Khái niệm công chức và tổ chức thực hiện pháp luật về cán bộ, công chức
Vào ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức, và luật này đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2019 Theo Khoản 1 Điều 1 của Luật sửa đổi năm 2019, công chức được định nghĩa là công dân.
Việt Nam tuyển dụng và bổ nhiệm vào các vị trí việc làm trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước tại các cơ quan của Đảng Cộng sản, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp trung ương, tỉnh, huyện; cũng như tại các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, không bao gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công an nhân dân phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp.
Công chức được phân loại dựa trên trình độ đào tạo và vị trí công tác Theo trình độ đào tạo, công chức được chia thành các loại A, B, C, D Về vị trí công tác, công chức được phân thành hai nhóm: công chức lãnh đạo (chỉ huy và điều hành) và công chức chuyên môn nghiệp vụ.
Công chức có ba đặc điểm chính: được tuyển dụng và bổ nhiệm vào vị trí công vụ ổn định trong cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch để thể hiện tính ổn định, và nhận lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng và bổ nhiệm vào các vị trí công vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong các cơ quan nhà nước hoặc các đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân Họ được phân loại theo trình độ đào tạo và ngành chuyên môn, xếp vào các ngạch hành chính và đơn vị sự nghiệp, đồng thời hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
1.1.1.2 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức Khái niệm thực hiện pháp luật:
Thực hiện pháp luật là yêu cầu khách quan của xã hội, Nhà nước, cá nhân và tổ chức Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh rằng thực hiện pháp luật là quá trình tiếp tục ý chí của Nhà nước thể hiện trong pháp luật, đồng thời là một mắt xích quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa Nội dung cốt lõi của pháp chế là sự tuân thủ pháp luật một cách triệt để Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thực hiện pháp luật.
Quan điểm thứ nhất định nghĩa “thực hiện pháp luật” là hành vi hoặc không hành vi của con người phù hợp với quy định của pháp luật Theo quan điểm này, mọi hoạt động của con người và tổ chức nếu tuân thủ quy định pháp luật đều được xem là thực hiện pháp luật Hành vi thực hiện pháp luật được thể hiện qua sự phù hợp của con người với các quy định pháp lý.
Thực hiện pháp luật là một hoạt động có mục đích, nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật được áp dụng và đi vào cuộc sống.
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã xuất bản Giáo trình xây dựng đảng cho hệ cử nhân chính trị vào năm 2006, do Viện Xây dựng đảng biên soạn Tài liệu này được phát hành bởi Nxb Lý luận chính trị tại Hà Nội, trang 230.
Thực hiện pháp luật không chỉ là hành vi của cá nhân mà còn là hoạt động của các tổ chức và cơ quan nhà nước nhằm tuân thủ các quy định pháp luật Điều này được thể hiện qua công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật, giúp các quy định trở thành hành vi thực tế hợp pháp Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Minh Đoan có những quan điểm riêng về vấn đề này.
Việc thực hiện pháp luật là cần thiết để đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Mọi nhà nước đều phải xây dựng và ban hành quy phạm pháp luật nhằm quản lý xã hội, với mục tiêu điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích chung của Nhà nước và xã hội.
Để thực hiện vai trò quản lý xã hội, Nhà nước cần đồng thời xây dựng, hoàn thiện và thực hiện pháp luật Thực hiện pháp luật là một hình thức quan trọng trong chức năng của Nhà nước Tóm lại, có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về thực hiện pháp luật, nhưng chúng ta có thể rút ra một cách hiểu chung nhất từ các quan điểm này.
Thực hiện pháp luật là quá trình có mục đích biến các quy định pháp luật thành hiện thực trong đời sống, nhằm đạt được các mục tiêu quản lý của Nhà nước.
Nhà nước Việt Nam là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phục vụ lợi ích của nhân dân Cán bộ và công chức Nhà nước được xem như là "công bộc" của dân, thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với cộng đồng.
17 Phạm Hồng Thái (2008), Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, tr.463
Pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân và điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ Tuy nhiên, hiệu quả thực thi pháp luật phụ thuộc vào cách tổ chức và thực hiện của cán bộ, công chức Do đó, việc hiểu rõ khái niệm thực hiện pháp luật và vai trò của cán bộ, công chức là rất quan trọng để đảm bảo pháp luật được triển khai hiệu quả trong thực tế cuộc sống.
Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Thực hiện pháp luật của cán bộ, công chức có những đặc thù riêng biệt, được xác định bởi vị trí và vai trò của họ trong việc thực hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước Những đặc điểm này không chỉ phản ánh sự khác biệt trong quy trình thực hiện pháp luật mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của cán bộ, công chức trong việc duy trì trật tự và phát triển xã hội.
Một là, chủ thể thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh
Chủ thể thực hiện pháp luật cán bộ, công chức bao gồm các cá nhân và tổ chức được giao thẩm quyền quản lý công chức theo quy định của pháp luật và phân công của Đảng Đội ngũ công chức làm công tác tổ chức cán bộ, Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là những chủ thể chính trong việc thực hiện pháp luật này.
Phạm vi và tính chất của việc thực hiện pháp luật đối với cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh là rất quan trọng Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và sự phát triển của địa phương Việc nắm vững các quy định pháp luật sẽ giúp cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả hơn.
Việc thực hiện pháp luật cán bộ, công chức diễn ra giữa các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý và giữa các cơ quan nhà nước với nhau Tại Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh, hoạt động này liên quan đến các cá nhân có quyền quản lý công chức, bao gồm lãnh đạo Uỷ ban nhân dân Tỉnh và các Sở, cùng với đội ngũ công chức theo quy định của Nhà nước Pháp luật cán bộ, công chức mang tính quyền lực Nhà nước, được đảm bảo thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế và giáo dục thuyết phục, với sự áp dụng pháp luật theo ý chí đơn phương của cơ quan có thẩm quyền Chế độ trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này có sự phân công và phân cấp rõ ràng, cùng với các chế tài xử phạt vi phạm được quy định cụ thể, như Điều 79 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
Công chức vi phạm quy định của Luật và các quy định pháp luật liên quan sẽ phải chịu hình thức kỷ luật tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, bao gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, hoặc buộc thôi việc.
19 Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Ba là, tính nghiêm minh của pháp chế khi tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh
Đội ngũ công chức đóng vai trò quan trọng trong việc vận hành bộ máy hành chính nhà nước, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện pháp luật Việc thực hiện tốt pháp luật của cán bộ, công chức không chỉ nâng cao chất lượng đội ngũ mà còn củng cố uy tín của Nhà nước và sức mạnh hệ thống chính trị Việt Nam Chất lượng thực hiện pháp luật tại Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có tác động lớn đến sự phát triển bền vững của địa phương và là thước đo tính nghiêm minh của pháp chế quốc gia Do đó, việc chấp hành nghiêm các quy định pháp luật trong tổ chức thực hiện là điều cần thiết.
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức có một số đặc điểm cơ bản, bao gồm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, sự minh bạch trong quy trình làm việc, và trách nhiệm cao trong việc thực thi các quy định pháp luật.
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động có định hướng nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn tại các cơ quan nhà nước Hoạt động này không chỉ giúp hình thành ý thức và thói quen xử sự phù hợp với quy định pháp luật mà còn được thực hiện một cách có chủ định, có tổ chức và kế hoạch cụ thể Mục tiêu của việc thực hiện pháp luật là nâng cao ý thức pháp luật của các đối tượng, khuyến khích họ tự giác tuân thủ các quy định liên quan đến cán bộ, công chức.
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động do các chủ thể như cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức bao gồm các hoạt động như phổ biến và giáo dục pháp luật, ban hành văn bản pháp luật để triển khai thực hiện Đồng thời, cần đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất cho việc thi hành pháp luật và thực hiện kiểm tra, đánh giá, tổng kết công tác thi hành pháp luật trong thực tế.
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là một quá trình tác động liên tục và lâu dài, không chỉ là sự can thiệp nhất thời Quá trình này gắn liền với việc đưa pháp luật vào các cơ quan nhà nước, đồng thời hỗ trợ cho hoạt động quản lý nhà nước hiệu quả.
Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, nhằm tác động đến cán bộ, công chức nhà nước để đạt được mục tiêu của cơ quan Điều này cho thấy rằng hoạt động này mang tính định hướng và có chủ đích từ phía các cơ quan nhà nước.
Bộ Nội vụ là cơ quan có thẩm quyền giúp Chính phủ quản lý thống nhất công tác tổ chức trong cả nước Quản lý nhà nước về cán bộ, công chức được phân cấp cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, và các cấp chính quyền địa phương Cán bộ, công chức làm việc tại nhiều cơ quan khác nhau theo quy định pháp luật, do đó việc thực hiện pháp luật về cán bộ, công chức sẽ do các cơ quan và tổ chức này triển khai.
Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức, phổ biến, tuyên truyền pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức tuyên truyền pháp luật cho cán bộ, công chức là một nhiệm vụ quan trọng nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật Việc này giúp cán bộ, công chức nhận thức rõ ràng về các nghĩa vụ pháp lý theo quy định Các hình thức tuyên truyền có thể bao gồm tuyên truyền miệng, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, phát tờ rơi, và sử dụng hệ thống thông tin đại chúng.
Tuyên truyền miệng về pháp luật là một phương thức phổ biến, trong đó người nói trực tiếp truyền đạt thông tin pháp luật, chủ yếu là các văn bản pháp luật, nhằm nâng cao nhận thức và niềm tin của người nghe vào pháp luật Hình thức này có nhiều ưu điểm như tính linh hoạt, có thể thực hiện ở bất kỳ nơi nào và trong mọi hoàn cảnh, cho phép người nói giải thích và phân tích nội dung một cách rõ ràng Tuyên truyền miệng cũng tạo điều kiện cho việc hỏi đáp trực tiếp giữa người nói và người nghe, đáp ứng nhu cầu thông tin của cả hai bên Trong công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật, hình thức này được sử dụng rộng rãi và có mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức khác.
Tuyên truyền và phổ biến pháp luật cho cán bộ, công chức có thể thực hiện qua việc biên soạn và phát hành tài liệu pháp luật đa dạng như đề cương tuyên truyền, văn bản pháp luật, sách hướng dẫn, và tờ rơi Trong các hoạt động giảng dạy và học tập, tài liệu pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và nâng cao nhận thức pháp luật Hiệu quả của công tác này phụ thuộc vào chất lượng của các tài liệu, do đó, việc chú trọng đến hình thức và nội dung của tài liệu pháp luật là rất cần thiết.
Để pháp luật về cán bộ, công chức trở nên gần gũi và được nhận thức trong quản lý nhà nước, cần tuyên truyền phổ biến pháp luật qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật, hoạt động thực thi pháp luật và thực hiện cam kết không vi phạm pháp luật.
Bảo đảm cán bộ, công chức thực thi đúng các quyền và nghĩa vụ đối với cán bộ, công chức
vụ đối với cán bộ, công chức
Theo Điều 8 Luật cán bộ, công chức, công chức có nghĩa vụ trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia, tôn trọng và phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân Điều 9 quy định rằng công chức phải thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nội quy của cơ quan, báo cáo vi phạm pháp luật, bảo vệ bí mật nhà nước, phối hợp chặt chẽ trong công vụ, giữ gìn đoàn kết, quản lý tài sản nhà nước hiệu quả và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
Việc thực hiện pháp luật đối với cán bộ, công chức cần đảm bảo đầy đủ quyền lợi của họ theo quy định pháp luật.
Quyền được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ (Điều 11) bao gồm việc được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ, được cung cấp trang thiết bị và các điều kiện làm việc theo quy định pháp luật, nhận thông tin liên quan đến nhiệm vụ và quyền hạn, được đào tạo nâng cao trình độ chính trị và chuyên môn, cũng như được pháp luật bảo vệ khi thực hiện công vụ.
Công chức có quyền được hưởng lương và các chế độ liên quan đến tiền lương, được Nhà nước đảm bảo mức lương tương xứng với nhiệm vụ và quyền hạn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Những công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, hoặc trong các ngành nghề có môi trường độc hại sẽ nhận được phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định Họ cũng được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
Công chức có quyền nghỉ ngơi theo Điều 13, bao gồm nghỉ hàng năm, nghỉ lễ và nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật lao động Nếu do yêu cầu nhiệm vụ mà cán bộ, công chức không sử dụng hết số ngày nghỉ hàng năm, họ sẽ được thanh toán thêm một khoản tiền tương đương với tiền lương cho những ngày không nghỉ.
Công chức có quyền học tập, nghiên cứu khoa học và tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội Họ được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, cũng như chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định pháp luật Trong trường hợp bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ, công chức sẽ được xem xét hưởng chế độ như thương binh hoặc được công nhận là liệt sĩ, cùng với các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.
Mỗi cán bộ, công chức cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, đảm bảo tuân thủ các yêu cầu và trách nhiệm được pháp luật xác định.
Nghĩa vụ thực hiện các chuẩn mực về đạo đức công vụ bao gồm đạo đức công chức, văn hoá giao tiếp trong công sở và với nhân dân, thể hiện qua các nguyên tắc cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ (Điều 15) Văn hoá giao tiếp trong công sở được quy định tại Điều 16, trong khi văn hoá giao tiếp với nhân dân được nêu rõ tại Điều 17.
Nghĩa vụ không được làm những việc mà pháp luật không cho phép bao gồm các hành vi vi phạm đạo đức công vụ (Điều 18), tiết lộ bí mật nhà nước (Điều 19), và các hành vi khác liên quan đến sản xuất, kinh doanh, và công tác nhân sự theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cùng các quy định khác của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền.
Bảo đảm hoạt động quản lý cán bộ, công chức
Theo Điều 5 Luật cán bộ, công chức, việc quản lý cán bộ, công chức cần tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước Cần kết hợp tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm với chỉ tiêu biên chế, đồng thời thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ trách nhiệm cá nhân Việc phân công và phân cấp phải rõ ràng, và đánh giá cán bộ, công chức dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ, đồng thời đảm bảo bình đẳng giới Hoạt động quản lý bao gồm tuyển dụng, phân công công tác, sử dụng, đánh giá và phân loại công chức.
Tuyển dụng công chức là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, cần căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế Tất cả công dân Việt Nam đủ điều kiện đều có cơ hội tham gia dự tuyển mà không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội hay tôn giáo Theo Nghị quyết Trung ương 5 Khoá X, việc tuyển dụng cho các vị trí chuyên viên hoặc tương đương sẽ được thực hiện thông qua hợp đồng làm việc có thời hạn, trong khi các vị trí chuyên viên chính hoặc tương đương trở lên sẽ được tuyển dụng lâu dài qua quyết định tuyển dụng Luật cán bộ, công chức quy định nguyên tắc tuyển dụng phải đảm bảo bình đẳng, công khai, khách quan và cạnh tranh, ưu tiên người có tài năng, người có công với nước và người dân tộc thiểu số Người trúng tuyển phải trải qua thời gian thử việc trước khi nhận nhiệm vụ chính thức.
Chế độ đào tạo và bồi dưỡng công chức được quy định tại Điều 47 Luật cán bộ, công chức, yêu cầu các cơ quan, tổ chức xây dựng và công khai kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao năng lực chuyên môn Kinh phí cho việc này do ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác đảm bảo Đào tạo công chức bao gồm các hình thức như đào tạo tiền công vụ, nâng ngạch, thay đổi chức danh nghề nghiệp, và bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo Việc đào tạo cần dựa trên kế hoạch, tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo và yêu cầu công việc cụ thể.
Việc điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm và từ chức đối với cán bộ, công chức được quy định từ Điều 50 đến Điều 54 của Luật cán bộ, công chức Sắp xếp công chức cần dựa trên yêu cầu nhiệm vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cũng như nhu cầu và nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị Đồng thời, cần xem xét tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch, kế hoạch sử dụng công chức trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội.
Việc đánh giá công chức cần dựa trên quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo đức công vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ Người đứng đầu có trách nhiệm cao trong quá trình này Công chức sẽ được xếp loại theo các mức độ: xuất sắc, tốt, trung bình và yếu Nếu công chức bị đánh giá ở mức độ yếu trong 2 năm liên tiếp, sẽ áp dụng chế độ thôi việc Theo Điều 55 Luật cán bộ, công chức, việc đánh giá nhằm làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và trình độ chuyên môn Kết quả đánh giá là cơ sở để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, khen thưởng và kỷ luật công chức Đánh giá công chức bao gồm việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước, cũng như đánh giá phẩm chất, năng lực, tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân.
Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
1.2.4.Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Giám sát và đánh giá việc thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thông qua thanh tra, kiểm tra là giải pháp quan trọng để nâng cao ý thức thực hiện pháp luật trong các cơ quan, tổ chức Đây là cơ chế hiệu quả để điều chỉnh sai sót và đạt được mục tiêu đề ra, đồng thời kiểm soát việc thực thi pháp luật, hạn chế lạm quyền của cán bộ, công chức Giám sát và đánh giá tạo áp lực cho các cá nhân, tổ chức thực hiện đúng trách nhiệm, tránh chậm trễ trong nhiệm vụ Ngoài ra, đây cũng là công cụ thu thập phản hồi để điều chỉnh quy định pháp luật Thực tế đã chứng minh rằng giám sát chặt chẽ giúp tổ chức thực hiện pháp luật thành công Ở cấp độ vĩ mô, cơ chế giám sát gắn liền với kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước, nhằm đảm bảo việc thực thi quyền lực đúng mục đích và hiệu quả Kiểm soát quyền lực bao gồm kiểm soát hoạt động của cơ quan nhà nước, quá trình sửa đổi Hiến pháp, và trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật sẽ được xác định rõ ràng, tạo động lực chính trị cho hệ thống cơ quan thực hiện pháp luật hoạt động hiệu quả.
Công tác theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị và quyết định xử lý vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức là rất quan trọng trong hoạt động thanh tra Kết quả của quá trình này quyết định hiệu lực của hoạt động thanh tra và xác định xem các mục tiêu đã đạt được hay chưa.
Việc tổ chức thực hiện pháp luật đối với cán bộ, công chức bao gồm hai giai đoạn quan trọng Giai đoạn đầu tiên là xây dựng cơ sở pháp lý để hình thành quan hệ pháp luật giữa cán bộ, công chức với đơn vị công tác và các chủ thể xã hội khác Giai đoạn thứ hai là sự tham gia của từng cán bộ, công chức, cá nhân và tổ chức liên quan trong quan hệ pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Yếu tố pháp luật
Yếu tố pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện pháp luật đối với cán bộ, công chức Các quy định pháp luật này tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết, giúp các cơ quan nhà nước và công chức tuân thủ trong quá trình thực thi công vụ.
Pháp luật cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, yêu cầu xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan, đơn vị Để bộ máy Nhà nước hoạt động hiệu quả, cần thiết lập mối quan hệ hợp lý giữa các cơ quan và áp dụng phương pháp tổ chức phù hợp, tạo thành cơ chế đồng bộ trong thực hiện quyền lực nhà nước Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy sự thiếu hụt hệ thống pháp luật về công chức đã dẫn đến tình trạng chồng chéo, không đúng chức năng, gây cồng kềnh và kém hiệu quả trong quản lý công chức, đồng thời chưa tạo động lực cho họ trong thực thi công vụ.
Quản lý nhà nước là lĩnh vực rộng lớn, bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, trong đó quản lý nhân sự là vấn đề quan trọng Pháp luật về cán bộ, công chức được quy định qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, điều chỉnh các tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, cũng như quy trình tuyển dụng, điều động, đánh giá, thôi việc, nghỉ hưu, khen thưởng và xử lý kỷ luật Ngoài ra, các chế độ chính sách như chế độ thai sản cũng được quy định rõ ràng.
Yếu tố kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước ảnh hưởng lớn đến việc hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là pháp luật về cán bộ, công chức Mức độ hoàn thiện trong tổ chức thực hiện pháp luật này phản ánh tình hình phát triển kinh tế - xã hội Thể chế quản lý cán bộ, công chức thường phản ánh trình độ phát triển của đất nước; khi kinh tế - xã hội phát triển, sẽ thúc đẩy sự phát triển của cán bộ, công chức và ngược lại Pháp luật về cán bộ, công chức là hệ thống văn bản pháp luật quản lý lĩnh vực này Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, điều kiện kinh tế và các quan hệ kinh tế quyết định sự ra đời, nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của pháp luật.
Trong mọi thời đại, vua chúa luôn phải tuân theo các điều kiện kinh tế, chứ không thể ra lệnh cho chúng Chế độ pháp luật về chính trị và dân sự chỉ phản ánh và ghi chép lại quyền lực của các mối quan hệ kinh tế.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay, sự đổi mới đang diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến nhận thức về tác động của nền kinh tế thị trường ngày càng sâu sắc Để đáp ứng yêu cầu của người dân và các tổ chức kinh tế - xã hội, một bộ máy Nhà nước năng động và hiệu quả là điều cấp bách Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của bộ máy này phụ thuộc vào con người, với quyết định của đội ngũ công chức từ Trung ương đến cơ sở Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức là cần thiết, nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ và ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương trong thời kỳ mới.
Yếu tố năng lực của cán bộ, công chức
Năng lực của cán bộ, công chức gắn liền với mục tiêu phát triển của tổ chức và điều kiện cụ thể Nó liên quan chặt chẽ đến quy trình làm việc, phương pháp hiệu quả và ứng dụng khoa học công nghệ Yêu cầu về năng lực sẽ thay đổi theo tình hình công việc và nhiệm vụ Do đó, năng lực làm việc hay năng lực thực thi trong quản lý hành chính nhà nước của cán bộ, công chức là khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong những điều kiện nhất định.
Trong quản lý nhà nước, năng lực của công chức được định nghĩa là khả năng thực hiện hiệu quả các hoạt động tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các đối tượng quản lý Điều này cần phải tuân thủ trật tự hành chính và phản ánh ý chí của nhà quản lý một cách hiệu quả.
Năng lực thực thi công vụ là khả năng của công chức trong việc sử dụng kiến thức, kỹ năng, trình độ và thái độ để hoàn thành nhiệm vụ Nó không chỉ bao gồm các yếu tố như trình độ và kỹ năng mà còn yêu cầu khả năng kết hợp hài hòa các yếu tố này trong các tình huống cụ thể để đạt hiệu quả cao nhất.
Con người là trung tâm của mọi vấn đề và là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại của mọi tổ chức Trong quá trình tổ chức thực hiện, cần phải chú trọng đến yếu tố con người, tránh áp đặt cứng nhắc, đặc biệt trong bối cảnh của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Pháp luật về công chức cần được ban hành dựa trên trình độ năng lực và nhận thức của đội ngũ công chức, đảm bảo sự phù hợp Đồng thời, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý công chức, với mức độ thực hiện pháp luật phụ thuộc vào năng lực của các cơ quan và cá nhân tham gia.
THỰC TRẠNG CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP TỈNH – TỪ THỰC TIỄN TỈNH LẠNG SƠN
Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Lạng Sơn
2.1.1 Về vị tri địa lý, địa hình, đất đai
Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Đông Bắc, có diện tích 8.310,09 km² Tỉnh nằm trên các tuyến quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế với các tỉnh như Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Bắc Giang và tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế (Hữu Nghị và Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính Chi Ma và 9 cửa khẩu phụ, góp phần quan trọng vào hoạt động thương mại và giao thương khu vực.
Tài nguyên rừng của khu vực có diện tích 512.559 ha, chiếm 61,6% tổng diện tích đất tự nhiên Mặc dù tài nguyên khoáng sản không phong phú, nhưng khu vực vẫn có khoảng 40 mỏ đá vôi đang khai thác, với tổng trữ lượng đạt 405 triệu m³, chủ yếu phục vụ cho ngành xây dựng.
2.1.3 Dân số, đơn vị hành chính
Dân số tỉnh Lạng Sơn năm 2019 đạt 782.811 người, trong đó 79,54% cư trú tại khu vực nông thôn Tỉnh có 07 dân tộc, với tỷ lệ dân số chủ yếu là Nùng 41,91%, Tày 35,43%, Kinh 16,99%, Dao 3,5%, Hoa 0,29%, Sán Chay 0,6%, Mông 0,17% và các dân tộc khác 0,11%.
Tỉnh Lạng Sơn có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 10 huyện và 01 thành phố loại II; 200 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 181 xã, 05 phường và
20 Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn, https://www.langson.gov.vn/index.php/en/node/68258, truy cập ngày 23 tháng 3 năm
2021 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Tính đến tháng 6/2020, tỉnh có 1.850 thôn và tổ dân phố, bao gồm 1.707 thôn và 143 tổ dân phố Trong số đó, có 31 xã thuộc khu vực I, 57 xã khu vực II, và 112 xã khu vực III Tỉnh cũng có 107 xã đặc biệt khó khăn, 04 xã an toàn khu, 03 xã biên giới, cùng với 83 thôn đặc biệt khó khăn thuộc 24 xã khu vực II trong diện đầu tư của Chương trình 135.
Từ năm 2011 đến 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt từ 8 đến 9% Trong đó, ngành nông, lâm nghiệp tăng trưởng từ 3 đến 4%, ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 9 đến 11%, và dịch vụ tăng từ 10 đến 12% Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp.
Nông lâm nghiệp đóng góp 20,30% vào nền kinh tế, trong khi công nghiệp - xây dựng chiếm 19,68% và dịch vụ chiếm 49,78% Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là 10,24% Năm 2018, thu nhập bình quân đầu người đạt 38,4 triệu đồng.
2.1.5 Về văn hoá – xã hội
- Tỷ lệ thôn, khối phố có nhà văn hóa đến năm 2018 đạt 96%
- Số trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2018 là 192 trường trên tổng số 694 trường
- Đến hết năm 2018, tổng số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế là 114 xã, chiếm 50,4% số xã Có 10,5 bác sỹ/vạn dân, 28,3 giường bệnh/vạn dân,
Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,5%
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2018 đạt 50%, lao động được giải quyết việc làm hàng năm trên 14.600 người
Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm đã giảm liên tục, với mức giảm 3,3% vào năm 2017 và 3,24% vào năm 2018 Hiện tại, còn 30.583 hộ nghèo, chiếm 15,83% tổng số hộ, cùng với 21.267 hộ cận nghèo, chiếm 11,01%.
2.2 Những thành tựu đạt được trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của cấp tỉnh Lạng Sơn 21
2.2.1 Về kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy
UBND tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về việc đổi mới và sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Mục tiêu là xây dựng một hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả Để đạt được điều này, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện 03 đợt sắp xếp tổ chức bộ máy trong các năm qua.
2017, 2019 và 2020 Kết quả thực hiện đến nay cụ thể như sau:
Về tổ chức hành chính
- Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
Thời gian Số lượng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Số lượng Sở, ngành thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Lạng Sơn đã giữ nguyên từ ngày 30 tháng 4 năm 2015 đến ngày 30 tháng 6 năm 2020, cho thấy tính ổn định và không có sự xáo trộn nào trong việc chia tách hay sáp nhập các đơn vị tổ chức.
- Tổ chức hành chính khác ở cấp tỉnh (Văn phòng HĐND tỉnh, Ban Quản lý
KKTCK Đồng Đăng - Lạng Sơn):
Báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy và quản lý biên chế công chức giai đoạn 2015-2020 cho thấy số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập và hợp đồng lao động trên địa bàn tỉnh.
2020 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Thời gian Số lượng hành chính khác cấp tỉnh
Trong giai đoạn từ 30/4/2015 đến 30/6/2020, số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh không có sự thay đổi, cho thấy tính ổn định của các đơn vị hành chính vẫn được duy trì.
- Các tổ chức và tương đương thuộc cơ cấu tổ chức của Sở, ngành:
Thời điểm Số lượng phòng và tương đương thuộc Sở, ngành
Vào thời điểm 30/4/2015, số lượng phòng và tương đương là 155, nhưng đến 30/6/2020, con số này đã giảm xuống còn 102, tương ứng với tỷ lệ giảm 34,19% Sự giảm sút này cho thấy cơ cấu tổ chức của Sở, ngành đã thực hiện hiệu quả chủ trương cắt giảm đầu mối.
- Chi cục và tương đương:
Thời điểm Số lượng Chi cục và tương đương
Tính đến ngày 30/4/2015, có 15 chi cục và tương đương, nhưng đến ngày 30/6/2020, số lượng này đã giảm xuống còn 12 chi cục, tương ứng với việc giảm 3 chi cục, đạt tỷ lệ giảm 20% Sự giảm bớt này thể hiện chủ trương cắt giảm đầu mối các đơn vị, tổ chức.
Giải thể các Chi cục như Chi cục phát triển lâm nghiệp, Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội, và Chi cục Văn thư lưu trữ, đồng thời chuyển Chi cục Quản lý thị trường về Bộ Công Thương Bên cạnh đó, thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
- Phòng thuộc cơ cấu tổ chức của chi cục và tương đương thuộc Sở:
Số lượng phòng thuộc cơ cấu tổ chức của chi cục và tương đương thuộc Sở
- Nhận xét: Thời điểm 30/4/2015 có 66 phòng; thời điểm 30/6/2020 có
Số lượng phòng đã giảm từ 50 xuống 34, tương ứng với tỷ lệ giảm 24,24% Việc này nằm trong kế hoạch và chủ trương giảm số lượng đơn vị, tổ chức thuộc cơ cấu tổ chức của chi cục và tương đương thuộc Sở.
- Văn phòng, phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức của tổ chức hành chính khác ở cấp tỉnh:
Thời điểm Số lượng văn phòng, phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức hành chính khác ở cấp tỉnh
- Nhận xét: Thời điểm 30/4/2015 có 09 phòng; thời điểm 30/6/2020 có
06 phòng, giảm 03 phòng, tỷ lệ giảm 33,33%
Về biên chế và tinh giản biên chế
Về quản lý biên chế: a) Về biên chế trong cơ quan, tổ chức hành chính:
- Số biên chế công chức được giao:
Năm Số biên chế công chức được giao
2020 2083 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Những hạn chế, bất cập trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức của chính quyền địa phương cấp tỉnh
2.3.1 Về quản lý, sử dụng biên chế công chức, số lượng người làm việc và hợp đồng lao động 68:
Khó khăn trong quản lý, sử dụng biên chế công chức, viên chức:
Vào năm 2015, Bộ Nội vụ đã phê duyệt danh mục vị trí việc làm tại các cơ quan hành chính tỉnh Lạng Sơn, nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về định mức biên chế tối thiểu cho từng vị trí Đến ngày 01/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2020/NĐ-CP về vị trí việc làm và biên chế công chức, nhưng việc quy định định mức biên chế vẫn phụ thuộc vào hướng dẫn từ các Bộ, ngành Trung ương Điều này dẫn đến khó khăn trong việc phân bổ biên chế cho các cơ quan hành chính phù hợp với các vị trí đã được phê duyệt.
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, việc tăng biên chế chuyên trách cho các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện là cần thiết Tuy nhiên, từ năm 2015 đến nay, tỉnh Lạng Sơn vẫn chưa nhận được sự bổ sung biên chế công chức cho các Ban của HĐND từ Chính phủ và Bộ Nội vụ theo quy định.
Từ năm 2015 đến hết năm 2021, việc quy định tinh giản biên chế tối thiểu 10% đã dẫn đến tình trạng các cơ quan, tổ chức không đủ biên chế để thực hiện nhiệm vụ Sự cắt giảm này đặc biệt ảnh hưởng đến các đơn vị sự nghiệp, như giáo dục và y tế, nơi mà số lượng nhân viên được bố trí theo định mức cụ thể, như số giáo viên trên lớp hay số bác sĩ trên giường bệnh.
Báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn năm 2020 cung cấp kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy, quản lý và sử dụng biên chế công chức, cũng như số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập và hợp đồng lao động giai đoạn 2015-2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
2020 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện Đề án 500, thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn miền núi giai đoạn 2013-2020, tiếp nhận 24 đội viên về công tác tại các xã đặc biệt khó khăn Đến nay, chỉ có 3 trong số 24 đội viên được tuyển dụng vào công chức cấp xã và viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập, trong khi 21 đội viên còn lại gặp khó khăn trong việc tuyển dụng sau khi hoàn thành nhiệm vụ vào tháng 7/2020 Hiện tại, chưa có quy định về việc tuyển dụng công chức không qua thi tuyển cho các đối tượng này.
Khó khăn, vướng mắc về hợp đồng lao động 68:
Hiện nay, việc giao hợp đồng 68 cho các cơ quan, tổ chức hành chính tại tỉnh Lạng Sơn chủ yếu được thực hiện cho các vị trí bảo vệ, tạp vụ và lái xe, những công việc cần thiết và ổn định để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của UBND tỉnh Trong năm 2020, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện giao giảm được 08/34 chỉ tiêu theo yêu cầu của Bộ Nội vụ Đồng thời, các hợp đồng 68 trên địa bàn tỉnh đã được ký kết theo quy định tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP.
- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập:
Hiện nay, tại tỉnh Lạng Sơn, việc giao chỉ tiêu hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào các vị trí như bảo vệ (mỗi cơ quan, đơn vị thường có 01 chỉ tiêu) và nấu ăn cho các trường PTDT nội trú, bán trú, cũng như các trường Mầm non có tổ chức nấu ăn cho học sinh Theo quy định tại Điều 6, Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BGDĐT-BNV, những vị trí này là cần thiết và mang tính ổn định lâu dài Với số lượng đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ, nhu cầu hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP tại Lạng Sơn ước tính khoảng 2.238 chỉ tiêu, trong đó số lượng chỉ tiêu hợp đồng tối thiểu đối với các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh là từ 01 đến 02 bảo vệ.
Việc giao giảm số lượng hợp đồng lao động trong các đơn vị sự nghiệp công lập gặp nhiều khó khăn do tổng số chỉ tiêu hợp đồng đã vượt quá mức thẩm định của Bộ Nội vụ năm 2020 Đặc biệt, việc thực hiện xã hội hoá cho các vị trí hợp đồng lao động tại Lạng Sơn, một tỉnh miền núi với điều kiện giao thông khó khăn, càng trở nên phức tạp Nhiều xã xa trung tâm huyện không có cơ sở dịch vụ ăn uống đủ tiêu chuẩn để đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng suất ăn của nhà trường.
Hiện nay, các bữa ăn của trẻ tại trường Mầm non cần được tính khẩu phần ăn qua phần mềm, đảm bảo năng lượng theo Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT Việc xây dựng thực đơn 10 ngày không lặp lại là rất quan trọng, và nếu để nhà hàng cung cấp, sẽ khó kiểm soát và không đảm bảo sức khỏe cho trẻ.
Theo kế hoạch số 196/BC-UBND ngày 28/5/2020 của UBND tỉnh Lạng Sơn, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Lạng Sơn năm 2021 đã được gửi đến Bộ Nội vụ Dịch vụ cung cấp bảo vệ tại tỉnh hiện còn hạn chế, đặc biệt là ở những khu vực xa trung tâm huyện, thị, nơi mà các Công ty cung cấp dịch vụ bảo vệ chưa có mặt.
Khó khăn trong việc giao biên chế cho các hội đặc thù:
Kết luận số 102-KL/TW ngày 22/9/2014 của Bộ Chính trị chỉ đạo giữ ổn định biên chế và kinh phí hoạt động cho các hội đến hết năm 2016, và từ năm 2017 đến 2020 sẽ thực hiện khoán kinh phí theo lộ trình phù hợp Tuy nhiên, Thông báo số 158-TB/TW ngày 02/01/2020 yêu cầu các cơ quan liên quan ban hành tiêu chí để giao biên chế, dẫn đến sự không thống nhất trong việc thực hiện biên chế cho các tổ chức hội, gây khó khăn trong quá trình triển khai.
Khó khăn trong triển khai vị trí việc làm:
Tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành việc phê duyệt mô tả công việc và khung năng lực cho 100% các cơ quan, đơn vị liên quan đến vị trí việc làm công chức Tuy nhiên, Nghị định số 62/2020/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/7/2020, quy định rằng các Bộ, ngành phải hướng dẫn về vị trí việc làm công chức nghiệp vụ chuyên ngành và định mức biên chế Do đó, mặc dù Nghị định đã có hiệu lực, nhưng vẫn thiếu cơ sở để triển khai thực hiện.
Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 quy định về vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp, xác định thẩm quyền quyết định VTVL thuộc Bộ Nội vụ Tuy nhiên, đến ngày 10/10/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 89/NQ-CP liên quan đến Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2016, điều chỉnh các quy định về VTVL trong các đơn vị sự nghiệp.
Năm 2016, Chính phủ đã phân cấp thẩm quyền quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, nhằm thúc đẩy cơ chế tự chủ và tạo điều kiện cho các đơn vị này hoàn thành nhiệm vụ chính trị Tuy nhiên, hiện tại, Nghị định và Thông tư hướng dẫn thực hiện vị trí việc làm cho các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn chưa được sửa đổi và bổ sung.
Do đó, trong quá trình triển khai thực hiện gặp những khó khăn nhất định
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức a) Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, công tác tham mưu, phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa thật sự hiệu quả; công tác quản lý chương trình, đánh giá sau đào tạo chưa được thực hiện chặt chẽ; trong xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hằng năm, còn một số đơn vị chưa xác định đúng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng; chưa quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch tổ chức bồi dưỡng cập nhật kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ chuyên ngành cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc lĩnh vực ngành quản lý b) Một số cơ quan, đơn vị cử cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo đại học, sau đại học theo nhu cầu cá nhân (ngoài kế hoạch), chưa đảm bảo quy định về chuyên ngành đào tạo và vị trí việc làm Còn có một số trường hợp cán bộ, công chức, viên chức đăng ký đi đào tạo các chuyên ngành không thực sự cần thiết, chưa phù hợp với vị trí việc làm đang đảm nhiệm c) Chỉ tiêu bồi dưỡng đối viên chức chưa đạt được mục tiêu theo kế hoạch giai đoạn đã đề ra do một số chương trình bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp chưa được các bộ ngành quản lý viên chức ban hành kịp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si thời để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện (ngành Y tế, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành Văn hóa ) Bên cạnh đó, theo quy định tại Nghị định số 101/2017/NĐ-CP của Chính phủ, kể từ ngày 21/10/2017 viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng không được hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước, dẫn đến còn nhiều viên chức chưa sẵn sàng, chủ động đăng ký đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực công tác do còn nhiều khó khăn về kinh tế d) Chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước trước khi bổ nhiệm lãnh đạo quản lý đã được triển khai, nhưng kết quả đạt được chưa đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra do quy định đối với tiêu chuẩn lãnh đạo, quản lý (các cấp) chưa được cấp có thẩm quyền ban hành kịp thời, đồng bộ, dẫn đến các cơ quan, đơn vị, địa phương chưa quan tâm, chú trọng đến việc cử cán bộ, công chức, viên chức tham gia các khóa bồi dưỡng (nội dung bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp sở, cấp huyện chỉ tiêu đạt thấp do các năm 2016-2018 số lượng học viên đăng ký tham gia không đủ mở lớp, vì vậy Học viện Hành chính Quốc gia không triển khai tổ chức theo kế hoạch) đ) Một số nội dung bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chỉ có một số cơ sở đào tạo thuộc bộ, ngành Trung ương có đủ điều kiện để tổ chức, mức thu học phí cao cũng ảnh hưởng đến công chức, viên chức đăng ký theo học với hình thức xã hội hóa do mức thu nhập của công chức, viên chức còn thấp e) Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng tại nước ngoài, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 135/QĐ-UBND ngày 20/01/2020 của UBND tỉnh Lạng Sơn phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng trung hạn, ngắn hạn tại nước ngoài đối với cán bộ, công chức tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030”, tuy nhiên việc cử cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng tại nước ngoài trong năm 2020 chưa thực hiện được do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si g) Việc đánh giá chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng theo Thông tư số 10/2017/TT-BNV ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã được triển khai thực hiện, tuy nhiên do số liệu mẫu biểu đánh giá lớn, số lượng học viên tham gia các lớp bồi dưỡng nhiều, phải thực hiện thủ công, mất nhiều thời gian để tổng hợp, đến nay mới thực hiện đánh giá tại một số lớp bồi dưỡng dài ngày, chưa phản ánh được đầy đủ thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng hiện nay h) Số lượng người có trình độ chuyên môn cao được thu hút về tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 đạt tỷ lệ thấp (33 người, đạt 13,8% kế hoạch) Những người được hưởng chính sách thu hút đa số là sinh viên mới ra trường được tuyển dụng mới, chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác, do đó chưa có những đóng góp nổi trội mang tính đột phá cho tỉnh Bên cạnh đó Lạng Sơn là tỉnh miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn nên chính sách thu hút chưa đủ mạnh để thu hút nhân tài từ nơi khác về làm việc lâu dài cho tỉnh.