1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

39 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tác phẩm Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài
Tác giả Tô Hoài
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 652,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

. Như vậy, chính tiếng sáo là tác nhân mạnh mẽ nhất đã khơi dậy khát vọng sống vốn âm ỉvà tiềm tang trong Mị, bởi lay lắt, đói khổ, nhục nhã nhưng Mịvẫn âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt. Tiếng sáo ấy như một mạch nước ngọt rỉ thấm vào thớ đất khô cằn vì nắng hạ, một thớ đất tâm hồn vốn màu mỡ nhưng lại bị xói mòn bởi cái xấu và cái ác của bọn chúa đất miền núi. Đây chính là chi tiết đắt giá, là “hạt bụi vàng của tác phẩm”.

Trang 1

VỢ CHỒNG A PHỦ

Đề 1: “Lần lần….chết thì thôi”

Nam Cao từng viết: “Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp người lầm than” Nhận định của Nam Cao đã phản ánh đầy đủ những đặc trưng của văn học Việt Nam giai đoạn này, phản ánh hiện thực xã hội và chân

dung con người Việt Nam với những phương diện phong phú,

đa dạng Trong số các tác phẩm ấy, “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài- nhà văn xuất sắc của văn học hiện thực Việt Nam

là một kiệt tác nghệ thuật gắn kết văn hóa tinh thần với công cuộc giải phóng dân tộc Tác phẩm không chỉ là bức tranh hiện thực thê thảm của nạn đói năm 1945 mà còn diễn tả thật sinh động quá trình thức tỉnh vươn lên tìm ánh sáng cách mạng của người dân nghèo Tây Bắc Trong đó đoạn trích “Lần lần…chết thì thôi” đã khiến người đọc không khỏi xót xa bởi số phận bất hạnh của Mị

Là nhà văn từng gắn bó sâu sắc với mảnh đất Tây Bắc, Tô Hoài từng thốt lên rằng: “Đất và người Tây Bắc đã để thương để nhớ trong tôi nhiều quá” Sau chuyến đi thực tế dài 8 tháng lên vùng núi Tây Bắc, Tô Hoài đã sáng tác tập truyện “Truyện Tây Bắc”- một thành quả lao động đẹp trong mùa thu hoạch đầu tiên trên quê hương văn học mới của ông “Vợ chồng A Phủ” được viết năm 1952, là tác phẩm tiêu biểu nhất trong tập truyện kể về cuộc đời Mị từ đó làm nổi bật lên sức sống tiềm tàng và khao khát hạnh phúc của nhân vật Truyện có bố cục 2 phần: phần 1

Trang 2

là cuộc sống của Mị và A Phủ khi ở Hồng Ngài và phần 2 là cuộc sống mới sau khi đến Phiềng Sa Đoạn trích thuộc phần 1 của thiên truyện

Tác phẩm là bức tranh chân thực về tội ác và sự tàn bạo của bọn chúa đất miền núi đã đẩy người nông dân nghèo vào số phận khổ cực Điều này được thể hiện rõ rệt nhất ở nhân vật

Mị Mị đã từng là một cô gái đẹp người đẹp nết, tự do và yêu đời Nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ mà Mị phải làm dâu gạt nợ cho nhà Thống Lí Pá Tra Kể từ ấy, dần dần Mị đã mất dần hy vọng, trở thành con người chai sạn, vô cảm

Trước hết, Mị hiện lên trong đoạn trích là một người vô cảm, cạn kiệt sức sống, đến cả cái chết Mị cũng chẳng màng nghĩ tới nữa, bởi cuộc sống của Mị bây giờ chẳng khác gì kiếp nô lệ Ngay từ câu văn đầu tiên, nhà văn đã để lại ấn tượng về thời gian mà Mị đã sống trong nhà Thống Lí: “Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau”, chỉ mấy năm thôi nhưng chắc là lâu lắm Câu văn đã gợi lên những năm tháng Mị phải kéo lê cuộc sống của mình trong đau khổ, trong sự mòn mỏi, mất mát dần của cảm xúc tâm hồn Điều đáng ngạc nhiên là đến chính Mị cũng chẳng còn nhớ cuộc sống trong chốn địa ngục trần gian ấy đã diễn ra trong bao lâu “Mị cũng không nhớ nữa” Phải chăng, cô đã mất hết nhận thức về thời gian , không gian? Các khoảng thời gian tưởng không xác định ấy tưởng chỉ mang tính chất giới thiệu thôi mà gợi lên biết bao thương xót, ngậm ngùi

Trong sự chảy trôi của thời gian hiện lên cái chết của con

người “bố Mị chết”: Sự chảy trôi dai dẳng ấy của thời gian như

Trang 3

kéo cái khổ, cái cực của những người lao động nghèo miền núi

Họ phải cam chịu và sống dưới cái trướng của bọn chúa đất miền núi, cuối cùng cái khổ ấy kết thúc thành cái chết Chỉ với một câu văn ngắn, Tô Hoài đã dấy lên niềm đồng cảm của

người đọc về cuộc đời bất hạnh của những người lao động

miền núi Qủa thực, nói như Nguyễn Minh Châu: “Nhà văn

không tô đen hay bôi hồng cuộc sống mà nhà văn chỉ làm rõ bộ mặt thật của nó”

Ở những câu văn tiếp theo, một lần nữa hình ảnh nắm lá ngón xuất hiện “Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa” Lần thứ nhất, khi Mị trốn về nhà và khóc nức

nở với bố “Mị ném nắm lá ngón xuống đất, Mị không đành lòng chết” Mị làm vậy bởi lúc ấy, Mị có sự ràng buộc là phải sống để trả nợ cho bố Bây giờ Mị đã không còn nghĩ đến điều ấy nữa Phải chăng, ý thức phản kháng trong Mị đã bị tê liệt Hóa ra, môi trường độc địa kia đã ngấm vào trong Mị, đau khổ đã đồng hóa Mị, khiến Mị quen dần với nó, chấp nhận nó như một phần trong cuộc sống của mình “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” Người đời quen ăn sang mặc sướng, Mị “quen khổ” thật chua xót làm sao? Và càng chua xót hơn cái sự “quen” ấy đã làm thui chuột luôn cả ý thức đấu tranh trong Mị Còn đâu một

cô Mị của long ham sống yêu đời? Câu văn đánh dấu sự thay đổi trong tính cách và tâm trạng Mị Bốn chữ “Mị quen khổ rồi” như chất chứa bao xót xa và phẫn uất Hoàn cảnh tạo nên tính cách và tính cách tạo nên số phận Từ một người con gái tự do

và yêu đời, cánh tay đen ngòm của cái khổ đã tóm lấy Mị và hút hết bao nhiêu là cái tốt, cái đẹp rồi nhả ra là một con người nhỏ

Trang 4

bé, trơ lì và chai sạn Đọc những câu văn này, ta càng cảm thấy thương và đồng cảm với số phận của Mị

Nếu như Thúy Kiều bị Sở Khanh và Tú Bà lập mưu vào tròng kiến Kiều đau đớn trong cảnh nhục nhã khi thể xác bị chà đạp thì ở đây cô Mị hoàn toàn câm lặng Ở nhà Thống lí Pá Tra, Mị

bị bóc lột, vắt kiệt sức lao động, đó là lí do vì sao Mị lại “quen khổ rồi” Mị đã tự đẩy cuộc sống của mình ngang hàng với súc vật “Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở các tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ việc ăn cỏ, biết đi làm mà

thôi” Suy nghĩ ấy đã ăn sâu trong Mị mấy năm nay, chính Mị cũng nghĩ mình như một con vật nuôi trong nhà Thống Lí Con vật phải chịu kiếp đày đọa dưới đòn roi của chủ, phải làm việc khổ sai và không thể phản kháng Mị cũng thế Câu văn chất chứa bao nỗi xót xa, thương cảm mà Tô Hoài danh cho nhân vật của mình

Gương mặt chính là sự phản chiếu của suy nghĩ, của tâm hồn Suy nghĩ cam chịu, tâm hồn vô cảm đã khiến vẻ mặt Mị buồn bã làm sao: “Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa” Trên khuôn mặt lúc nào cũng chỉ biết cúi xuống ấy, làm sao thấy được một nét vui tươi, làm sao nhận ra một tia cảm xúc? Chỉ có những người

không thể vui, không thể hạnh phúc mới có vẻ mặt đó Đó là khuôn mặt nói lên sự lạnh lẽo, vô cảm của đời sống tâm hồn Khuôn mặt héo hắt của một tâm hồn lay lắt

Khi sống không còn cảm xúc, con người ta khác gì một cỗ máy lặp đi lặp lại theo quy trình? Tô Hoài tiếp tục sử dụng các cụm

Trang 5

từ chỉ sự bất biến “nhớ đi nhớ lại, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại” Mị bị lấn át bởi các hành động giống nhau:

“Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương, bẻ bắp” Đặc biệt hình ảnh “dù lúc

đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong tay

để tước thành sợi” để lại nhiều suy ngẫm Bản thân các hành động hái củi, bung ngô đã là các việc lặp đi lặp lại đến vô thức, trong cái vô thức ấy lại xuất hiện hành động gài một bó đay

trong tay để tước thành sợi Có lẽ, Mị bây giờ như đã lầm vào cơn mê sảng, khó tỉnh, nếu không có một nguồn sức mạnh nào kéo Mị ra khỏi hố sâu thân phận ấy thì chắc Mị sẽ “suốt năm suốt đời như thế” Thậm chí “con trâu, con ngựa làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, nhai cỏ”, còn Mị “vùi vào công việc cả đêm lẫn ngày”

Tuy nhiên, ẩn sau những câu văn này không chỉ đơn thuần là miêu tả trạng thái hiện tại của Mị Sự xuất hiện của Mị là tiếng búa đinh óc, là lời tố cáo đanh thép của Tô Hoài về tội ác của bọn chúa đất thực dân khiến con người lâm vào “cùng đường tuyệt lộ” Kim Lân từng quan niệm “Nhà văn phải viết như chơi, viết bằng cả tấm lòng của mình, nhưng phải hướng vào cái đẹp

và cái thật Khi nhà văn phát hiện ra cái gì không thật và không đẹp phải biết bất bình và lên tiếng” Qủa thực vậy, có lẽ khi viết những dòng văn này, Tô Hoài không khỏi xót xa và căm phẫn thay nhân vật Từ ấy, nhà văn như muốn người đọc cùng buồn, cùng thương cho Mị

Trang 6

Không chỉ bị vắt kiệt sức lao động, quyền sống là con người cũng không có, Mị còn bị hủy diệt về tinh thần Bao nhiêu đau khổ ở nhà Thống Lí đã biến Mị- một cô gái xinh đẹp, yêu đời mấy năm về trước bỗng trở thành một người đàn bà lầm lũi, vô cảm: “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi

trong xó cửa” Một lần nữa, thủ pháp vật hóa lại được Tô Hoài

sử dụng Từ láy “lùi lũi” là một từ láy gợi hình, gợi tả dáng vẻ bần thần, lặng lẽ, cô đơn của Mị Mị suốt đời câm lặng, chịu đựng bị đè nén, bị áp bức như con rùa Trong vô vàn lời lời ca than thân xưa nay khiến người đọc da diết khôn nguôi về thân phận con người:

“Thương thay thân phận con rùa

Xuống sông đội đá, lên chùa đội bia”

Còn lời than thân nào đau đớn và chua chát lớn hơn một cuộc đời đắng ngắt, mặn chát như cuộc đời Mị

Không chỉ hiện lên với sự vô thức trong công việc mà ngay cả ở trong thói quen sinh hoạt cũng như thế Mị lầm lũi xung quanh căn buồng của mình, nơi mà “kín mít, có một chiếc của sổ một

lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng

trắng, không biết là sương hay là nắng” Căn phòng hiện lên với

sự tối tăm, u ám, ánh sáng như bị triệt tiêu Ở trong ấy, con người dường như bị cuốn vào trạng thái luẩn quẩn, vô vọng Căn phòng ấy dường như là một nhà tù, ngục thất tinh thần giam hãm cuộc sống và khóa chặt tuổi xuân của Mị Ở trong ấy,

Mị chẳng khác nào một tù nhân phải chịu án tù chung thân Nhà Thống lí Pá Tra đúng là không có chỗ cho lương tri và tình

Trang 7

người Đọc những câu văn trên ta liên tưởng tới nàng Kiều khi xưa cũng bị giam hãm số phận tại lầu Ngưng Bích:

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”

ở trong ngục tù ấy, “Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi” Ở bên ngoài căn phòng là không gian mênh mông của núi rừng Tây Bắc, là sự

tự do còn bên trong là sự tù túng, chật hẹp và giam hãm Mị

“trông ra đến bao giờ chết thì thôi” dường như là Mị đang

hướng về sự sống, về phía có ánh sáng le lói, yếu ớt với mong muốn vượt ngục hay chăng? Câu văn như vẽ ra ranh giới giữa

sự sống và cái chết mà con người ta muốn giải thoát lại không thể thoát khỏi, đành phải bất lực và vô vọng Sự trông ra và

ngóng vọng của Mị như để lại một khoảng lặng trong tâm trí người đọc Liệu rằng số phận của Mị sẽ mãi như vậy, hay một lúc nào đó Mị sẽ trỗi dậy tháo cũi sổ lồng để giải thoát cho bản thân mình? Đoạn trích khép lại mà mở ra bao nhiêu suy ngẫm

và trăn trở trong lòng người đọc Nói “văn học là nhân học” quả không sai

Có nhà văn đã từng nói: “Nghệ thuật phải là cái độc đáo vì vậy

nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là nét

gì đó rất riêng” Đoạn trích trên nói riêng và “Vợ Chồng A Phủ” nói chung thành công bởi một phần không nhỏ về giá trị nghệ thuật Trước hết, đó là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn, xây dựng nhân vật mang tính cá thể hóa cao

độ Bên cạnh đó nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật sâu sắc,

Trang 8

dựng cảnh và tả cảnh sinh động, chân thực Ngoài ra còn nghệ thuật kể chuyện linh hoạt, câu văn giàu cảm xúc…tất cả đã khắc họa số phận bất hạnh của Mị ở trong nhà Thống lí

“Văn học là cuộc đời Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” Qua tác phẩm “Vợ Chồng A Phủ” của nhà văn

Tô Hoài, tác giả không chỉ tố cáo tội ác của bọn chúa đất mà còn hướng vào con người và làm nổi bật lên phẩm chất của họ Đặc biệt, đoạn trích trên là một minh chứng cho số phận bất hạnh của người dân nghèo Tây Bắc mà Mị là nhân vật trung tâm Vợ Chồng A Phủ khoác lên mình một chiếc áo rất riêng biệt mà có

lẽ chưa bao giờ hiện thực cuộc sống của người nông dân miền núi được truyền tài một cách sâu sắc đến vậy Đồng thời, đó cũng là bước mở đường, mở ra cho con người con đường mới, cuộc sống mới, thoát khỏi hiện thực đầy tàn khốc

Đề 2: Diễn biến tâm trạng Mị trong đoạn trích “Ngày Tết….bay ngoài đường” Nhận xét sự tinh tế của Tô Hoài khi miêu tả sự hồi sinh trong tâm hồn nhân vật

Nam Cao từng viết: “Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp người lầm than” Nhận định của Nam Cao đã phản ánh đầy đủ những đặc trưng của văn học Việt Nam giai đoạn này, phản ánh hiện thực xã hội và chân

dung con người Việt Nam với những phương diện phong phú,

đa dạng Trong số các tác phẩm ấy, “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài- nhà văn xuất sắc của văn học hiện thực Việt Nam

Trang 9

là một kiệt tác nghệ thuật gắn kết văn hóa tinh thần với công cuộc giải phóng dân tộc Tác phẩm không chỉ là bức tranh hiện thực thê thảm của nạn đói năm 1945 mà còn diễn tả thật sinh động quá trình thức tỉnh vươn lên tìm ánh sáng cách mạng của người dân nghèo Tây Bắc Trong đó đoạn trích “Ngày Tết… bay ngoài đường” đã gây ấn tượng cho người đọc bởi diễn biến tâm

lí của Mị trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài

Là nhà văn từng gắn bó sâu sắc với mảnh đất Tây Bắc, Tô Hoài từng thốt lên rằng: “Đất và người Tây Bắc đã để thương để nhớ trong tôi nhiều quá” Sau chuyến đi thực tế dài 8 tháng lên vùng núi Tây Bắc, Tô Hoài đã sáng tác tập truyện “Truyện Tây Bắc”- một thành quả lao động đẹp trong mùa thu hoạch đầu tiên trên quê hương văn học mới của ông “Vợ chồng A Phủ” được viết năm 1952, là tác phẩm tiêu biểu nhất trong tập truyện kể về cuộc đời Mị từ đó làm nổi bật lên sức sống tiềm tàng và khao khát hạnh phúc của nhân vật Truyện có bố cục 2 phần: phần 1

là cuộc sống của Mị và A Phủ khi ở Hồng Ngài và phần 2 là cuộc sống mới sau khi đến Phiềng Sa Đoạn trích thuộc phần 1 của thiên truyện

Vẻ đẹp trong tâm hồn nhân vật được thể hiện rõ rệt nhất ở nhân vật Mị Mị đã từng là một cô gái đẹp người, đẹp nết, tự do

và yêu đời Nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ mà Mị phải làm dâu gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra Kể từ ấy, dần dần

Mị đã mất dần hy vọng và khát vọng sống, trở thành con người chai sạn, vô cảm Tuy nhiên, Tô Hoài đã để cho Mị được sống lại

là chính mình trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài Dưới tác

Trang 10

động của một không gian ấm áp sự sống, biêng biếc sắc màu và những âm thanh quen thuộc, Mị đã dần hồi sinh sức sống trở lại

Trước hết, hiện lên trong đoạn trích, tâm trạng của Mị có sự đồng vọng và đan xen giữa kí ức của quá khứ và thực tại dưới tác động của tiếng sáo và hơi nồng men rượu Câu văn mở đầu đoạn trích như một lời thông báo ngắn gọn về trạng thái và hành động bây giờ của Mị “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát” Đối với đồng bào dân tộc vùng núi cao, uống rượu là một thói quen và là một nét đẹp văn hóa lâu đời, gắn liền với các dịp lễ Tết Bởi vậy, việc uống rượu là một hành động là một hành động bình thường, quen thuộc Mị cũng không ngoại lệ, Mị cũng tìm đến rượu trong ngày Tết, tuy nhiên, cách Mị uống rượu lại không hề bình thường chút nào “uống ực từng bát” Hình ảnh “uống ực” là uống nhanh, uống từng ngụm lớn, uống như là để cho đỡ khát rượu, như là đang “tận hưởng” thứ đồ uống đặc sản Suy ngẫm sâu xa, uống như vậy như là đang nuốt đắng cay, tủi hờn vào trong lòng Uống rượu như là đang uống những cay đắng của phần đời đã qua và những khát khao của phần đời chưa tới Cách uống rượu cho thấy hoàn cảnh đáng thương của Mị Phải chăng Mị tìm đến rượu không chỉ đơn thuần là để cho giải khát

mà còn để giải khuây, để trút đi bao gánh nặng đè lên đôi vai gầy của người con gái ấy Có lẽ, không còn giải pháp nào khác

để trút sầu nên Mị đành bất lực tìm đến hơi say của rượu

Trang 11

Tiếp theo, Mị say và nhớ đến quá khứ Hơi nồng của men rượu làm Mị chìm vào cơn say “Mị lịm mặt ngồi đấy” Dường như trong sự lâng lâng và bay bổng của men rượu, Mị đã thoát li khỏi thực tại, nơi mà rộn rang âm thanh của “người nhảy đồng, người hát”, để thả hồn mình vào kí ức của quá khứ- một thời tự

do và tươi đẹp của Mị “Nhưng lòng Mị đang sống về ngày

trước” Giải thích cho trạng thái tâm lí như vậy là bởi “tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng” cộng hưởng với tác động của men rượu trong Mị Từ láy “văng vẳng” gợi lên âm thanh từ

xa vọng lại, như đang vang lên đâu đó quanh tai Tiếng sáo ấy

tự tìm đến Mị hay chính bởi trong tâm trí Mị bây giờ, Mị lại tự cảm nhận nó một cách rõ rệt hơn?

Tô Hoài đã quay ngược cuốn phim cuộc đời để cho ta nhìn lại một thời thanh xuân tươi đẹp mà đã quá vãng của Mị “ngày trước, Mị thổi sáo giỏi” Như vậy, tiếng sáo từ lâu đã gắn với thanh xuân của Mị, tiếng sáo đại diện cho tài năng con người

“Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị” Tiếng sáo

đã đánh thức kỉ niệm xưa trong Mị, là hiện thân cho quá khứ khó quên và tâm hồn Mị Âm thanh ấy song hành và luôn tồn tại đâu đó trong tâm trí của Mị Song, tiếng sáo còn là tiếng gọi của sự tự do, bay bổng và khát vọng sống vẫy gọi Mị Chính Tô Hoài từng tâm sự: “Tiếng sáo là biểu tượng của niềm khát sống, khát khao yêu, ở đây còn là lòng khao khát tự do” Chính tiếng sáo ấy đã nâng đỡ tâm hồn Mị, chắp thêm đôi cánh giúp Mị bay lên trên thực tại và hoàn cảnh tù túng Như vậy, chính tiếng sáo

là tác nhân mạnh mẽ nhất đã khơi dậy khát vọng sống vốn âm ỉ

Trang 12

và tiềm tang trong Mị, bởi lay lắt, đói khổ, nhục nhã nhưng Mị vẫn âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt Tiếng sáo ấy như một mạch nước ngọt rỉ thấm vào thớ đất khô cằn vì nắng hạ, một thớ đất tâm hồn vốn màu mỡ nhưng lại bị xói mòn bởi cái xấu và cái ác của bọn chúa đất miền núi Đây chính là chi tiết đắt giá, là “hạt bụi vàng của tác phẩm”

Từ quá khứ, Mị quay trở lại với thực tại “Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo” Hành động uống rượu và thổi sáo bây giờ của Mị là khát khao “níu kéo quá khứ- bù đắp thực tại” của Mị Hình ảnh tiếng sáo tiếp tục được hiện lên, từ đó ta thấy được vẻ đẹp tỏng tâm hồn Mị Suy cho cùng, tiếng sáo ấy chính là tiếng lòng của Mị Nói như Nadim Hickmet: “Tiếng hát của con người còn đẹp hơn cả chính con người” bởi nó là kết tinh của khát vọng sống và khát vọng tự do

Ở những câu văn tiếp theo, trong hơi nồng men rượu, Mị hiện lên với trạng thái tâm lí không tỉnh táo, bần thần và lặng lẽ theo quán tính Hiện lên giữa không gian “rượu đã tan lúc nào

Người về, người đi chơi đã vãn cả” là hình ảnh con người không tỉnh táo “Mị không biết Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà” Rượu đã làm Mị lâng lâng và không làm chủ được tiềm thức, như lâm vào cơn mê sảng, Mị ngồi trơ giữa nhà như một kẻ vô hồn, bần thần và lặng lẽ chẳng khác nào một cái bóng câm lặng, lủi thủi một mình Mị rơi vào vòng quay vô thức, quán tính, tuần hoàn với thói quen “Mị từ từ bước vào buồng” Đây là hành động lặp đi lặp lại như một thói quen vô thức, không hề

tự chủ Lí giải cho hành động này là bởi “chẳng năm nào A Sử

Trang 13

cho Mị đi chơi Tết” Đến ngay cả mong muốn đi chơi rất nhân bản mà Mị còn không thể thực hiện được Thử hỏi như vậy có thật sự là Mị đang sống hay chỉ đang tồn tại, đang kéo dài

những ngày chưa chết mà thôi

Quá quen và hiểu hoàn cảnh của mình, Mị đành chấ nhận số phận bằng hành động “Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng” Căn phòng nơi Mị ngồi hiện lên với sự u ám, tối tăm, ánh sáng như bị triệt tiêu, căn phòng như một nhà tù, ngục thất tinh thần giam hãm cuộc sống

và khát vọng của Mị Ở trong ấy, Mị trông ra dường như là đang hướng về sự sống, về phía có ánh sáng le lói, yếu ớt với mong muốn vượt ngục hay chăng? Câu văn như vẽ ra ranh giới giữa

sự sống và cái chết mà con người ta muốn giải thoát lại không thể thoát giải, đành phải bất lực và vô vọng Sự trông ra và

ngóng vọng ấy của Mị để lại một khoảng lặng trong tâm trí và

ám ảnh người đọc

Ở những câu văn tiếp theo, tâm trạng của Mị có sự thay đổi và chuyển biến rõ rệt Từ vô thức, Mị bỗng đột khởi cảm giác phấn chấn và nhận thức được giá trị bản thân Đầu tiên, Mị đột khởi cảm giác phấn chấn: “đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước” Các tính từ “phơi phới”, “vui sướng” kết hợp với các từ “đã từ nãy, đột nhiên” cùng hình ảnh so sánh “như những đêm Tết ngày trước” làm nhịp văn trở nên dồn dập, mạnh mẽ như nhịp tim, nhịp tâm hồn Mị Câu văn cho thấy cảm giác rạo rực sức sống, tràn ngập hứng khởi trong Mị Đây chính là tín hiệu đầu tiên

Trang 14

cho sự hồi sinh sức sống trong Mị, là tiền đề cho các hành động nổi loạn của Mị sau này Đúng như Lỗ Tấn từng nói: “Một tia lửa nhỏ hôm nay là dấu hiệu cho một đám cháy ngày mai”

Nối tiếp cảm giác phấn khởi ấy, Mị chợt nhận ra giá trị của bản thân “Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi” Điệp từ

“trẻ” và các điệp cấu trúc câu “Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ” là cách nhấn mạnh một sự thật, đó là Mị vẫn còn trẻ, vẫn còn

thanh xuân và nhiều hứa hẹn “Mị muốn đi chơi” nghĩa là Mị đang khao khát được tự do, được thả hồn mình vào mùa xuân đẹp đẽ, ăm ắp sự sống, biêng biếc sắc màu ở Hồng Ngài Khi một người phụ nữ tự ý thức được về tuổi xuân của mình là họ đang tự ý thức được về sự sống và quyền sống của mình Hóa

ra, ẩn đằng sau lớp tro tàn trong Mị, ngọn lửa ham sống vẫn luôn âm ỉ cháy Mị như một cây rừng héo úa tàn rụi, nhưng sâu trong mao mạch của cây, nhựa sống vẫn chảy âm thầm Nhà văn Nguyễn Khải từng quan niệm: “Ở đời này không có con

đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy” Tuy chỉ là những dòng suy nghĩ, nhưng Mị đã tự vượt ra khỏi giới hạn của bản thân để tìm lại sự tự do cho mình

Sự vượt khỏi hoàn cảnh của Mị diễn ra không hề đơn điệu, dễ dàng Tô Hoài đã rất tinh tế khi đặt nhân vật Mị vào sự giao tranh giữa một bên là sức sống tiềm tàng, một bên là ý thức về thân phận Mị nghĩ “bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” Mị so sánh với mọi người đẻ nghĩ tới thân

Trang 15

phận của mình, Đó là thân phận một người con gái có cuộc

sống hôn nhân không hạnh phúc, không tự nguyện Hai chữ “vợ chồng” kia chỉ là trên danh nghĩa, còn thực tế Mị và A Sử chẳng

hề có chút tình cảm vợ chồng nào cả Khát vọng sống như ngọn lửa bùng cháy bao nhiêu thì Mị lại phẫn uất bấy nhiêu Phẩn uất

và đau khổ cho thân phận trớ trêu đầy bi kịch khiến Mị suy nghĩ

“nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra” Một lần nữa, hình ảnh nắm lá ngón xuất hiện Mị nghĩ “sẽ ăn cho chết ngay” đó là bởi bây giờ Mị đã nhận thức được thực tại, nhận ra được giá trị của sự sống cá thể Và khi số phận bị đặt vào hoàn cảnh tù túng, ngột ngạt, đau khổ thì ắt con người

ta sẽ phản kháng Đây chính là điểm ấn tượng của nhân vật Mị Những lúc thèm sống nhất, Mị chỉ muốn chết, khi không tưởng đến cái chết nữa là lúc Mị chán sống đến cùng cực Cấu trúc nghịch lí này với những chuyển hóa tinh vo của nó chính là logic độc đáo của tính cách Mị Suy cho cùng, Mị chán sống âu cũng

là biểu hiện của sự khát sống trong Mị Bởi chỉ khi người ta yêu cuộc sống thì mới căm ghét và phẫn uất trước sự bất công đè nặng lên số phận của họ như vậy

Sức sống ấy trong Mị liệu rằng có trỗi dậy mạnh mẽ hơn

không? Liệu rằng tiếng sáo ấy có tiếp thêm sức mạnh trong Mị, giúp Mị tháo cũi sổ lồng? Gấp lại trang sách mà bao suy tưởng, trăn trở vứ vẩn vương trong lòng độc giả Suy song với đó, âm thanh của tiếng sáo- tiếng thơ vẫn văng vẳng đâu đó trong tâm trí của ta:

Trang 16

“Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi…”

Có nhà văn đã từng nói: “Nghệ thuật phải là cái độc đáo vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là nét gì đó rất riêng” Đoạn trích trên nói riêng và “Vợ Chồng A Phủ” nói chung thành công bởi một phần không nhỏ về giá trị nghệ thuật Trước hết, đó là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn, xây dựng nhân vật mang tính cá thể hóa cao độ Bên cạnh đó nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật sâu sắc, dựng cảnh và tả cảnh sinh động, chân thực Ngoài ra còn nghệ thuật kể chuyện linh hoạt, câu văn giàu cảm xúc…tất

cả đã khắc họa số phận bất hạnh của Mị ở trong nhà Thống lí “Văn học là cuộc đời Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” Qua tác phẩm “Vợ Chồng A Phủ” của nhà văn

Tô Hoài, tác giả không chỉ tố cáo tội ác của bọn chúa đất mà còn hướng vào con người và làm nổi bật lên phẩm chất của họ Đặc biệt, đoạn trích trên là một minh chứng cho số phận bất hạnh của người dân nghèo Tây Bắc mà Mị là nhân vật trung tâm Vợ Chồng A Phủ khoác lên mình một chiếc áo rất riêng biệt mà có

lẽ chưa bao giờ hiện thực cuộc sống của người nông dân miền núi được truyền tài một cách sâu sắc đến vậy Đồng thời, đó cũng là bước mở đường, mở ra cho con người con đường mới, cuộc sống mới, thoát khỏi hiện thực đầy tàn khốc

 Nhận xét sự tinh tế của Tô Hoài khi miêu tả sự hồi sinh trong tâm hồn nhân vật: Sự hồi sinh trong tâm hồn nhân vật được nhà văn Tô Hoài miêu tả khéo léo và tinh tế Nhà văn không

Trang 17

trực tiếp miêu tả mà gián tiếp thông qua các tác nhân như mùa xuân, tiếng sáo, hơi nồng men rượu để làm nổi bật sự

âm ỉ và tiềm tàng trong Mị Sự hồi sinh ấy được diễn tả chân thực qua hành động và ngôn ngữ độc thoại nội tâm, qua thủ pháp đồng hiện và tương phản đối lập, cùng cấu trúc nghịch

lí độc đáo Sự hồi sinh trong Mị được khắc họa sâu sắc bằng việc diễn tả chiều sâu tâm hồn cùng những biến thái thăng trầm Nét tinh tế khi miêu tả sự hồi sinh trong Mị góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật của Tô Hoài, sự già dặn

trong ngòi bút của ông và sự am hiểu về thế giới nội tâm con người, đặc biệt là người phụ nữ

Đề 3: “bây giờ Mị cũng không nói… khép cửa buồng lại”

Nam Cao từng viết: “Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp người lầm than” Nhận định của Nam Cao đã phản ánh đầy đủ những đặc trưng của văn học Việt Nam giai đoạn này, phản ánh hiện thực xã hội và chân

dung con người Việt Nam với những phương diện phong phú,

đa dạng Trong số các tác phẩm ấy, “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài- nhà văn xuất sắc của văn học hiện thực Việt Nam

là một kiệt tác nghệ thuật gắn kết văn hóa tinh thần với công cuộc giải phóng dân tộc Tác phẩm không chỉ là bức tranh hiện thực thê thảm của nạn đói năm 1945 mà còn diễn tả thật sinh động quá trình thức tỉnh vươn lên tìm ánh sáng cách mạng của người dân nghèo Tây Bắc Trong đó đoạn trích “bây giờ Mị cũng

Trang 18

không nói… khép cửa buồng lại” đã gây ấn tượng cho người đọc bởi sức sống tiềm tàng của Mị qua các hành động “nổi loạn”

Là nhà văn từng gắn bó sâu sắc với mảnh đất Tây Bắc, Tô Hoài từng thốt lên rằng: “Đất và người Tây Bắc đã để thương để nhớ trong tôi nhiều quá” Sau chuyến đi thực tế dài 8 tháng lên vùng núi Tây Bắc, Tô Hoài đã sáng tác tập truyện “Truyện Tây Bắc”- một thành quả lao động đẹp trong mùa thu hoạch đầu tiên trên quê hương văn học mới của ông “Vợ chồng A Phủ” được viết năm 1952, là tác phẩm tiêu biểu nhất trong tập truyện kể về cuộc đời Mị từ đó làm nổi bật lên sức sống tiềm tàng và khao khát hạnh phúc của nhân vật Truyện có bố cục 2 phần: phần 1

là cuộc sống của Mị và A Phủ khi ở Hồng Ngài và phần 2 là cuộc sống mới sau khi đến Phiềng Sa Đoạn trích thuộc phần 1 của thiên truyện

Vẻ đẹp trong tâm hồn nhân vật được thể hiện rõ rệt nhất ở nhân vật Mị Mị đã từng là một cô gái đẹp người, đẹp nết, tự do

và yêu đời Nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ mà Mị phải làm dâu gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra Kể từ ấy, dần dần

Mị đã mất dần hy vọng và khát vọng sống, trở thành con người chai sạn, vô cảm Tuy nhiên, Tô Hoài đã để cho Mị được sống lại

là chính mình trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài Từ những suy nghĩ uất ức về thân phận và muốn chết, Mị chuyển hóa

thành những hành động mạnh mẽ khi ngọn lửa ham sống đang bùng cháy dữ dội

Lỗ Tấn từng quan niệm: “Một tia lửa nhỏ hôm nay là dấu hiệu cho một đám cháy ngày mai” Từ những “tia lửa nhỏ” là những

Trang 19

suy nghĩ khi ý thức được giá trị sự sống cá thể, người con gái giàu sức sống ấy đã chuyển hóa thành “đám cháy” bằng một loạt các hành động nổi loạn để tự giải cứu bản thân Trước hết,

Mị hiện lên trong đoạn trích là người có sức sống tiềm tang

đang trỗi dậy mãnh liệt khi thể hiện thái độ và các hành động

“nổi loạn”

Đoạn trích mở đầu với thái độ dứt khoát, kiên quyết của Mị trước cường quyền và thân quyền qua hình ảnh “Bây giờ Mị cũng không nói” Đây là nột câu viết theo lối trần thuật, ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa Hình ảnh “Mị không nói” cho thấy sự gan góc, kiên quyết, dũng cảm của Mị trước A Sử

Mị không nói, hay dường như cũng chính là Mị không muốn nói, hay không thèm nói Trong truyện ngắn, Tô Hoài rất ít khi

để Mị cất lên tiếng nói của mình Ở những chi tiết trước, Mị im lặng là làm nổi bật số phận nhỏ bé, bất hạnh, không có tiếng nói

và cam chịu của Mị Còn ở đây, sự im lặng của Mị chuyển hóa thành động lực đấu tranh Mị không cò phải chịu gánh nặng của bọn chúa đất miền núi nữa, sức sống trong Mị bây giờ lớn hơn tất cả và lấn át đi nỗi sợ hãi A Sử với Mị bây giờ dường như chỉ còn là một cái bóng mà thôi Đúng như Tô Hoài từng tâm sự:

“cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong Mị Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy

sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình”

Từ thái độ kiên quyết, Mị đã thực hiện một cuộc vượt ngục tinh thần bằng các hành động táo bạo Thứ nhất, “Mị đến góc

Ngày đăng: 31/07/2023, 20:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w