1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trình bày tư tưởng phật giáo tại sao phật giáo lại trở thành tôn giáo thế giới phân tích những đặc điểm của phật giáo ở việt nam

59 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình bày tư tưởng phật giáo tại sao phật giáo lại trở thành tôn giáo thế giới phân tích những đặc điểm của phật giáo ở việt nam
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Thanh Thủy, Giảng viên
Trường học Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử văn minh thế giới
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 4,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Đặt vấn đề (6)
  • 1.2. Nội dung (6)
    • 1.2.1. Tư tưởng Phật giáo (6)
      • 1.2.1.1. Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo (6)
      • 1.2.1.2. Quan điểm về nhân sinh quan của Phật giáo (11)
    • 1.2.2. Phật giáo trở thành tôn giáo thế giới (14)
      • 1.2.2.1. Đạo Phật không có người lãnh đạo tối cao, nắm mọi quyền hành trong tay (14)
      • 1.2.2.2. Yêu chuộng hoà bình từ học thuyết đến hành động (15)
      • 1.2.2.3. Phật giáo là hiện thân của một xã hội công bằng thật sự không người bóc lột và hiếp đáp người (15)
    • 1.2.3. Đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam (16)
      • 1.2.3.1. Tính tổng hợp – đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, cũng là đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam (16)
      • 1.2.3.2. Khuynh hướng thiên về nữ tính (17)
      • 1.2.3.3. Tính linh hoạt trong đặc điểm của Phật giáo (21)
      • 1.2.3.4. Sự cải biến linh hoạt trên cơ sở tổng hợp đạo Phật với đạo ông bà (thờ cúng tổ tiên) tạo nên Phật giáo Hoà Hảo (23)
  • 1.3. Kết luận (24)
  • PHẦN II: Nhận xét đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của thời Phục Hưng so với nghệ thuật Hy Lạp thời cổ đại. Từ thành tựu tiêu biểu của phong trào Văn hóa Phục Hưng, hãy đánh giá về vai trò và ý nghĩa lịch sử của nó (0)
    • 2.1. Đặt vấn đề (24)
    • 2.2. Nội dung (25)
      • 2.2.1. Đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của Hy Lạp thời cổ đại và thời Phục Hưng (25)
      • 2.2.2. Thành tựu tiêu biểu của phong trào Văn hóa Phục Hưng (33)
        • 2.2.2.1. Vai trò (36)
        • 2.2.2.2. Ý nghĩa lịch sử (37)
    • 2.3. Kết luận (37)
  • PHẦN III: Qua các thành tựu chính trị - xã hội và kinh tế của văn minh phương Tây cận đại, hãy đánh giá vai trò và ý nghĩa của nền văn minh này (0)
    • 3.1. Đặt vấn đề (38)
    • 3.2. Nội dung (39)
      • 3.2.1. Thành tựu chính trị - xã hội của văn minh phương Tây cận đại (39)
      • 3.2.2. Thành tựu kinh tế của văn minh phương Tây cận đại 33 3.2.3. Đánh giá vai trò và ý nghĩa (39)
    • 3.3. Kết luận (44)
  • PHẦN IV: Nội dung và đặc điểm của cuộc Cách mạng (0)
    • 4.1. Đặt vấn đề (45)
    • 4.2. Nội dung (45)
    • 4.3. Kết luận (49)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (49)

Nội dung

Nội dung

Tư tưởng Phật giáo

Phật giáo truyền đạt nội dung tư tưởng rõ ràng qua Tam Tạng Kinh, gồm Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận, thể hiện các quan điểm về thế giới và con người một cách rõ nét.

1.2.1.1 Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo

Trong Phật giáo, thế giới được coi là có hai yếu tố cơ bản là Danh (tâm) và Sắc (vật chất), tượng trưng cho yếu tố tinh thần và vật chất, qua đó thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa vật và tâm Thuyết “Chư pháp nhân duyên sinh” nhấn mạnh rằng hai yếu tố này luôn liên quan không thể tách rời, không có cái này thì không có cái kia, phản ánh quan niệm “Nhất thiết duy tâm tạo” tức là mọi hiện tượng sinh ra từ tâm Tâm được xem là “Như Lai tạng tính” hay “Phật tính”, là nguồn gốc của mọi sự vật, nằm ở giữa cái có và cái không, huyền nhiệm vô thủy vô chung Thế giới chỉ tồn tại dựa trên quan hệ nhận thức giữa sáu căn và sáu cảnh, không tồn tại độc lập khách quan hay chủ quan, mà mọi thứ đều hình thành từ mối liên hệ này Theo tinh thần Phật giáo, tâm đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng thế giới, vốn là một dòng biến hóa vô thường, không có sự sáng tạo từ thần thánh, mà chỉ do nhân quả nối tiếp nhau hình thành Không có sự vật nào tồn tại độc lập tuyệt đối; tất cả đều phụ thuộc vào mối quan hệ phức tạp, thể hiện tính vô ngã và vô thủy vô chung của vũ trụ.

Thuyết duyên khởi trong Phật giáo gồm có nhiều thuyết: “Thuyết thứ

Trong triết lý Phật giáo, có năm thuyết duyên khởi quan trọng: Thứ nhất là Nghiệp cảm duyên khởi, nhấn mạnh rằng hành động và nghiệp lực hình thành hậu quả trong cuộc sống; Thứ hai là Alaida duyên khởi, liên quan đến nguyên lý vô thường và không bám níu vào cái tôi cố định; Thứ ba là Chân như duyên khởi, thể hiện sự tự biện chứng của chân lý tối thượng và bản thể chân thực; Thứ tư là Pháp giới duyên khởi, mô tả thế giới pháp giới liên kết và tương tác một cách vô hình; và Thứ năm là Lục đại duyên khởi, phản ánh các yếu tố cấu thành vũ trụ như đất, nước, gió, lửa, không khí, và danh sắc đều có mối liên hệ nhân duyên chặt chẽ.

Nghiệp cảm duyên khởi xuất phát từ học thuyết của Phật giáo nguyên thủy, dựa trên Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên Trong quá trình luân hồi sinh tử, luật nhân quả vận hành theo trật tự của vòng tròn sinh hóa, trong đó nghiệp đóng vai trò trung tâm Nghiệp là năng lực tâm lý tiềm tàng tồn tại song song với thân xác qua quá trình chết đi, gồm biệt nghiệp và cộng nghiệp, tạo nên cá thể và thế giới Tam nghiệp (thân, khẩu, ý) phát sinh mỗi ngày, liên kết chặt chẽ như chuỗi dây xích, dẫn dắt sự tiếp xúc giữa chủ quan và khách quan của đời sống Nghiệp cảm duyên khởi thể hiện mối liên hệ này, và để đạt được giải thoát, cần dứt trừ nghiệp, trở về với chân như, Niết bàn.

Theo phái Duy Thức, thức được chia thành 8 nhóm gồm tiền ngũ thức, ý thức, Manas (Mạt la thức) và Alaya (A lại da thức); trong đó, Manas là trung tâm của các ý tưởng về ngã, ích kỹ, tự ái và ảo tưởng, đóng vai trò chấp ngã, ngã hoá A lại da thức là trung tâm tích tụ ý thể, chứa các hạt giống của tất cả các hiện tượng và các chủng tử; khi chúng hoạt động, tạo nên các hiện khởi Nguyên lý Duy Thức cho rằng, nguyên khởi của vạn vật là do hiệu quả của ý thể, trong đó Tàng thức là trung tâm chứa đựng các hạt giống của mọi hiện hữu, qua quá trình tiềm ẩn trở thành chủng tử và khi hoạt động trở thành hiện hành Các chủng tử cố hữu, hiện hành và chủng tử mới tương tác phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành một vòng tròn tái diễn liên tục, thúc đẩy dòng vận động của duyên khởi Cơ chế này chính là Alaida duyên khởi, trong đó ý thể chính là động lực thúc đẩy sự phát sinh của nghiệp và khổ, theo thuyết Nghiệp và Khổ xuất phát từ nghiệp thức hay ý thể.

Chân như uyên khởi: Thuyết này theo kinh Lăng già, kinh Đại bát

Niết Bàn và kinh Đại thừa Khởi Tín Luận xuất hiện vào thời kỳ Đại thừa đầu công nguyên, phản ánh quan niệm về chân như như thực tại tối hậu vượt ngoài mọi định danh Chân như được mô tả là trạng thái phi không gian, phi thời gian, bình đẳng, vô thuỷ, vô chung, vô tướng và vô sắc, thể hiện sự vĩnh cửu và bất biến Trong các hình thái động, chân như có thể xuất hiện dưới mọi dạng thức, tùy thuộc vào nguyên nhân thuần tịnh hoặc ô nhiễm; khi điều động bởi nguyên nhân thuần tịnh, chân như mang hình thức thanh thoát, còn khi bị ô nhiễm, nó biểu hiện sự hủ bại Do đó, chân như tồn tại ở cả hai trạng thái: tĩnh là tự thân chân như và động là các biểu lộ của chân như trong vòng sinh tử luân hồi.

Lục đại duyên khởi: Đây là chủ trương của Chân ngôn hay Mật tông.

Lục đại gồm địa, thủy, hỏa, phong, không, thức là các yếu tố tạo thành vạn vật trong vũ trụ, trong đó "địa, thủy, hỏa, phong, không" thuộc về vật thể tức là sắc pháp, còn "thức" thuộc về tâm pháp Chính sáu yếu tố này sinh khởi theo duyên, tạo nên con người và vũ trụ, nhưng bản chất của chúng vẫn là một và không thể phân chia, vật là hình tướng còn tâm là năng lực điều khiển hình tướng hoạt động Nếu tâm rời xa sắc thì năng lực không còn tồn tại, còn sắc không có tâm thì hình tướng không thể hiện ra, do đó vật và tâm là hai phương diện của bản thể “nhất như” Con người chính là kết quả của sự hợp nhất giữa lục đại, và như vậy, cả con người và vũ trụ đều là những hoạt động liên tục của Lục đại không ngừng.

Pháp giới duyên khởi: Theo Hoa Nghiêm tông, “pháp giới” có nghĩa là

Nguyên lý bao gồm hai sắc thái: trạng thái chân như hay thể tánh và thế giới hiện tượng Học thuyết Pháp giới duyên khởi nhấn mạnh rằng giới (tức vũ trụ và vạn hữu) là một duyên khởi lớn, trong đó các pháp làm nhân duyên cho nhau, nương tựa, tương phản và dung thông để hình thành thế giới Tất cả các yếu tố hòa điệu trong một thế giới toàn vẹn; thiếu một yếu tố, vũ trụ sẽ không tồn tại, và nếu không có toàn thể thì cái một cũng không thể xác lập Khi toàn thể vũ trụ hòa điệu hoàn chỉnh, nó được gọi là nhất chân pháp giới, thể hiện sự thống nhất và toàn diện của vũ trụ trong quan niệm Pháp giới duyên khởi.

Thuyết vô thường trong Đạo Phật nhấn mạnh rằng mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều không cố định và luôn biến đổi không ngừng trong chu trình sinh – trụ – dị – diệt Phật giáo cho rằng thế giới này chỉ là ảo, do vô minh của con người tạo ra, không tồn tại thực sự Tất cả mọi vật đều được cấu thành từ yếu tố vật chất (Sắc) và tinh thần (Danh), trong đó Ngũ uẩn gồm sắc, thụ, tưởng, hành, thức phản ánh sự biến đổi liên tục “Sắc” là yếu tố vật chất gồm tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong, còn “Danh” gồm cảm giác, tư duy, ý thức – các yếu tố tinh thần Theo quan niệm vô thường, Danh và Sắc chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác, thể hiện sự biến đổi không ngừng của vạn vật trong vũ trụ.

Bản chất của sự tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục, không có nguyên nhân đầu tiên cũng như kết quả cuối cùng, thể hiện thực tại vô thủy vô chung Không có gì là tồn tại vĩnh hằng hay bất biến, mọi vật luôn biến đổi không ngừng theo quy luật vô thường Chính vì vậy, không có gì trong vũ trụ là thường định hay cố định mãi mãi.

Trong Phật giáo, thế giới luôn biến đổi không ngừng thông qua các chu kỳ sinh – trụ – dị – diệt, phản ánh sự vô thường của mọi sự vật và hiện tượng Thế giới này không ngừng chuyển hóa theo luật nhân quả, từ đó khẳng định rằng con người cũng không tồn tại với khái niệm “ngã” hay “tự ngã,” đồng thời bác bỏ sự tồn tại của Brahman - đấng sáng tạo Sự biến đổi trong vũ trụ diễn ra trong những khoảnh khắc gọi là niệm vô thường, và theo chu kỳ nhất định gọi là nhất kì vô thường, phản ánh tính vô thường trong từng phần của cuộc sống và vũ trụ.

Thuyết vô thường là một trong những giáo lý cốt lõi của Phật giáo, nhấn mạnh rằng mọi thứ đều biến đổi không ngừng Đây là nền tảng lý luận giúp định hướng cách sống của người con Phật, khuyến khích họ chấp nhận sự thay đổi và sống tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh Giao lý vô thường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu dưỡng để đạt được sự giác ngộ và bình an nội tâm trong quá trình cuộc đời luôn biến chuyển không ngừng.

Phật giáo giải thích sự vô thường của vạn vật thông qua thuyết nhân quả, trong đó nhân duyên thể hiện quan điểm của Phật giáo về đời sống và sự tồn tại Nhân duyên được xem là lý thuyết hợp lý phản ánh quá trình hình thành và biến đổi của thế giới, đồng thời là thế giới quan đặc trưng của Phật giáo Đây là yếu tố cốt lõi giúp phân biệt đạo Phật với các tôn giáo khác, nhấn mạnh sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau của mọi hiện tượng trong cuộc đời.

Trong thuyết nhân duyên, ba khái niệm chủ yếu là nhân, quả và duyên giúp giải thích căn nguyên biến hóa vô thường của vạn pháp “Nhân” là nguyên nhân, là yếu tố phát động tạo ra một hoặc nhiều kết quả, gọi là “quả” Cái gì tập hợp từ nhân chính là yếu tố quyết định sự sinh trưởng và phát triển của các hiện tượng trong thế giới vô thường.

Duyên là điều kiện, mối liên hệ giúp nhân tạo ra quả, không phải là thứ cụ thể mà là sự tương hợp cần thiết để thúc đẩy quá trình chuyển biến của vạn vật Tất cả các hiện tượng trong vũ trụ đều bị chi phối bởi luật nhân quả, nơi mỗi sự vật ra đời nhờ một nguyên nhân nhất định và đồng thời trở thành nguyên nhân của sự kiện tiếp theo Cái nhân được sinh ra từ cái duyên, trong khi quả lại do duyên tạo thành từ nhân khác, tạo thành một chu trình tương tác nhân – quả vô cùng liên tục và không ngừng nghỉ.

Phật giáo trở thành tôn giáo thế giới

Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của nhiều quốc gia châu Á, là nguồn cảm hứng và niềm tin vững chắc cho hàng triệu người Người theo đạo Phật tìm đến để giải tỏa tâm hồn, hướng đến sự thanh tịnh và bình yên trong cuộc sống hàng ngày Phật giáo giúp con người tránh xa những xô bồ của cuộc sống, mang lại cảm giác an nhiên, tĩnh tại và hướng về chân, thiện, mỹ.

Có thể thấy rằng quan điểm của Phật giáo rất tiến bộ, phù hợp với thế giới hiện đại mà ít tôn giáo nào có thể có được.

1.2.2.1 Đạo Phật không có người lãnh đạo tối cao, nắm mọi quyền hành trong tay Đức Phật là một con người ngộ chân lý, Người tìm ra được bản chất của những khổ đau hạnh phúc ở đời, rồi hướng dẫn cho chúng ta thực hành những phương pháp thoát khỏi khổ đau, hướng con người chúng ta đến an lạc tạm thời và tuyệt đối Tôn thờ Phật giáo không phải là tôn thờ đấng siêu nhiên quyền uy nào, mà vì tưởng nhớ đến con người vĩ đại ấy đã hy sinh vì mọi người để có được bài học vô giá. Phật pháp chính là những ứng dụng cụ thể trong đời sống để mỗi người tự nhìn ra bản ngã của chính mình, hướng đến một cuộc sống chân thiện mỹ đích thực nơi mỗi người. Đức Phật không phải là một vị Thần bảo hộ cho một dân tộc, mà là một bậc giác ngộ với trí tuệ bao quát cả vũ trụ, không gì không thấy, không biết một cách chính xác và thấu triệt, cho nên đức Phật là thuộc tầm cỡ vũ trụ Sự giác ngộ của đức Phật bao trùm cả vũ trụ, ánh sáng từ bi của Phật rọi chiếu khắp tất cả Do đó, bản chất của Phật giáo là có tính thế giới, có tính vũ trụ Có lẽ vì vậy mà trong gần hơn hai nghìn năm trăm năm lại đây, Phật giáo dần dần được truyền bá khắp các nơi trên thế giới.

1.2.2.2.Yêu chuộng hoà bình từ học thuyết đến hành động Đạo Phật luôn hướng đến sự hòa bình, suốt mấy ngàn năm có mặt chưa từng có bất cứ cuộc chiến tranh nào xuất phát từ Phật giáo, cũng chưa từng xúi dục tín đồ Phật giáo nào tham gia những cuộc chiến tranh đẫm máu dù chánh nghĩa hay phi nghĩa, dù lý do gì thì chiến tranh vẫn là thảm hoạ và gây đau thương không biết bao nhiêu chúng sanh vô tội Giáo lý nhà Phật luôn lấy an vui và hạnh phúc của tất cả chúng sanh làm điểm tựa và mục đích hướng đến.

1.2.2.3 Phật giáo là hiện thân của một xã hội công bằng thật sự không người bóc lột và hiếp đáp người

Đức Phật dạy rằng những hành động thiện hay ác của chúng ta sẽ theo chúng ta như bóng theo hình, nhấn mạnh tầm quan trọng của tình thương trong đời sống Ngài khuyên vua Ba Tư Nặc xem thần dân như con ruột, không nên áp bức hay tổn hại họ, mà phải bảo vệ và chăm sóc như giữ gìn tay chân của chính mình Sống theo Chánh Pháp và đi theo con đường lành là cách để trưởng thành đạo đức, tránh nâng mình bằng cách đạp xuống người khác Đồng thời, Ngài nhấn mạnh việc gần gũi và yêu thương những người nghèo khổ để xây dựng xã hội từ bi, hòa bình.

Đạo Phật luôn hướng tới việc xây dựng một thế giới hòa bình, bình đẳng, nơi con người sống để thương yêu và sẻ chia Đức Phật đã thừa nhận nữ giới xuất gia từ thời cổ đại, thể hiện cái nhìn tuệ giác và tiến bộ của Ngài về bình đẳng giới, điều mà các nhà hoạt động xã hội hiện nay vẫn phải học hỏi Quan niệm về bình đẳng tuyệt đối giữa các giới là một giá trị cốt lõi của đạo Phật, phản ánh mong muốn xây dựng một xã hội công bằng và nhân văn.

Mỗi chúng sinh đều mang trong mình Phật tính và sẽ trở thành Phật như các Ngài, đây là điểm đặc biệt và duy nhất không có trong bất kỳ tôn giáo nào trước hoặc sau đức Phật Khám phá ý nghĩa của Phật tính giúp hiểu rõ sự bình đẳng và tiềm năng giác ngộ của tất cả chúng sinh trong đạo Phật Niềm tin vào khả năng thành Phật của mọi người là nền tảng cốt lõi, thúc đẩy con đường tu tập và nhận thức về chân lý tối thượng.

Phật giáo bắt nguồn từ hành trình của Đức Phật bỏ lại cuộc sống cao sang quyền quý để tìm hiểu về khổ đau và con đường giải thoát Các giáo lý Phật Đà hình thành dựa trên những trải nghiệm và truyền đạt pháp精准 đến chúng sinh Quá trình tổ chức, hình thành tín đồ, văn hóa biểu đạt và hoạt động phát triển cho thấy Phật giáo không chỉ coi trọng con người mà còn đề cao tất cả chúng sinh và vạn vật trong đời Điều này thể hiện rõ tôn chỉ của Phật giáo lấy vạn vật làm kim chỉ nam cho hành động thiện lành, hướng đến sự giác ngộ và cứu độ tất cả chúng sinh.

Đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam

là đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam

Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng hòa nhập và tồn tại hài hòa cùng các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Hệ thống chùa “Tứ pháp” chủ yếu là các đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên như Mây, Mưa, Sấm, Chớp, cùng các thần linh địa phương Kiến trúc chùa Việt Nam phổ biến theo nguyên tắc “tiền Phật, hậu Thần”, thể hiện sự kết hợp giữa Phật giáo và các tín ngưỡng dân gian bằng cách thờ các thần, thánh, thành hoàng, thổ địa, anh hùng dân tộc trong cùng một không gian Một số chùa còn có bàn thờ cụ Hồ Chí Minh ở phần hậu tổ, thể hiện sự tôn kính và ghi nhận công lao của các vị anh hùng dân tộc Hầu như không chùa nào thiếu bia hậu, bát nhang và các linh hồn, vong hồn đã khuất, phản ánh sự kết nối giữa đời sống tâm linh và truyền thống dân tộc.

Phật giáo Việt Nam là tổng hợp các tông phái đa dạng, trong đó không có tông phái nào thuần khiết Dù Thiền tông chủ trương vô ngôn, nhưng chính các thiền sư Việt Nam đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị Dòng thiền Tì-ni-đa-lưu-chi pha trộn với Mật giáo, đặc biệt là các thiền sư thời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, nổi tiếng về pháp thuật và thần thông biến hóa Phật giáo Việt Nam kết hợp các con đường tự lực và tha lực, phối hợp thiền tông và tịnh độ tông để hướng đến giải thoát Các chùa phía Bắc rất đa dạng với hàng chục tượng Phật, Bồ Tát, La Hán thuộc các tông phái khác nhau Ở phía Nam, sự kết hợp giữa Đại thừa và Tiểu thừa thể hiện qua hình thức chùa thờ Phật Thích Ca truyền thống, các tượng nhỏ mang giáo lý Đại thừa, với sự đa dạng về màu áo của sư tăng như vàng, nâu lam, phản ánh sự hòa quyện giữa các truyền thống.

Phật giáo Việt Nam hòa quyện chặt chẽ với các tôn giáo khác như Nho giáo, Đạo giáo, tạo thành quan niệm Tam giáo đồng nguyên, khẳng định rằng ba tôn giáo cùng phát nguyên từ một nguồn gốc chung Đây còn được thể hiện qua quan điểm Tam giáo đồng quy, thể hiện sự hợp nhất của các tôn giáo này trong đời sống văn hóa và tinh thần người Việt.

Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ giữa đạo và việc đời, thể hiện qua việc các cao tăng được nhà nước mời tham chính hoặc cố vấn trong những vấn đề quan trọng Nhiều vua quan quý tộc cũng đi tu, thể hiện mối liên hệ gắn bó giữa đạo và đời, như trong phái Thảo Đường có tới 9 trong 6 thế hệ đệ tử là vua quan đương nhiệm Truyền thống này còn biểu hiện qua hiện vật như chiếc vạc đồng lớn tại chùa Phổ Minh, tượng trưng cho quyền lực Trong đầu thế kỷ XX, Phật tử Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động xã hội, như vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu và tổ chức lễ tang Phan Châu Trinh Trong thời kỳ Diệm – Thiệu, Phật tử miền Nam nổi bật với phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lập dân tộc, đặc biệt là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu năm 1963 để phản đối chế độ độc tài.

1.2.3.2 Khuynh hướng thiên về nữ tính

Tư tưởng “Nam – Nữ bình đẳng” của Đức Phật đã mở ra một nhận thức mới về nhân quyền, vượt qua không gian và thời gian, thúc đẩy các phong trào giải phóng con người và phụ nữ Ngay từ những ngày đầu của Đạo Phật trên đất Việt cổ, vai trò của người phụ nữ đã rất quan trọng, góp phần tạo nên nét đặc trưng riêng của Phật giáo Việt Nam.

* Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong Phật giáo, trong nền văn hoá dân tộc

Tinh thần hộ quốc an dân của các Nữ tu sĩ Việt

Tinh thần hộ quốc an dân, đạo pháp với dân tộc là nền tảng hình thành từ thời Phật giáo du nhập vào Việt Nam, nổi bật qua hình ảnh các nữ tu sĩ Việt Nam Ni sư Phương Dung, còn gọi là Công chúa Phương Dung, đã dẫn hai đệ tử Trung Vũ và Đài Liệu tòng quân chống giặc phương Bắc theo lời hiệu triệu của Hai Bà Trưng Sau chiến thắng, hai Bà Trưng ban tặng nhiều đất đai cho chùa Yên Phú, và dưới thời Lê Đại Hành, Ni sư Phương Dung được truy tặng danh hiệu Quốc Mẫu, còn hai đệ tử được phong tướng quân Truyền thống tôn vinh này còn thể hiện qua việc dân thôn Yên Phú xây đền thờ Ni sư Phương Dung và hai đệ tử, ghi nhận vai trò thành hoàng giữ gìn bình yên cho làng.

Hình tượng phật Mẫu Man Nương và hệ thống thờ Tứ Pháp

Ra đời tại vùng Dâu – Bắc Ninh, các tín ngưỡng này đã lan tỏa khắp đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện sự hòa quyện giữa Đạo Phật và tín ngưỡng bản địa Người Việt đã sáng tạo hình tượng Phật Mẫu Man Nương từ các nữ thần nông nghiệp, hiện tượng tự nhiên và tín ngưỡng phồn thực, tạo ra dòng Phật giáo dân gian đặc sắc Các nữ thần bản địa như Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng đã được Phật hóa, mang tính Phật giáo nhưng vẫn gần gũi với cư dân, trở thành Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thờ ở các chùa quanh Phật Mẫu Man Nương Phật Mẫu được xem như hình ảnh của Người Mẹ khởi nguyên, xuất hiện sớm và hòa quyện với Phật giáo, hình thành hệ thống thờ Tứ Pháp và phát triển thêm trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Chùa Dâu xứ Kinh Bắc trước đây thường là nơi tổ chức các lễ cầu mưa, thể hiện vai trò quan trọng trong tín ngưỡng nông nghiệp truyền thống.

Hiện tượng “ Nữ tính hóa ” trong Phật giáo Việt Nam

Trong Phật giáo Ấn Độ, Quan Thế Âm là một vị Phật giới tình nam, nhưng khi du nhập vào Giao Châu và phía Nam Trung Hoa, vị Phật này đã được biến đổi sang hình tướng nữ, trở thành Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát Các tượng Phật trong chùa Việt thường có gương mặt đầy đặn, đôn hậu, thể hiện rõ nét tính nữ và là biểu hiện của khuynh hướng “Nữ tính hóa” đặc trưng văn hóa Việt Nam.

Bồ Tát Quan Thế Âm, còn gọi đơn giản là "Phật Bà", là hiện thân của Đức Từ Bi, biểu tượng của lòng từ hòa, cứu khổ, cứu nạn, đặc biệt dành cho những người phụ nữ đang gặp đau khổ và cần sự cứu giúp "Phật Bà" tượng trưng cho hình ảnh của một người mẹ hiền từ, thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng và vô bờ bến, luôn sẵn sàng che chở, bảo vệ những người yếu đuối nhất trong cuộc sống.

Thứ hai, hiện tượng Bà Chúa Xứ thờ ở Núi Sam, Châu Đốc là một minh chứng tiêu biểu cho xu hướng “nữ tính hóa” trong văn hóa tâm linh Việt Nam Theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret, đến nghiên cứu vào năm 1941, tượng Bà Chúa Xứ phản ánh sự phát triển của các tín ngưỡng liên quan đến nữ thần, thể hiện vai trò quan trọng của phụ nữ trong các hoạt động tâm linh và tín ngưỡng dân gian miền Tây Nam Bộ Xu hướng nữ tính hóa này góp phần tăng cường sức mạnh và sự linh thiêng của các hình tượng nữ thần trong đời sống tinh thần của cộng đồng.

Bà Chúa Xứ Núi Sam là tượng thần Visnu (nam thần), được tạc vào cuối thế kỷ 6, thể hiện sự liên hệ chặt chẽ với nền văn hóa Óc Eo cổ xưa Đây là một trong những hiện vật cổ quý giá, phản ánh nét đặc trưng của nền văn minh cổ đại khu vực Nam Bộ, góp phần vào giá trị lịch sử và văn hóa của di tích Núi Sam.

Pho tượng mô phỏng hình tượng nam thần trong thế ngồi vương giả của thần Visnu trong thần thoại Ấn Độ, thể hiện nét tạc tinh xảo và uy nghiêm Chất liệu tạo nên tượng cùng bệ đá đều không xuất hiện ở vùng núi An Giang và các khu vực lân cận, làm nổi bật sự đặc biệt của hiện vật Khi phát hiện, người dân đã đưa tượng về thờ cúng và trang trí theo sở thích, biến nó thành “Bà Chúa Xứ” – linh hồn thiêng liêng của vùng Nam Bộ Trong tâm thức người dân, “Bà Chúa Xứ” được xem như hình ảnh của “Phật Bà Quan Âm,” biểu tượng của lòng nhân từ và phúc tặng.

Sự hóa thân của Phật Bà vào các hình tướng nữ

Trong Phật giáo Việt Nam, nhiều hình tượng như Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Tống Tử hay Bà Chúa Ba Chùa Hương thể hiện hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát nhằm cứu độ chúng sinh, phản ánh khát vọng thấu hiểu và giải thoát cho những người phụ nữ khổ đau trong xã hội Nghi lễ và hình tượng này cũng khẳng định phẩm giá cao quý của phụ nữ và ý nghĩa cứu rỗi mạnh mẽ từ lòng nhân từ của Phật Bà Từ Bắc vào Nam, các hình tượng như Mẹ Xứ Sở tại chùa Thiên Mụ Huế, Tháp Bà Nha Trang hay núi Bà Đen Tây Ninh thể hiện sự tôn kính các biểu tượng thiêng liêng mang giá trị Phật tính, đồng thời hình thành hiện tượng hòa hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân địa phương qua các ban thờ Mẫu trong chùa.

* Hình tượng người Phụ nữ Việt Nam trong sinh hoạt Văn hóa – Phật giáo đời thường

Nguyên Phi Ỷ Lan, cô Tấm của xứ kinh Bắc, là người có công lớn trong việc chấn hưng đạo Phật thời Lý Vốn xuất thân từ làng quê Kinh Bắc nổi tiếng với các ngôi chùa cổ như chùa Dâu, chùa Keo, chùa Bút Tháp, bà có tâm hướng Phật từ khi còn trẻ Trong vai trò Nguyên Phi và Hoàng Thái Hậu, bà sống trong môi trường xã hội tôn vinh Phật giáo và đã phát tâm xây dựng hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ, đến năm 1115 đã có 150 ngôi chùa, đền, trong đó có chùa Từ Phúc ở quê hương Thổ Lỗi Bà không chỉ sùng đạo Phật mà còn là người nghiên cứu sâu về đạo Phật, thường đàm đạo với các nhà sư về Phật pháp, góp phần làm rõ gốc tích truyền bá đạo Phật vào Việt Nam qua những câu chuyện giữa bà và các vị sư thời Lý Ngoài ra, bà còn có sở thích nghiên cứu văn chương, viết kệ, và những câu kệ của bà vẫn được lưu truyền đến ngày nay.

Chùa làng và người phụ nữ

Thiết chế văn hóa làng Việt không thể thiếu đình và chùa, thể hiện triết lý nhân sinh và tinh thần khoan dung hòa hợp trong đời sống tín ngưỡng của người Việt Ngôi chùa làng không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là nơi lấy lại vị thế của người phụ nữ, góp phần xây dựng nét bình đẳng trong sinh hoạt cộng đồng Hình ảnh các bà, các mẹ dắt theo con cháu, các cô thôn nữ đi lễ chùa đã trở thành biểu tượng thân thương của làng quê thanh bình và yên ấm Ngoài việc đi lễ, các vãi còn tình nguyện tham gia giúp việc nhà chùa như một nhu cầu tinh thần tự nguyện, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng Việt.

Nhận xét đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của thời Phục Hưng so với nghệ thuật Hy Lạp thời cổ đại Từ thành tựu tiêu biểu của phong trào Văn hóa Phục Hưng, hãy đánh giá về vai trò và ý nghĩa lịch sử của nó

Đặt vấn đề

Mỹ học là môn khoa học nghiên cứu về đời sống thẩm mỹ, bao gồm các yếu tố như khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và nghệ thuật Trong đó, cái đẹp đóng vai trò trung tâm và là phạm trù cốt lõi của mỹ học Hình tượng là tiếng nói đặc trưng thể hiện những giá trị thẩm mỹ qua nghệ thuật Nghệ thuật được xem là đỉnh cao của thành tựu sáng tạo thẩm mỹ, thể hiện sự phong phú và đa dạng của các hình thức sáng tạo nghệ thuật Lý tưởng thẩm mỹ đóng vai trò làm điểm tựa vững chắc, hỗ trợ cho quá trình sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật một cách sâu sắc và ý nghĩa.

Quan niệm về cái đẹp luôn thay đổi qua các thời đại, do các nhà mỹ học dựa trên các cơ sở triết học khác nhau về vẻ đẹp Lịch sử mỹ học phong phú, nhưng chỉ cần so sánh giữa Hy Lạp cổ đại và Phục Hưng cũng đủ để thấy rõ sự khác biệt về bản chất nghệ thuật của các thời kỳ Bài luận này sẽ phân tích chính xác đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc trong hai thời kỳ này để hiểu rõ hơn về sự tiến hóa của nghệ thuật qua các thời đại.

Bài luận sẽ khám phá thành tựu tiêu biểu của Phong trào Văn hóa Phục Hưng, một nền văn hóa đã thúc đẩy sự hồi sinh nghệ thuật, khoa học và tư duy ở châu Âu sau thời kỳ Trung Cổ Phong trào này đã đóng vai trò quan trọng trong việc đánh thức châu Âu khỏi “đêm trường trung cổ” tăm tối, mở ra thời kỳ phát triển rực rỡ của nhân loại Những thành tựu của Văn hóa Phục Hưng không chỉ góp phần vào tiến bộ về mặt tri thức và văn hóa mà còn có ý nghĩa lịch sử sâu sắc trong việc hình thành tư duy hiện đại và sự phát triển của xã hội phương Tây Qua đó, bài luận sẽ đánh giá rõ vai trò và ý nghĩa của phong trào này trong lịch sử phát triển của nhân loại.

Nội dung

2.2.1 Đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của Hy Lạp thời cổ đại và thời Phục Hưng

* Đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của thời Hy Lạp cổ đại

Người cổ đại như Pliny the Elder (23–79) đã mô tả thời kỳ hoàng kim của lịch sử hội họa là thời kỳ của hội họa Hy Lạp, lưu giữ tên tuổi của các danh họa lừng danh như Apelles, Parrhasius và Polygnotus Apelles, họa sĩ riêng của Alexander Đại đế, nổi tiếng với khả năng phối cảnh và các mảng đậm nhạt tinh tế, đã để lại những tác phẩm vang danh trong lịch sử nghệ thuật Hy Lạp cổ đại Parrhasius nổi bật với tranh miêu tả trận chiến của centaur trên chiếc khiên của tượng thần Athena, thể hiện kỹ năng vẽ các nhân vật quái dị và truyện thần thoại Trong khi đó, Polygnotus, hoạt động chủ yếu tại Delphi và Athens, có khả năng đặc biệt trong thể hiện trạng thái tâm lý của nhân vật qua các biểu hiện trên khuôn mặt trong các bức chân dung, góp phần nâng cao giá trị kể chuyện trong nghệ thuật Hy Lạp cổ đại.

Các tác phẩm hội họa và điêu khắc cổ đại hầu như không còn tồn tại đến ngày nay, chỉ còn lại một số ít tác phẩm hiếm hoi của hội họa Hy Lạp cổ đại, không tiêu biểu cho toàn bộ thời kỳ của các họa sĩ danh tiếng Những ví dụ còn sót lại chủ yếu là các bức bích họa trong cung điện của Knossos trên đảo Crete từ thế kỷ XVI – XIII TCN và các bức tranh trong lăng mộ Diver tại Paestum, Italia.

Nghệ thuật Hy Lạp cổ đại được thể hiện qua các di chỉ như bích họa ở lăng mộ Etruscan, hội họa Rome cổ và các bức khảm lâu đời, phản ánh thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật Hy Lạp nhưng chưa rõ ràng Ngoài ra, các hình vẽ trên bình cổ Hy Lạp là nguồn tài liệu phong phú cho nghệ thuật vẽ hình mang tính đồ họa, liên kết tới các tác phẩm bích họa và trạm trổ Các họa tiết trang trí trên gốm cổ Hy Lạp thường gồm hai kiểu chính: hình vẽ đen trên nền trắng sáng hoặc màu đỏ trên gốm đen, thể hiện sự chú trọng đến nét và mảng trong kỹ thuật trang trí Đề tài của các bức tranh thay đổi theo thời kỳ, từ thần thoại, các chủ đề duyên dáng, đa tình đến lịch sử, phản ánh nhiều khía cạnh của đời sống và tâm linh người Hy Lạp cổ.

Từ quan điểm của bức tranh trên bình chai và dụng cụ gốm, có thể tạm chia thành 3 phong cách như sau:

Phong cách hình học xuất hiện từ khoảng 1100 đến 700 TCN, với các hình vẽ trên đồ gốm thể hiện các hình học đơn giản và trừu tượng, phản ánh cảm giác về tính nghiêm ngặt và đều đặn trong họa tiết Đầu thế kỷ VIII TCN, những bức chân dung rõ ràng bắt đầu xuất hiện, ban đầu theo quy luật hình học tối giản Nhiều ví dụ về tranh chân dung này được phát hiện trên các bình gốm tại nghĩa địa Athenian (Dipylon), chủ yếu dùng trong lăng mộ để ca ngợi cuộc sống sau cái chết, mô tả các cuộc chiến và nghi lễ tang lễ Đây là hình thức trang trí đầu tiên phản ánh sự sáng tạo nghệ thuật của người Hy Lạp bản địa.

Phong cách phương Đông từ khoảng 750 đến 600 TCN chịu ảnh hưởng của giao thương với khu vực Cận Đông, giúp dễ dàng tiếp thu yếu tố văn hóa ngoại lai Các tác phẩm nghệ thuật thường lấy các câu chuyện, nhân vật và động vật làm chủ đề chính, thể hiện qua các nét vẽ rõ ràng, khẳng khái và hình dạng sống động Phong cách này phản ánh sự kết hợp giữa truyền thống bản địa và yếu tố ngoại lai, tạo nên đặc trưng riêng biệt trong nghệ thuật phương Đông cổ đại.

Phong cách sơn đen phát triển vào khoảng 700-500 TCN, nổi bật với kỹ thuật sử dụng thuốc sơn màu đen để tạo ra các hình vẽ trên gốm với nền màu đỏ hoặc cam Trong quá trình này, nghệ nhân cạo đường viền rồi nung để tạo ra sự tương phản rõ nét giữa màu đen và màu nền, đạt đến đỉnh cao của công nghệ sơn đen Một ví dụ tiêu biểu là chiếc vò hai quai của họa sĩ vùng Amasis, mô tả hình ảnh thần Dionysus và Maenad, thể hiện kỹ thuật cạo đường tinh xảo Ngoài ra, tác phẩm như kylix của Exekias (550-520 TCN), mô tả Dionysus chèo thuyền, là những minh chứng quan trọng cho nghệ thuật sơn đen cổ đại thời kỳ này.

Phong cách sơn đỏ, xuất hiện từ khoảng 500 năm TCN, bắt đầu bằng việc phác thảo hình ảnh chủ đề trên đất sét bằng bút vẽ, giữ nguyên màu đỏ cam tự nhiên của đất sét và nền sơn màu đen, tạo ra các đường nét mịn và rõ ràng hơn Trong giai đoạn này, kỹ thuật biểu hiện sáng tối được áp dụng thành thạo, giúp các tác phẩm trở nên sống động, chân thực và phức tạp hơn Các tác phẩm thời kỳ này thể hiện sự đa dạng về hình dạng bình, phục vụ các mục đích khác nhau như chứa nước, dầu hoặc dùng trong lễ cúng, tiệc cưới Chủ đề tranh trên các bình thường phản ánh văn hóa dân gian và thần thoại, tiêu biểu như chiếc bình pha rượu calyx krater mô tả cảnh Heracles đấu vật với Antaeus, có niên đại khoảng 520 – 500 năm TCN.

Nghệ thuật điêu khắc Điêu khắc Hy Lạp được phát triển qua 3 thời kỳ:

Trong thời cổ sơ (Thế kỷ VII – VI trước Công nguyên), điêu khắc có hình tượng rất đơn giản, bắt nguồn từ nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp bắt đầu từ thế kỷ X – VIII TCN Các tác phẩm chủ yếu là tượng nhỏ bằng đồng thanh, đồng nung hoặc ngà voi, thể hiện sơ lược hình tượng các con vật, con người hoặc quái vật, thường kết hợp giữa người và vật Cũng có những tượng bằng gỗ mô tả các vị thần, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa điêu khắc và tôn giáo trong thời kỳ này.

Trong điêu khắc thời kỳ này, hai loại nhân vật chiếm ưu thế là tượng khỏa thân nam đứng – kouros và tượng nữ mặc quần áo – kore, thể hiện qua dáng đứng thẳng, tay buông thõng tự nhiên Những tượng này thường mang dáng tĩnh, nghiêm trang và cân đối, phản ánh vẻ đẹp lý tưởng của thời kỳ đó Tuy nhiên, tỷ lệ cơ thể và hình khối trong các tác phẩm chưa đạt đến mức chuẩn mực hoàn hảo, chủ yếu sử dụng chất liệu đá để tạo hình.

Thời kỳ này, điêu khắc Hy Lạp vẫn chịu ảnh hưởng của ước lệ tạo hình phương Đông, nhưng sang thế kỷ VI đã có sự chuyển biến rõ rệt trong phong cách làm tượng Từ những pho tượng dáng đứng như cây cột, nghệ thuật điêu khắc dần chuyển sang các tác phẩm động Trong nửa đầu thế kỷ V, điêu khắc Hy Lạp nổi bật với các tác phẩm chạm nổi tại đền thờ thần, mô tả 12 chiến công của anh hùng Hercules một cách sinh động và chân thực Các hình tượng điêu khắc thể hiện nhiều tư thế vận động đa dạng, thoát khỏi sự chi phối của ước lệ cũ, mở ra thời kỳ mới của nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp.

Thời cổ điển (Thế Kỷ V – IV trước công nguyên)

Từ giữa thế kỷ V, thành bang Athens trở thành trung tâm lớn của Hy Lạp về văn hoá nghệ thuật và chế độ xã hội Phidias, Polykleitos và Myron là những điêu khắc gia tiêu biểu, góp phần tạo nên đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Athens thời kỳ này.

Polykleitos đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và sáng tạo để tìm ra tỷ lệ chuẩn cân đối, hài hoà của cơ thể nam giới Tượng Doryphoros, nổi bật với tỷ lệ cân đối giữa đầu, thân, tay, chân, thể hiện sự mềm mại và sống động của hệ thống cơ, phản ánh sự kết hợp tinh tế giữa giải phẫu học và nghệ thuật điêu khắc Chất đá của tác phẩm đã biến thành da thịt chân thực, mang lại cảm giác vững chắc cho cơ thể và tôn vinh vẻ đẹp của đường nét, hình khối Ngoài ra, bức tượng Diadumenos, người đeo vòng nguyệt quế, cũng được coi là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, thể hiện sự cân đối và tinh tế trong nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp cổ đại.

Myron nghiên cứu hình dáng động của con người qua tượng Diskobolus, thể hiện hình ảnh lực sĩ cường tráng đang vận động mạnh để ném đĩa Tác phẩm nổi bật bởi sự hài hòa giữa dáng, hình và tỷ lệ cơ thể, thể hiện sự phối hợp tinh tế giữa phần chân nghiêng và thân nhìn chính diện Sự kết hợp này tạo ra cảm giác chuyển động tự nhiên và vẻ đẹp hoàn hảo của tác phẩm nghệ thuật.

Vào thế kỷ IV, điêu khắc Hy Lạp đã tiến bộ rõ rệt khi các tác giả chú trọng thể hiện nét thực hơn, giảm bớt tính lý tưởng hoá trong tác phẩm Đây là sự chuyển đổi từ những tác phẩm theo kiểu mẫu mực về tỷ lệ, hình khối, tạo dáng động, sang việc tăng cường chất liệu thực tế của tượng Trong giai đoạn này, ba nhà điêu khắc vĩ đại nổi bật là Praxiteles, Skopas và Lysippos, những người sáng tạo điêu khắc dành riêng cho Alexander Đại Đế Điêu khắc thế kỷ IV trở nên mịn màng hơn thời kỳ trước nhưng đã nhường chỗ cho nét trần thế đời thường, thể hiện vẻ đẹp tự nhiên của con người, đặc biệt qua những tượng khoả thân tôn vinh vẻ đẹp của “phái yếu” — một bước tiến lớn trong nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp cổ đại.

Praxiteles là bậc thầy điêu khắc nổi tiếng với khả năng tạo ra những đường cong tinh tế, làm cho đá trở nên mềm mại như làn da thật Một trong những tác phẩm nổi bật của ông là tượng Aphrodite of Knidos, trong đó ông lột bỏ y phục của nữ thần tình yêu để tôn vinh vẻ đẹp tinh tế và duyên dáng của nàng Bản gốc của tác phẩm này thể hiện sự khéo léo trong việc thể hiện nét đẹp nữ tính, trở thành biểu tượng của nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp cổ đại.

Kết luận

Dù đề cao vẻ đẹp mực thước hay vẻ đẹp ngoại cỡ, cả hai thời kỳ đều nhấn mạnh rằng con người là trung tâm của cái đẹp Bản chất mỹ học thời kỳ Phục Hưng là sự tiếp thu, kế thừa có sáng tạo từ những thành tựu nghệ thuật của Hy Lạp cổ đại Thời kỳ Phục Hưng đánh dấu sự mở ra của một thế giới mới, mang tính đột phá trong nghệ thuật và tư duy thẩm mỹ.

Qua các thành tựu chính trị - xã hội và kinh tế của văn minh phương Tây cận đại, hãy đánh giá vai trò và ý nghĩa của nền văn minh này

Nội dung và đặc điểm của cuộc Cách mạng

Ngày đăng: 31/07/2023, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại , NXB Giáo dục, Hà Nội(1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[4] Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại , NXB Giáo dục Việt Nam (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới hiện đại
Tác giả: Nguyễn Anh Thái
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
[5] Vũ Dương Ninh (chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới , NXB Giáo dục Việt Nam (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Vũ Dương Ninh
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 1999
[6] PGS. Nguyễn Duy Hinh, Triết học Phật giáo Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin và Viện văn hóa Việt Nam (2006).Tài liệu trực tiếp trên Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Phật giáo Việt Nam
Tác giả: PGS. Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
[1] Bích họa đấu bò trong cung điện Knossos - Đảo Crete (1550 TCN) Khác
[2] Khung cảnh hội nghị chuyên đề trong Lăng mộ Diver tại Paestum – Italia (480 TCN) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w