1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự - thực tiễn tại quảng bình

71 4,2K 28
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Biện Pháp Bảo Đảm Thi Hành Án Dân Sự - Thực Tiễn Tại Quảng Bình
Trường học Đại học Quảng Bình
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn
Thành phố Quảng Bình
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 116,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mục đích bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được thihành án, khẳng định rõ hơn quyền hạn của chấp hành viên, nhằm nâng caohiệu quả của công tác thi hành án dân sự, giảm

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5

6 Những điểm mới của khóa luận 5

7 Kết cấu của khóa luận 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm và những nội dung cơ bản của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 7

1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 7

1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 8

1.1.3 Nội dung của áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 11

1.2 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 13

1.2.1 Cơ sở lý luận 13

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.3 Ý nghĩa của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 15

1.3 Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 19

1.3.1 Biện pháp phong tỏa tài khoản 19

1.3.1.1 Đối tượng, quyền yêu cầu, quyền áp dụng và thẩm quyền áp dụng biện pháp phong tỏa 21

1.3.1.2 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản 22

1.3.2 Biện pháp pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự 24

1.3.2.1 Đối tượng, quyền yêu cầu, quyền áp dụng và thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ 24

Trang 2

1.3.2.2 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản 25

1.3.3 Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản 29

1.3.3.1 Đối tượng, quyền yêu cầu, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản 30

1.3.3.2 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản 31

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP 35

2.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Bình 35

2.1.1 Thực tiễn thực hiện biện pháp phong tỏa tài khoản 36

2.1.2 Thực tiễn thực hiện biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ 43

2.1.3 Thực tiễn thực hiện biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản để đảm bảo thi hành án 49

2.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 54

2.2.1 Kiến nghị chung về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 54

2.2.2 Các kiến nghị cụ thể 58

2.2.2.1 Đối với biện pháp phong tỏa tài khoản 58

2.2.2.2 Đối với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ 59

2.2.2.3 Đối với biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản 60

2.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 61

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC67

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng có ýnghĩa hết sức quan trọng trong đời sống xã hội Điều 106 Hiến pháp năm

1992 sửa đổi 2013 đã quy định rõ: “Bản án, quyết định của Toà án nhândân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơquan, tổ chức, cá nhân hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành” Với ý nghĩa làhoạt động đưa bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, Trọng tài thươngmại, Hội đồng xử lý việc cạnh tranh ra thi hành trên thực tế, bảo đảm chobản án, quyết định, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảođảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảođảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích của nhà nước,góp phần giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quảcủa bộ máy nhà nước trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã quan tâmban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật, cũng như hỗ trợ và tạomọi điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự (thi hành án dânsự) như Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân

sự năm 1993, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004

Đặc biệt, ngày 14/11/2008, Quốc hội nước ta thông qua Luật thi hành

án dân sự và Nghị quyết thi hành Luật này, có hiệu lực thi hành kể từ ngày01/7/2009 Luật Thi hành án dân sự được ban hành có nhiều nội dung mới,phù hợp với yêu cầu cải cách Tư pháp, đồng thời đáp ứng đòi hỏi cấp thiếtcủa thực tiễn công tác thi hành án trong giai đoạn hiện nay Trong lĩnh vựcthi hành án dân sự, phần lớn các nghĩa vụ thi hành án gắn liền với yếu tố tàisản, các đương sự trong vụ việc thi hành án thường không tự nguyện thihành án, có tâm lý chây ỳ, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trong Bản án,quyết định nên rất dễ dẫn đến những hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản nhằmlàm mất đi điều kiện thi hành án Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, với

Trang 4

mục đích bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được thihành án, khẳng định rõ hơn quyền hạn của chấp hành viên, nhằm nâng caohiệu quả của công tác thi hành án dân sự, giảm tình trạng án tồn đọng, Luậtthi hành án dân sự đã dành một mục tại chương 4 với 3 biện pháp bảo đảmthi hành án, gồm: Phong toả tài khoản; Tạm giữ tài, giấy tờ của đương sự;Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sơ hữu, sử dụng, thi hành ány đổihiện trạng tài sản Đây là một trong những điểm mới mang tính bước ngoặtcủa Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Với việc qui định các biện pháp bảo đảm thi hành án, Luật thi hành ándân sự đã kịp thời bổ sung cho các chấp hành viên những quyền hạn nhấtđịnh Thực tế cho thấy nước ta sau 5 năm thực hiện các biện pháp bảo đảmthi hành án đã mang lại những khởi sắc nhất định trong công tác thi hành

án dân sự Tuy nhiên, đây cũng là công việc, quyền hạn, nhiệm vụ thực sựmới đối với các Chấp hành viên Các biện pháp này vẫn còn những hạnchế, khó khăn nhất định, bộc lộ nhiều vấn đề cần nghiên cứu, làm rõ thêmnên cần phải nghiên cứu kỹ để việc áp dụng các biện pháp bảo đảm đượcthuận lợi, có hiệu quả và chính xác hơn Đây chính là vấn đề của cả nướcnói chung và của tỉnh Quảng Bình nói riêng Do đó, tác giả lựa chọn đề tài

“Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự - Thực tiễn tại Quảng Bình”

làm đề tài khóa luận của mình với mục đích làm sáng tỏ hơn tầm quantrọng, ý nghĩa và cơ sở pháp lý, trình tự, thủ tục trong việc áp dụng cácbiện pháp bảo đảm thi hành án

Trang 5

Đối với biện pháp phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án, trướcđây được Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 quy định là một biệnpháp cưỡng chế thi hành án Chỉ đến khi Luật thi hành án dân sự được banhành thì chế định các biện pháp bảo đảm thi hành án mới được quy địnhmột cách đầy đủ, cụ thể Do đó, cho đến nay, chỉ có một số ít công trìnhnghiên cứu khoa học pháp lý đề cập đến đề tài này như:

- "Luật Thi hành án dân sự Việt Nam những vấn đề lí luận và thựctiễn" do Ts Nguyễn Công Bình (chủ biên), do Nhà xuất bản Công an nhândân xuất bản, năm 2007;

- "Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008", Đề tàinghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010

- "Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự",của Nguyễn Thị Khanh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 05/2010

- "Bản chất pháp lí của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theoLuật Thi hành án dân sự",Trần Anh Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số16/2009

- "Vài suy nghĩ về thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án",của Hồ Quân Chính,Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về thihành án dân sự 7/2011

- "Biện pháp bảo đảm thi hành án-Bước ngoặt của pháp luật về thihành án dân sự", của Lê Thị Kim Dung, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Sốchuyên đề Thi hành án dân sự và vấn đề xã hội hóa, năm 2009

Tuy nhiên, do mục đích và phạm vi nghiên cứu, các công trình nghiêncứu này cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu mục đích, cơ sở áp dụng vàgiới thiệu về nội dung các quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án dân

sự mà chưa nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, tổng thể về các nộidung liên quan đến vấn đề này Tuy nhiên, đây vẫn là những tài liệunghiên cứu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện việcnghiên cứu đề tài khóa luận của mình

Trang 6

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ một số vấn đề lý luận vềbiện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, nội dung của chế định biện phápbảo đảm thi hành án dân sự; nhận diện được những hạn chế, bất cập củachế định này và các tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện chúng tạitỉnh Quảng Bình Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục nhữnghạn chế, bất cập, vướng mắc, tồn tại đó, góp phần giải quyết các khó khăn,vướng mắc đặt ra trong công tác thi hành án dân sự hiện nay

Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được xácđịnh trên những khía cạnh sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm thi hành ándân sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở của biện pháp bảo đảm thihành án dân sự

- Phân tích, đánh giá những quy định của Luật thi hành án dân sự vềbiện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

- Khảo sát tình hình thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành án dân

sự trong thực tiễn ở tỉnh Quảng Bình hiện nay

- Tìm ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện phápluật về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự trong cả nước nói chung và ởQuảng Bình nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về biện phápbảo đảm thi hành án dân sự, là các quy định của pháp luật về biện phápbảo đảm thi hành án dân sự và thực trạng thực hiện các biện pháp này tronghoạt động thi hành án dân sự hiện nay

Nội dung nghiên cứu đề tài bao gồm nhiều vấn đề khác nhau Tuyvậy, do giới hạn của một khóa luận, việc nghiên cứu chỉ tập trung vàonhững vấn đề cơ bản nhất thuộc nội dung đề tài như khái niệm, đặc điểm,nội dung và ý nghĩa của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự; cơ sở của

Trang 7

việc pháp luật quy định biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự; nội dungcác quy định của Luật thi hành án dân sự về biện pháp bảo đảm thi hành ándân sự và thực tiễn thực hiện chúng trong những năm qua.

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứunội dung các quy định của Luật thi hành án dân sự về biện pháp bảo đảmthi hành án dân sự và thực tiễn thực hiện chúng trong những năm qua tạitỉnh Quảng Bình

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Khóa luận nghiên cứu thực tiễn thựchiện thi hành án dân sự từ năm 2009 ( luật thi hành án dân sự 2008 có hiệulực) đến năm 2013

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài.

Khóa luận được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm củaĐảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Đồngthời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, phươngpháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn

Mác-6 Những điểm mới của khóa luận

Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu có tính hệ thống nhữngvấn đề liên quan đến biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, thể hiện ở cácnội dung cơ bản sau đây:

- Hoàn thiện khái niệm về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

- Làm rõ được đặc điểm, ý nghĩa, nội dung của biện pháp bảo đảm thihành án dân sự và cơ sở của việc quy định biện pháp này

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng các quy định của Luật thi hành ándân sự về bảo đảm thi hành án dân sự và thực tiễn thực hiện ở Quảng Bình

- Đề xuất được những kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện vàthực hiện những quy định của pháp luật về bảo đảm thi hành án dân sự

Trang 8

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu thi hành ánm khảo,nội dung của khóa luận gồm có: 02 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm thi hành ándấn sự

Chương 2: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về biệnpháp bảo đảm thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Bình Một số kiếnnghị,giải pháp

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP

BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và những nội dung cơ bản của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những quy định của pháp lệnh Thihành án dân sự năm 2004 và tổng kết thực tiễn công tác thi hành án dân sự,Luật Thi hành án dân sự đã được ban hành có nhiều nội dung mới, phù hợpvới yêu cấu cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đặt ra, đồng thời đápứng đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn công tác thi hành án trong giai đoạn hiệnnay Một trong những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự là việc quyđịnh các biện pháp bảo đảm thi hành án Trước đây, Pháp lệnh thi hành án

2004 mới chỉ dừng lại ở quy định các biện pháp cưỡng chế nếu người thihành án không tự nguyện thi hành thì nay Luật Thi hành án đã bổ sungnhóm biện pháp mang tính ngăn chặn, phòng ngừa nhằm đảm bảo cho quátrình thi hành án đạt kết quả, đó là nhóm biện pháp bảo đảm thi hành ándân sự

Luật thi hành án dân sự đã dành hẳn Mục I Chương IV, bao gồm cácđiều: từ Điều 66 đến Điều 69 để quy định về các biện pháp bảo đảm thihành án dân sự gồm: phong tỏa tài sản; tạm giứ tài sản, giấy tờ của đươngsự; tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sỡ hữu, sử dụng, thay đổi hiệntrạng tài sản

Theo từ điển Tiếng Việt thì bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiệnđược, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết Như vậy, có thểhiểu bảo đảm thi hành án là làm cho quá trình thi hành án được thực hiệnmột cách chắc chắn hơn, đạt kết quả cao hơn

Trang 10

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lý đượcChấp hành viên áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình

tổ chức thực hiện việc thi hành án, đặt tài sản của người phải thi hành ántrong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyểndịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện thi hành án, ngăn chặnngười phải thi hành án thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng

về tài sản trốn tránh việc thi hành án, làm cơ sở cho việc áp dụng biện phápcưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp người phải thi hành ánkhông tự nguyện thi hành án

Các biện pháp bảo đảm thi hành án giữ vai trò quan trọng, hỗ trợ đắc lựcquá trình thi hành án, góp phần bảo vệ các quyền và nghĩa vụ dân sự được ghinhận trong bản án, quyết định của cơ quan nhà bước có thẩm quyền

1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có các đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, đối tượng bị áp dụng biện pháp bảo thi hành án dân sự là

tài sản, tài khoản Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, ngoài các nghĩa vụmang tính nhân thân như buộc công khai xin lỗi, buộc nhận người lao độngtrở lại làm việc…thì phần lớn các nghĩa vụ thi hành án gắn liền với yếu tố tàisản Các nghĩa vụ có tính chất tài sản chỉ được thực hiện nếu người mangnghĩa vụ có tài sản để thi hành Để việc thi hành án được thuận lợi, biệnpháp bảo đảm thi hành án được Chấp hành viên áp dụng đối với đối tượng làcác tài sản, tài khoản được cho là của người phải thi hành án Tài sản đó cóthể đang do người phải thi hành án hoặc do người khác chiếm giữ

Thứ hai, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được áp dụng linh

hoạt, tại nhiều thời điểm, nhiều địa điểm khác nhau trong quá trình thi hành

án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh việc thi hành án Biệnpháp bảo đảm thi hành án dân sự có thể được áp dụng ngay tại thời điểm raquyết định thi hành án và trong thời hạn tự nguyện thi hành án và cũng cóthể được áp dụng tại thời điểm trước hoặc trong quá trình cưỡng chế thi

Trang 11

hành án nếu xét thấy cần phải ngăn chặn ngay hành vi tẩu tán, hủy hoại tàisản hoặc trốn tránh việc thi hành án của đương sự Biện pháp bảo đảm thihành án dân sự có thể được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp ủythác thi hành nghĩa vụ liên đới

Thứ ba, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được thực hiện với

trình tự, thủ tục linh hoạt, gọn nhẹ, ít tốn kém, có thời gian áp dụng ngắn,

có tác dụng thúc đẩy nhanh việc thi hành án.Việc áp dụng các biện phápbảo đảm thi hành án dân sự được thực hiện một cách khá linh hoạt, xuấtphát từ yêu cầu của người được thi hành án hoặc do Chấp hành viên chủđộng áp dụng trong trường hợp cần thiết Việc áp dụng biện pháp bảo đảmchỉ nhằm để ngăn chặn hành vi tẩu tán, thay đổi hiện trạng, chuyển dịchhoặc hủy hoại tài sản của người phải thi hành án mà chưa cần phải huyđộng lực lượng để thực hiện việc cưỡng chế nên thời gian thực hiện nhanhgọn, ít tốn kém kinh phí Mặt khác, khi áp dụng biện pháp bảo đảm thihành án dân sự, Chấp hành viên không bắt buộc phải thực hiện việc xácminh và thông báo trước cho đương sự Để đảm bảo tính nhanh chóng, kịpthời, linh hoạt, nhằm ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốntránh việc thi hành án thì Chấp hành viên không cần thực hiện việc xácminh và thông báo trước cho đương sự biết Tùy theo từng loại tài sản màChấp hành viên sẽ ban hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thihành án dân sự tương ứng

Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng và phát triển một nền kinh tế thịtrường lành mạnh có sự hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, các giaodịch thương mại, dân sự ngày càng đa dạng và sôi động Quá trình chuyểndịch tài sản diễn ra rất nhanh chóng đôi khi chỉ là cái nhấp chuột và không

bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, do đó, để giám sát được quá trìnhnày cũng là vấn đề khá phức tạp Hơn nữa, các đương sự trong các vụ việcthi hành án thường không tự nguyện thi hành, có tâm lý chây lười, trốntránh việc thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định nên rất dễ có hành vi

Trang 12

tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm làm mất đi điều kiện thi hành án Để ngănchặn những hành vi đó, cơ quan thi hành án dân sự cần áp dụng biện phápphù hợp, cụ thể là biện pháp bảo đảm thi hành án Nếu áp dụng biện phápcưỡng chế thi hành án thì nhược điểm lớn nhất là sự chậm trễ trong ápdụng, phức tạp về thủ tục sẽ tạo cơ hội, điều kiện để người phải thi hành án

có thời gian tẩu tán Với đặc điểm nhanh chóng về thời gian, đơn giản vềthủ tục nên kịp thời ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, đảm bảo cơquan thi hành án có điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế

Thứ tư, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự khi được áp dụng chưa

làm thay đổi, chuyển dịch về quyền sở hữu, sử dụng tài sản của chủ sở hữu,chủ sử dụng.Với mục đích ngăn chặn người phải thi hành án thực hiệnhành vi tẩu tán, thay đổi hiện trạng hoặc hủy hoại tài sản, nhằm bảo toàn tàisản đó, đảm bảo điều kiện thi hành án, biện pháp bảo đảm thi hành án dân

sự chưa làm mất đi quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của chủ sở hữu,chủ sử dụng mà mới chỉ làm hạn chế quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản

đó của chủ sở hữu, chủ sử dụng tài sản

Thứ năm, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có thể được Chấp

hành viên tự mình ra quyết định áp dụng hoặc theo yêu cầu của đương sự

và người yêu cầu phải chịu trách nhiệm về việc áp dụng.Trong quá trình tổchức thực hiện việc thi hành án, Chấp hành viên có quyền tự mình ápdụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự hoặc ra quyết định áp dụngtheo yêu cầu bằng văn bản của đương sự Trường hợp đương sự yêu cầu ápdụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự không đúng mà gây thiệt hạicho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự hoặc cho ngườithứ ba thì phải bồi thường Trường hợp Chấp hành viên tự mình áp dụngbiện pháp bảo đảm thi hành án dân sự không đúng hoặc Chấp hành viên raquyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự vượt quá, khôngđúng theo yêu cầu của đương sự mà gây ra thiệt hại thì Chấp hành viên cótrách nhiệm phải bồi thường

Trang 13

Thứ sáu, việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được thể

hiện thông qua việc ban hành quyết định của Chấp hành viên.Chỉ Chấphành viên mới có quyền được áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân

sự Ngoài Chấp hành viên thì các chủ thể khác trong Cơ quan thi hành ándân sự không có quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp này Mặt khác,việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự chỉ có hiệu lực pháp lýkhi được Chấp hành viên quyết định dưới hình thức văn bản quyết định

Thứ bảy, Khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp bảo thi hành

án dân sự được giải quyết một lần và có hiệu lực thi hành.Quyết định ápdụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có tác dụng làm hạn chế quyền

sở hữu, sử dụng tài sản mà không có tính chất làm thay đổi, chuyển dịch

về quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó Vì vậy, khiếu nại đối vớiquyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự chỉ được xemxét, giải quyết một lần và có hiệu lực thi hành

Nhìn chung, các biện pháp bảo đảm thi hành án vừa mang những đặcđiểm của biện pháp cưỡng chế như tác động trực tiếp đến quyền định đoạttài sản của người phải thi hành án và vừa mang đặc điểm của biện phápkhẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự như sự đơn giản về thủ tục, nhanhchóng về thời gian áp dụng Tuy nhiên, về mức độ thì biện pháp bảo đảmthi hành án chỉ dừng ở việc hạn chế quyền tự định đoạt mà chưa tướcquyền tự định đoạt tài sản của người phải thi hành án như biện pháp cưỡngchế thi hành án

1.1.3 Nội dung của áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Về bản chất, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được ví như làbiện pháp khẩn cấp tạm thời của hoạt động thi hành án dân sự Theo đó,biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự giữ vai trò hỗ trợ cho việc thi hànhcác bản án, quyết định nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốntránh nghĩa vụ thi hành án, đảm bảo hiệu lực thi hành của các bản án, quyếtđịnh, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích

Trang 14

hợp pháp của công dân Tùy từng trường hợp cụ thể mà biện pháp bảo đảmthi hành án dân sự tương ứng sẽ được Chấp hành viên áp dụng để tổ chứcviệc thi hành án Xuất phát từ định hướng về mục tiêu, bản chất, đặc điểmcủa biện pháp bảo đảm thi hành án, để đảm bảo hiệu quả của việc áp dụngbiện pháp này, pháp luật phải quy định tất cả các nội dung liên quan đếnbiện pháp bảo đảm thi hành án dân sự Các nội dung này bao gồm: Cácbiện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được áp dụng, người có quyền yêucầu và người có thẩm quyền áp dụng, thủ tục áp dụng Biện pháp bảo đảmthi hành án dân sự bao gồm: Phong tỏa tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờcủa đương sự và tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng

về tài sản Phong tỏa tài khoản áp dụng trong trường hợp người phải thihành án phải thi hành khoản nghĩa vụ trả tiền và các thông tin về điều kiệnthi hành án cho thấy người đó đang có tiền trong tài khoản tại ngân hànghoặc tổ chức tín dụng, tài chính khác Việc áp dụng biện pháp phong tỏa tàikhoản nhằm ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện việc rút toàn bộtiền hay một khoản tiền tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án Theo đó,mọi giao dịch đầu ra tài khoản của chủ tài khoản sẽ không thực hiện đượchoặc bị hạn chế thực hiện Việc áp dụng biện pháp này nhằm ngăn chặnviệc người phải thi hành án rút hết tiền trong tài khoản nhằm tẩu tán tiền,trốn tránh việc thi hành án Tuy nhiên, cần hiểu đúng về biện pháp này làkhông ngăn chặn đối với các dòng tiền chuyển vào tài khoản mà chỉ ngănchặn đối với giao dịch đầu ra tương ứng với ng hĩa vụ thi hành án củađương sự chứ không phải là ngăn chặn, cấm giao dịch đối với toàn bộ tiềntrong tài khoản Tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự áp dụng nhằm tạmgiữ các tài sản, giấy tờ của đương sự để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoạiđối với các tài sản, giấy tờ này Đây là biện pháp mang tính cấp bách vàlinh hoạt, nhằm tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho tác nghiệp nghiệp vụ khiphát hiện đương sự có tài sản, giấy tờ để thi hành án và áp dụng trong bất

cứ giai đoạn nào trong quá trình tổ chức thi hành án Tạm dừng việc đăng

Trang 15

ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản áp dụng nhằm ngăn chặnđương sự có hành vi hoặc có thể thực hiện hành vi đăng ký, chuyển quyền

sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng về tài sản mà pháp luật quy định phảiđăng ký quyền sở hữu, sử dụng để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Khi ápdụng biện pháp này, mọi đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng đối vớitài sản không được công nhận và không có giá trị pháp lý

Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự chính là cơ sở cho việc ápdụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp ngườiphải thi hành án không tự nguyện thi hành Vì vậy, biện pháp bảo đảm thihành án dân sự phải được quyết định áp dụng nhanh chóng để kịp thời ngănchặn việc tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của người phảithi hành án Trong trường hợp, khi đã có đủ thông tin về điều kiện thi hành

án của đương sự thì Chấp hành viên không bắt buộc phải thực hiện việc xácminh hay thông báo trước về việc sẽ áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành

án mà có thể ra ngay quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm Chấp hànhviên có thể quyết định theo yêu cầu của đương sự hoặc tự mình quyết định

áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Xuất phát từ việc nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốntránh nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án mà thời gian áp dụngcác biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự cũng được quy định rất ngắn,trong một thời hạn nhất định, Chấp hành viên phải quyết định áp dụngtiếp biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đối với đương sự hoặc chấmdứt việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đã thực hiện

1.2 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

1.2.1 Cơ sở lý luận

Việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về biện pháp bảo đảm thihành án dân sự xuất phát từ những cơ sở lý luận sau đây:

Trang 16

Thứ nhất, từ yêu cầu của việc áp dụng kết hợp giữa biện pháp tự

nguyện thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành án dân sự Chấp hànhviên ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm bảo đảmcho công tác thi hành án hiệu quả Sau khi áp dụng biện pháp bảo đảm, nếungười phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án

sẽ ra quyết định cưỡng chế thi hành nhằm buộc người phải thi hành thựchiện các nghĩa vụ của họ Biện pháp bảo đảm thục hiện trước biện phápcưỡng chế Như vậy, biện pháp bảo đảm là tiền đề, là cơ sở để thực hiệnbiện pháp cưỡng chế Cụ thể như: Khoản 3 điều 62 Luật thi hành án dân sự

2008 quy định “ Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định

phong tỏa tài khoản, Chấp hành viện phải áp dụng biện pháp cưỡng chế quy định tại điều 67 Luật này”

Thứ hai, từ yêu cầu của việc đa dạng hóa các biện pháp tổ chức thi

hành án dân sự và sự khác nhau giữa biện pháp bảo đảm thi hành án dân

sự và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Theo đó, điều kiện để ápdụng biện pháp bảo đảm khi có đủ 3 căn cứ: Bản án, quyết định có hiệu lựcpháp luật của Tòa án; quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; Chấphành viên chủ động áp dụng khi thấy người phải thi hành án có dấu hiệutẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của họ hoặc đương

sự có đơn yêu cầu

Còn điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế khi có đủ các căn cứ:Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; có quyết định thi hành án; vàsau khi người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ sau

15 ngày, người phải thi hành án có đủ điều kiện thi hành mà không thi hànhthì cơ quan Thi hành án sẽ ra quyết định cưỡng chế thi hành Khi áp dụngbiện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, Chấp hành viên chỉ đặt tài sản củangười phải thi hành trong tình trạng hạn chế sử dụng, định đoạt vì vậykhông cần phải báo trước cho đương sự Trong khi đó, biện pháp cưỡngchế thi hành án là tước bỏ quyền sở hữu của người thi hành án đối với tài

Trang 17

sản thi hành án, trừ trường hợp tài sản phải thi hành án có giá trị lớn hơnnghĩa vụ mà người phải thi hành thì họ vẫn được sở hữu phần lớn hơn.

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Trong thực tiễn thi hành án dân sự, khi người phải thi hành án không

tự nguyện thi hành thì sẽ bị Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chếthi hành án dân sự Tuy nhiên, để áp dụng được biện pháp cưỡng chế thihành án dân sự thì Chấp hành viên phải tuân thủ một quy trình, thủ tục rấtchặt chẽ với sự phối hợp của nhiều cơ quan liên quan, đòi hỏi phải giảiquyết nhiều về vấn đề và mất thời gian Chính đây là thời gian mà đương

sự có thể lợi dụng để thực hiện việc tẩu tán, chuyển dịch, thay đổi hiệntrạng về tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Đặc biệt với tìnhhình kinh tế xã hội như hiện nay, việc bùng nổ công nghệ, thông tin càng là

“môi trường” thuận lợi để các đương sự thuân lợi cho việc tẩu tán, trốntránh nghĩa vụ mà họ phải thi hành bằng nhiều cách thức Do đó, thực tiễnđòi hỏi khi chưa thực hiện ngay được biện pháp cưỡng chế thi hành án dân

sự thì pháp luật cần có quy định để Chấp hành viên có cơ chế ngăn chặnviệc tẩu tán, định đoạt tài sản của người phải thi hành án để thông qua đó

có thể bảo toàn điều kiện thi hành án của đương sự

Như vậy, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được quy định là cầnthiết, có ý nghĩa quan trọng, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các đương sự vừa góp phần giáo dục nâng cao ý thức pháp luậtcủa họ và đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác thihành án dân sự

1.2.3 Ý nghĩa của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Với vai trò đảm bảo điều kiện thi hành án của người phải thi hành án,các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có ý nghĩa hết sức to lớn, đóngvai trò quan trọng đối với kết quả tổ chức thi hành các bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật, cụ thể như sau:

Trang 18

Thứ nhất, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự góp phần bảo vệ các

quyền và lợi ích dân sự hợp pháp trong bản án, quyết định của cơ quan nhànước có thẩm quyền Quyền và lợi ích dân sự hợp pháp của đương sự đượcghi nhận trong bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếukhông được tổ chức thi hành thì cũng chỉ là các quyền và lợi ích trên giấy.Thi hành dứt điểm bản án, quyết định là cách thức bảo vệ thiết thực nhấtcác quyền, lợi ích dân sự hợp pháp của đương sự Nhìn chung, tất cả cáchoạt động tác nghiệp do chấp hành viên tiến hành kể từ khi thụ lý, ra quyếtđịnh thi hành án đến việc thông báo, xác minh, cưỡng chế thi hành án…đều

vì một mục đích là tổ chức thi hành được bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật Pháp luật quy định là vậy nhưng trên thực tế trong lĩnh vự thihành án dân sự thi không phải lúc nào các bản án, quyết định cũng đượccác đương sự tôn trọng thực hiện

Về nguyên tắc, các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong bản án,quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan nhà nước, tổchức, cá nhân tôn trọng thực hiện Điều 106 Hiến pháp 1992 sửa đổi 2013quy định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luậtphải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhânhữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Hiện nay, chế tài về hành vikhông thi hành bản án, quyết định đã được quy định cụ thể tại Chương VIILuật thi hành án dân sự và nghị định 60/2009/ NĐ-CP ngày 23/9/2009 củaChính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp

và điều 304 bộ luật Hình sự nhưng xử lý thật không dễ Trong thời gian qua

số lượng đương sự trong thi hành án bị khởi tố theo Điều 304 bộ luật Hình

sự rất ít do tâm lý e ngại của cơ quan thi hành án không muốn làm trầmtrọng thêm quá trình thi hành án hoặc có đề nghị truy cứu nhưng khôngđược giải quyết

Xuất phát từ sự thiếu kiên quyết của cơ quan có thẩm quyền trong việc

xử lý các hành vi cản trở của đương sự dẫn đến nhiều đương sự trong các

Trang 19

vụ việc thi hành án có hành vi chống đối lực lượng cưỡng chế thi hành án,tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm trốn tránh nghãi vụ thi hành án…Hoặc nhiềutrường hợp Chấp hành viên phụ trách vụ việc có thông tin người phải thihành án có tài sản để thi hành nhưng đến khi áp dụng biện pháp cưỡng chếthì thì tài sản không còn Để khắc phục những trường hợp này Luật thihành án dân sự đã quy định nhóm các biện pháp bảo đảm thi hành án dân

sự nhằm hạn chế quyền tự định đoạt tài sản của đương sự, nhằm bảo toànđiều kiện thi hành án của đương sự, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạtđộng thi hành án dân sự

Thứ hai, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đã góp phần nâng cao

ý thức pháp luật của đương sự trong thi hánh án.Ý thức pháp luật là mộtkhái niệm trừu tượng, mang tính chủ quan và phụ thuộc rất nhiều vào cácyếu tố như trạng thái tâm lý, thái độ, trình độ nhận thức, hoàn cảnh sốngcủa đương sự, các tác động từ phía cơ quant hi hành án…Quá trình thi hành

án sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả cao nếu các đương sự có ý thứcpháp luật, có tinh tần hợp tác để thi hành bản án, quyết định Biện pháp bảođảm thi hành án dân sự tuy không làm chấm dứt quyền định đoạt tài sảncủa người phải thi hành án, song đối với người bị áp dụng biện pháp bảođảm thi hành án dân sự phải gánh chịu những ảnh hưởng đáng kể về tinhthần, uy tín và bị hạn chế về quyền tự định đoạt tài sản Biện pháp bảo đảmchỉ được áp dụng trong một thời gian nhất định Sau thời hạn đó nếu đương

sự không tự nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án đưa tài sản đó racưỡng chế để thi hành án Do đó, việc người phải thi hành án lựa chọn biệnpháp tự nguyện thi hành án được xem như là giải pháp có lợi hơn cả, uy tíncủa họ không bị ảnh hưởng do không bị cơ quan thi hành áp dụng biệnpháp cưỡng chế và không phải nộp chi phí cưỡng chế thi hành án

Hơn nữa, trong kinh doanh uy tín là tài sản rất quan trọng, thậm chíquyết định đến vận mệnh của cơ sở kinh doanh Nếu bị phong tỏa tài sản,người bị phong tỏa tài sản không thể dung tài khoản đó để giao dịch với

Trang 20

các đối tác, gây khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh…Bên cạnh

đó, việc tài khoản của người phải thi hành bị phong tỏa cũng đồng nghĩavới việc uy tín của cá nhân, tổ chức đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh

bị giảm sút, các đối tác trong quan hệ làm an sẽ không tin tưởng vào cá nhân

tổ chức, có thái độ thận trọng trong làm ăn, kinh doanh là điều không thểtránh khỏi, gây tổn thất to lớn cho bản thân nói riêng và cả công ty, doanhnghiệp nói chung Do đó, người phải thi hàn án sẽ tự nguyện thi hànhnghiêm chỉnh bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, hạn chế các thiệt hại

Thứ ba, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đẩy nhanh quá trình thi

hành án, làm giảm thiểu các chi phí không đáng có Đặt trong bối cảnh các

cơ quan thi hành án đang ngày một quá tải do số lượng công việc quá nhiềuthì việc giải quyết nhanh gọn các vụ việc phải thi hành có ý nghĩa hết sức

to lớn cả về kinh tế và công tác quản lý nhà nước

Thứ tư, Biện pháp bảo đảm thi hành án có ý nghĩa to lớn về kinh tế

-xã hội Việc thi hành nhanh chóng bản án, quyết định sẽ làm lành mạnh hóacác quan hệ dân sự, kinh tế, lao động, thương mại, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của các đương sự Hiện nay, số lượng án tồn động hàng năm cònchiếm tỷ lệ lớn, nhiều vụ việc chưa thi hành được do người phải thi hành ánchưa có điều kiện thi hành Một trong những nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng án tồn động là do người phải thi hành án có hành vi tẩu tán tài sản,trốn tránh nghĩa vụ phải thi hành Những giá trị kinh tế xã hội do biện phápbảo đảm thi hành án đem lại có thể kể đến như:

Khi phát hiện người phải thi hành án có tài khoản hoặc có tài sản đểthi hành, Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án nhằmngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại hoặc trốn tránh thực hiện nghĩa

vụ, tạo điều kiện cho quá trình cưỡng chế diễn ra thuận lợi hơn Mục đíchlàm cho việc tổ chức thi hành án có hiệu quả, các cơ quan thi hành án sẽtiết kiệm được thời gian, công sức, chi phí

Trang 21

Mặt khác, như đã phân tích ở trên, do tâm lý e ngại, ảnh hưởng đến danh

dự, uy tín nên người phải thi hành án sẽ tự nguyện thi hành, góp phần ổn địnhcác quan hệ xã hội, nâng cao ý thức pháp luật, đảm bảo trật tự xã hội

1.3 Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

1.3.1 Biện pháp phong tỏa tài khoản

Phong tỏa tài khoản là một biện pháp nghiệp vụ làm cho mọi hoạtđộng “tiền ra” từ một tài khoản nhất định bị hạn chế và kiểm soát Đây làthuật ngữ nghành tài chính Tức là tài khoản đó hoàn toàn không được hoạtđộng nhận tiền chuyển vào, rút ra Số phát sinh nợ, có, tồn cuối kỳ ( tại thờiđiểm cơ quan chức năng công bố phong tỏa ) được giữ nguyên hiện trạng.Như vậy, việc phong tỏa tài khoản sẽ ảnh hưởng đến các giao dịch đầu racủa chủ tài khoản thông qua tài khoản đó Trước đây, đã có cách hiểu chưađúng về việc phong tỏa tài khoản để thi hành án là phong tỏa hoàn toàn tàikhoản đó, dừng mọi hoạt động “ tiền ra” và “ tiền vào”, chính điều này đãảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người phải thi hành án và tự làm bóhẹp khả năng thi hành ánnh toán nợ của chủ tài khoản Trong xu thế pháttriển chung của nền kinh tế đất nước và chính sách hạn chế thanh toán bằngtiền mặt của nhà nước, thì biện pháp phong tỏa tài khoản sẽ ngày càngđược áp dụng phổ biến hơn Việc nghiên cứu thấu đáo biện pháp phong tỏatài khoản là yêu cầu đặt ra đối với Chấp hành viên để có thể vận dụng vàogiải quyết các vụ việc thi hành án mà đương sự là các cá nhân, tổ chức kinh

tế trong và ngoài nước

Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định phong tỏa tài khoản là biệnpháp bảo đảm thi hành án Biện pháp phong tỏa tài khoản được quy định tạiĐiều 67 Luật thi hành án dân sự 2008 và được hướng dẫn thi hành tại Điều

11 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP

Trang 22

“Điều 67 Phong tỏa tài khoản

1 Việc phong toả tài khoản được thực hiện trong trường hợp cần ngănchặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản của người phải thi hành án

2 Khi tiến hành phong toả tài khoản, Chấp hành viên phải giao quyếtđịnh phong toả tài khoản cho cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản củangười phải thi hành án

Cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải thực hiện ngay quyếtđịnh của Chấp hành viên về phong toả tài khoản

3.Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phong toảtài khoản, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế quy định tạiĐiều 76 của Luật này

Kế thừa và phát triển từ quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sựnăm 2004, biện pháp phong tỏa tài khoản được quy định nhằm đáp ứng vàphù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường với sự phong phú, đa dạng

về hình thức thanh toán trong các hoạt động kinh tế, trong đó có hình thứcthanh toán chuyển khoản; đồng thời, cũng như Pháp lệnh thi hành án dân

sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự quy định về biện pháp phong tỏa tàikhoản nhằm tác động đến tài khoản của người phải thi hành án, thông qua

đó kiểm soát, ngăn chặn được hành vi tẩu tán tiền trong tài khoản củađương sự nhằm đảm bảo việc thi hành án được thuận lợi, bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của người được thi hành án Tuy nhiên, khi nghiên cứu, sosánh quy định tại Điều 37 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và Điều

67 Luật thi hành án dân sự về biện pháp phong tỏa tài khoản, chúng ta nhậnthấy có một số khác biệt cơ bản như sau:

Thứ nhất, nếu như Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 quy địnhphong tỏa tài khoản là một trong sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự(khoản 3 Điều 37 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004) thì Luật thi hành

án dân sự lại quy định phong tỏa tài khoản chỉ là một biện pháp bảo đảm thihành án dân sự Thứ hai, nếu như Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và

Trang 23

các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về trình tự, thủ tục phong tỏa tàikhoản của người phải thi hành án chỉ mới mang tính chất sơ khai, chưa đầy

đủ, cụ thể thì đến Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành,biện pháp phong tỏa tài khoản đã được quy định một cách chi tiết, cụ thể vàđầy đủ về về trình tự, thủ tục áp dụng, thời hạn thực hiện

1.3.1.1 Đối tượng, quyền yêu cầu, quyền áp dụng và thẩm quyền áp dụng biện pháp phong tỏa

Về đối tượng: Biện pháp phong tỏa tài khoản được áp dụng đối với tàikhoản của người phải thi hành án khi có đủ căn cứ xác định được ngườiphải thi hành án có tài khoản tại ngân hàng, kho bạc nhà nước hoặc tổ chứctín dụng, tài chính nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản củangười phải thi hành án ( khoản 1 điều 67 Luật thi hành án dân sự)

Theo quy định tại Điều 66, Điều 67 Luật thi hành án dân sự thì việc ápdụng biện pháp phong tỏa tài khoản được Chấp hành viên tự mình áp dụnghoặc theo yêu cầu bằng văn bản của người được thi hành án

Tuy nhiên, để thực hiện được biện pháp này, cần đáp ứng được haiđiều kiện cụ thể sau đây:

Về điều kiện cần: khi người phải thi hành án có tài khoản tại ngânhàng, kho bạc hoặc các tổ chức tín dụng khác và tài khoản đó có số dư đểđảm bảo thi hành án

Về điều kiện đủ: khi người được thi hành án nhận thấy cần ngăn chặnviệc tẩu tán tiền trong tài khoản đó và có văn bản đề nghị hoặc Chấp hànhviên tự mình phát hiện ra thông tin về tài khoản và nhận thấy cần phải raquyết định phong tỏa tài khoản để ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tàikhoản Rõ ràng đây là quyền hoàn toàn chủ động của các Chấp hành viêntrong việc phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án và phải chịutrách nhiệm về quyết định của mình, trừ trường hợp đương sự yêu cầu vớimột mục đích duy nhất là nhằm ngăn chặn kịp thời việc tẩu tán tiền dướimọi hình thức trong tài khoản của người phải thi hành án

Trang 24

1.3.1.2 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản được quyđịnh trong Luật thi hành án dân sự 2008 khá tinh gọn, tạo thuận lợi choChấp hành viên có thể thực hiện ngay việc phong tỏa tài khoản

Thứ nhất: thu thập thông tin về tài khoản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, Kho bạc nhà nước Luật thi hành án dân sự

không quy định việc thu thập thông tin về tài khoản của người phải thihành án, nhưng tại điều 11 nghị định số 58/2009/ NĐ – CP quy định, “

Quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền bị phong tỏa” Vì

vậy, để ra quyết định phong tỏa tài khoản chính xác, khả thi cần phải tiếnhành các hoạt động thu thập thông tin như: chủ tài khoản, số dư trong tàikhoản đó Chấp hành viên do thiếu thông tin hoặc thông tin không chínhxác, đầy đủ và vội vàng ra quyết định phong tỏa tài khoản không đúng đốitượng hoặc phong tỏa cả những tài khoản không còn số dư…là không đúngquy định của pháp luật về thi hành án dân sự Việc thu thập thông tin về tàikhoản của người phải thi hành án có thể do người yêu cầu áp dụng biệnpháp cũng có thể do chấp hành viên thực hiện Thông tin về tài khoản củangười phải thi hành có thể có từ nhiều nguồn khác nhau Việc xác địnhngười đó có tài khoản hay không có thể căn cứ vào một trong các căn cứnhư; lĩnh vực, ngành nghề hoạt động của người phải thi hành án, các hợpđồng của người phải thi hành án với đối tác, đăng ký kinh doanh…Nhiềutrường hợp thông qua việc phân tích, nghiên cứu bản án, nhất là các bản ánkinh doanh thương mại, Chấp hành viên cũng có được những thông tin cầnthiết về tài khoản của người phải thi hành án Người được thi hành án,người có quyền, nghĩa vụ liên quan cũng có thể cung cấp thông tin về tàikhoản của người phải thi hành cho Cơ quan thi hành án

Chấp hành viên có thể thu thập thông tin về tài khoản của người phảithi hành án qua đường công văn hoặc gặp gỡ trực tiếp các tổ chức nơingười phải thi hành án có tài khoản Các thông tin về tài khoản của người

Trang 25

phải thi hành án cần làm rõ như: số tài khoản, ngày mở, người đứng tên tàikhoản, số liệu về số tài khoản như số dư, số nợ…Pháp luật quy định nghĩa

vụ cung cấp thông tin của ngân hàng, tổ chức tín dụng và Kho bạc nhànước theo yêu cầu của chấp hành viên, cụ thể tại điểm d khoản 4 điều 5nghị định 70 NĐ – CP ngày 21/11/2000 của chính phủ về việc giữ bí mật,lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi củakhách hàng và Điều 176 Luật thi hành án dân sự 2008 cũng quy định rõtrách nhiệm của ngân hàng, tổ chức tín dụng và Kho bạc nhà nước trong thihành án dân sự

Thứ hai, ra quyết định và thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản.

Khoản 2 Điều 67 Luật thi hành án dân sự quy định: “ Khi tiến hành phong

tỏa tài khoản, Chấp hành viên phải giao quyết định phong tỏa cho cơ quan,

tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án” Như vậy, việc

phong tỏa tài khoản được thể hiện dưới hình thức quyết định, sau khi cóthông tin về tài khoản của người phải thi hành án, để ngăn chặn việc tẩután, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành án,Chấp hành viên tự mình hoặc theo yêu cầu của người được thi hành raquyết định phong tỏa tài khoản Chấp hành viên là người duy nhất có thẩmquyền ra quyết định phong tỏa tài khoản và quyết định này được giao cho

cơ quan, tổ chức quản lý tài khoản của người phải thi hành án Quyết địnhphong tỏa cần ghi đầy đủ thông tin liên quan đến chủ tài khoản, số tàikhoản, số tiền bị phong tỏa và căn cứ phong tỏa, thời hạn và hậu quả pháp

lý xảy ra nếu cơ quan, tổ chức cá nhân đó không thực hiện yêu cầu củachấp hành viên

Thứ ba, xử lý tài khoản bị phong tỏa Theo quy định tại khoản 3 điều

67 Luật thi hành án dân sự thì thời hạn phong tỏa tài khoản là 05 ngày làmviệc Hết thời hạn phong tỏa tài khoản, Chấp hành viên phải áp dụng biệnpháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản Như vậy, sau thời hạn 05ngày làm việc kể từ ngẩy quyết định phong tỏa tài khoản Chấp hành viên

Trang 26

phải ra một trong hai loại quyết định sau để xử lý việc phong tỏa tài khoảncủa người phải thi hành án, đó là:

Ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành ántheo quy định tại điều 76 Luật thi hành án dân sự

Ra quyết định chấm dứt phong tỏa tài khoản của người phải thi hành

án theo quy định tại điều 77 Luật thi hành án dân sự Điều 77 Luật thi hành

án dân sự được áp dụng trong tất cả các giai đoạn thi hành án, nếu có mộttrong các căn cứ của khoản 1 điều 77 thì Chấp hành viên phải ra ngayquyết định chấm dứt phong tỏa tài khoản của người phải thi hánh án

1.3.2 Biện pháp pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản của đương sự được quy định tạiĐiều 68 Luật thi hành án dân sự và được hướng dẫn chi tiết thi hành tạiĐiều 9 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP Biện pháp này hoàn toàn mới, đượcquy định tại Luật thi hành án dân sự Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn hoạtđộng thi hành án dân sự, nhằm tạo điều kiện một cách tốt nhất để Chấphành viên thự c hiện nhiệm vụ của mình Theo quy định tại khoản 1 điều 68Luật thi hành án dân sự thì Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thihành án có quyền tạm giữ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ đểtạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng

1.3.2.1 Đối tượng, quyền yêu cầu, quyền áp dụng và thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ

Trước hết cần hiểu thế nào là tài sản, Theo Điều 163 Bộ luật Dân sựquy định “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.Điều 68 của Luật thi hành án dân sự quy định về việc tạm giữ tài sản, giấy

tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng Tài sản, giấy tờ của đương sự bịChấp hành viên ra quyết định tạm giữ có thể bao gồm 03 loại sau đây:

 Loại tài sản, giấy tờ thứ nhất: là những tài sản, giấy tờ được xácđịnh một cách rõ ràng, cụ thể trong bản án, quyết định là đối tượng của

Trang 27

nghĩa vụ thi hành án, liên quan đến việc thi hành án (ví dụ như nghĩa vụ trảlại tài sản, giấy tờ đó cho người được thi hành án).

 Loại tài sản, giấy tờ thứ hai: là các tài sản, giấy tờ đã được bản án,quyết định được thi hành tuyên kê biên để đảm bảo thi hành án

 Loại tài sản, giấy tờ thứ ba: là các tài sản, giấy tờ đó có thể là các tàisản, giấy tờ không được tuyên, không được xác định trong bản án, quyếtđịnh được thi hành nhưng có thể kê biên, xử lý để đảm bảo nghĩa vụ thihành án

- Về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ Điều 66

và Điều 68 Luật thi hành án dân sự quy định Chấp hành viên áp dụng biệnpháp tạm giữ tài sản, giấy tờ theo yêu cầu bằng văn bản của người được thihành án Ngoài ra, Chấp hành viên có trách nhiệm tự mình áp dụng biệnpháp này khi có căn cứ

- Về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ:

Thứ nhất, phát hiện người phải thi hành án đang quản lý, sử dụng tàisản, giấy tờ mà tài sản, giấy tờ đó có thể dùng để đảm bảo thi hành án dân

sự theo quy định của pháp luật

Thứ hai, đương sự có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việcthi hành án hoặc có dấu hiệu thực hiện hành vi đó

1.3.2.2 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản

Việc Chấp hành viên áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ củađương sự được thực hiện theo các bước sau đây:

Thứ nhất, xác định tài sản, giấy tờ của đương sự được tạm giữ Đối

tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự không chỉ

là người phải thi hành án mà cả người được thi hành án nếu họ đang quản

lý, sử dụng những tài sản, giấy tờ phục vụ cho quá trình thi hành án Các tàisản, giấy tờ bị tạm giữ là các tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành ánnhư: giấy đăng ký xe mô tô, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…hoặc các

Trang 28

tài sản có thể xử lý được để thi hành án Khi áp dụng biện pháp này chấphành viên cần lưu ý:

Tạm giữ tài sản của đương sự có giá trị tương ứng với nghĩa vụ thi

hành án theo Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 58/20009 NĐ- CP“ Việc áp

dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa

vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết” để quyết định tạm

giữ các tài sản để thi hành án Chẳng hạn, người phải thi hành án có nghĩa

vụ phải thi hành án 20 triệu đồng, xác minh tài sản của người phải thi hành

án phát hiện có nhiều tài sản để thi hành như một ô tô trị giá khoảng 300triệu, một xe máy trị giá khoảng 25 triệu đồng…Chấp hành viên đã quyếtđịnh tạm giữ ô tô của người phải thi hành án là không đúng quy định củapháp luật Trong trường hợp này, Chấp hành viên nên tạm giữ chiếc xe máycủa người phải thi hành án là tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án.Các tài sản tạm giữ đang do đương sự quản lý, sử dụng và không nên

áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản đối với các tài sản không được kê biêntheo quy định điều 87 Luật thi hành án dân sự hoặc các tài sản là bất độngsản Do ưu tiên mục đích ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài ản, trốntránh việc thi hành án mà Luật thi hành án dân sự không quy định bắt buộcphải xác minh tài sản, giấy tờ bị tạm giữ thuộc quyền sở hữu của đương sựtrước khi áp dụng biện pháp này Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ thihành án, Chấp hành viên có thể áp dụng ngay biện pháp tạm giữ tài sản,giấy tờ của đương sự Trường hợp tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sởhữu của đương sự thì Chấp hành viên trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ đó.Việc trả lại tài sản, giấy tờ đó phải lập thành biên bản

Thứ hai, lập biên bản và tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự Theo

quy định tại khoản 2 điều 68 Luật thi hành án dân sự thì việc tạm giữ tàisản, giấy tờ phải lập biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ có chữ ký của Chấphành viên và đương sự Trường hợp đương sự không ký thì phải có ngườilàm chứng, người làm chứng có thể là hàng xóm, đại diện tổ dân phố, đại

Trang 29

diện chính quyền địa phương…đã chứng kiến việc tạm giữ tài sản, giấy tờcủa đương sự Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ được giao cho đương sự.

Để thực hiện điều luật này, Điều 9 Nghị định số 58/2009 NĐ- CP đã

cụ thể hóa như sau: Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải ghi rõ họ tênngười bị tạm giữ tài sản, giấy tờ, loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ, số lượng;khối lượng, kích thước và các đặc điểm khác của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ.Nếu tài sản là tiền mặt thì phải ghi rõ số tờ, mệnh giá tiền các loại tiền, nếu

là ngoại tệ thì phải ghi rõ tiền của nước nào và trong trường hợp cần thiếtcần phải ghi số sêri trên tiền Tài sản tạm giữ là kim khí quý, đá quý phảiniêm phong trước mặt người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc nhân thân của

họ Trường hợp người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc nhân thân của họkhông đồng ý chứng kiến việc niêm phong thì phải có mặt người làmchứng Trên niêm phong phải ghi rõ loại tài sản, số lượng, khối lượng vàcác đặc điểm khác của tài sản đã niêm phong, có chữ ký của Chấp hànhviên, người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc nhân thân của họ hoặc ngườilàm chứng Việc niêm phong phải ghi vào biên bản tạm giữ

Sau đó, Chấp hành viên thực hiện việc giao bảo quản tài sản, giấy tờtạm giữ theo quy định tại Điều 58 Luật thi hành án dân sự Thực tế thi hành

án xuất hiện hai quan điểm Quan điểm thứ nhất phải ra quyết định tạm giữtài sản, giấy tờ thì mới tiến hành tạm giữ tài sản, giấy tờ Quan điểm thứhai, Điều 68 Luật thi hành án dân sự không quy định việc ra quyết định tạmgiữ tài sản, giấy tờ của đương sự như hai biện pháp phong tỏa tài khoản vàtạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng thay đổi hiện trạngtài sản mà chỉ quy định Chấp hành viên lập biên bản tạm giữ tài sản, giấy

tờ của đương sự nên khi thực hiện tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sựkhông cần thiết phải ra quyết định Theo ý kiến chủ quan, tác giả đồng ývới quan điểm thứ hai vì Luật THADS đã quy định, mặt khác việc ra quyếtđịnh sẽ ảnh hưởng đến quá trình tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự.Chẳng hạn, khi đến nhà người phải thi hành án, Chấp hành viên phát hiện

Trang 30

có một xe máy đang để trong nhà, Chấp hành viên có quyền tạm giữ chiếc

xe máy này bằng cách lập biên bản tạm giữ chiếc xe máy và giao bảo quảntheo quy định tại Điều 58 Luật thi hành án dân sự Việc làm này phù hợpvới quy định điều 68 Luật thi hành án dân sự Nếu theo quan điểm thứ nhất

cứ phải ra quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ rồi mới tiến hành việc lậpbiên bản tạm giữ thì trong trường hợp trên Chấp hành viên không thực hiệnđược việc tạm giữ chiếc xe máy để trong nhà người phải thi hành án Vànhư vậy, Điều 67 Luật thi hành án dân sự nói chung và biện pháp bảo đảmnói riêng không mang lại hiệu quả như sự mong đợi của Chấp hành viên

Thứ ba,Xử lý tài sản, giấy tờ tạm giữ của đương sự Thời hạn tạm giữ

tài sản, giấy tờ của đương sự là 15 ngày Trong thời hạn 15 ngày, kể từngày tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự Chấp hành viên ra một trong cácquyết định sau đây:

 Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu xác định được tài sản,giấy tờ tạm giữ thộc sỡ hữu của người phải thi hành án mà người phải thihành án vẫn không tự nguyện thi hành các nghĩa vụ theo bản án, quyết định

 Trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ cho đương sự trong trường hợp đương

sự chứng minh tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sỡ hữu củangười phải thi hành án Việc trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ phải lập biênbản, có chữ ký của các bên

Như vậy, có thể hiểu, Chấp hành viên tạm giữ tài sản, giấy tờ dongười phải thi hành án đang sử dụng, quản lý ngay cả trong trường hợpchưa xác định được chủ sở hữu của tài sản, giấy tờ Trong thời gian 15, kể

từ ngày tạm giữ tài sản, nếu chưa xác minh về chủ sở hữu của tài sản, giấy

tờ tạm giữ thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh về chủ sở hữu củatài sản, giấy tờ đó để xử lý theo quy định tại khoản 3 điều 68 Luật thi hành

án dân sự Rõ ràng, Luật thi hành án dân sự đã kịp thời bổ sung quyền hạncho các chấp hành viên trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ để đảm bảo thihành án mà từ trước tới nay pháp luật chưa quy định

Trang 31

1.3.3 Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản

Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tàisản được quy định tại Điều 69 Luật THADS và được hướng dẫn chi tiết thihành tại Điều 10 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 Điều 69Luật THI THADS quy định: “Trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiệnđương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, huỷ hoại, thayđổi hiện trạng tài sản, Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký,chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phảithi hành án và gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừngviệc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định, Chấp hành viênthực hiện việc kê biên tài sản hoặc chấm dứt việc tạm dừng việc đăng ký,chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản”

Cũng như biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự, biện pháptạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạngtài sản không được Pháp lệnh THADS năm 2004 quy định Tuy nhiên, các

Cơ quan thi hành án trong quá trình tổ chức thi hành án vẫn sử dụng vớihình thức công văn đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tạm dừng việc đăng

ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng…Luật THADS chính thức quy địnhbiện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổihiện trạng tài sản là một trong ba biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự.Chấp hành viên khi tổ chức thi hành án xét thấy cần ngăn chặn hoặc pháthiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại,thay đổi hiện trạng tài sản có thể ra quyết định tạm dừng việc đăng ký,chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phảithi hành án thì có quyền ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyểnquyền sở hữu, sử dụng, thi hành ány đổi hiện trạng tài sản của người phongtỏahi hành án

Trang 32

1.3.3.1 Đối tượng, quyền yêu cầu, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản

Qua nội dung quy định tại Điều 69 Luật THADS cho thấy đối tượngtài sản bị áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổihiện trạng tài sản là bất động sản hoặc là động sản thuộc diện phải đăng kýquyền sở hữu, sử dụng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thuộc quyền

sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án Hiện nay, có rất nhiều tài sản,quyền tài sản mà việc chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng phải đăng ký tại

cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: vốn góp của tổ chức, cá nhân tạidoanh nghiệp; quyền sử dụng đất; phương tiện xe cơ giới… Đối với nhữngtài sản này, để thực hiện mua bán, chuyển nhượng, các bên thi hành án giaquan hệ mua bán, chuyển nhượng phải thực hiện thông quan việc đăng kýtại phòng đăng ký kinh doanh, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và sởhữu nhà…và quyền sở hữu của bên mua, bên nhận chuyển nhượng chỉđược xác lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký Chính vìthế, Chấp hành viên ra quyết định đề nghị cơ quan có thẩm quyền đăng kýdừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tàisản nhằm duy trì điều kiện thi hành án của người phải thi hành án

- ề căn cứ áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch,

thay đổi hiện trạng về tài sản: Để áp dụng biện pháp này, cần có hai điều

kiện cơ bản sau đây: Thứ nhất, người phải thi hành án có tài sản thuộc đốitượng tài sản áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thayđổi hiện trạng tài sản Thứ hai, khi Chấp hành viên phát hiện đương sựđang có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổihiện trạng tài sản hoặc họ có dấu hiệu thực hiện hành vi đó nên cần phảingăn chặn

- Về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển

dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.Trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát

hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại,

Trang 33

thay đổi hiện trạng đối với tài sản mà việc chuyển dịch quyền sở hữu,quyền sử dụng tài sản đó phải thực hiện việc đăng ký tại cơ quan nhà nước

có thẩm quyền thì Chấp hành viên tự mình hoặc theo yêu cầu của ngườiđược thi hành án có quyền ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyểnquyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành

án Cũng giống như các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự khác, vớibiện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tàisản thì Chấp hành viên cũng chủ động hơn trong việc giải quyết thi hành

án Nâng cao hiệu quả công tác thi hành án rõ rệt

1.3.3.2 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Khi thực hiện biện pháp này, Chấp hành viên cần thực hiện theo cácbước sau:

Thứ nhất, Xác định loại tài sản và dấu hiệu của hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng đối với tài sản của người phải thi hành án Đối với tài sản là quyền tài sản Bộ luật dân sự 2005 quy

định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giaotrong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” hoặc tài sản của ngườiphong tỏahi hành án mà việc chuyển dịch, đăng ký tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thì để ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạngtài sản,…Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyểnquyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Thứ hai, ra quyết định và gửi quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản Biện pháp tạm

dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tàisản được thể hiện bằng quyết định của Chấp hành viên Nội dung quyếtđịnh cần phải thể hiện rõ tên đối tượng bị áp dụng, loại tài sản, thông tin vềđối tượng bị áp dụng và tài sản tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sởhữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng,…

Trang 34

Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền

sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản và gửi cho cơ quan, tổ chức, cánhân có liên quan Trong trường hợp này, nơi được giao quyết định là cơquan, tổ chức có thẩm quyền đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thayđổi hiện trạng tài sản như: Phòng công chứng, phòng đăng ký giao dịch bảođảm, văn phòng đăng ký quyền sở hữu nhà và sử dụng đất để thực hiện Kể

từ thời điểm nhận được quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyểnquyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, Cơ quan đăng ký,chuyển quyền sở hữu, sử dụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liênquan không được thực hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụnghoặc thay đổi hiện trạng tài sản Điều 10 Nghị định số 58/2009/ NĐ – CP:

“Đối với tài sản được đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổihiện trạng tài sản, sau thời điểm nhận được quyết định của Chấp hành viênthì Chấp hành viên có quyền xử lý để thi hành án theo quy định của phápluật, nếu có tranh chấp thì hướng dẫn các bên khởi kiện để giải quyết theothủ tục tố tụng dân sự

Thứ ba, Xử lý việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án Trong thời

hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định, Chấp hành viên thực hiện việc kêbiên tài sản hoặc chấm dứt việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sởhữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản Theo đó, trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sửdụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án, Chấp hànhviên phải làm một trong hai việc sau:

Ra quyết định kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án theoquy định tại khoản 3 Điều 71 Luật THADS nếu hết 15 ngày kể từ ngày raquyết định người phải thi hành án vẫn không tự nguyện thi hành án cácnghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định

Trang 35

Ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sởhữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án Về vấn

đề này, Luật THADSvà Nghị định số 58/2009 NĐ- CP đều chưa quy địnhtrong trường hợp nào thì Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt tạm dừngviệc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản củangười phải thi hành án mà chỉ quy định những trường hợp chấm dứt việcphong tỏa tài khoản của người phải thi hành án ( quy định tại điều 77 LuậtTHADS) cho nên tùy từng trường hợp mà Chấp hành viên vận dụng và khivận dụng có thể tham khảo điều 77 Luật THADS.Ví dụ,trong thời gian 15ngày kể từ ngày ra quyết định người phải thi hành án đã thực hiện xongnghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định thì Chấp hành viên ra quyết địnhchấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổihiện trạng tài sản của người phải thi hành án

Có thể thấy nhóm các biện pháp bảo đảm thi hành án mới được quyđịnh trong Luật THADS là sự bổ sung cần thiết, kịp thời giúp Chấp hànhviên có thêm nhiều giải pháp để áp dụng trong quá trình thi hành án, gópphần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự Việc quyđịnh các biện pháp bảo đảm thi hành án theo hướng mở rộng quyền tựquyết định của chấp hành viên tạo cơ hội để chấp hành viên áp dụng mộtcách sáng tạo pháp luật trong quá trình thi hành án, giúp chấp hành viên xử

lý nhanh chóng những tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức thi hànhbản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ngày đăng: 04/06/2014, 18:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Bản chất pháp lí của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo Luật Thi hành án dân sự",Trần Anh Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất pháp lí của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo Luật Thihành án dân sự
2. “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự ”, Nguyễn Khắc Hiếu, Khóa luận tốt nghiệp, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
3. “Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng”.Vũ Hòa, Tạp chí dân chủ và pháp luật số 23/1/2013, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng”
4. "Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự", Trần Phương Hồng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
8. “Luật thi hành án dân sự có nhiều tác động tích cực nhưng còn hạn chế, vướng mắc”, http:diễn đàn luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật thi hành án dân sự có nhiều tác động tích cực nhưng còn hạn chế,vướng mắc”
9. “Một số vấn đề về việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án”, Ths. Đinh Duy Bằng. Tạp chí dân chủ và pháp luật số 29/3/2013, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án”
10. “Nghị định 58/2009,Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự”, Nghị định chính phủ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 58/2009,Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự”
11. “Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấptrường, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008
12. “Những khó khăn trong áp dụng biện pháp bỏa đảm thi hành án dân sự”, Cao Thị Ngọc Giang, Trang thông tin thi hành án dân sự ngày 6/5/2013,năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những khó khăn trong áp dụng biện pháp bỏa đảm thi hành án dân sự
13. “Trao đổi về áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản để bảo đảm thi hành án” , Phước Lai, Phòng công chứng số 2 Đồng Tháp, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trao đổi về áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sởhữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản để bảo đảm thi hành án”
14. “Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008
15. "Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự", của Nguyễn Thị Khanh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 05/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự
5. Giáo trình nghiệp vụ phục vụ công tác thi hành án dân sự Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số việc ra quyết định phong tỏa tài khoản  bảo đảm thi hành án dân sự năm 2009-2013 tại tỉnh Quảng Bình - các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự  - thực tiễn tại quảng bình
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp số việc ra quyết định phong tỏa tài khoản bảo đảm thi hành án dân sự năm 2009-2013 tại tỉnh Quảng Bình (Trang 69)
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp số việc ra quyết định tạm giữ tài sản,  giấy tờ từ năm 2009-2013 tại Quảng Bình - các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự  - thực tiễn tại quảng bình
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp số việc ra quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ từ năm 2009-2013 tại Quảng Bình (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w