Tổng quan nghiên cứu
Công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài
Có nhiều nghiên cứu, sách, báo, luận án và luận văn liên quan đến đề tài này, thể hiện đa dạng các khía cạnh và phạm vi khác nhau.
Phan Thị Phương Thảo (2018) “Thực trạng chi tiêu công của Việt Nam hiện nay và giải pháp cải thiện hiệu suất trong chi tiêu công”
Bài viết phân tích thực trạng chi tiêu công của Việt Nam giai đoạn 2011-2017, chỉ ra các nguyên nhân chính gây ra sự kém hiệu quả như thiếu kết nối giữa chi đầu tư và chi thường xuyên cho vận hành, cũng như sự bất cập giữa chỉ tiêu biên chế và nhu cầu thực tế Tác giả cũng đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện hiệu suất chi tiêu công.
Nguyễn Thùy Linh (2015) “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Trường
Bồi dưỡng cán bộ tài chính” Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính
Luận văn đã trình bày lý luận về đơn vị sự nghiệp công lập và cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị này Bài viết phân tích thực trạng quản lý tài chính, đặc biệt là quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính Đồng thời, luận văn cũng đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trường.
Nguyễn Tấn Lượng (2011) đã thực hiện nghiên cứu về việc hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính ở Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn thạc sĩ kinh tế của ông tại Học viện Tài chính cung cấp những phân tích sâu sắc và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong bối cảnh tự chủ tài chính của các trường đại học.
Luận văn đã phân tích và đánh giá sâu sắc về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập, đồng thời đề xuất các giải pháp hiệu quả Nội dung chính của luận văn tập trung vào việc quản lý nguồn thu và chi tiêu một cách hợp lý.
Vũ Thị Thanh Thủy (2012) “Quản lý tài chính các trường Đại học Công lập ở Việt Nam” Luận án tiến sỹ kinh tế Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Luận án đã hệ thống hóa quản lý tài chính tại các trường đại học công lập ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp tối ưu để hoàn thiện cơ chế này Điểm mạnh của luận án là tập trung vào vai trò của cơ quan quản lý trong công tác quản lý tài chính, nhưng chưa đề cập đến vai trò của các trường đại học như là đơn vị thực hiện.
Phạm Văn Năm (2007) “Hoàn thiện quản lý tài chính ở trường đại học
Phòng cháy chữa cháy trong giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sỹ kinh tế,
Học Viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Luận văn nghiên cứu tập trung vào khái niệm, mô hình và công cụ quản lý tài chính cho các đơn vị sự nghiệp, đặc biệt là trường Đại học Phòng cháy chữa cháy Nghiên cứu phân tích thực trạng quản lý tài chính giai đoạn 2003-2005 và đề xuất giải pháp cải thiện Mai Thị Phương Thúy (2015) trong luận văn thạc sỹ về quản lý tại trường Đại học Lao động xã hội – cơ sở Sơn Tây cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường quản lý chi thường xuyên.
Trong luận văn này, tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước Các nguyên tắc này bao gồm quản lý theo dự toán, tiết kiệm và hiệu quả, cũng như đảm bảo chi trả trực tiếp qua kho bạc nhà nước Đồng thời, việc công khai tài chính cũng được thực hiện đầy đủ, bao gồm các mảng thu - chi của trường, phân bổ ngân sách, báo cáo quyết toán và các chế độ chính sách hiện hành.
Nhận xét chung về các công trình cần nghiên cứu và khoản trống cần nghiên cứu
Qua việc tham khảo các công trình nghiên cứu, có thể thấy rằng nhiều nghiên cứu đã trình bày chi tiết về lý thuyết cơ bản và các chỉ tiêu phản ánh thực trạng quản lý tài chính, cũng như quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của các đơn vị cụ thể, với nhiều ý tưởng sáng tạo có thể được kế thừa.
Nhiều nghiên cứu hiện nay chưa đáp ứng đúng thời gian nghiên cứu và chỉ đưa ra các giải pháp chung hoặc cho từng đơn vị cụ thể Đặc biệt, các nghiên cứu này chưa đề cập đến những đặc thù trong quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại các trường đại học thuộc lực lượng vũ trang, như trường Đại học Phòng cháy chữa cháy Bộ Công an.
Tác giả tiến hành nghiên cứu sâu về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) thông qua các giai đoạn lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán và kiểm soát chi tại trường Đại học Phòng cháy chữa cháy Bộ Công an, điều này tạo ra sự khác biệt so với các nghiên cứu trước đây.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang
Khái quát chung về cơ sở giáo dục công lập
Đơn vị sự nghiệp là tổ chức dịch vụ công do nhà nước thành lập hoặc cho phép, nhằm cung cấp các dịch vụ công cho xã hội Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập bởi cơ quan nhà nước hoặc tổ chức chính trị, có tư cách pháp nhân và thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật (Điều 9, Luật Viên chức năm 2019).
Lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Họ cũng đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Đồng thời, lực lượng này còn tham gia xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
Cơ sở giáo dục công lập là tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, được thành lập bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quản lý trực tiếp bởi nhà nước Nguồn kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất chủ yếu được đảm bảo từ ngân sách nhà nước.
Cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang là đơn vị do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thành lập, với nhiệm vụ chính là cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo cho lực lượng vũ trang Bên cạnh đó, các đơn vị này còn phục vụ nhu cầu giáo dục và đào tạo cho toàn xã hội.
1.2.1.2 Phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Nghiên cứu sẽ tiến hành phân loại dựa vào các tiêu thức sau:
* Theo Luật Viên chức số 26/VBHN-VPQH ngày 16 tháng 12 năm
2019, Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn trong việc thực hiện nhiệm vụ, quản lý tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự, được gọi là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ.
Đơn vị sự nghiệp công lập hiện chưa được giao quyền tự chủ toàn diện trong việc thực hiện nhiệm vụ, quản lý tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự.
* Căn cứ vào cấp quản lý, ĐVSN công lập được phân loại thành:
ĐVSN ở Trung ương bao gồm các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Chính phủ như TTXVN, Đài Phát thanh Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học và các nhà xuất bản quốc gia.
- ĐVSN công lập ở các Bộ và địa phương như đài phát thanh truyền hình ở địa phương, các bệnh viện, trường học, do các Bộ, địa phương quản lý,
* Theo tính chất dịch vụ giáo dục được cung ứng, có 2 loại đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập
Cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang là đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, chuyên cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo có tính chất vũ trang, quân sự, bao gồm các lĩnh vực như cảnh sát, phòng cháy chữa cháy, an ninh và quốc phòng.
Hai là một cơ sở giáo dục công lập thuộc lĩnh vực dân sự, có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ giáo dục và đào tạo mang tính chất dân sự.
1.2.1.3 Đặc điểm của cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang
Cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang mang những đặc điểm chung của các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, đồng thời cũng có những đặc thù riêng biệt của các đơn vị này trong lực lượng vũ trang.
Hoạt động của các đơn vị đào tạo quân đội và công an nhân dân mang tính đặc thù, không nhằm mục tiêu sinh lời Chương trình đào tạo được thiết kế theo quy chế riêng của Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an, nhằm phát triển lực lượng bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội Học viên được trang bị kiến thức và kỹ năng chuyên biệt mà các cơ sở đào tạo dân sự không cung cấp.
Hai là, nguồn tài chính phục vụ các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lực lƣợng vũ trang đƣợc hình thành từ nhiều nguồn
Tài chính của các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang chủ yếu được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước Ngoài ra, các đơn vị này còn được phép thu một số loại phí và lệ phí từ cá nhân, tập thể sử dụng dịch vụ giáo dục đào tạo Do đó, nguồn kinh phí hoạt động của các đơn vị này còn bao gồm doanh thu từ hoạt động sự nghiệp.
Ba là, các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lực lƣợng vũ trang chịu sự quản lý đồng thời của nhiều cơ quan
Các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang được quản lý trực tiếp bởi Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an, với nội dung đào tạo do các bộ này quy định Chỉ tiêu học viên của các đơn vị này không phụ thuộc vào Bộ Giáo dục – Đào tạo mà do Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an quy định Ngoài ra, các cơ sở này còn chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo về lĩnh vực giáo dục, cũng như sự quản lý hành chính của chính quyền địa phương nơi đơn vị hoạt động Do đó, hoạt động của các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang có sự quản lý phức tạp từ nhiều cơ quan và cấp quản lý khác nhau.
Chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Tất cả các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, nhằm đảm bảo thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước (Điều 4 Luật).
Chi thường xuyên là nhiệm vụ quan trọng của ngân sách nhà nước (NSNN) nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội Nó hỗ trợ các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo quốc phòng và an ninh, theo quy định tại Điều 4, Luật NSNN năm 2015.
1.2.2.2 Các khoản chi thường xuyên NSNN tại cở sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang
Chi thường xuyên tại các CSGD công lập thuộc lực lượng vũ trang bao gồm 4 nhóm cụ thể nhƣ sau:
* Chi nghiệp vụ chuyên môn
* Chi mua sắm, sửa chữa
* Nhóm các khoản chi thường xuyên khác
Chi cho con người là các khoản chi thiết yếu nhằm bảo đảm đời sống sinh hoạt của cán bộ, giảng viên trong nhà trường, giúp duy trì các hoạt động bình thường của cơ sở giáo dục Khoản chi này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi của các trường, bao gồm nhiều loại chi phí khác nhau.
+ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
+ Phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ công nhân viên chức
Chi phí chuyên môn của các trường học được xác định dựa trên nhu cầu thực tế, bao gồm các khoản chi cho công tác giảng dạy và học tập, chẳng hạn như giáo trình, tài liệu và sách.
+ Tài liệu tham khảo cho giáo viên
+ Đồ dùng học tập, phấn viết bảng, vật tƣ văn phòng
+ Vật liệu, hóa chất, mẫu vật phục vụ hoá chất thí nghiệm
Khoản chi cho chi hội nghị, chi đoàn ra, đoàn vào nhằm cung cấp các phương tiện hỗ trợ đào tạo và giảng dạy Điều này giúp giảng viên truyền đạt kiến thức hiệu quả hơn, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên và giảng viên.
Hàng năm, các cơ sở giáo dục (CSGD) thường phát sinh nhu cầu kinh phí để mua sắm trang thiết bị hoặc sửa chữa tài sản do sự xuống cấp tự nhiên trong quá trình hoạt động giảng dạy Việc chi tiêu cho mua sắm, sửa chữa và nâng cấp tài sản như trường lớp, bàn ghế và thiết bị học cụ là cần thiết để đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất cho việc giảng dạy và học tập Do đó, việc xác định nhu cầu kinh phí cho các hoạt động này trong dự toán hàng năm của mỗi đơn vị là rất quan trọng, nhằm làm cơ sở lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục.
Các khoản chi thường xuyên khác là những khoản chi nằm trong cơ cấu chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, có thời hạn tác động ngắn nhưng chưa được đề cập trong ba nhóm mục trước đó.
Quản lý chi thường xuyên NSNN tại cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lƣợng vũ trang
Quản lý chi thường xuyên NSNN là quá trình mà các chủ thể quản lý tác động đến hoạt động tài chính của tổ chức nhằm đảm bảo nguồn chi được sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả Mục tiêu chính là đáp ứng các hoạt động của tổ chức và đơn vị một cách hợp lý.
Quản lý chi thường xuyên NSNN tại CSGD công lập thuộc lực lượng vũ trang
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại các cơ sở giáo dục công lập trong lực lượng vũ trang là quá trình áp dụng các công cụ và biện pháp quản lý nhằm đảm bảo nguồn chi được sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả Mục tiêu chính là hỗ trợ công tác bảo vệ an ninh quốc gia và duy trì trật tự an toàn xã hội.
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang là một phần quan trọng trong quản lý tài chính và ngân sách, đóng vai trò then chốt trong quản lý nhà nước Hoạt động này được thực hiện bởi bộ máy cấp trường và là một mắt xích thiết yếu trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội.
1.2.3.2 Đặc điểm quản lý chi thường xuyên NSNN tại cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang tương tự như quản lý chi tại các đơn vị sự nghiệp công lập Đây là quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến hoạt động tài chính của đơn vị, nhằm đạt được các mục tiêu quản lý chi thường xuyên NSNN, đồng thời đáp ứng yêu cầu và mục tiêu giáo dục đào tạo trong từng giai đoạn cụ thể.
Mục đích của công tác này là sử dụng các phương pháp và công cụ để tác động đến sự vận động của đồng tiền, nhằm đạt được các mục tiêu trong giáo dục đào tạo Quá trình này được thực hiện thông qua việc lập, chấp hành và quyết toán chi tài chính của các trường.
Chủ thể quản lý tài chính trong CSGD công lập thuộc lực lượng vũ trang là các phòng tài vụ, phòng tài chính hoặc phòng hậu cần Đối tượng quản lý bao gồm hoạt động tài chính và các bộ phận sử dụng tài chính trong các đơn vị này.
Mục tiêu quản lý chi thường xuyên NSNN là bảo đảm chi thường xuyên
NSNN đƣợc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm đơn vị có thể cung ứng dịch vụ công tốt nhất với chi phí thấp nhất
Cơ chế quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang được quy định bởi các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, và các bộ quản lý tài chính như Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an Các cơ sở này thực hiện quản lý chi thường xuyên dựa trên các quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công, cùng với các quy định chi tiêu NSNN từ Chính phủ và các bộ liên quan, cũng như quy chế chi tiêu nội bộ của từng đơn vị.
1.2.3.3 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang
Thứ nhất, nguyên tắc quản lý theo dự toán
Lập dự toán là bước khởi đầu quan trọng trong chu trình ngân sách nhà nước (NSNN) Các khoản chi tiêu (CTX) khi đã được ghi vào dự toán và phê duyệt bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ trở thành chỉ tiêu pháp lệnh Từ góc độ quản lý, số CTX trong dự toán thể hiện cam kết của các cơ quan chức năng đối với quản lý tài chính công và các đơn vị thụ hưởng NSNN Điều này dẫn đến việc hình thành nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của NSNN theo dự toán.
Mọi nhu cầu CTX trong năm kế hoạch cần được xác định trong dự toán Đơn vị phải dựa vào dự toán kinh phí đã được phê duyệt để phân bổ và sử dụng các khoản chi, đồng thời hạch toán theo đúng mục lục NSNN Định kỳ, theo chế độ quyết toán kinh phí, đơn vị cần phân tích và đánh giá kết quả thực hiện kỳ báo cáo dựa trên dự toán làm căn cứ đối chiếu.
Thứ hai, nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả
Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc quan trọng trong quản lý kinh tế và tài chính, vì nguồn lực luôn có hạn trong khi nhu cầu thì vô tận.
Trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm, cần tính toán để đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất Do đặc thù hoạt động của ngân sách nhà nước (NSNN) diễn ra rộng rãi và phức tạp, nhu cầu chi từ NSNN gia tăng nhanh chóng trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn, nên nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên NSNN cần được tôn trọng Hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN được thể hiện qua sự so sánh giữa kết quả đạt được trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội với chi phí bỏ ra Khi quản lý chi thường xuyên NSNN tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang, cần chú trọng đến cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Bộ Công an cần cân nhắc giữa việc thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu dựa trên lợi ích quốc gia và cộng đồng, đồng thời đạt được các mục tiêu chính trị trong từng giai đoạn với chi phí hợp lý Hiệu quả kinh tế là yếu tố quan trọng để các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền xem xét khi quyết định các phương án và dự án khác nhau.
Thứ ba, nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước
Để thực hiện nguyên tắc uỷ quyền, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) cần cho phép kho bạc nhà nước trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả cho người hưởng Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra và kiểm soát chặt chẽ trong quá trình cấp phát và thanh toán, đảm bảo có trong dự toán NSNN đã được phê duyệt, đúng tiêu chuẩn và quy định của quy chế chi tiêu nội bộ Đơn vị sử dụng NSNN cũng phải mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính trong các giai đoạn lập dự toán, phân bổ, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN.
Thứ tư, nguyên tắc công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình
Cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước Việc này không chỉ giúp cộng đồng giám sát và kiểm soát quyết định ngân sách mà còn hạn chế thất thoát và đảm bảo tính hợp lý trong chi tiêu Các chủ thể tham gia quản lý chi thường xuyên có trách nhiệm giải trình về các quyết định và hoạt động của mình, nhằm đảm bảo nguồn tài chính được sử dụng hiệu quả tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang.
Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lƣợng vũ trang
Hoạt động chi thường xuyên của ngân sách nhà nước bao gồm bốn khâu chính: lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán và kiểm tra, thanh tra, kiểm toán Do đó, việc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đòi hỏi phải thực hiện tốt công tác lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán chi tiêu.
1.2.4.1 Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước Đây là công việc mở đầu, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của quá trình quản lý chi NSNN Lập dự toán chi NSNN là quá trình phân tích, đánh giá khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính cho việc phục vụ các nhiệm vụ, chức năng của nhà trường, từ đó xác lập các nhiệm vụ chi NSNN dựa trên các căn cứ khoa học và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Nhà trường, Bộ Công an, đảm bảo tuân thủ các quy định về chế độ, chính sách định mức chi do nhà nước quy định
Mục đích của việc lập dự toán chi ngân sách nhà nước (NSNN) là để dự kiến và ước lượng kế hoạch chi tiêu cho kỳ tới, dựa trên nguồn lực hiện có của đơn vị Qua đó, việc phân bổ nguồn lực sẽ được thực hiện một cách hợp lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong thực hiện các mục tiêu đề ra.
Dự toán chi NSNN xây dựng dựa trên các căn cứ sau
Một là, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục – đào tạo và đảm bảo an ninh quốc phòng trong từng thời kỳ
Hai là, kết quả phân tích đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí của năm trước
Ba là chỉ tiêu kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là các chỉ tiêu liên quan đến việc cấp phát kinh phí ngân sách trong năm, bao gồm số lượng trường lớp, biên chế và số lượng học sinh.
Dựa vào nhu cầu kinh phí, khả năng huy động nguồn vốn ngoài ngân sách và khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước trong năm, cần lập kế hoạch chi phù hợp.
Năm nay, các chính sách và quy định liên quan đến chế độ tiêu chuẩn và định mức chi tiêu sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước sẽ được xem xét, cùng với những dự đoán về các điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong năm.
Yêu cầu lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) cần tổng hợp theo từng khoản thu - chi, đảm bảo đúng cơ cấu chi, biểu mẫu và thời gian quy định Dự toán chi thường xuyên được xây dựng dựa trên nhiệm vụ được giao và phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền, cùng với các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước quy định Đối với dự toán chi đầu tư phát triển, cần lập dựa trên quy hoạch, kế hoạch và chương trình dự án đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.
Hiện nay, việc lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) chủ yếu được thực hiện theo ba phương pháp: phương pháp truyền thống hay phương pháp gia tăng, phương pháp lập theo chương trình, và phương pháp lập từ zero.
Phương pháp truyền thống xác định các chỉ tiêu dự toán dựa vào kết quả thực tế của kỳ hoạt động trước, điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và lạm phát dự kiến Phương pháp này dễ hiểu, dễ sử dụng và tạo cơ sở bền vững cho nhà quản lý Hàng năm, ban lãnh đạo chỉ cần duyệt ngân quỹ dựa trên ngân quỹ đã phân bổ năm trước, cộng thêm tỷ lệ lạm phát và hoạt động phát sinh Tuy nhiên, phương pháp này có thể dẫn đến lãng phí kéo dài mà không được phát hiện, do chú trọng vào phân bổ ngân sách cho các đơn vị hơn là cho các hoạt động cụ thể trong từng đơn vị.
Phương pháp lập dự toán chi thường xuyên NSNN theo chương trình là cách phân bổ ngân quỹ cho các hoạt động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu cụ thể Khác với phương pháp truyền thống chỉ phân bổ cho các bộ phận, phương pháp này tập trung vào các hoạt động cụ thể, giúp khắc phục nhược điểm của phương pháp cũ khi ít chú trọng đến các hoạt động thực hiện trong từng đơn vị.
Phương pháp dự toán theo chương trình và phương pháp truyền thống thường được sử dụng trong nền kinh tế phát triển bình thường Tuy nhiên, sau các cuộc khủng hoảng kinh tế, các nhà quản lý nhận ra rằng cần thận trọng hơn trong việc lập kế hoạch và định hướng phát triển Các đơn vị hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp phải tính toán và phân bổ nguồn lực một cách cẩn thận để đạt được hiệu quả cao nhất.
Phương pháp lập dự toán chi thường xuyên NSNN từ zero tiếp cận lập kế hoạch và ra quyết định đảo ngược, khác biệt hoàn toàn so với phương pháp truyền thống Phương pháp này có ba đặc điểm nổi bật.
Lập ngân quỹ từ con số không yêu cầu người quản lý của mỗi đơn vị phải phân chia hoạt động của mình thành các quyết định cụ thể và trọn gói.
Thứ hai, các quyết định trọn gói đó đƣợc sắp xếp theo thứ tự ƣu tiên từ trên xuống dựa trên lợi ích của tổ chức;
Thứ ba, ngân quỹ đƣợc phân bổ cho từng quyết định trọn gói đó theo thứ tự ƣu tiên
Phương pháp lập dự toán ngân sách từ zero giúp đánh giá chi phí hoạt động một cách hiệu quả, chấm dứt tình trạng không cân đối giữa chi phí và khối lượng công việc, đồng thời tối ưu hóa cách thức đạt được mục tiêu Nó làm sáng tỏ các chi phí ẩn và chi phí do lạm phát, chỉ ra những nơi gây hao phí nguồn lực và các khoản chi chồng chéo Nhờ đó, đơn vị có thể nâng cao vị thế cạnh tranh khi thị trường phục hồi Đối với kế hoạch chi thường xuyên, các cơ sở giáo dục công lập cần lập dự toán chi tiết cho từng loại nhiệm vụ theo quy định, căn cứ vào nhiệm vụ được giao, quy chế chi tiêu nội bộ, và kết quả thực hiện nhiệm vụ các năm trước để xây dựng dự toán chi phù hợp với thực tiễn.
Dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước của đơn vị cần có thuyết minh cơ sở tính toán và chi tiết theo từng nội dung chi Các tài liệu này phải được gửi đến cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để xem xét, tổng hợp và gửi đến Bộ, Ngành chủ quản (đối với các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ, ngành trung ương) hoặc cơ quan chủ quản địa phương (đối với các cơ sở giáo dục công lập thuộc địa phương) theo quy định của pháp luật.
1.2.4.2 Chấp hành chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lƣợng vũ trang
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang chịu tác động từ nhiều yếu tố, tương tự như quản lý chi thường xuyên tại các cơ sở giáo dục công lập nói chung.
1.2.5.1 Các nhân tố khách quan Thứ nhất, hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế của Nhà nước đối với quản lý chi thường xuyên NSNN tại các CSGD công lập
Các quy định pháp luật và cơ chế quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) có ảnh hưởng lớn đến quản lý tài chính tại các cơ sở giáo dục công lập Một cơ chế quản lý hợp lý sẽ đảm bảo nguồn kinh phí cho các hoạt động thường xuyên, đồng thời giảm thiểu thất thoát và lãng phí, tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị Đối với các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang, việc quản lý chi thường xuyên NSNN còn phụ thuộc vào mục tiêu đào tạo nhằm đảm bảo an ninh trật tự và chủ quyền quốc gia Đặc thù của các trường này là đào tạo theo chỉ tiêu của Bộ Quốc Phòng và Bộ Công an, với NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí cho đào tạo, ăn, mặc và ở cho học viên, do đó công tác quản lý chi thường xuyên NSNN phải tuân theo chỉ tiêu của các bộ này.
Chi tiêu ngân sách nhà nước (NSNN) phụ thuộc vào tình hình tài chính công và khả năng huy động tài chính của nhà nước Khi nhà nước có tiềm lực tài chính mạnh mẽ, áp lực giảm chi tiêu sẽ giảm Ngược lại, nếu nợ công cao và tiềm lực tài chính yếu, áp lực giảm chi sẽ gia tăng, dẫn đến khó khăn trong quản lý chi NSNN tại các trường công lập.
Ngày nay, sự phát triển của công nghiệp hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật yêu cầu các trường đại học công lập phải linh hoạt trong việc đổi mới thiết bị và phát triển hàng hóa dịch vụ mới Điều này nhằm nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí ngân sách nhà nước.
Thứ hai, tình hình kinh tế xã hội của đất nước:
Sự phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng lớn đến quản lý ngân sách nhà nước, đặc biệt là chi thường xuyên tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang Kinh tế tăng trưởng, thể hiện qua GDP, cải thiện đời sống người dân, dẫn đến tăng cường đóng góp cho giáo dục Thu nhập cao cũng làm tăng số lượng học sinh tốt nghiệp trung học có khả năng học đại học, ảnh hưởng đến quy mô đào tạo đại học Các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang không chỉ tham gia đào tạo hệ dân sự mà còn tham gia sản xuất kinh doanh, chịu tác động từ tình hình kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến cơ chế quản lý chi thường xuyên Kinh tế phát triển cũng thúc đẩy đầu tư cho giáo dục, huy động nhiều nguồn vốn xã hội cho giáo dục đại học và cao đẳng Sự đa dạng hóa hình thức sở hữu và loại hình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, cùng với các đơn vị sự nghiệp thuộc lực lượng vũ trang, đáp ứng nhu cầu xã hội và có cơ chế quản lý riêng biệt.
1.2.5.2 Các nhân tố chủ quan Thứ nhất, năng lực quản lý của người lãnh đạo và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ
Con người đóng vai trò trung tâm trong quản lý, và trình độ của cán bộ quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời và chính xác của các quyết định Điều này quyết định sự thành công hay thất bại trong quá trình quản lý.
Năng lực của cán bộ quản lý chi ngân sách nhà nước (NSNN) tại các cơ sở giáo dục công lập rất quan trọng, bao gồm khả năng xây dựng chiến lược, lập dự toán hợp lý, tổ chức thực hiện dự toán một cách linh hoạt và kiểm tra, giám sát hiệu quả Đội ngũ cán bộ có năng lực tốt sẽ nâng cao chất lượng quản lý chi NSNN, trong khi đó, đạo đức của cán bộ cũng ảnh hưởng lớn đến quản lý chi NSNN; nếu cán bộ tha hóa, nguy cơ thất thoát và lãng phí sẽ gia tăng Đặc biệt, trong quản lý chi thường xuyên NSNN tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang, vai trò của cán bộ quản lý tài chính là rất quan trọng trong việc xây dựng và thực thi các chính sách tài chính Các chính sách tài chính nội bộ liên quan đến tất cả các bộ phận trong bộ máy quản lý, và sự phối hợp giữa các bộ phận này là cần thiết để thực hiện hiệu quả chức năng quản lý, bao gồm cả quản lý chi thường xuyên NSNN Sự yếu kém của một bộ phận có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN của toàn đơn vị.
Mục tiêu và nhiệm vụ của các trường đại học, đặc biệt là các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang, có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước Mỗi nhiệm vụ trong đào tạo và nghiên cứu khoa học cần nguồn tài chính đảm bảo và cũng tạo ra nguồn thu cho trường Khi xây dựng mục tiêu và phương hướng phát triển, các cơ sở giáo dục công lập phải xác định nhu cầu và khả năng huy động tài chính để thực hiện thành công các mục tiêu đã đề ra Sự thay đổi trong nhiệm vụ và mục tiêu của trường sẽ dẫn đến sự điều chỉnh trong cơ chế tài chính và ảnh hưởng đến các giải pháp quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước, cũng như trật tự ưu tiên các khoản chi trong từng giai đoạn.
Thứ ba qui mô của đơn vị đào tạo
Các trường đại học có quy mô khác nhau sẽ có những điểm khác biệt trong quản lý chi thường xuyên NSNN Trường lớn với số lượng sinh viên đông có khả năng tự đảm bảo tài chính cao hơn, trong khi trường nhỏ cần xây dựng cơ chế tài chính phù hợp để thu hút giảng viên chất lượng Tuy nhiên, trường nhỏ thường gặp khó khăn về nguồn tài chính do nhiệm vụ chi lớn cho cơ sở vật chất và hoạt động giáo dục, dẫn đến việc cần hỗ trợ từ NSNN.
Thứ tư, bộ máy quản lý tài chính của đơn vị
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) chịu ảnh hưởng lớn từ bộ máy quản lý của các đơn vị sự nghiệp công Việc tổ chức bộ máy quản lý tài chính gọn nhẹ giúp giảm chi phí quản lý, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN Khi các chức năng của từng bộ phận được xác định rõ ràng và cơ chế phối hợp hợp lý, các mục tiêu quản lý chi thường xuyên NSNN sẽ được thực hiện đầy đủ và hiệu quả hơn.
Một số nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) tại các cơ sở giáo dục thuộc lực lượng vũ trang có thể quyết định sự thành công hoặc chưa thành công trong công tác này Những yếu tố này không chỉ tác động đến các cơ sở giáo dục công lập nói chung mà còn đặc biệt quan trọng đối với các cơ sở giáo dục công lập thuộc lực lượng vũ trang.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập số liệu
2.1.1 Thu thập số liệu sơ cấp
Sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin từ những người có trách nhiệm trong lĩnh vực nghiên cứu, bao gồm lãnh đạo phòng Hậu cần, các trưởng phòng, khoa, bộ môn, cán bộ quản lý ngân sách chi thường xuyên, giảng viên và các cá nhân, đơn vị liên quan.
Quy mô mẫu điều tra: Khảo sát 100 đối tƣợng Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên
2.1.2 Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập dữ liệu từ các nguồn như dự toán chi ngân sách, số liệu chi ngân sách thường xuyên và quyết toán chi ngân sách trong giai đoạn 2014-2019, với đơn vị tính là đồng Việt Nam Ngoài ra, các quy định liên quan đến quản lý ngân sách và tài liệu nghiên cứu trước đây cũng sẽ được tổng hợp.
Phương pháp xử lý dữ liệu
Tác giả tiến hành phân tích thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Trường Đại học PCCC Bộ Công an, nhằm nhận thức và khai thác các khía cạnh khác nhau của vấn đề Phương pháp này được áp dụng trong Chương 3 của luận văn, trong đó thực trạng quản lý chi thường xuyên được đánh giá dựa trên các khâu của quy trình quản lý chi.
2.2.2 Phương pháp thống kê, mô tả
Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng để thể hiện các đặc điểm cơ bản của dữ liệu hiện có liên quan đến trường Đại học PCCC.
Bài viết phân tích công tác chi thường xuyên của trường Đại học PCCC Bộ Công an thông qua việc nghiên cứu tài liệu và khảo sát ý kiến Sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả như bảng biểu và sơ đồ, luận văn nhằm cung cấp cái nhìn chính xác và chân thực về tình hình hoạt động và quản lý ngân sách nhà nước của nhà trường.
Phương pháp so sánh được sử dụng để phân tích sự khác biệt giữa các chỉ tiêu theo thời gian, bao gồm việc so sánh giữa dự toán và thực hiện chấp hành dự toán, cũng như giữa dự toán và quyết toán chi thường xuyên của ngân sách nhà nước.
Bài viết so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa lý thuyết và thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Trường Đại học PCCC Bộ Công an, dựa trên thông tin thu thập từ tài liệu và phỏng vấn Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp được xử lý bằng phần mềm Excel để phân tích sự biến động của các yếu tố qua các thời kỳ, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên tại Trường Đại học PCCC trong tương lai.
Sử dụng các chỉ số để phân tích nhằm đánh giá mức độ biến động và mối quan hệ giữa các hiện tượng là phương pháp hiệu quả để xem xét tình hình giao dự toán qua các năm Bài viết này sẽ tập trung vào số liệu chi ngân sách thường xuyên của trường Đại học PCCC từ năm 2014-2019, bao gồm cả số liệu giải ngân chi thường xuyên.