Khái quát chung về văn hóa dân tộc thiểu số tại Việt Nam
Khái niệm cơ bản về văn hóa
Thuật ngữ “văn hoá” được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, dẫn đến nhiều cách định nghĩa khác nhau Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, do Nguyễn Như Ý chủ biên, văn hóa được định nghĩa là “những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử,” phản ánh vai trò của con người trong việc tạo dựng các giá trị văn hóa qua thời gian.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn Văn hóa không chỉ phản ánh đời sống vật chất mà còn thể hiện những giá trị tinh thần, nhằm hướng tới mục đích cao cả của cuộc sống loài người Chính vì vậy, văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển con người và xã hội.
Văn hóa là tổng hợp của tất cả các phương thức sinh hoạt và biểu hiện của chúng do con người sáng tạo để thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn Loài người đã phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học và nghệ thuật như những công cụ thiết yếu để phục vụ cuộc sống hàng ngày về ăn, mặc, ở và các hoạt động khác Các sáng tạo và phát minh này chính là nền tảng của văn hoá, phản ánh sự nỗ lực của con người trong việc thích nghi và phát triển xã hội.
Theo văn kiện của Đảng: Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943, NQ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, đây là một quan niệm đơn giản nhưng mang tính nguyên lý, có ý nghĩa cơ bản và lâu dài trong việc phát triển đất nước Quan điểm này bao gồm các yếu tố cốt lõi như vai trò của văn hóa trong định hướng phát triển và xây dựng nền móng vững chắc cho xã hội Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là kim chỉ nam giúp quốc dân vượt qua thử thách, thúc đẩy tiến bộ và giữ gìn bản sắc dân tộc.
Xây dựng tâm lý bao gồm phát triển tinh thần độc lập, tự cường, giúp cá nhân tự tin và vững vàng trước khó khăn Xây dựng luân lý nhấn mạnh việc hy sinh cá nhân để làm lợi cho cộng đồng và xã hội Mục tiêu là xây dựng một xã hội nơi mọi hoạt động đều hướng tới phúc lợi chung của nhân dân Xây dựng chính trị tập trung vào nguyên tắc dân quyền, thể hiện sự tham gia và quyền lợi của người dân trong quản lý nhà nước Trong lĩnh vực kinh tế, cần thúc đẩy phát triển bền vững, phù hợp với mục tiêu cải thiện đời sống của cộng đồng Theo Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor, văn hóa được định nghĩa là tập hợp các đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hoặc nhóm người, bao gồm cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin ngoài các lĩnh vực nghệ thuật và văn học.
Văn hóa được định nghĩa là toàn bộ sự hiểu biết của con người, bao gồm các chuẩn mực và giá trị xã hội, thành truyền thống và thị hiếu, gọi chung là hệ giá trị xã hội Hệ giá trị này biểu hiện qua hoạt động và các sản phẩm mà con người tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử Đây chính là nền tảng để xây dựng bản sắc riêng biệt của văn hóa của một cộng đồng xã hội cụ thể.
Văn hóa là sản phẩm của loài người, được hình thành và phát triển qua quan hệ giữa con người và xã hội Chính văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì bản sắc, trật tự xã hội cũng như phát triển con người Quá trình truyền đạt và tiếp nối văn hóa qua các thế hệ diễn ra nhờ hoạt động xã hội hóa Văn hóa liên tục được tái tạo, phát triển thông qua hành động và tương tác xã hội của con người Nó thể hiện trình độ phát triển của xã hội và con người trong các hình thức tổ chức đời sống, hành động cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
Văn hóa phản ánh và thể hiện tổng thể mọi khía cạnh của cuộc sống cá nhân và cộng đồng, qua đó ghi lại những giá trị và truyền thống từ quá khứ đến hiện tại Nó đã hình thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống dựa trên nền tảng lịch sử của từng dân tộc Qua hàng thế kỷ, văn hóa góp phần khẳng định và giữ gìn bản sắc riêng biệt của mỗi cộng đồng.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển đất nước không thể xem nhẹ vai trò của văn hóa, mà phải xem nó là yếu tố then chốt cùng với chính trị, kinh tế và xã hội Người từng nhấn mạnh rằng trong công cuộc kiến thiết quốc gia, cần chú trọng đồng đều đến bốn vấn đề: chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, vì mỗi yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của đất nước Văn hóa góp phần định hình bản sắc dân tộc và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, là nền tảng thúc đẩy sự tiến bộ toàn diện của xã hội Do đó, việc phát triển văn hóa đi đôi với việc xây dựng đất nước mạnh mạnh về kinh tế, chính trị ổn định và xã hội hài hòa là yếu tố quyết định thành công dài hạn.
Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải hòa nhập và gắn bó chặt chẽ với kinh tế và chính trị, theo quan điểm của Hồ Chí Minh Kinh tế là nền tảng vật chất của xã hội, trong khi văn hóa đại diện cho nền tảng tinh thần, và cả hai yếu tố này đều nhằm phục vụ mục tiêu chính trị là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, đạo đức và văn minh.
Khái niệm dân tộc thiểu số và văn hoá dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số là khái niệm khoa học phổ biến trên thế giới, dùng để chỉ các dân tộc có dân số ít theo thuật ngữ dân tộc học (minority ethnic) Trong một số trường hợp, người ta còn đồng nhất nghĩa của “dân tộc thiểu số” với các nhóm dân tộc có đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ và lịch sử riêng biệt, thường đối mặt với các vấn đề về quyền lợi và sự phát triển việc nhận diện rõ ràng về dân tộc thiểu số góp phần thúc đẩy các chính sách bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa đa dạng và thúc đẩy sự bình đẳng xã hội.
Các khái niệm như "dân tộc lạc hậu" hay "dân tộc kém phát triển" xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự ảnh hưởng của quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong từng quốc gia Thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số (DTTS) chỉ có ý nghĩa thể hiện mối quan hệ về tỷ lệ dân số trong một quốc gia đa dân tộc.
Thuật ngữ dân tộc đa số và dân tộc thiểu số được hiểu như sau:
Dân tộc Kinh là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư cả nước Đây là dân tộc có trình độ phát triển cao và điều kiện phát triển thuận lợi, đóng vai trò là lực lượng đoàn kết và chủ lực trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Dân tộc Kinh góp phần quan trọng vào việc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam, đóng vai trò then chốt trong sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước.
Dân tộc thiểu số không đồng nghĩa với dân tộc chậm phát triển, mà chỉ đề cập đến những cộng đồng có số lượng người ít hơn so với dân tộc đa số Văn hóa dân tộc thiểu số được hiểu là những đặc trưng văn hóa riêng biệt của các cộng đồng ít người này, góp phần làm phong phú đa dạng văn hóa Việt Nam.
Trước hết theo khoản 2 điều 4 nghị định số 05/2011 NĐ-CP về công tác dân tộc ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc có định nghĩa:
Dân tộc thiểu số tại Việt Nam là nhóm dân tộc có số lượng cư dân ít hơn so với các dân tộc đa số trên phạm vi cả nước Những cộng đồng này góp phần làm phong phú đa dạng văn hóa, truyền thống của đất nước Chính sách của Nhà nước nhằm bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc riêng biệt Các dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế địa phương, thúc đẩy du lịch sinh thái và bảo tồn bản sắc dân tộc.
Quan niệm về DTTS và “dân tộc đa số” cùng nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất, được vận dụng linh hoạt tùy theo điều kiện và quan điểm từng quốc gia Tuy nhiên, những phân tích trước đó cho thấy nội dung này có sự thống nhất tương đối, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên phạm vi quốc tế trong nghiên cứu dân tộc học Văn hóa dân tộc thiểu số phản ánh toàn bộ các yếu tố văn hóa đặc trưng, đặc thù của từng dân tộc, nhằm thúc đẩy sự gắn kết giữa các tộc người với nhau (GS Ngô Đức Thịnh, 2006).
Văn hóa dân tộc phản ánh tổng thể các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số đã sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam Đây là biểu hiện của sự thích ứng và sáng tạo của con người trong môi trường tự nhiên và xã hội Các giá trị văn hóa này vừa phản ánh những nét thống nhất, vừa thể hiện sự giao thoa văn hóa dân tộc trong phạm vi quốc gia và quốc tế Văn hóa dân tộc bao gồm nhiều dạng thức đa dạng, phản ánh đặc trưng riêng của từng cộng đồng.
Văn hóa vật thể là các yếu tố hữu hình như cấu trúc thôn bản, nhà cửa, trang phục, đồ ăn, vật dụng sinh hoạt, công cụ sản xuất và phương tiện vận chuyển, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người Đây chính là bằng chứng rõ nét phản ánh các nền văn hóa, nền văn minh nhân loại qua các thời kỳ Văn hóa vật thể góp phần gìn giữ và truyền tải giá trị truyền thống, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện đại.
Văn hóa phi vật thể bao gồm các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và truyền miệng qua các hình thức truyền nghề, trình diễn và các phương pháp lưu giữ khác Các nội dung này bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng, diễn xướng, dân gian lối sống, lễ hội, bí quyết nghề thủ công, truyền thống y học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc và tri thức dân gian Những hình thức này góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong cộng đồng.
Nhận diện văn hoá dân tộc thiểu số
Dân tộc nào cũng có nền văn hóa truyền thống, đó là tổng hợp những hiện tượng văn hóa - xã hội bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục tập quán, các nghi thức, thiết chế xã hội… được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong hoạt động sống của mỗi con người, cũng như của toàn xã hội, được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác
Bản sắc văn hóa dân tộc phát triển dựa trên đặc điểm của tộc người, điều kiện lịch sử, tự nhiên, môi trường sống và thể chế chính trị Sự giao lưu văn hóa với các nền văn hóa khác góp phần làm phong phú và đa dạng nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc đã sáng tạo nên nền văn hóa đó, và bản sắc văn hóa chính là nét đặc trưng riêng biệt của dân tộc đó.
Mỗi khi nghe một làn điệu dân ca, âm thanh của một nhạc cụ, hay xem một điệu múa, chúng ta có thể nhận biết được sắc thái của dân tộc đó Văn hóa dân tộc không thể hình thành và phát triển nếu không thể hiện được tâm hồn, trí tuệ, bản lĩnh và sức sáng tạo của cộng đồng đó Bản sắc văn hóa chỉ tồn tại và phát triển khi chứa đựng và thể hiện đầy đủ những giá trị đặc trưng của dân tộc Qua quá trình lựa chọn cách sống và hoạt động phù hợp với hoàn cảnh, các dân tộc vừa tiếp thu, vừa biến đổi các giá trị truyền thống, tạo nên đặc nét riêng biệt mang tính bản sắc Bản sắc văn hóa không chỉ thể hiện qua các biểu hiện bên ngoài như cách ứng xử, phong thái sinh hoạt, nghệ thuật kiến trúc mà còn nằm sâu trong nội tâm, qua năng lực sáng tạo, tư duy, chiều sâu tâm hồn, truyền thống đạo đức, thế giới quan và nhân sinh quan.
Các tỉnh vùng núi có dân cư phân bố thưa thớt, cách xa các thành phố trực thuộc trung ương và vẫn duy trì phương thức lao động sản xuất chưa hiện đại, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên trong canh tác Người dân nơi đây có ngôn ngữ riêng, trang phục độc đáo tự tay may mặc, cùng với văn hóa sinh hoạt cộng đồng đặc sắc và ẩm thực riêng biệt, tạo nên nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng núi.
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số thể hiện sức sống mãnh liệt và sự sáng tạo qua hình ảnh của những vùng đất đã vượt qua thiên nhiên để sinh tồn và phát triển Đa dạng sinh thái với địa hình, đất đai, khí hậu khác nhau đã thúc đẩy các dân tộc tìm ra những phương thức ứng xử riêng biệt với tự nhiên; ví dụ như ở vùng thấp, họ trồng lúa nước kết hợp sản xuất nông nghiệp trên khô, trồng các cây công nghiệp lâu năm như hồi, quế để thay thế rừng tự nhiên Người dân sống trong nhà sàn, mặc quần áo màu chàm với hoa văn mô phỏng hoa rừng và thú rừng, đồng thời thể hiện tình cảm cộng đồng qua tục uống rượu cần, tạo nên nét văn hóa đặc trưng Tại vùng cao, phương thức phát rừng làm rẫy phản ánh cách ứng xử của thời kỳ tiền công nghiệp, với khí hậu á nhiệt đới phù hợp cho trồng trọt vụ hè thu, xen canh gối vụ để tăng thu nhập và bảo vệ đất khỏi xói mòn Những cô gái tài hoa thể hiện qua trang phục sặc sỡ, đa dạng về hoa văn, mềm mại về kiểu dáng, tiện lợi cho lao động trên nương và đi lại trên đèo dốc Trong những vùng núi rừng hoang sơ này, các lễ nghi huyền bí như lễ cúng Giàng (trời) để cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu đã ra đời, phản ánh nét đẹp văn hóa đa dạng và giàu tính biểu tượng, đồng thời tiềm ẩn những truyền thuyết thần thoại và sử thi anh hùng có giá trị lịch sử và tinh thần sâu sắc.
Văn hóa dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sự thống nhất của nền văn hóa quốc gia, đồng thời thể hiện sự đa dạng của các biểu hiện văn hóa khác nhau Các sinh hoạt văn hóa của từng dân tộc thiểu số tạo nên một môi trường xã hội đặc trưng, phản ánh rõ nét bản sắc tộc người Môi trường này là nơi hình thành và phát triển của các cộng đồng dân tộc, góp phần duy trì sự đa dạng và mạnh mẽ của văn hóa dân tộc thiểu số Chính nhờ có văn hóa dân tộc thiểu số mà diện mạo văn hóa vùng miền, cũng như các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của quốc gia trở nên phong phú, sinh động hơn.
Văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời trong nền văn hóa Việt Nam.
Những vấn đề đặt ra đối với văn hoá dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay
Trong thế giới toàn cầu hóa, các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị hòa quyện lại dưới tác động của quá trình hội nhập quốc tế do nhiều quốc gia và chủ thể quan hệ quốc tế triển khai Quá trình hội nhập này ngày càng sâu rộng với sự đa dạng, quy mô lớn và mục tiêu hoạt động của các thể chế liên kết ngày càng phong phú Các quốc gia, dân tộc ngày càng có sự gắn kết chặt chẽ hơn, trở thành một phần không thể tách rời của hệ thống toàn cầu, dựa trên các quy định và nguyên tắc chung Xu thế này là tất yếu trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật và khoa học quản lý, đã tạo ra lực lượng sản xuất mới và hình thành quá trình phân công lao động hiện đại Văn hóa Việt Nam, bao gồm cả văn hóa dân tộc thiểu số, không nằm ngoài quá trình biến đổi của thế giới toàn cầu hóa.
Hội nhập toàn cầu liên quan đến đối thoại, xâm nhập và trao đổi giữa các nền văn hóa, đan xen yếu tố nội sinh và ngoại sinh Không có nền văn hóa nào trên thế giới hoàn toàn thuần khiết hoặc không bị ảnh hưởng bởi các nền văn hóa khác Việc thiếu hội nhập với thế giới bên ngoài sẽ dẫn đến suy thoái và thất bại Chính vì vậy, cách thức hội nhập phù hợp và hiệu quả mới đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia và dân tộc.
Việc nhận thức, suy nghĩ và tình cảm của người dân, bao gồm cả cán bộ, chịu ảnh hưởng tiêu cực từ nhiều hình thức bên ngoài như vật chất, tinh thần và tâm linh, đòi hỏi chúng ta phải hiểu rõ các diễn biến tâm tư, tình cảm của họ Những tác động này dần hình thành tâm lý tiêu cực, tạo ra nguy cơ chia rẽ và cực đoan, đồng thời thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc, gây mất đoàn kết trong cộng đồng Thực tế cho thấy, những vấn đề nhỏ trong đời sống kinh tế - xã hội, ban đầu chỉ liên quan đến quan hệ cá nhân, sau đó đã bị chính trị hóa hoặc trở thành mâu thuẫn lớn hơn liên quan đến dân tộc khi các vấn đề này gây tranh chấp trong cộng đồng.
Trong bài viết này, chúng ta cần xem xét cách đảm bảo sự hài hòa giữa các yếu tố hiện đại và giá trị truyền thống Yếu tố hiện đại chủ yếu là các yếu tố ngoại lai, như giá trị văn minh và lối sống công nghiệp, đặt ra câu hỏi về cách tiếp nhận và hòa trộn chúng một cách hợp lý Việc giữ lại những giá trị cốt lõi, đồng thời tiếp thu những điều mới mẻ phù hợp, là thách thức lớn trong quá trình phát triển bền vững Chính vì vậy, việc xác định rõ cách giải quyết mối quan hệ giữa hiện đại và truyền thống là điều hết sức quan trọng, nhằm duy trì bản sắc văn hóa đồng thời thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Vấn đề bản sắc quốc gia là yếu tố quan trọng thể hiện giá trị và sự tồn tại của dân tộc, tuy nhiên, việc giữ gìn bản sắc không thể theo nghĩa tuyệt đối và khép kín Thay vào đó, cần phải có sự hòa nhập và thích nghi với các yếu tố toàn cầu để duy trì sự cân bằng giữa bản sắc truyền thống và sự phát triển hiện đại Bản sắc văn hóa đóng vai trò là nền tảng xác định danh tính quốc gia, nhưng cũng cần linh hoạt tiếp thu những giá trị mới để đáp ứng các thách thức thời đại.
Phát triển bền vững là mục tiêu quan trọng mà mỗi quốc gia cần hướng tới trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội Việc lựa chọn con đường phát triển phù hợp giúp cân bằng giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của đất nước Các quốc gia cần xây dựng chiến lược phát triển khả thi, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo bảo vệ môi trường và duy trì tài nguyên tự nhiên Chọn sách lược phát triển bền vững là giải pháp hiệu quả để đảm bảo sự ổn định, phát triển bền vững của quốc gia trong tương lai.
Những tác động tiêu cực và âm mưu của các thế lực thù địch đối với vấn đề dân tộc thiểu số ở nước ta
Dân tộc thiểu số là một phần của quốc gia, đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế so với phần lớn dân cư Nguyên nhân kinh tế thường được sử dụng để so sánh, gây chia rẽ và kích động nghi kỵ giữa các dân tộc; điều này dễ dẫn đến phá hoại sự đoàn kết dân tộc, làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn giữa các nhóm dân tộc thiểu số và thiểu số với thiểu số.
Mặc dù trình độ học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, nhưng họ cần được hỗ trợ để nâng cao nhận thức và kiến thức Điều này giúp đảm bảo họ không bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc sự thật về các vấn đề phát triển và quan hệ dân tộc, góp phần xây dựng cộng đồng ngày càng vững mạnh.
Trình độ quản lý nhà nước về công tác dân tộc vẫn còn hạn chế về mặt thành tựu, chưa đạt được sự sâu sát và bền vững, do xuất phát từ nhiều nguyên nhân như nhận thức, năng lực cán bộ, cơ chế quản lý, chính sách chưa phù hợp, cũng như xuất phát điểm phát triển của các dân tộc còn nhiều khó khăn.
Các thế lực thù địch thường có quan điểm chiến lược khi xâm lược thuộc địa hoặc chiếm đoạt quốc gia, trong đó mục tiêu đầu tiên là chinh phục “người dân bản địa, bản xứ” thông qua các con đường mang tính chiến lược như tôn giáo và dân tộc Họ lợi dụng đặc điểm quan hệ tộc người trong các quốc gia đa sắc tộc để thực hiện chính sách “chia để trị”, nhằm kích động chia rẽ và phá hoại khối đoàn kết dân tộc.
Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số
Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số
Quản lý là hoạt động có chủ đích của người quản lý nhằm tác động vào khách thể quản lý để điều hành tổ chức đạt mục tiêu đề ra Quản lý nhà nước đặc biệt ở chỗ mang tính quyền lực của nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Mục đích của quản lý nhà nước là đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người dân, duy trì sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Quản lý Nhà nước về văn hóa là quá trình tác động liên tục, có tổ chức và có chủ đích nhằm thúc đẩy sự phát triển văn hóa quốc gia Chính phủ sử dụng hệ thống pháp luật và bộ máy tổ chức để điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa cũng như các hoạt động liên quan Mục tiêu của quản lý nhà nước về văn hóa là đảm bảo sự phát triển bền vững, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời thích nghi với những sự biến đổi của xã hội.
Quản lý nhà nước về văn hóa là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Nội hàm của quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm các thành tố chính như chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy quản lý và các hoạt động thực thi nhằm duy trì và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống cũng như thích ứng với sự phát triển của xã hội Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa đóng vai trò trung tâm trong việc định hướng phát triển văn hóa, bảo tồn di sản, và thúc đẩy sự sáng tạo của các hoạt động văn hóa nghệ thuật trong cộng đồng.
Chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa là Nhà nước, được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương với quyền quản lý phân cấp theo từng cấp hành chính: trung ương, tỉnh, huyện, xã Ở cấp nào thì cơ quan nhà nước tương ứng tại cấp đó là chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa; ví dụ, tại cấp xã, UBND xã là chủ thể quản lý nhà nước, và công chức văn hóa - xã hội xã được giao nhiệm vụ hỗ trợ UBND xã trong công tác quản lý văn hóa địa phương.
Thứ hai, khách thể quản lý nhà nước về văn hóa gồm có văn hóa và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực này Văn hóa được hiểu là các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, hoạt động sáng tạo, cùng với các giá trị văn hóa gồm di sản vật thể và phi vật thể Tuy nhiên, không phải toàn bộ hoạt động văn hóa được quản lý bởi ngành văn hóa mà còn có các lĩnh vực khác như giáo dục, khoa học công nghệ được quản lý bởi các cơ quan tương ứng.
Mục đích quản lý nhà nước về văn hóa là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Trong hoạt động quản lý, mục tiêu này cần được xác định rõ ràng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh cụ thể của từng cấp, từng địa phương, từng hoạt động Ví dụ, mục tiêu của quản lý nhà nước trong chương trình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cần phù hợp với từng cấp trung ương, tỉnh, quận, huyện, xã phường để hoạt động quản lý đạt hiệu quả cao nhất.
Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo hệ thống luật pháp là công cụ chủ đạo trong việc quản lý Quản lý nhà nước về văn hóa dựa trên pháp luật chứ không dựa vào ý chí chủ quan của nhà quản lý, nhấn mạnh tính khách quan và pháp lý trong quá trình điều chỉnh hoạt động văn hóa.
Quản lý hiệu quả đòi hỏi sự tác động liên tục, có tổ chức và có mục đích rõ ràng, không phải là những hành động theo phong trào hay mang tính thời vụ Nhà quản lý cần chủ động, tích cực tham gia và vận hành các hoạt động quản trị một cách bài bản, có hệ thống, tránh các hoạt động đơn lẻ, tùy tiện để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của tổ chức.
Quản lý Nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số là quá trình tác động có tổ chức và có chủ đích của Nhà nước, sử dụng hệ thống pháp luật và bộ máy quản lý nhằm thúc đẩy phát triển văn hóa dân tộc thiểu số Hoạt động này nhằm điều chỉnh và hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong lĩnh vực văn hóa dân tộc thiểu số để đảm bảo sự đa dạng và bản sắc văn hóa được duy trì và phát triển bền vững.
Nội dung quản lý nhà nước đối về văn hóa dân tộc thiểu số
Chính sách văn hoá là tổng thể các nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về xây dựng và phát triển nền văn hoá phù hợp với mục tiêu chung của đất nước Các chính sách này đặt ra các nguyên tắc phát triển văn hoá, bao gồm sáng tạo giá trị văn hoá, đào tạo và phát triển đội ngũ trí thức, nghệ sỹ, đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý, cùng với nâng cao tự quản và phân cấp quản lý văn hoá Chính sách văn hoá đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về văn hoá, nhưng không thể thay thế pháp luật.
Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật nhằm phát huy tác dụng của văn hóa trong việc hình thành nhân cách và nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của con người Trong quản lý nhà nước về văn hóa nghệ thuật, chính sách phát triển văn hóa sâu rộng và thúc đẩy khả năng sáng tạo của quần chúng được ưu tiên hàng đầu Nhà nước còn thực hiện chính sách bảo trợ vật chất đối với các loại hình văn hóa nghệ thuật không tự tồn tại và phát triển trong quan hệ kinh tế thị trường như sân khấu tuồng cổ và nghệ thuật chèo Để đảm bảo quyền bình đẳng trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và sáng tạo nghệ thuật, pháp luật cần quy định rõ các quyền này, như quy định tại Điều 60 Hiến pháp 1992, bảo vệ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp của công dân Ngoài ra, trong quản lý nhà nước về văn hóa - xã hội, các chính sách nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống, xây dựng lối sống văn hóa mới được ban hành Các văn bản pháp luật như Nghị định số 87/2001/NĐ-CP và Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong các lễ cưới, tang lễ, lễ hội do Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm quy chuẩn ứng xử trong xã hội, góp phần thúc đẩy môi trường xã hội văn minh và văn hóa lành mạnh.
Trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa, chính phủ ban hành các chính sách và pháp luật nhằm phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa năm 2001 đóng vai trò là một văn bản pháp lý quan trọng trong việc quy định các hoạt động liên quan đến bảo tồn, quản lý và phát huy di sản văn hóa quốc gia.
1.2.2.2 Tổ chức và vận hành bộ máy quản lý nhà nước về văn hoá các dân tộc thiểu số
Nghị định số 79/2017/NĐ-CP quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thể hiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa từ trung ương đến địa phương.
1 Vụ Tổ chức cán bộ
2 Vụ Kế hoạch, Tài chính
5 Vụ Thi đua, Khen thưởng
6 Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
8 Vụ Văn hóa dân tộc
12 Cục Di sản văn hóa
13 Cục Nghệ thuật biểu diễn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
15 Cục Bản quyền tác giả
16 Cục Văn hóa cơ sở
17 Cục Hợp tác quốc tế
18 Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm
19 Tổng cục Thể dục thể thao
21 Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
22 Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
24 Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
25 Trung tâm Công nghệ thông tin
26 Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch
Các đơn vị quy định từ khoản 1 đến khoản 21 Điều này là các đơn vị hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, đảm bảo công tác quản lý nhà nước được thực hiện hiệu quả Trong khi đó, các đơn vị quy định từ khoản 22 đến khoản 26 Điều này là các đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và dịch vụ công.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thể dục thể thao, Tổng cục Du lịch cũng như Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam Các quyết định này nhằm rõ ràng hóa cơ cấu tổ chức và phân định rõ trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc Bộ Đồng thời, Bộ cũng đã ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp hiện có thuộc Bộ nhằm quản lý và tổ chức hoạt động hiệu quả hơn.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tuy nhiên, các đơn vị được quy định tại các khoản 19, 20 và 21 điều này đều được loại trừ khỏi phạm vi điều chỉnh của quyết định Quy định này nhằm cụ thể hóa vai trò và trách nhiệm của từng cơ quan, đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường gồm các đơn vị chức năng như Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Pháp chế và các phòng ban hỗ trợ Vụ Tổ chức cán bộ có 03 phòng, Vụ Pháp chế có 03 phòng, giúp đảm bảo các hoạt động pháp lý và quản lý nhân sự Vụ Kế hoạch, Tài chính gồm 07 phòng, chịu trách nhiệm lập kế hoạch và quản lý ngân sách của Bộ Thanh tra Bộ có 05 phòng nhằm thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của Bộ Văn phòng Bộ gồm 09 phòng, đóng vai trò trung tâm hỗ trợ công tác hành chính, điều phối các hoạt động nội bộ của Bộ Ngoài ra, có nhu cầu tải luận văn thạc sĩ, bạn có thể gửi email theo địa chỉ luanvanfullmoi nhat z z @gmail.com để được hỗ trợ.
Cục Di sản văn hóa, Cục Điện ảnh, Cục Hợp tác quốc tế, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm có văn phòng và 04 phòng
Cục Nghệ thuật biểu diễn có văn phòng và 05 phòng
Cục Bản quyền tác giả có văn phòng và 06 phòng
Cục Văn hóa cơ sở có văn phòng và 08 phòng
Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc phải dựa trên triết lý xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân, phục vụ nhân dân và do chính nhân dân xây dựng, với ý thức tự giác, tự tôn, tự hào dân tộc Bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số là mục tiêu lâu dài đòi hỏi giải quyết nhiều vấn đề, cần đầu tư lớn về nhân lực và vật lực để phát huy hiệu quả Việc tăng cường nguồn lực đầu tư nhằm tạo sức mạnh tổng hợp cho quá trình này là vô cùng cần thiết Nhà nước cần có chính sách huy động sự tham gia, hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức và cộng đồng xã hội để cùng chung tay phát triển kinh tế và văn hóa dân tộc.
Để thúc đẩy phát triển vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, cần tăng cường các nguồn lực đầu tư một cách toàn diện về số lượng, quy mô, chất lượng và hiệu quả Việc đa dạng hóa các loại hình nguồn lực như vốn, lao động, kỹ thuật, công nghệ, năng lực tổ chức quản lý, tâm huyết và trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả phát triển Ngoài ra, huy động các nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, nhân dân, tổ chức trong nước và quốc tế, cùng sự tham gia của các lực lượng xã hội bao gồm quản lý, văn hóa, kinh tế, khoa học, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước là yếu tố quyết định thành công trong phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Sở phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành trong việc tuyên truyền, vận động và huy động các nguồn lực từ cộng đồng để quản lý, bảo tồn và phát triển các di tích văn hóa địa phương Việc này nhằm nâng cao ý thức của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, tu bổ, tôn tạo di tích một cách dân chủ, công khai, minh bạch Các hoạt động xã hội hóa trong bảo tồn di tích luôn thực hiện đúng quy định pháp luật, đảm bảo giữ gìn yếu tố gốc của di tích, nâng cao tính bền vững và sự tồn tại lâu dài của các di tích văn hóa quan trọng.
1.2.2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hoá Đây là một hoạt động có vai trò quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về văn hoá, sự tác động trực tiếp của các cơ quan kiểm duyệt và thanh tra có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì văn hoá có mối quan hệ trực tiếp với chính trị, nó có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Trong xu hướng xã hội văn hóa hiện nay, các tác động tiêu cực ngày càng gia tăng đòi hỏi hoạt động thanh tra, kiểm tra phải được quan tâm và thực hiện một cách nghiêm túc Việc phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành trong công tác kiểm tra là yếu tố quan trọng để đảm bảo thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa Chỉ khi tổ chức các hoạt động kiểm tra một cách có kế hoạch và đồng bộ, công tác quản lý văn hóa mới đạt hiệu quả cao và góp phần hạn chế các tác động tiêu cực trong xã hội.
Theo Nghị định số 71/2009/NĐ-CP, hoạt động thanh tra văn hóa, thể thao và du lịch nhằm đảm bảo việc thực hiện các nội dung liên quan đến văn hóa du lịch, văn hóa quần chúng và văn hóa dân tộc thiểu số diễn ra đúng quy định Các hình thức và phương thức hoạt động thanh tra cùng quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia đều được quy định rõ trong hành lang pháp lý, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và phát triển văn hóa.
Lãnh đạo và Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập 20 đoàn kiểm tra nhằm thực hiện chỉ thị số 41-CT/TW ngày 5/2/2015 của Ban Bí thư và công điện số 229/CĐ-TTg ngày 12/2/2015 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội tại các địa phương.
Trên các lĩnh vực hoạt động khác trong phạm vi của ngành, Thanh tra
Những yêu cầu chung về quản lý Nhà nước đối với văn hoá dân tộc thiểu số
Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn và nhạy cảm, tương tự như vấn đề dân tộc và tôn giáo Vì vậy, trong quản lý nhà nước về văn hóa, cần có những quy tắc riêng biệt để đảm bảo công tác quản lý diễn ra hiệu quả và phù hợp.
Quản lý nhà nước về văn hoá là một yếu tố quan trọng gắn liền với quyền lực và thể chế nhà nước, đảm bảo định hướng cho sự phát triển của văn hoá theo mong muốn của nhân dân Chính quyền có trách nhiệm bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp và ngăn chặn sự mai một của các giá trị văn hoá quý báu, nhờ đó duy trì bản sắc văn hoá dân tộc một cách bền vững.
Thứ hai, cần tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc trực tiếp quản lý các công trình văn hóa và cơ sở vật chất, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành văn hóa Nhà nước cần đưa ra các chính sách rõ ràng, nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ văn hóa và nghệ nhân nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các công trình văn hóa Việc quản lý chặt chẽ và có hệ thống giúp bảo tồn giá trị văn hóa, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các hoạt động văn hóa trong khu vực.
Văn hóa thuộc về nhân dân, xuất phát từ nguồn gốc dân gian và phản ánh giá trị tinh thần của cộng đồng Việc khích lệ, nâng cao giá trị sở hữu của nhân dân góp phần thúc đẩy ý thức tự hào và giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống Nhân dân cần quan tâm và phát huy những nét đẹp này để không ngừng nâng cao, phát triển văn hóa địa phương và cộng đồng.
Văn hóa đa dạng, phong phú và phù hợp với các điều kiện khác nhau đòi hỏi nhà nước phải có các biện pháp quản lý riêng biệt cho từng loại hình văn hóa Điều này giúp duy trì sự phát triển bền vững của các nền văn hóa khác nhau, đồng thời đảm bảo tính phù hợp với điều kiện xã hội và môi trường từng địa phương Việc quản lý hiệu quả góp phần phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ bản sắc, và thúc đẩy sự đa dạng trong cộng đồng.
Thứ năm, sự kết hợp giữa hiệu quả kinh tế và chính trị ổn định đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn hóa Khi nền kinh tế phát triển vững mạnh và chính trị ổn định, văn hóa có khả năng duy trì và phát triển những giá trị tốt đẹp, góp phần nâng cao trình độ xã hội và xây dựng nền văn hóa bền vững.
Sự cần thiết trong quản lý về văn hoá dân tộc thiểu số
Đảng và Nhà nước luôn có chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển vùng DTTS và miền núi với quan điểm xuyên suốt về bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng này và các khu vực khác ngày càng gia tăng, khiến vùng miền núi và DTTS đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế, đời sống và văn hóa Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dựa trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và tương trợ nhằm cùng phát triển, được đồng bào các dân tộc ủng hộ và thực hiện nhằm góp phần vào thành công của cách mạng dân tộc, dân chủ và các thành tựu của cách mạng XHCN Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc đóng vai trò then chốt trong xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh.
Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số (DTTS) trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường đặt ra nhiều thách thức cần được giải quyết hiệu quả Việc xác định rõ các vấn đề trọng tâm trong quản lý nhà nước về văn hóa DTTS là yếu tố then chốt, giúp xây dựng các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo phát triển bền vững, giữ gìn bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc.
Trong thực tiễn nhiều năm hoạt động, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, vấn đề lớn đặt ra là phát triển văn hóa chưa đồng bộ với phát triển kinh tế, dẫn đến các hệ lụy tiêu cực đối với xã hội và làm suy yếu sự bền vững của phát triển kinh tế Nguyên nhân chính là nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của văn hóa trong hoạt động quản lý nhà nước, đặc biệt trong việc thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa văn hóa và kinh tế Đổi mới kinh tế cần đi đôi với đổi mới nhận thức về quản lý nhà nước về văn hóa để tránh sự chênh lệch và hy sinh giá trị văn hóa trong quá trình phát triển Nhiều người cho rằng văn hóa là nhu cầu tự nhiên của con người và phát triển theo quy luật vốn có, dẫn đến quan niệm quản lý nhà nước về văn hóa thiếu rõ ràng, thậm chí để mặc văn hóa phát triển tự nhiên mà không có sự can thiệp phù hợp Thực tế cho thấy, các hoạt động và dịch vụ văn hóa ngày càng đa dạng, gây ra cả lợi ích lẫn hệ lụy; trong khi quản lý nhà nước không theo kịp tốc độ phát triển này, còn tồn tại nhiều nhận thức lệch lạc, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển văn hóa bền vững.
Qua nhiều năm thực hiện chính sách văn hóa đối với vùng đồng bào DTTS, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về văn hóa đã được nâng lên rõ rệt, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đời sống văn hóa cơ sở Đời sống văn hóa ở các khu vực vùng núi và hải đảo đã có bước tiến đáng kể, mặc dù tốc độ còn chậm hơn, nhưng các hoạt động bảo tồn và giữ gìn văn hóa đã ngày càng mở rộng và sâu sắc hơn Nhiều dự án lớn về sưu tầm và bảo tồn di sản văn hóa đã được thực hiện thành công, góp phần nâng cao giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Các thiết chế văn hoá ở vùng DTTS đã được củng cố và xây dựng mới, với cơ sở vật chất được nâng cấp rõ rệt, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.
Trong các vùng miền núi, làng, bản, Nhà nước đã quan tâm hỗ trợ xây dựng các Nhà văn hóa để làm nơi sinh hoạt cộng đồng và tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, góp phần tăng cường tình đoàn kết dân tộc Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, người hoạt động văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là các thạc sĩ, được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động Các lễ hội văn hóa thường xuyên được tổ chức với quy mô lớn, tạo điều kiện để các cộng đồng dân tộc thiểu số giao lưu, học hỏi lẫn nhau, thúc đẩy sự hiểu biết và tình đoàn kết Những hoạt động này không chỉ giúp giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa địa phương.
Vai trò của Nhà nước đối với việc quản lý văn hoá dân tộc thiểu số
Văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, là nguồn lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng và đạo đức của con người Nó là nền tảng thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại.
Quản lý văn hóa đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của nền văn hóa quốc gia, góp phần định hướng, điều chỉnh tiến trình phát triển văn hóa theo chủ trương của Đảng Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý văn hóa giúp hiện thực hóa các chính sách văn hóa, ảnh hưởng đến mục tiêu và bản chất của văn hóa dân tộc, đồng thời thiết lập nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước Ở cấp độ vi mô, quản lý văn hóa đảm bảo kiểm soát các sai lệch và tùy tiện trong thực thi chính sách, góp phần duy trì trật tự và hiệu quả trong hoạt động văn hóa của các lĩnh vực và cộng đồng địa phương Trong những năm qua, hoạt động quản lý văn hóa tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan, thể hiện qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý và thể chế văn hóa ngày càng phù hợp, hiệu quả hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động văn hóa phát triển bền vững theo tinh thần của Đảng: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển đất nước”.
Kinh nghiệm quản lý nhà nước về văn hoá dân tộc Thái tại một số địa phương
Kinh nghiệm rút ra quản lý và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Thái một số địa phương
Các tỉnh Điện Biên, Hòa Bình, Sơn La đã đạt được nhiều thành quả trong việc xây dựng và quản lý nét văn hoá đặc sắc, góp phần nâng cao trách nhiệm học tập và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Việc đề cao và tôn trọng các nét văn hóa đã được giữ gìn và bảo tồn không chỉ góp phần khơi dậy niềm tự hào dân tộc mà còn giúp khôi phục các nét văn hóa cổ xưa thông qua các hình thức dễ ghi nhớ như văn hóa, văn nghệ, lễ nghĩa gia đình, lễ hội dân tộc, gia đình văn hóa và thôn bản văn hóa Đồng thời, các địa phương đã phát triển mạnh mẽ các phương diện tiếp cận mới, tạo ra sự gần gũi và hấp dẫn hơn trong công tác quảng bá giá trị văn hóa Đặc biệt, việc đầu tư mạnh mẽ vào quảng bá du lịch cộng đồng, kết hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện đại, đã giúp lan tỏa hình ảnh văn hóa địa phương tới giới trẻ toàn quốc và thu hút khách du lịch quốc tế.
Việc khôi phục các lễ hội truyền thống ngày càng được quan tâm chú trọng, góp phần nâng cao giá trị văn hóa và giữ gìn bản sắc dân tộc Quá trình đề cử các lễ hội này làm di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thúc đẩy sự phát triển bền vững và thúc đẩy lòng tự hào dân tộc Việc phục hồi lễ hội truyền thống không chỉ giúp giữ gìn các giá trị văn hóa mà còn thúc đẩy sự năng động trong phát triển văn hóa cộng đồng.
Nhà nước đầu tư khôi phục và gìn giữ những giá trị văn hóa bằng cách xây dựng các chính sách, chiến lược phát triển văn hóa phù hợp Chính phủ cũng tăng cường ngân sách để bảo tồn các di sản, tổ chức lễ hội truyền thống, lưu giữ hình ảnh và quảng bá văn hóa rộng rãi đến cộng đồng trong và ngoài nước Điều này góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc và thúc đẩy du lịch cùng phát triển kinh tế dựa trên giá trị văn hóa đặc sắc của đất nước.
Kinh nghiệm thực tế đối với quản lý văn hoá dân tộc thiểu số tại địa bàn Nghệ An
Dựa trên kinh nghiệm thực tế tại một số địa phương, các tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, như Nghệ An, có thể áp dụng các phương pháp thúc đẩy lòng tự tôn, tự hào dân tộc và quảng bá hình ảnh văn hóa qua các lễ hội đặc sắc Đồng thời, xây dựng các chiến lược phát triển văn hóa bền vững kết hợp với phát triển kinh tế, ổn định chính trị và đầu tư ngân sách cho lĩnh vực văn hóa là những yếu tố quan trọng để nâng cao đời sống cộng đồng dân tộc thiểu số.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc Thái Việc tập huấn cho các hộ dân về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc đặc trưng mà còn nâng cao nghiệp vụ đón tiếp, phục vụ khách du lịch Nhờ đó, các hoạt động quảng bá du lịch cộng đồng tại các địa bàn dân tộc Thái được phát triển bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương dựa trên giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng.
Khám phá những lợi thế về điều kiện địa phương, tận dụng các đặc điểm nổi bật để đầu tư và phát triển du lịch văn hóa cộng đồng Việc kết hợp yếu tố tự nhiên và nét đẹp truyền thống địa phương giúp tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút du khách trong và ngoài nước Đây là chiến lược tốt để thúc đẩy phát triển bền vững ngành du lịch dựa trên giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng.
Chúng tôi tập trung huy động nguồn lực về tổ chức bộ máy và cán bộ phụ trách văn hoá để thúc đẩy phát triển văn hoá địa phương Đồng thời, tổ chức nhiều cuộc thi lớn kết hợp sự tham gia của các dân tộc thiểu số trong tỉnh, nhằm thúc đẩy sự giao lưu văn hoá đa dạng Các hoạt động lễ hội dân tộc trong nước và quốc tế cũng được khuyến khích để học hỏi mô hình phát triển bền vững lâu dài Việc này góp phần thúc đẩy bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống, hướng tới xây dựng nền văn hóa phát triển vững chắc của tỉnh.
Nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái và ý nghĩa của chúng đối với công cuộc đổi mới kinh tế và văn hóa hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Chương I của luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về văn hóa dân tộc Thái Nghệ An, đồng thời tổng hợp các nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực này Những đánh giá khách quan về tình hình nghiên cứu và thực trạng hiện tại cho thấy còn nhiều khó khăn, thách thức cần vượt qua, từ đó thúc đẩy các nhà tổ chức xã hội có định hướng phát triển phù hợp nhằm giữ gìn các giá trị truyền thống trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Quản lý văn hóa dân tộc còn nhiều thách thức do phạm vi rộng lớn, nhiều lĩnh vực và nội dung chưa được cụ thể hóa rõ ràng, gây khó khăn trong quá trình định hướng và thực thi chính sách Nhà nước cần xác định rõ quyền hạn, phạm vi và chính sách can thiệp vào văn hóa để giải quyết các tồn đọng hiện tại Để xây dựng chiến lược phù hợp, các địa phương phải dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, tình hình kinh tế, xã hội, nguồn ngân sách và khả năng huy động nguồn lực phù hợp, nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý văn hóa.
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
2.1 Khái quát về văn hóa dân tộc Thái tại Nghệ An
2.1.1 Đặc điểm dân tộc Thái tại Nghệ An
Dân tộc Thái là một trong những dân tộc thiểu số có nét văn hóa đặc sắc tại Việt Nam, chiếm 1,74% tổng dân số cả nước Họ chủ yếu sinh sống tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, với hơn 97,6% dân số Thái tập trung ở 8 tỉnh này Trong đó, Sơn La có dân số Thái lớn nhất với 482.485 người (54,8% dân số tỉnh), Nghệ An có 295.132 người (10,1%), Thanh Hóa có 210.908 người (6,1%), và Lai Châu cũ (nay là Lai Châu và Điện Biên) có 206.001 người (35,1%).
Người Thái chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các dân tộc ít người tại Nghệ An, với 72,09% tổng số cư dân của nhóm dân tộc thiểu số trong tỉnh Theo số liệu điều tra của Ủy ban Điều tra Dân số Nghệ An, năm 2023, dân tộc Thái đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu dân cư của địa phương Sự hiện diện của người Thái góp phần giữ gìn nét văn hóa đặc trưng và thúc đẩy phát triển cộng đồng dân tộc thiểu số tại Nghệ An Thống kê này cho thấy người Thái chiếm phần lớn trong cộng đồng dân tộc ít người, góp phần vào sự đa dạng văn hóa của tỉnh.
Năm 2009, người Thái tại tỉnh Nghệ An có số lượng 211.316 người, chiếm tỷ lệ 24,4% trong tổng dân số toàn tỉnh, trở thành một trong những tỉnh có dân số Thái đông nhất Vùng cư trú của cộng đồng người Thái ở miền núi Bắc Trung Bộ, đặc biệt là tại Nghệ An, có mật độ sinh sống khá tập trung bên cạnh Thanh Hoá Vùng này lưu giữ những yếu tố văn hóa truyền thống vừa mang tính thống nhất của văn hóa Thái, vừa phản ánh đặc thù địa phương do ảnh hưởng của điều kiện sống và quá trình giao lưu văn hóa với các cộng đồng lân cận như Văn hóa Việt - Mường, Văn hóa Môn - Khơme và Văn hóa Lào. -🌸 **Quảng cáo** 🌸 Tăng hiệu quả SEO và truyền tải sắc thái văn hóa độc đáo cho nội dung về cộng đồng Thái cùng [Draft Alpha](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)
Gia đình người Thái ở Nghệ An trước Cách mạng là gia đình nhỏ phụ quyền, với dấu vết của gia đình lớn còn lưu giữ tại xã Khăm Muộn (Quế Phong), nơi nhiều trung tâm văn hóa của mường lớn từng tồn tại Hiện nay, hình thái gia đình đó đã tan rã, thể hiện rõ qua sự thay đổi cấu trúc và tổ chức xã hội Trong gia đình phụ quyền của người Thái, quyền lực tập trung trong tay chủ gia đình, với chỗ ngủ của ông nằm ngay dưới chân cột chính và các vật thiêng của nhà được treo cạnh bàn thờ ma nhà, thể hiện niềm tin và sự tôn kính đối với tổ tiên.
Về cơ bản, dân tộc Thái ở Nghệ An chia làm ba nhóm chính là: tày Mường, tày Thanh và tày Mười
Văn hóa Thái ở Nghệ An là một nền văn hóa lâu đời, có bản sắc riêng rất độc đáo nhưng cũng không kém phần phong phú
Người Thái, còn gọi là Tày Khao (Thái Trắng), Tày Đăm (Thái Đen), Tày Đeng (Thái Đỏ), Tày Mười, Tày Thanh (Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay và Thổ Đà Bắc, là các nhóm dân tộc thiểu số đa dạng và phong phú sống chủ yếu tại các khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.
Dưới thời nhà Lý, đạo Đà Giang và man Ngưu Hống (người Thái) từ Vân Nam đã triều cống lần đầu vào năm 1067 Trong thế kỷ XIII, người Ngưu Hống hợp tác với người Ai Lao để chống lại nhà Trần và bị đánh bại năm 1280, sau đó lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống bị đưa vào quản lý của nhà Trần Năm 1337, sau cái chết của lãnh tụ Xa Phần, vùng Ngưu Hống được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, đổi tên thành Mương Lễ hay Ninh Viễn, và giao cho họ Đèo cai quản Năm 1431, lãnh tụ Đèo Cát Hãn của người Thái Trắng đã nổi dậy chống triều đình, chiếm các lộ Qui Hóa và Gia Hưng, tấn công Mương Mỗi, và Đèo Mạnh Vương con của Đèo Cát Hãn đã làm tri châu Đến năm 1466, vùng Thái được tổ chức thành vùng (thừa tuyên) Hưng Hóa gồm 3 phủ là An Tây, Gia Hưng, Qui Hóa cùng 4 huyện và 17 châu, thể hiện quá trình mở rộng và đô thị hóa của miền đất này trong lịch sử Việt Nam.
Các lãnh tụ Thái, còn gọi là phụ tạo, được phép cai quản một số lãnh thổ nhất định và hình thành giai cấp quý tộc trong vùng đó Ví dụ, dòng họ Đèo thống trị các châu Lai, Chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham, trong khi dòng họ Cầm quản lý các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Nghệ An, Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên Dòng họ Xa đảm nhiệm vùng châu Mộc, còn dòng họ Hà cai quản châu Mai Ngoài ra, dòng họ Bạc quản lý châu Thuận và họ Hoàng ở châu Việt, thể hiện hệ thống lãnh đạo đa dạng và phân chia rõ rệt của các lãnh tụ Thái.
Nhóm Thái Đen (Tày Đắm) cư trú chủ yếu tại các khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên, bao gồm Mương La và Mương Thèng Các nhóm Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An đã di cư từ miền Tây Bắc xuống cách đây vài trăm năm, chịu ảnh hưởng bởi văn hóa và nhân chủng của cư dân địa phương cùng người Lào Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đã di cư qua Lào để đến Thanh Hóa và Nghệ An định cư, gần hai đến ba trăm năm trước, và có mối liên hệ mật thiết với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La), đồng thời chịu ảnh hưởng văn hóa của Lào.
Nhóm Thái Trắng (Táy Đón/Táy Khao) chủ yếu cư trú tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên và một số huyện của tỉnh Sơn La như Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên Tại Đà Bắc thuộc tỉnh Hòa Bình, có nhóm Thái Trắng tự nhận là Táy Đón, gọi là Thổ Ở xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, nhiều Thái Trắng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Tày Tại Sapa, Bắc Hà, nhiều nhóm Thái Trắng đã bị Tày hóa sâu sắc, thể hiện sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ Người Thái Trắng đã có mặt lâu dài dọc hữu ngạn sông Hồng và tại tỉnh Lai Châu từ thế kỷ XIII, kiểm soát vùng Mường Lay (nay là huyện Mường Chà) từ thế kỷ XIV, đồng thời di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa trong thế kỷ XV Có giả thuyết cho rằng họ là hậu duệ của người Bạch Y ở Trung Quốc.