: (a) ít nhất sau 1 năm, kể từ ngày áp dụngbiện pháp tự vệ trước đó và (b) biện pháp tự vệ đã được áp dụng đối với loạisản phẩm không quá 2 lần trong thời gian 5 năm trước ngày tái áp dụng biệnpháp tự vệ25
1.2.3.5 Vấn đề đền bù thiệt hại
Được thừa nhận trong thương mại quốc tế nhưng đi ngược lại với mụctiêu tự do hóa thương mại của WTO, do sử dụng để “đối phó” với hành vithương mại hoàn toàn bình thường, tức là không có hành vi cạnh tranh khônglành mạnh nên khác với chống bán phá giá và chống trợ cấp, biện pháp tự vệthương mại không phải là công cụ miễn phí Nghĩa là nước nhập khẩu đượcphép áp dụng biện pháp tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nước mình tránhnhững đổ vỡ trong những trường hợp đặc biệt khó khăn nhưng phải bồithường tổn thất thương mại cho nước xuất khẩu liên quan có hàng hóa bị áp
25 Khoản 6 Điều 7 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
Trang 32dụng như một hình thức cân bằng cam kết thương mại với các nước khác.
Hiệp định về tự vệ quy định: “Một Thành viên đề xuất áp dụng biện pháp tự
vệ hay tìm cách mở rộng biện pháp này sẽ cố gắng duy trì một mức độ nhượng bộ và các nghĩa vụ khác tương đương với các nhượng bộ và nghĩa vụ được quy định trong GATT 1994 giữa nước đó với các Thành viên xuất khẩu
bị ảnh hưởng của biện pháp này Để đạt được mục đích này, các Thành viên
có liên quan có thể thoả thuận về một hình thức đền bù thương mại thoả đáng đối với những tác động tiêu cực của biện pháp này tới thương mại của họ 26 ” Như vậy, một nước hoặc các nước xuất khẩu có quyền được yêu cầu bồi
thường thiệt hại do việc bị áp dụng biện pháp tự vệ thông qua con đườngtham vấn
Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải tiến hành thương lượngvới các nước xuất khẩu về biện pháp đền bù thương mại thoả đáng Thôngthường là nước nhập khẩu tự nguyện giảm thuế nhập khẩu cho một số nhómhàng hóa đến từ các nước xuất khẩu đó Trường hợp không đạt được thoảthuận, nước xuất khẩu liên quan có thể áp dụng biện pháp trả đũa (thường làviệc rút lại những nghĩa vụ nhất định trong WTO, bao gồm cả việc rút lại cácnhượng bộ về thuế quan, tức là từ chối giảm thuế theo cam kết WTO đối vớinước áp dụng biện pháp tự vệ)27 Tuy nhiên, việc trả đũa không được thựchiện trong 3 năm đầu kể từ khi biện pháp tự vệ được áp dụng (nếu biện pháp
áp dụng tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO và thiệt hại nghiêm trọng làthiệt hại thực tế)
1.3 Pháp luật về tự vệ của một số quốc gia, khu vực trên thế giới
Là một trong những hiệp định đa biên của WTO được xây dựng sauvòng đàm phán Uruguya, Hiệp định các biện pháp tự vệ có giá trị bắt buộcđối với tất cả các nước thành viên Các nước thành viên khi tiến hành xâydựng đạo luật khung về tự vệ thương mại của mình phải tuân thủ các quy định
26 Xem thêm Điều 8 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
27 http://moj.gov.vn
Trang 33của WTO đồng thời căn cứ vào tình hình, điều kiện phát triển của quốc giamình để đưa ra các chế định cụ thể, hợp lý đảm bảo việc thực thi có hiệu quả.Các vụ kiện, việc điều tra và áp dụng các biện pháp tự vệ trên thực tế đượctiến hành theo pháp luật quốc gia của mỗi nước nhập khẩu, phù hợp với cácquy định của WTO.
Trong giới hạn bài khóa luận này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu phápluật tự vệ của một số quốc gia, khu vực tiêu biểu trên thế giới là Mỹ, EU Đây
là những quốc gia có nền kinh tế rất phát triển đồng thời có nhiều kinhnghiệm trong việc sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại, trong đó biệnpháp tự vệ Việc tìm hiểu các quy định của pháp luật của các quốc gia, khuvực này rất hữu ích trong việc hoàn thiện pháp luật về tự vệ thương mại củaViệt Nam ở cả phương diện lý luận và thực tiễn
1.3.1 Pháp luật về tự vệ thương mại của Liên minh Châu Âu (EU)
Liên minh Châu Âu (EU) là một tổ chức liên chính phủ của các nướcChâu Âu được thành lập năm 1991 dựa trên hiệp ước Masstricht, tiền thân của
nó là cộng đồng Châu Âu ( EC) ra đời từ năm 1967 và hiện nay gồm 28 quốcgia thành viên Với tư cách là một tập hợp các thành viên của WTO, EU cómột chế độ quản lý nhập khẩu dựa trên các nguyên tắc cơ bản của tổ chứcnày, đó là những quy chế chung hay các biện pháp bảo vệ quyền lợi của cácnhà sản xuất và người tiêu dùng trong cộng đồng mà một trong các số đó làQuy chế về các biện pháp tự vệ của EU gồm Quy chế số 3285/94/EC và Quychế 519/94 về các nguyên tắc nhập khẩu chung được ban hành vào ngày 29tháng 12 năm 1994, có hiệu lực thi hành từ 1 tháng 1 năm 1995, được sửa đổi
bổ sung lần 1 vào năm 1996, lần 2 vào năm 2000 (đối với hàng dệt may thìđược điều chỉnh theo quy chế số 3090/92/EC) Quy chế này được thiết lậpdựa trên nguyên tắc của tự do nhập khẩu, tuy nhiên nhằm để bảo vệ quyền lợicủa các thành viên trước những tác động của chính sách tự do hóa thương mạitrong điều kiện cạnh tranh bình đẳng, Quy chế cho phép EU trong nhữngtrường hợp cần thiết có thể áp dụng các biện pháp tự vệ khi có sự gia tăng
Trang 34hàng hóa nhập khẩu, không lường trước được và đã gây ra hoặc đe dọa gây rathiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong cộng đồng Quy chế nàyđược áp dụng đối với mọi hàng hóa nhập khẩu (ngoại trừ các sản phẩm dệtmay) có xuất xứ từ các nước thứ ba (những nước không nằm trong EU) ngoạitrừ một số quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam)28.
Thứ nhất: Cơ quan có thẩm quyền
Ủy ban Châu Âu có quyền khởi xướng và tiến hành điều tra tự vệ
Hội đồng Châu Âu có thẩm quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp
tự vệ Hội đồng Châu Âu cũng có vai trò cao nhất trong các quyết định thuộcthẩm quyền của Ủy ban Châu ÂU (có thể đồng ý, sửa đổi hoặc thu hồi cácquyết định của Ủy ban)
Thứ hai: Về điều kiện cần để áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại
Các điều kiện cần phải đáp ứng trước khi EU có thể áp dụng các biện pháp tự
vệ đối hàng nhập khẩu từ các quốc gia có nền kinh tế thị trường:
Hàng nhập khẩu có sự gia tăng tuyệt đối hay tương đối so với sản xuấtnội địa của Cộng đồng ( tăng đột biến và/hoặc có giá thấp)
Sự gia tăng hàng nhập khẩu đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hạiđáng kể cho các nhà sản xuất trong Cộng đồng của sản phẩm tương tự hoặcsản phẩm cạnh tranh trực tiếp (phân tích thiệt hại)
Phải có mối liên quan hệ quả giữa hàng nhập khẩu với thiệt hạinghiêm trọng hoặc đe dọa nghiêm trọng
Các biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng khi những biện pháp này đứngtrên lợi ích Cộng đồng29
Các biện pháp tự vệ chỉ được áp khi một sản phẩm được nhập khẩu vào
EU với số lượng tăng đột biến hoặc theo những điều kiện hay điều khoản gây
ra, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho sảnphẩm tương tự hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nội địa
28 Xem Nguyễn Quý Trọng (2012), Biện pháp tự vệ - từ góc độ kinh nghiệm của liên minh Châu Âu (EU), Kinh tế pháp luật Châu Âu 7.Tr.41
29 Điều 17 Mục V
Trang 35Quy chế xác định, việc đánh giá thiệt hại không chỉ giới hạn trong phạm
vi sản phẩm tương tự mà còn mở rộng ra đối với sản phẩm trực tiếp cạnhtranh Sản phẩm trực tiếp cạnh tranh là những sản phẩm về cơ bản có thể thaythế cho sản phẩm khác, tức là những sản phẩm có cùng mục đích sử dụng và
có thể thay thế cho nhau Ví dụ liên quan đến hàng giày dép, trong một trườnghợp sản phẩm nhập khẩu bao gồm cả sản phẩm giày du lịch và giày thể thao,nhưng hội đồng quyết định đánh giá không chỉ ảnh hưởng tới các mặt hànggiày dép thể thao mà còn ảnh hưởng đến các nhà sản xuất nội địa tất cả cácloại giày dép vì những loại giày dép này có thể thay đổi cho nhau nên đượccoi là sản phẩm trực tiếp cạnh tranh30
Theo pháp luật về tự vệ của EC, ngoài ba điều kiện để áp dụng tự vệthương mại như quy định của WTO, EC đưa ra ra điều kiện thứ tư để áp dụngbiện pháp tự vệ là kết luận về việc “lợi ích của Cộng đồng yêu cầu phải canthiệp” Điều này có nghĩa là các cơ quan chức năng của EC có quyền không
áp dụng biện pháp tự vệ cho dù có kết luận về thiệt hại nghiêm trọng và mốiquan hệ nhân quả đã được đưa ra nếu như việc áp dụng những biện pháp nàyđược coi là đi ngược lại lợi ích Cộng đồng
Thứ ba Về các biện pháp tự vệ theo quy chế 3285/94/EC.
Các biện pháp tự vệ được áp dụng theo Quy chế của EC hiện nay gồm cóGiới hạn số lượng (biện pháp thuế quan) và hạn ngạch hay giấy phép (biệnpháp phi thuế quan) Các biện pháp này được áp dụng dưới hình thức :
- Thay đổi thời hạn hiệu lực của hợp đồng nhập khẩu (thường là rút ngắnthời hạn hiệu lực của các hợp đồng này)
Trang 36nhất trừ các trường hợp ngoại lệ), phải liên tục thực hiện các hợp đồng đãđược ký kết trước khi áp dụng hạn ngạch đồng thời cũng phải tính đến nhữngtác động nguy hại có thể xảy ra khi áp dụng biện pháp hạn chế số lượng đốivới nhập khẩu.
Khi thiết lập một hạn ngạch thì cần phân tích rõ các yếu tố:
Mong muốn duy trì, các lâu càng tốt, các dòng thương mại truyền thống
Khối lượng hàng hóa được nhập khẩu theo hợp đồng được kết luậntrên các điều kiện và điều khoản thông thường trước khi có biện pháp tự vệ và
Nhu cầu tránh ảnh hưởng tới thành tích của mục tiêu cần đạt được khithiết lập hạn ngạch31
Thông thường, hạn ngạch sẽ được các cơ quan chức năng của EC ápdụng tại khắp các quốc gia trong cộng đồng.Về mặt lý thuyết thì hạn ngạchkhông thể chỉ áp dụng tại một hoặc một vài quốc gia thành viên, tuy nhiênQuy chế cũng quy định rằng Hội đồng sau khi có những giải pháp thay thếđược kiểm tra, có thể cho phép áp dụng biện pháp tự vệ giới hạn tại một hoặcmột vài vùng trong cộng đồng
Thứ tư Trình tự thủ tục áp dụng
Theo quy chế 3285/94/EC, khi nhận thấy mức độ gia tăng đột biếncủa hàng hóa khập khẩu đến mức báo động có thể gây thiệt hại cho ngànhsản xuất, các Thành viên phải thông báo ngay cho Ủy ban Châu Âu (Lưu
ý là Quy chế tự vệ không cho phép ngành sản xuất nội địa quyền được đệtrình trực tiếp đơn khiếu nại lên Hội đồng, thay vào đó, ngành sản xuấtchịu thiệt hại do sản phẩm nhập khẩu phải chuyển đơn khiếu nại cho Quốcgia thành viên)32 Thông báo phải bao gồm tất cả các bằng chứng hiểnnhiên mà các nước thành viên đưa ra được xác định trên cơ sở các tiêuchuẩn được quy định trong Quy chế của EC.Thông báo này sẽ được Ủyban Châu Âu chuyển tới toàn bộ các nước thành viên trong Cộng đồng
31 Xem Khoản 3a Điều 16 Mục 5 Quy chế 3285/94/EC- Quy chế về các biện pháp tự vệ của EU (bản tiếng Anh).
32 Xem ấn phẩm Ấn phẩm Hướng dẫn về các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng tại Cộng đồng Châu Âu, Geneva, 2006 (Bản dịch), tr.3.
Trang 37Việc tham vấn sẽ được thực hiện trong thời hạn 8 ngày sau khi nhận đượcthông báo và phải diễn ra trước khi tiến hành áp dụng các biện pháp tự vệdưới sự điều hành của một Hội đồng Tham vấn Nội dung tham vấn gồmnhiều vấn đề như điều kiện cách thức gia tăng hàng nhập khẩu, tình hìnhkinh tế thương mại liên quan đến loại sản phẩm nhập khẩu Kết quả thamvấn là cơ sở để có thể quyết định áp dụng điều tra hay không Nếu cóbằng chứng đầy đủ và sau khi tham vấn, Hội đồng sẽ đăng thông báo bắtđầu tiến hành điều tra trên Công báo của Cộng đồng Châu Âu.
Điều tra: Việc điều tra được tiến hành trong vòng 1 tháng kể từ khi nhận
được thông báo Trong khuôn khổ cuộc điều tra, Hội đồng tập trung xem xétcác vấn đề: khối lượng hàng hóa nhập khẩu (tăng tương đối hay tuyệt đối), giá
cả hàng hóa nhập khẩu (có thấp hơn giá của sản phẩm tương tự trong Cộngđồng hay không), các yếu tố khác ảnh hưởng đến lợi ích của nhà sản xuấttrong Cộng đồng Hội đồng có quyền điều tra rộng rãi và thu thập tất cả cácthông tin được cho là cần thiết để đưa ra kết luận, Hội đồng có thể xác minhthông tin nhận được với các nhà nhập khẩu, thương nhân, đại lý, nhà sản xuất,hiệp hội và các tổ chức thương mại Các quốc gia Thành viên có nghĩa vụcung cấp cho Hội đồng về những thông tin liên quan đến hàng hóa gia tăngđang được điều tra trên thị trường
Các bên liên quan và đại diện quốc gia nhập khẩu có thể kiểm chứng tất
cả thông tin được cung cấp cho Hội đồng trong khuôn khổ làm việc của cuộcđiều tra nếu việc này phù hợp với việc bảo vệ quyền lợi cho các bên và cácthông tin này là phi bảo mật Trên thực tế, Hội đồng cho phép tất cả các bênliên quan bao gồm cả các Chính phủ của quốc gia xuất khẩu bị ảnh hưởng cơhội trình bày bằng văn bản và bằng lời
Thời hạn điều tra kéo dài không quá 9 tháng kể từ ngày Ủy ban ra quyếtđịnh điều tra, trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn một lần không quá haitháng tiếp theo
Căn cứ vào kết quả điều tra, Ủy ban sẽ ra một trong hai quyết định: Một
Trang 38là quyết định chấm dứt điều tra nếu nhận thấy không cần thiết phải áp dụngbất cứ biện pháp tự vệ nào đối với sự gia tăng hàng nhập khẩu Hai là nhậnthấy việc áp dụng biện pháp tự vệ là cần thiết, Ủy ban phải đưa ra những kiếnnghị yêu cầu Hội đồng tham vấn quyết định biện pháp tự vệ phù hợp
Áp dụng biện pháp tạm thời: Giống như quy chế chống bán phá giá và
chống trợ cấp, Quy chế tự vệ cho phép Hội đồng được áp dụng biện pháp tự
vệ tạm thời (trước hoặc trong khi tiến hành điều tra) với điều kiện là trongtrường hợp bắt buộc và quyết định sơ bộ cung cấp bằng chứng rõ ràng chothấy lượng hàng hóa nhập khẩu tăng lên đã và đang gây thiệt hại hoặc đe dọagây thiệt hại nghiêm trọng Trường hợp bắt buộc được mô tả là “nếu trì hoãnviệc áp dụng có thể gây thiệt hại khó giải quyết về sau, cần phải có hành độngtức thời”33 Thời hạn áp dụng là không quá 200 ngày và ở dạng tăng mức thuếhải quan, mức tăng này phải được tự động hoàn lại nếu như biện pháp nàyđược dỡ bỏ sau đó
Áp dụng biện pháp chính thức :
Các biện pháp tự vệ có thể được áp dụng bởi hoặc Hội đồng hoặc Ủyban Hội đồng là cơ quan chính áp dụng các biện pháp theo yêu cầu của mộtquốc gia thành viên hoặc của chính cơ quan này, hội đồng gồm đại diện củamỗi quốc gia Thành viên Bất kỳ quyết định nào do hội đồng đưa ra liên quanđến việc áp dụng các biện pháp tự vệ phải được thông báo tới Ủy ban và cácnước thành viên Ủy ban cũng có quyền áp dụng với vai trò là đại diện của đa
số và theo đề xuất của Hội đồng34
Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ phải được giới hạn trong khoảngthời gian cần thiết để ngăn chăn, xử lý thiệt hại Không một biện pháp nàođược kéo dài cả 4 năm, bao gồm cả thời gian áp dụng biện pháp tạm thời Nếuthời gian áp dụng vượt quá một năm, các biện pháp phải dần được nới lỏng đểtiến tới tự do hóa
Các biện pháp tự vệ chỉ được gia hạn khi chúng được cho là cần thiết để
33 Điều 8 Mục V Quy chế 3285/94/EC- Quy chế về các biện pháp tự vệ của EU (bản tiếng Anh
34 Xem thêm ấn phẩm Hướng dẫn về các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng tại Cộng đồng Châu Âu, Geneva, 2006 (Bản dịch).
Trang 39ngăn chặn, xử lý thiệt hại nghiêm trọng và có bằng chứng chứng minh rằngcác nhà sản xuất của Cộng đồng đang điều chỉnh Trường hợp được gia hạn,biện pháp gia hạn không được giới hạn hơn biện pháp ban đầu và có thểkhông được gia hạn thêm cả bốn năm35.
Khi áp dụng biện pháp tự vệ bất kỳ theo quy định, EU cũng phải thỏathuận bồi thường cho các nước xuất khẩu liên quan bằng cách giảm thuế đốivới sản phẩm khác hoặc bồi thường tiền tương ứng với phần thiệt hại của nhàxuất khẩu nước ngoài do bị áp dụng biện pháp tự vệ
Rà soát: Trong thời hạn gia hạn biện pháp tự vệ một năm, nó phải được
phổ biến rộng rãi theo định kỳ trong suốt quá trình áp dụng Nếu giai đoạnnày kéo dài hơn ba năm thì Hội đồng phải tham vấn Ủy ban tư vấn trước giữa
kỳ để đánh giá biện pháp và xem xét việc áp dụng có cần thiết hay không
Tái áp dụng: Bất kỳ một biện pháp tự vệ nào áp lên một sản phẩm cụ thể
không được tái áp dụng cho đến một khoản thời gian tương đương với thờigian của biện pháp trước đó trôi qua.Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ đối với biệnpháp tự vệ có thời hạn bằng hoặc ngắn hơn 180 ngày theo quy định của WTO
Đối với các nước đang phát triển: Quy chế cấm việc áp dụng biện pháp
tự vệ đối với một nước đang phát triển là thành viên của WTO với điều kiện:Thị phần lượng sản phẩm có liên quan được nhập khẩu của quốc gia đangphát triển không vượt quá 3% và Tổng lượng hàng nhập của nước đang pháttriển là Thành viên của WTO có thị phần ít hơn 3% không vượt quá 9% tổnglượng hàng nhập sản phẩm có liên quan36
Đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường: Một Quy chế khác sẽ được
áp dụng cho các nước có nền kinh tế phi thị trường đối với tất cả những sảnphẩm không phải là sản phẩm may mặc và dệt may và ngoại trừ Trung Quốc làQuy chế 519/94/EC Cụ thể, biện pháp tự vệ có thể được áp dụng khi một sảnphẩm của nước có nền kinh tế phi thị trường nhập khẩu vào EU có số lượng tăngđột biến và trên những điều kiện hoặc điều khoản nhất định có thể gây ra hoặc đe
35 Xem Điều 20 mục V Quy chế 3285/94/EC- Quy chế về các biện pháp tự vệ của EU.
36 Xem Điều 19 Mục V Quy chế 3285/94/EC- Quy chế về các biện pháp tự vệ của EU
Trang 40dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng tới các nhà sản xuất sản phẩm tương tự hoặcsản phẩm cạnh tranh trực tiếp và việc áp dụng biện pháp tự vệ là vì lợi ích của
EU Biện pháp tự vệ được áp dụng là giấy phép nhập khẩu
Trong việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, EU thường sử dụngbiện pháp hạn ngạch, rất ít khi phải sử dụng biện pháp thuế quan Nhờ có mộtquy chế nhập khẩu khá chặt chẽ nên việc quản lý nhập khẩu của EU tương đốitốt, hàng hóa của nhiều nước đã và đang phát triển nhập khẩu vào EU bị ràngbuộc bởi nhiều hiệp định thương mại khác nhau, nhiều hàng rào thuế quan vàphi thuế quan như các quy định, quy chế, tiêu chuẩn cũng như các yêu cầucủa thị trường này về chất lượng, vệ sinh thực phẩm, an toàn và môi trường Trên thực tế, EU rất ít khi viện dẫn điều khoản XIX GATT, Hiệp định cácbiện pháp tự vệ của WTO, Quy chế về các biện pháp tự vệ của EU trừ trườnghợp cần thiết nhằm giải quyết bài toán về việc áp dụng các biện pháp tự vệmột cách hiệu quả
1.3.2 Pháp luật về tự vệ thương mại của Hoa Kỳ
Pháp luật về tự vệ thương mại của Hoa Kỳ có lịch sử hình thành và pháttriển từ lâu đời Nguồn gốc của biện pháp bảo hộ thương mại trong tình huốngkhẩn cấp mà ngày nay chúng ta quen gọi là biện pháp tự vệ thương mại xuấtphát từ Hoa Kỳ Năm 1947, khi Hoa Kỳ cùng 21 quốc gia khác bắt đầu đàmphán soạn thảo các văn bản của GATT và ITO, Tổng thống Hoa Kỳ (lúc đó làTruman) đã ban hành lệnh 9832 (tháng 2/1947), trong đó quy định rằng điềukhoản dự phòng phải được đưa vào mọi Hiệp định thương mại theo chươngtrình Hiệp định thương mại của Hoa Kỳ Lệnh này được sửa đổi bởi một vàilệnh khác cho đến năm 1951, khi điều khoản dự phòng được Nghị viện đưavào Đạo luật mở rộng các hiệp định thương mại và nó vẫn giữ vai trò quantrọng ngày nay Điều khoản dự phòng của điều XIX GATT chính là một “hậuduệ” trực tiếp của điều khoản đã xuất hiện trong hiệp định thương mại HoaKỳ- Mexico37
37 John H.Jackson Hệ thống thương mại Thế giới, Luật và Chính sách của Quan hệ kinh tế quốc tế The MIT Press, Cambridge, Massachusetts, Lon Don, Tái bản lần II, Tr 83.