1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

105 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc
Tác giả Bùi Thị Nhung
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân
Trường học Học viện Hành chính Quốc Gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái quát về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (17)
    • 1.1.1. Khái niệm quyền tác giả (17)
    • 1.1.2. Khái niệm về tác phẩm âm nhạc (19)
    • 1.1.3. Khái niệm về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (21)
    • 1.1.4. Đặc điểm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (23)
  • 1.2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (25)
    • 1.2.1. Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (25)
    • 1.2.2. Phân loại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (29)
    • 1.2.3. Vai trò của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (29)
    • 1.2.4. Các tiêu chí đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (33)
  • 1.3. Hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ở một số quốc gia trên thế giới (36)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC (17)
    • 2.2.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật bảo hộ quyền tác giả đối tác phẩm âm nhạc (47)
    • 2.2.2. Một số điều ƣớc quốc tế điều chỉnh về quyền tác giả (0)
    • 2.3. Thực trạng hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả các tác phẩm âm nhạc từ 2005 đến nay (55)
      • 2.3.1. Hệ thống VBQPPL đã đƣợc ban hành (0)
      • 2.3.2. Những nội dung điều chỉnh chính của hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả các tác phẩm âm nhạc (58)
      • 2.3.3. Đánh giá chung về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ở Việt Nam (66)
    • 2.4. Đánh giá chung về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm âm nhạc (0)
      • 2.4.1. Những kết quả đạt đƣợc (73)
      • 2.4.2. Những hạn chế (75)
      • 2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế (77)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC (39)
    • 3.1. Phương hướng xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (81)
      • 3.1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (81)
      • 3.1.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ............................................................................... 73 3.1.3. Tăng cường các điều kiện bảo đảm xây dựng pháp luật; đổi mới cơ chế (82)
      • 3.1.4. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức (83)
      • 3.1.5. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật (84)
    • 3.2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (85)
      • 3.2.1. Hoàn thiện quy định về sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền tác giả đối với (85)
      • 3.2.2. Hoàn thiện quy định về xử phạt vi phạm hành chính về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN (87)
      • 3.2.3. Hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN (90)
      • 3.2.4. Hoàn thiện quy định về nâng cao năng lực cho công chức quản lý trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN (92)
      • 3.2.5. Tăng cường việc hội nhập của hệ thống VBQPPL Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN với điều ƣớc quốc tế (93)
      • 3.2.6. Hoàn thiện hình thức VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN (94)
      • 3.2.7. Tăng cường công tác rà soát, hệ thống hóa VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối với TPAN (94)
      • 3.2.8. Một số giải pháp khác hoàn thiện hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đối tác phẩm âm nhạc (95)
  • KẾT LUẬN (99)

Nội dung

Khái quát về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Khái niệm quyền tác giả

Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học là sản phẩm sáng tạo của trí tuệ có khả năng dễ dàng phổ biến và khai thác ở nhiều quốc gia, mặc dù khác nhau về địa lý, lịch sử, dân tộc và ngôn ngữ Do đó, việc thiết lập hệ thống bảo hộ quyền tác giả là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của tác giả và chủ sở hữu tác phẩm Quyền tác giả bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các tác phẩm do chính tác giả sáng tạo hoặc sở hữu, và được trao cho hai chủ thể chính là tác giả và chủ sở hữu Chủ thể của quyền tác giả có thể là cá nhân hoặc tổ chức, trong đó cá nhân có thể đóng vai trò là tác giả hoặc chủ sở hữu, hoặc cả hai, còn tổ chức thì có quyền tác giả với tư cách là chủ sở hữu.

Quyền tác giả, hay còn gọi là tác quyền, là quyền độc quyền của tác giả đối với tác phẩm của mình, nhằm bảo vệ các sáng tạo tinh thần mang tính chất văn hóa như bài viết khoa học, văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các tác phẩm luận văn Quyền này đảm bảo quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả, chỉ được công nhận khi sáng tạo là mới, có phần công lao của tác giả và mang tính duy nhất Hiểu đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép và trình diễn bất hợp pháp; ví dụ như tác giả sở hữu quyền độc quyền trong việc công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm âm nhạc của mình Việc sao chép hoặc phổ biến nội dung tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Công ƣớc Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm

Công ước Berne năm 1886 quy định rằng quyền tác giả được bảo hộ bao gồm quyền kinh tế và quyền tinh thần Trong đó, quyền kinh tế mà Công ước Berne dành cho tác giả gồm các quyền như sao chép, phân phối, biểu diễn và truyền phát tác phẩm, nhằm đảm bảo tác giả có quyền kiểm soát việc sử dụng tác phẩm của mình trên thị trường.

- Quyền sao chép và những quyền thuộc quyền này;

- Quyền trình diễn và truyền phát tới công chúng một cuộc trình diễn tác phẩm kịch và âm nhạc;

- Quyền phát sóng hoặc truyền phát tới công chúng bằng bất cứ phương tiện vô tuyến khác;

- Quyền đọc trước công chúng, truyền phát bản đọc tác phẩm văn học tới công chúng;

- Quyền phóng tác, cải biên, chuyển thể;

- Quyền đối với tác phẩm điện ảnh; quyền hưởng lợi ích vật chất trong việc bán lại tác phẩm;

Quyền tác giả là quyền được pháp luật bảo vệ, bao gồm quyền bộc lộ tác phẩm, sao chép và phân phối tác phẩm đến công chúng, theo các cách thức cụ thể Hầu hết luật quyền tác giả các quốc gia phân biệt rõ giữa quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả Các ngoại lệ nhất định được quy định đối với các loại hình tác phẩm đủ tiêu chuẩn bảo hộ và trong việc thực thi quyền của tác giả Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn của Việt Nam quy định rõ quyền nhân thân và quyền tài sản cho tác giả đối với tác phẩm do chính họ sáng tạo ra.

Quyền tác giả là một quyền dân sự, thể hiện qua mối quan hệ pháp luật giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật là đối tượng của quyền tác giả, bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả Nội dung của quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản mà pháp luật quy định cho người sáng tạo hoặc sở hữu tác phẩm Tóm lại, quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản liên quan đến tác phẩm do chính tác giả sáng tạo hoặc sở hữu, được pháp luật bảo hộ để bảo vệ quyền lợi của tác giả và chủ sở hữu.

Khái niệm về tác phẩm âm nhạc

Từ điển Luật học định nghĩa “tác phẩm” là sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học, được thể hiện dưới nhiều hình thức và phương tiện khác nhau Đại từ điển Tiếng Việt cũng ghi nhận rằng tác phẩm không phân biệt nội dung, giá trị hoặc thủ tục pháp lý liên quan Đây là khái niệm bao quát, nhấn mạnh tính sáng tạo và đa dạng của các loại tác phẩm trong đời sống xã hội.

“Tác phẩm” là “công trình do nghệ sĩ, các nhà văn hóa, khoa học tạo nên”

Khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 có định nghĩa: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”

Từ đó, có thể khẳng định rằng “tác phẩm âm nhạc” chính là “sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật.” Đây là một khái niệm quan trọng trong nghiên cứu về nghệ thuật âm nhạc, phản ánh quá trình sáng tạo độc đáo của các nhà soạn nhạc Tác phẩm âm nhạc không chỉ thể hiện kỹ năng nghệ thuật mà còn phản ánh cảm xúc và tư duy sáng tạo của người sáng tác, góp phần nâng cao giá trị văn hóa và nghệ thuật của từng quốc gia.

Tác phẩm âm nhạc là một loại hình tác phẩm nghệ thuật được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm tất cả các kết hợp âm thanh (tổ hợp) có hoặc không có lời, như lời thơ hoặc lời nhạc kịch Tác phẩm này được biểu diễn bằng các nhạc cụ hoặc có thể có giọng hát, mang giá trị sáng tạo và nghệ thuật đặc trưng của lĩnh vực âm nhạc.

Theo từ điển tiếng Anh, tác phẩm âm nhạc (musical work) được hiểu là một tác phẩm chứa đựng nốt nhạc và lời hát (nếu có), thể hiện qua các dạng khác nhau như bản nhạc hoàn chỉnh hoặc các đoạn nhạc ghi trong đĩa nhạc Tác phẩm âm nhạc có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, từ bản nhạc viết tay đến các bản ghi âm trên đĩa nhạc, phản ánh sự đa dạng trong ngành công nghiệp âm nhạc.

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) định nghĩa “tác phẩm âm nhạc” là bất kỳ tác phẩm nào bao gồm âm thanh hoặc chứa các ký tự âm nhạc, kể cả khi không có lời hay hành động biểu diễn Tác phẩm âm nhạc được mô tả là một tác phẩm âm thanh sáng tạo một cách trừu tượng, có thể biểu diễn qua âm thanh ngay cả khi không có lời nào đi kèm.

Theo Điều 2 của Công ước Berne, tác phẩm âm nhạc là một trong những đối tượng được bảo hộ pháp lý, bao gồm cả các bản nhạc có lời và không lời Công ước Berne quy định rõ ràng rằng các tác phẩm văn học nghệ thuật như âm nhạc đều được xem là các tác phẩm có giá trị sáng tạo, nhằm đảm bảo quyền lợi của tác giả trong lĩnh vực này Vì vậy, các bản nhạc phù hợp các tiêu chuẩn của Luật sở hữu trí tuệ để được bảo vệ quyền tác giả một cách đầy đủ và toàn diện.

Theo Điều 12 Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ, tác phẩm âm nhạc được định nghĩa là “tác phẩm được thể hiện dưới dạng nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời”, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn Tuy nhiên, để truyền đạt tới công chúng, tác phẩm âm nhạc thường cần qua giọng hát hoặc nhạc cụ thể, đảm bảo quyền tác giả và quyền liên quan theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Khái niệm về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Tác giả âm nhạc là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm âm nhạc, thể hiện qua các ký hiệu trong bản nhạc, có thể có lời hoặc không, bất kể có trình diễn hay không Nếu tác phẩm âm nhạc là kết quả sáng tạo trực tiếp của một cá nhân, thì cá nhân đó được coi là tác giả của tác phẩm Những người hỗ trợ, đề xuất ý kiến hoặc cung cấp tư liệu để giúp người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả Tác phẩm âm nhạc hợp pháp phải là sản phẩm của sự sáng tạo trực tiếp của tác giả.

Theo từ điển Luật học Việt Nam, "tác giả" được định nghĩa là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Ngoài ra, Điều 8 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Dân sự về quyền tác giả và quyền liên quan.

Người sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học chính là tác giả, bao gồm các trường hợp như cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, cá nhân nước ngoài sáng tạo và thể hiện tác phẩm dưới hình thức vật chất tại Việt Nam, cá nhân nước ngoài có tác phẩm lần đầu tiên công bố tại Việt Nam, và các tác giả nước ngoài được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

1.1.3.2 Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Trong lý luận pháp lý cũng như thực tế, quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là những quyền mà người sáng tạo hoặc chủ sở hữu tác phẩm được hưởng để đảm bảo lợi ích vật chất và tinh thần xứng đáng với công sức bỏ ra Các quyền này nhằm mục đích giúp tác giả kiểm soát độc quyền việc khai thác và sử dụng tác phẩm của mình, đồng thời thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên, quyền độc quyền này không có nghĩa là tác giả có thể ngăn cản mọi hoạt động sử dụng hợp lý tác phẩm của người khác, đảm bảo cân bằng giữa quyền lợi của tác giả và lợi ích cộng đồng.

Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc (hoặc tác quyền âm nhạc) là quyền của tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc sáng tạo tác phẩm đó, bao gồm quyền cho phép khai thác, sử dụng và nhận thù lao Quyền này gồm hai mặt chính: quyền nhân thân, bảo vệ sự toàn vẹn và danh dự của tác giả; và quyền tài sản, đảm bảo lợi ích kinh tế từ việc khai thác tác phẩm Pháp luật quy định rõ ràng rằng quyền tác giả giúp tác giả có quyền tự quyết định việc sử dụng tác phẩm của mình và yêu cầu trả thù lao từ người khác.

Quyền nhân thân gồm hai loại: quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản Quyền nhân thân không gắn với tài sản bảo vệ giá trị nhân thân của tác giả, như danh dự, uy tín và tiếng tăm, và không thể chuyển giao, gồm các quyền đặt tên tác phẩm, quyền đứng tên tác giả, và quyền bảo vệ sự toàn vẹn nội dung của tác phẩm Những quyền này nhằm đảm bảo tác giả kiểm soát và bảo vệ danh dự cũng như giá trị trọn vẹn của tác phẩm, và có thời hạn bảo hộ vô thời hạn sau khi đã chuyển giao Trong khi đó, quyền nhân thân gắn với tài sản cho phép hoặc cấm người khác sử dụng tác phẩm, quyền này có thể được chuyển giao và gắn liền với các quy định về quyền tài sản trong quyền tác giả, nhằm bảo vệ quyền lợi của tác giả trong việc kiểm soát việc sử dụng tác phẩm của mình.

Hiện nay, hoạt động âm nhạc diễn ra sôi động với nhiều cuộc thi tìm kiếm tài năng như Việt Nam Idol, Sao Mai điểm hẹn, The Voice, cùng các dịch vụ âm nhạc phát triển mạnh mẽ như mạng 3G, nhạc chờ điện thoại, nhạc chuông Sự phát triển của đời sống âm nhạc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quyền tác giả, bao gồm quyền sở hữu và quyền sử dụng tác phẩm, góp phần nâng cao đời sống của các tác giả Quá trình hình thành ý tưởng và phát hành tác phẩm âm nhạc đòi hỏi tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả bỏ ra nhiều công sức và chi phí; vì vậy, quyền tài sản đóng vai trò như một phần đền đáp xứng đáng và thúc đẩy sự sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật.

Hiện nay, các quyền của người sáng tạo như nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ đã được pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế bảo vệ, đảm bảo sự công bằng và phát triển bền vững trong lĩnh vực sáng tạo Các nội dung cơ bản về quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đã được quy định thống nhất nhằm điều chỉnh mối quan hệ toàn cầu về quyền sáng tạo Mỗi cá nhân tác giả có trách nhiệm tự quản lý và khai thác các quyền của mình để thu lợi nhuận kinh tế, bù đắp chi phí sáng tạo, đồng thời tiếp tục đầu tư vào hoạt động sáng tạo nhằm tạo ra giá trị văn học, nghệ thuật và khoa học mới phù hợp với nhu cầu đa dạng của xã hội.

Đặc điểm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Việc không sao chép, bắt chước tác phẩm của người khác là quan trọng, nhưng ý tưởng của tác phẩm không nhất thiết phải hoàn toàn mới, mà hình thức thể hiện ý tưởng đó phải do chính tác giả sáng tạo Tác phẩm phải phản ánh công sức lao động trí óc của tác giả, thể hiện tính nguyên gốc nhưng không loại trừ việc kế thừa các yếu tố có sẵn Điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình sáng tạo các bài thơ, luận văn tốt nghiệp hay các tác phẩm nghệ thuật khác, góp phần giữ gìn tính sáng tạo và bản sắc cá nhân của tác giả.

Bài học đầu cho con của tác giả Đỗ Trung Quân đã được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc thành bài hát, mở ra cơ hội chia sẻ thông điệp ý nghĩa đến cộng đồng Cả hai tác giả đều giữ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình, đảm bảo quyền lợi sáng tạo và bản quyền hợp pháp.

Pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng sáng tạo trong tác phẩm, không bảo hộ các ý tưởng sáng tạo chứa đựng trong tác phẩm âm nhạc Hình thức thể hiện sự sáng tạo gồm việc sắp xếp lời trong tác phẩm có lời, cấu trúc của tác phẩm âm nhạc, và các nốt nhạc trong tác phẩm không lời Ý tưởng của tác phẩm âm nhạc được truyền tải thông qua sự sắp xếp và cấu trúc của lời hoặc các nốt nhạc trong bản nhạc.

Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc được bảo hộ mà không phụ thuộc vào nội dung hay giá trị nghệ thuật của tác phẩm Các công ước quốc tế về quyền tác giả và luật sở hữu trí tuệ đều quy định rằng sáng tạo trí tuệ trong việc tạo ra các tác phẩm âm nhạc mang tính nguyên gốc, được vật chất hóa và công nhận là tác phẩm sẽ được pháp luật bảo hộ Do đó, không có yêu cầu về nội dung hoặc giá trị nghệ thuật để một tác phẩm âm nhạc được bảo hộ quyền tác giả.

Các tác phẩm âm nhạc không suy giảm giá trị khi được người khác sử dụng, đây là điểm khác biệt giữa sản phẩm trí tuệ và sản phẩm hiện vật Chính vì vậy, pháp luật quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc nhằm bảo vệ quyền lợi của tác giả và khuyến khích sự sáng tạo nghệ thuật Đồng thời, điều này cũng giúp đảm bảo lợi ích công cộng tối đa trong việc sử dụng và khai thác tác phẩm âm nhạc hợp pháp.

Bốn là, quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc đƣợc bảo hộ tự động

Kết quả của hoạt động sáng tạo ra tác phẩm âm nhạc nguyên gốc và thể hiện dưới dạng vật chất sẽ được công nhận là tác phẩm âm nhạc hợp pháp và được pháp luật về quyền tác giả bảo vệ Thủ tục đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm âm nhạc không bắt buộc, nhưng giúp tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả giảm thiểu nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp tranh chấp hoặc xâm phạm quyền tác giả Việc đăng ký quyền tác giả mang lại lợi ích rõ rệt trong việc bảo vệ quyền lợi của tác giả và xử lý các tranh chấp liên quan đến tác phẩm âm nhạc.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

1.2.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Trong hoạt động quản lý, việc hình thành văn bản là yêu cầu khách quan để ghi lại và truyền đạt quyết định cũng như thông tin quản lý một cách chính xác và rõ ràng Các loại văn bản quản lý được ban hành bởi các chủ thể khác nhau như cơ quan nhà nước, tổ chức doanh nghiệp, tổ chức chính trị và tổ chức xã hội, phù hợp với nội dung và chức năng đặc thù của từng tổ chức Văn bản của cơ quan, tổ chức phản ánh chức năng riêng biệt của mình, đặc biệt là các văn bản quản lý nhà nước, có những đặc thù riêng nhằm đảm bảo tính pháp lý và hiệu quả trong quản lý nhà nước SEO keywords: hình thành văn bản, quản lý nhà nước, quyết định quản lý, văn bản tổ chức, đặc thù văn bản quản lý.

Văn bản vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Dưới dạng viết, văn bản thường là tập hợp các câu liên kết chặt chẽ để tạo thành một chỉnh thể hình thức, giúp diễn đạt nội dung một cách trọn vẹn Mục đích chính của văn bản là phục vụ nhu cầu giao tiếp hiệu quả trong các hoạt động ngôn ngữ hàng ngày.

Trong lĩnh vực hành chính, khái niệm văn bản đề cập đến toàn bộ tài liệu, giấy tờ được hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm phục vụ cho chính quá trình công tác của các đơn vị này Văn bản hành chính đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý và truyền đạt thông tin nội bộ cũng như giữa các tổ chức khác nhau Việc nắm vững khái niệm và vai trò của văn bản giúp nâng cao hiệu quả công việc và đảm bảo tính chính xác, minh bạch trong hoạt động hành chính.

Theo Nghị định số 110/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08 tháng 4 năm 2004 về công tác văn thư, văn bản quản lý nhà nước gồm:

- Văn bản quy phạm pháp luật

- Văn bản hành chính (bao gồm văn bản cá biệt và văn bản hành chính thông thường)

Văn bản chuyên ngành, hay còn gọi là văn bản chuyên môn - kỹ thuật, đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực quản lý nhà nước Trong đó, văn bản quy phạm pháp luật là một loại văn bản quản lý nhà nước có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống các văn bản hành chính Chúng góp phần điều chỉnh các hoạt động, đảm bảo trật tự pháp luật và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam đã được quy định trong các Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), 2008 và 2015 Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản chứa quy phạm pháp luật, được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự và thủ tục theo quy định của luật Tuy nhiên, nếu văn bản chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành đúng các quy trình này thì sẽ không được xem là văn bản quy phạm pháp luật hợp lệ.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành là phương tiện quan trọng để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý, góp phần cụ thể hóa pháp luật và điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi quản lý của Nhà nước Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả tác động của văn bản giúp tăng cường hiệu lực của quản lý nhà nước Đổi mới và nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản là những nội dung trọng yếu trong quá trình cải cách nền hành chính quốc gia hiện nay.

1.2.1.2 Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong hoạt động quản lý, mỗi văn bản phát sinh đều có mục đích và lý do riêng, và chúng không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ chặt chẽ với các văn bản khác, hình thành nên một hệ thống liên kết chặt chẽ Phân tích từng dữ kiện đơn lẻ không đủ để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả; thay vào đó, cần xem xét mối quan hệ giữa các dữ kiện để đưa ra giải pháp phù hợp Trên thực tế, tất cả các yếu tố trong quá trình phát triển đều phụ thuộc lẫn nhau và ảnh hưởng đến nhau, đòi hỏi phải tiếp cận dưới góc độ hệ thống để nhìn nhận, đánh giá và sử dụng văn bản một cách khoa học Áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống trong quản lý giúp nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng văn bản, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Thế giới sự vật và tự nhiên đều mang tính hệ thống, đòi hỏi một cách tiếp cận khoa học để hiểu rõ hơn Tuy nhiên, các hoạt động xã hội do con người tạo ra thường mang tính chủ quan và thiếu hệ thống, gây ra những yếu tố phi hệ thống Việc nghiên cứu hệ thống giúp khắc phục những hạn chế này, nâng cao hiệu quả và khả năng quản lý các hoạt động xã hội một cách khoa học và có hệ thống hơn.

Trong triết học cổ điển, khái niệm hệ thống được hiểu là tính trật tự và thống nhất của các khách thể tự nhiên Hệ thống thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần, tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh Đồng thời, hệ thống còn mang ý nghĩa rằng tổng của hệ thống lớn hơn tổng của tất cả các yếu tố riêng lẻ hợp lại, phản ánh tính toàn diện và tổ chức hợp lý trong tự nhiên.

Hệ thống thể hiện sự thống nhất khách quan, tuân theo các quy luật của các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nó bao gồm hiểu biết về tự nhiên và xã hội, phản ánh sự liên kết và tương tác giữa các thành phần trong phạm vi nghiên cứu Hiểu rõ hệ thống giúp nâng cao nhận thức về cấu trúc và quy luật vận động của các hiện tượng, đồng thời tối ưu hóa quá trình phân tích và giải quyết vấn đề trong nhiều lĩnh vực.

Hệ thống được hiểu là tập hợp các phần tử liên hệ với nhau để tạo thành một thể thống nhất Nó có khả năng thực hiện một số chức năng hoặc đạt được các mục tiêu nhất định Việc xây dựng và quản lý hệ thống đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần.

Hệ thống còn mang ý nghĩa là phương pháp sắp xếp một cách trật tự và có logic Việc xác định hệ thống giúp tổ chức các yếu tố liên quan một cách rõ ràng, hỗ trợ quá trình phân tích và quản lý hiệu quả hơn Trong các nghiên cứu, xây dựng hệ thống là bước quan trọng để đảm bảo tính nhất quán và hợp lý của nội dung và dữ liệu Để tìm hiểu thêm về luận văn thạc sĩ, bạn có thể tải về các luận văn mới nhất qua địa chỉ email: luanvanfull.moi.nhat@gmail.com.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là tập hợp các văn bản liên quan mật thiết với nhau về mọi phương diện, được sắp xếp theo trật tự pháp lý khách quan, logic và khoa học Nó phản ánh một hệ thống chặt chẽ về cấu trúc nội dung và hình thức bên ngoài, phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý nhà nước Các tiểu hệ thống trong hệ thống này có tính chất và mức độ hiệu lực pháp lý khác nhau, đa dạng về phạm vi và nội dung.

Dựa trên các quan niệm chung về lý thuyết hệ thống, việc nghiên cứu các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cần tập trung vào các yếu tố chính như cấu trúc nội dung, mối liên hệ giữa các thành phần và tính thống nhất của hệ thống Những yếu tố này giúp phân tích sự tổ chức và tính logic của các văn bản pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật Việc hiểu rõ các yếu tố này là nền tảng để xây dựng một hệ thống pháp luật rõ ràng, thống nhất và dễ dàng hỗ trợ cho hoạt động thực thi pháp luật một cách hiệu quả.

- Thành phần các văn bản tạo nên hệ thống

- Tính chất liên hệ giữa các văn bản hoặc nhóm văn bản trong hệ thống

- Chức năng của hệ thống văn bản

- Giới hạn phạm vi văn bản liên quan đến hoạt động của cơ quan ban hành

- Cấu trúc nội dung bên trong và hình thức biểu hiện bên ngoài của hệ thống

- Sự phù hợp của hệ thống yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, với môi trường bên ngoài (pháp lý, chính trị, văn hoá, xã hội )

- Tính thứ bậc của hệ thống

Quan hệ giữa hệ thống văn bản này với các hệ thống văn bản khác đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự liên kết và đồng bộ của toàn bộ hệ thống Để xây dựng một hệ thống văn bản hiệu quả, cần thường xuyên rà soát, cập nhật và hệ thống hoá các văn bản hiện có nhằm khắc phục các lỗi thời, mâu thuẫn và những lỗ hổng còn tồn tại Kết quả của công tác này là tạo ra một hệ thống văn bản cân đối, hoàn chỉnh, thống nhất, giúp nội dung phù hợp với yêu cầu của đời sống và có hình thức rõ ràng, dễ hiểu, thuận tiện trong sử dụng.

Phân loại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Các văn bản pháp lý theo tiêu chí thẩm quyền và hình thức bao gồm luật do Quốc hội ban hành, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư của Bộ trưởng các bộ ngành, đảm bảo tính hợp lệ và phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam.

Văn bản về hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả đã được ban hành để đảm bảo thực thi các quy định pháp luật một cách hiệu quả Các quy định này giúp hướng dẫn cụ thể các hành vi bảo hộ quyền tác giả, từ đó nâng cao ý thức pháp luật và bảo vệ quyền lợi của tác giả Thông qua việc cập nhật và thực hiện các nội dung trong VBQPPL, tổ chức, cá nhân nắm rõ các quy định liên quan nhằm đảm bảo quyền tác giả được tôn trọng và bảo vệ tốt hơn.

Bộ luật Dân sự; về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật

Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.

Vai trò của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Các văn bản pháp luật được phân loại dựa trên tiêu chí thẩm quyền và hình thức, trong đó có các loại như luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng và Thông tư của Bộ trưởng, đảm bảo tính pháp lý và rõ ràng trong hoạt động quản lý nhà nước.

Văn bản hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả là phần quan trọng trong việc thực thi các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả Nội dung này giúp đảm bảo các quy định về quyền tác giả được áp dụng đúng theo pháp luật, góp phần thúc đẩy sáng tạo và bảo vệ quyền lợi của các tác giả và chủ sở hữu tác phẩm Việc cập nhật và tuân thủ các hướng dẫn này là cần thiết để thực thi hiệu quả các quy định liên quan đến quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

Bộ luật Dân sự; về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật

Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

1.2.3 Vai trò của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

1.2.3.1 Văn bản quản lý nhà nước đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý nhà nước

Hoạt động quản lý nhà nước phần lớn được đảm bảo thông tin bởi hệ thống văn bản quản lý Đó là các thông tin về:

- Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước liên quan đến mục tiêu và phương hướng hoạt động lâu dài của cơ quan, đơn vị

- Nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động cụ thể của từng cơ quan, đơn vị luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- Phương thức hoạt động, quan hệ công tác giữa các cơ quan, các đơn vị với nhau

- Tình hình đối tƣợng bị quản lý; sự biến động của cơ quan, đơn vị; chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, đơn vị

- Các kết quả đạt đƣợc trong quá trình quản lý, v.v

1.2.3.2 Văn bản là phương tiện truyền đạt các quyết định quản lý

Các quyết định hành chính thường được thể chế hóa thành các văn bản mang tính quyền lực nhà nước để truyền đạt hiệu quả Việc truyền đạt quyết định quản lý cần nhanh chóng, chính xác, đúng đối tượng và rõ ràng để đảm bảo người bị quản lý hiểu rõ nhiệm vụ, ý đồ của lãnh đạo và có thể phát huy sáng tạo trong thực hiện Truyền đạt chậm trễ, nửa vời hoặc thiếu rõ ràng ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực thi quyết định, gây khó khăn trong việc biến quyết định thành hiện thực Hệ thống văn bản quản lý nhà nước đóng vai trò cốt lõi trong việc truyền đạt quyết định một cách tin cậy, khoa học và có hiệu quả cao.

Việc truyền đạt quyết định quản lý và sử dụng văn bản vào nhiệm vụ là một yếu tố quan trọng trong việc tổ chức lao động quản lý một cách khoa học Tổ chức tốt giúp nâng cao năng suất lao động, trong khi tổ chức không khoa học có thể hạn chế hiệu quả làm việc của người quản lý và cơ quan Văn bản góp phần tạo ra các mối quan hệ tổ chức trong các cơ quan, đơn vị, hướng hoạt động của thành viên vào mục tiêu quản lý cụ thể Tuy nhiên, vấn đề then chốt là làm thế nào để hệ thống văn bản được tổ chức khoa học, tránh lạm dụng, phát huy tối đa các vai trò, chức năng và nhiệm vụ của nó Đây chính là yếu tố về phương pháp tổ chức và sử dụng văn bản một cách hiệu quả.

1.2.3.3 Văn bản là phương tiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý

Kiểm tra có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước, giúp đảm bảo các nghị quyết, chỉ thị, quyết định quản lý được thực hiện hiệu quả Không có kiểm tra, theo dõi thường xuyên, thiết thực và chặt chẽ, các nguyên tắc quản lý chỉ là lý thuyết suông Kiểm soát và kiểm tra công tác điều hành là phương tiện hiệu quả thúc đẩy các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, và xã hội hoạt động tích cực và hiệu quả.

Kiểm tra là một trong những biện pháp nâng cao trình độ tổ chức trong công tác của các cơ quan thuộc bộ máy quản lý nhà nước hiện nay Công tác này dựa vào hệ thống văn bản quản lý nhà nước như một công cụ quan trọng để theo dõi hoạt động của các cơ quan quản lý Để phát huy hiệu quả của hệ thống văn bản, việc tổ chức kiểm tra cần được thực hiện một cách khoa học và bài bản Việc kiểm tra qua văn bản giúp đánh giá chính xác tình hình xuất hiện và nội dung các văn bản, cũng như mức độ hoàn thiện của chúng trong thực tế Nếu tổ chức tốt, phương pháp kiểm tra công việc qua văn bản sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Việc kiểm tra hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý phụ thuộc vào hệ thống văn bản phù hợp, đảm bảo phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng bộ phận và cán bộ trong các đơn vị quản lý Nếu phân công nhiệm vụ thiếu rõ ràng hoặc không khoa học, việc kiểm tra sẽ không mang lại kết quả chính xác Do đó, xác định trách nhiệm cụ thể và hệ thống hóa văn bản là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm tra hoạt động của bộ máy lãnh đạo.

1.2.3.4 Văn bản là công cụ xây dựng hệ thống pháp luật

Hệ thống pháp luật hành chính đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lực của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính Mục đích xây dựng hệ thống pháp luật này là để thiết lập cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất, giúp các cơ quan hành chính nhà nước và công dân hoạt động theo các chuẩn mực pháp lý phù hợp Điều này đảm bảo sự phân chia quyền hạn rõ ràng, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy trật tự pháp luật trong xã hội.

Các hệ thống văn bản quản lý nhà nước phản ánh rõ ràng sự phân chia quyền hành trong quản lý hành chính nhà nước, đồng thời cụ thể hóa các luật lệ hiện hành và hướng dẫn thực hiện chúng Đây là công cụ quan trọng giúp đảm bảo sự thực thi hiệu quả các quy định pháp luật, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật chặt chẽ và thống nhất.

Khi xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước, cần chú trọng đảm bảo yêu cầu về nội dung phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan theo quy định của luật Việc soạn thảo các văn bản phải đảm bảo hình thức đúng quy chuẩn để các văn bản có giá trị điều hành thực tế, không chỉ mang tính hình thức Chỉ khi đáp ứng các nguyên tắc này, các văn bản mới có hiệu lực pháp lý và đảm bảo quyền uy của cơ quan nhà nước trong việc thực thi nhiệm vụ.

Văn bản quản lý nhà nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng và định hình chế độ pháp lý cần thiết để xem xét các hành vi hành chính trong quá trình hoạt động của các cơ quan Nó là nền tảng quan trọng giúp giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các cơ quan, đơn vị và cá nhân, đồng thời điều chỉnh các quan hệ pháp lý trong lĩnh vực quản lý hành chính Ngoài ra, văn bản này còn là cơ sở cốt lõi để thiết lập cơ chế kiểm soát tính hợp pháp của các hành vi hành chính, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước một cách bền vững.

Các tiêu chí đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Việc đánh giá hệ thống văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan nhằm các mục đích:

- Lựa chọn phương án tối ưu để thể hiện nội dung và hình thức cho văn bản trước khi ban hành

Việc phát hiện các sai sót, mâu thuẫn, chồng chéo và bất hợp lý trong văn bản trước khi ban hành cũng như sau khi ban hành là rất quan trọng Điều này giúp kịp thời chỉnh sửa, đảm bảo nâng cao chất lượng và tính chính xác của văn bản, góp phần thúc đẩy hiệu quả công tác quản lý và pháp chế.

Xem xét khả năng và yêu cầu sử dụng văn bản trong công việc thực tế để đảm bảo có một chủ trương đúng đắn trong cách xử lý văn bản Việc này giúp nâng cao hiệu quả công việc, đảm bảo tính chính xác và hợp pháp của các văn bản được sử dụng trong hoạt động hàng ngày Chọn lọc và sử dụng văn bản phù hợp với từng tình huống sẽ góp phần tăng cường quản lý và thúc đẩy hiệu quả công tác.

Trong quá trình quản lý hồ sơ công tác, việc lưu trữ hiện hành tại cơ quan và lưu trữ lịch sử đóng vai trò quan trọng để đảm bảo an toàn và truy xuất dễ dàng các tài liệu quan trọng Khi đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng để đảm bảo tính hợp lệ, tính khả thi, tính phù hợp và khả năng cập nhật liên tục của hệ thống văn bản đó Việc rà soát và đánh giá đúng tiêu chuẩn giúp nâng cao hiệu quả trong công tác lưu trữ hồ sơ, phục vụ công tác quản lý nhà nước và hỗ trợ các hoạt động xử lý hồ sơ, tài liệu trong tổ chức.

- Tính thống nhất về nội dung giữa các văn bản trong hệ thống

Các văn bản trong cùng hệ thống pháp luật phải thống nhất, phù hợp với Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn, cũng như phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, tránh mâu thuẫn và chồng chéo Quy trình ban hành văn bản này cần đảm bảo mọi đối tượng trong xã hội, đặc biệt là các đối tượng chịu tác động, có thể tiếp cận chính sách, quy định sắp áp dụng và có ý kiến phản hồi, đồng thời phải qua quá trình xem xét, giám sát, thẩm định của các cơ quan có thẩm quyền theo trình tự thủ tục rõ ràng Để đảm bảo tính hệ thống, các văn bản quy phạm pháp luật phải thể hiện sự thống nhất, đồng bộ, minh bạch, không mâu thuẫn hoặc chồng chéo với các văn bản của cơ quan cấp trên, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và khả thi Ngoài ra, việc ban hành các văn bản này còn phải tuân thủ các quy định về hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, các quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và các cơ quan cấp trên, đồng thời bảo đảm tính công khai, dân chủ trong quá trình lấy ý kiến, phản hồi của cá nhân, tổ chức, góp phần thúc đẩy các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và không cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

- Tính thống nhất về hình thức giữa các văn bản trong hệ thống

Các văn bản thuộc cùng hệ thống có nội dung và chủ thể tương tự nhau cần có hình thức tên loại giống nhau để đảm bảo tính nhất quán và dễ dàng nhận diện Việc này giúp hệ thống tài liệu trở nên rõ ràng, dễ quản lý và phù hợp với các quy định về chuẩn hóa tài liệu Tuân thủ quy tắc đặt tên loại thống nhất cũng hỗ trợ công tác tra cứu và phân loại thông tin hiệu quả hơn.

Việc xác định chính xác tính chất nội dung của văn bản sẽ giúp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành xác định rõ trình tự, thủ tục phù hợp để ban hành văn bản Nội dung cần làm rõ thế nào là tính bắt buộc chung và cơ chế áp dụng các quy tắc xử sự chung này, trong đó xem xét đến tần suất áp dụng và đối tượng áp dụng văn bản Điều này đảm bảo tính hợp lý, rõ ràng và phù hợp trong quá trình ban hành cũng như thực thi văn bản hành chính.

Quy tắc xử sự chung phải được áp dụng nhiều lần và có tính chất lặp đi lặp lại; nếu văn bản chỉ ban hành để áp dụng một lần thì không thuộc phạm vi của văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Ngoài ra, các quy tắc này được áp dụng cho tất cả các đối tượng trong phạm vi xác định của từng loại văn bản, với đối tượng là giả định, trừu tượng, không chỉ đích danh ai hoặc cơ quan, tổ chức cụ thể Do đó, bất kỳ ai, cơ quan hoặc tổ chức nào khi tham gia vào mối quan hệ xã hội đều phải tuân thủ quy tắc xử sự chung này.

- Khả năng phản ánh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị đã tạo nên hệ thống văn bản

Văn bản trong cùng hệ thống cần có vị trí rõ ràng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Đối với các văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ ban hành, cần có hướng dẫn triển khai và thi hành pháp luật của cơ quan cấp trên để đảm bảo thực thi trên thực tế Pháp luật quy định rõ các loại văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương có hiệu lực trên toàn quốc, áp dụng cho mọi tổ chức và cá nhân, trừ trường hợp quy định khác hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Các văn bản này nhằm quản lý nhà nước trong ngành, lĩnh vực do Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ban hành, có hiệu lực toàn quốc.

- Khả năng hỗ trợ thông tin giữa các văn bản cùng hệ thống và giữa các hệ thống văn bản

Văn bản trong cùng hệ thống phải có tính chất tương hỗ về thông tin nhằm đạt được mục tiêu ban hành và mục tiêu quản lý VBQPPL do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành, phù hợp với từng cơ quan, chức danh trong bộ máy nhà nước để phục vụ hoạt động quản lý nhà nước Các văn bản này hỗ trợ, cung cấp thông tin cho nhau và giữa các hệ thống văn bản, đảm bảo tính thống nhất khoa học từ trung ương đến địa phương, tránh chồng lắp thông tin.

Theo quy định của pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền được ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) dưới các hình thức như Luật, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Thông tư trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước Cụ thể, Quốc hội có thẩm quyền ban hành Luật, trong khi Chính phủ thực hiện chức năng ban hành Nghị định để quy định các vấn đề chi tiết, phù hợp với nội dung của các văn bản luật đã được ban hành, đảm bảo tính hợp pháp và thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có quyền ban hành Thông tư phù hợp với thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật Thỏa thuận hợp tác liên tịch giữa các cơ quan như Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chỉ được phép thực hiện trong phạm vi nội dung phù hợp với thẩm quyền đã được pháp luật phân định Các cơ quan, người có thẩm quyền chỉ ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mình, dựa trên quy định pháp luật hoặc theo phân công, phân cấp rõ ràng để đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước.

THỰC TRẠNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

Một số điều ƣớc quốc tế điều chỉnh về quyền tác giả

THỰC TRẠNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI

2.1 Tình hình vi phạm bản quyền tác giả âm nhạc

Trước năm 1946, Việt Nam chưa xác định rõ vai trò của tài sản trí tuệ và bảo hộ quyền tác giả trong phát triển kinh tế thị trường Ngay từ Hiến pháp 1946, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận các quyền liên quan đến quyền tác giả như quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, đồng thời cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức và tôn trọng quyền tư hữu tư nhân về tài sản Những tư tưởng lập pháp này tiếp tục được thể hiện qua các Hiến pháp năm 1959, 1980 và 2013, phản ánh sự tiến bộ về nhận thức và chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Năm 1986, Việt Nam đã ban hành Nghị định số 142/HĐBT ngày 14 tháng 11, giới thiệu văn bản riêng về quyền tác giả với các quy định cơ bản, do hãng VAB – tiền thân của cơ quan bảo hộ quyền tác giả Liên Xô – hỗ trợ Đến năm 1994, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa IX đã thông qua Pháp lệnh về quyền tác giả nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sáng tạo và bảo vệ quyền lợi tác giả Năm 1995, Quốc hội Việt Nam tiếp tục ban hành Bộ Luật Dân sự, trong đó quy định rõ quyền tác giả tại Chương I, Phần thứ 6, phù hợp với quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Việc ra đời của Bộ Luật Dân sự Việt Nam đã đánh dấu một bước tiến lớn trong hoạt động lập pháp lĩnh vực quyền tác giả, với sự hỗ trợ của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) Bộ luật này tiếp thu các giá trị tiến bộ từ các văn bản pháp luật quốc tế đã được thử nghiệm thực tiễn, phù hợp với các tiêu chuẩn chung của thế giới, đồng thời phản ánh xu hướng phát triển quyền tác giả tại Việt Nam So sánh với các quốc gia phát triển, hệ thống bảo vệ quyền tác giả của Việt Nam còn muộn hơn, trong khi các nước như Anh, Mỹ đã xây dựng hệ thống luật sở hữu trí tuệ từ sớm, như Đạo luật Nữ hoàng Anne năm 1709 và các hệ thống luật sao chép, luật Lục địa về quyền tác giả và các quyền nhân thân của tác giả.

Khi mà năm 1886 các nước đã ký các Công ước quốc tế, thì ở Việt Nam mãi đến năm 1986 chỉ có Nghị định số 142/HĐBT đã đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển lĩnh vực quyền tác giả, trong đó có hệ thống quản lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả Tuy ở mức độ sơ khai, đơn giản nhưng hoạt động quản lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả được đề cập trong nghị định này và các văn bản hướng dẫn thi hành nghị định sau đó Năm 1994, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả và năm 1995 Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự trong đó có chương I phần thứ 6 điều chỉnh về quyền tác giả Về tổng thể, các nguyên tắc và quy định cơ bản về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự đã thiết lập hoặc làm cơ sở để thiết lập một hệ thống phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, dựa trên công ƣớc Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, người ghi âm và tổ chức phát sóng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 2 1 Một số vụ vi phạm bản quyền âm nhạc giai đoạn 1986-2017

STT Hình thức vi phạm

2017 Lệch Tỷ lệ % Lệch Tỷ lệ

Xâm phạm quyền nhân thân không gắn tài sản

Xâm phạm quyền nhân thân gắn với tài sản

Xâm phạm quyền tài sản -sao chép tác phẩm

Xâm phạm quyền tài sản -tác phẩm phái sinh

(Nguồn:Báo cáo tổng kết Sở thông tin và truyền thông Hà Nội, 2017)

Qua bảng 2.1 ta có nhận xét: Việc vi phạm bản quyền tác phẩm âm nhạc đã tăng rất nhanh trong những năm giai đoạn 1994-2005 và 2005-2017, đây cũng chính là giai đoạn mà CNTT phát triển với việc phát triển nhiều loại hình về băng đĩa nhạc và là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền âm nhạc trong nước với nhiều loại hình tác phẩm Số vụ vi phạm quyền tác giả tác phẩm âm nhạc giai đoạn 1986 – 1990 là 151 vụ đến giai đoạn 1990-1994 đã là 186 vụ tăng 35 vụ tương ứng tăng là 23% so giai đoạn trước Đến giai đoạn 1994-

Năm 2005, số vụ vi phạm tăng cao với 214 vụ, tăng 115% so với giai đoạn trước, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của thị trường âm nhạc trong nước Sự du nhập của nhiều dòng nhạc quốc tế đã góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng này, đồng thời làm tăng các vụ vi phạm liên quan đến bản quyền âm nhạc tại Việt Nam.

Từ năm 2005 đến 2017 đánh dấu giai đoạn phát triển mạnh mẽ của nền âm nhạc Việt Nam với sự xuất hiện của nhiều tác giả, tác phẩm và thể loại nhạc đa dạng, nổi bật là sự bùng nổ của công nghệ thông tin và nhạc số Trong giai đoạn này, số vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến âm nhạc tăng thêm 128 vụ so với kỳ trước, tương ứng mức tăng 32%, mặc dù đã có luật về sở hữu trí tuệ và tác phẩm âm nhạc Tuy nhiên, việc thực thi các quy định và xử phạt vi phạm vẫn còn hạn chế, góp phần làm tăng tình trạng vi phạm trong ngành công nghiệp âm nhạc.

Hiện nay, hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền của chủ sở hữu trong lĩnh vực âm nhạc ngày càng phổ biến, nhiều hành vi tinh vi và công khai trên các phương tiện truyền thông gây thiệt hại cả về vật chất lẫn tinh thần cho các tác giả và tổ chức sở hữu Theo pháp luật, quyền tác giả gồm hai yếu tố chính: quyền nhân thân, thể hiện các quyền về tinh thần gắn liền với bản thân tác giả, và quyền tài sản, mang tính lợi ích vật chất mà tác giả có thể chuyển giao cho người khác.

Bảng 2 2 Tỷ trọng hình thức vi phạm quyền tác giả tác phẩm âm nhạc 1986-2017

STT Hình thức vi phạm

Xâm phạm quyền nhân thân không gắn tài sản

Xâm phạm quyền nhân thân gắn với tài sản

Xâm phạm quyền tài sản -sao chép tác phẩm

Xâm phạm quyền tài sản -tác phẩm phái sinh

(Nguồn:Báo cáo tổng kết Sở thông tin và truyền thông Hà Nội, 2017)

Hành vi xâm phạm quyền tác giả chủ yếu liên quan đến việc xâm phạm quyền nhân thân, danh dự và uy tín của tác giả Các hành vi này bao gồm việc xâm phạm quyền quyết định đối với tác phẩm và đã được pháp luật về sở hữu trí tuệ bảo hộ Đối tượng bị xem xét là những hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ do người thực hiện không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc người được phép theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Tại Việt Nam, trong lĩnh vực âm nhạc, các hành vi xâm phạm phổ biến nhất là xâm phạm quyền nhân thân không liên quan đến tài sản và xâm phạm quyền nhân thân gắn liền với tài sản.

Trong giai đoạn 1986-1990, tỷ lệ các vụ vi phạm quyền tác giả tác phẩm âm nhạc chiếm tỷ trọng cao nhất là hình thức xâm phạm quyền tài sản, cụ thể là sao chép tác phẩm, với 65 vụ vi phạm chiếm 43% Tiếp đó, xâm phạm quyền tài sản về tác phẩm phái sinh chiếm 28% tương ứng 42 vụ Xâm phạm quyền nhân thân gắn với tài sản chiếm 21%, trong khi xâm phạm quyền nhân thân không gắn với tài sản chiếm 12%.

Hành vi xâm phạm quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản, bao gồm việc công bố và phân phối tác phẩm khi không có sự cho phép của tác giả Tác giả có quyền chuyển giao quyền này cho người khác, do đó các tổ chức, cá nhân muốn công bố hoặc phân phối tác phẩm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền nhuận bút Việc không tuân thủ các quy định này là hành vi vi phạm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả.

Trong giai đoạn 1990-1994, vi phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất, với 85 vụ, tăng 20 vụ so với giai đoạn trước, chiếm 46% tổng số vụ vi phạm Các vi phạm về xâm phạm quyền tài sản liên quan đến tác phẩm phái sinh cũng đáng chú ý, với 48 vụ, chiếm tỷ lệ 26%, phản ánh tình hình vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan trong giai đoạn này tăng cao.

Hành vi vi phạm quyền nhân thân gắn với tài sản thường liên quan đến việc công bố hoặc phân phối tác phẩm khi chưa có sự đồng ý của tác giả, đôi khi không trả nhuận bút sau khi công bố Không chỉ các tổ chức hay cá nhân vi phạm bằng cách công bố trái phép mà ngay cả chính tác giả trong một tác phẩm cũng có thể vô tình hoặc cố ý vi phạm quyền của các đồng tác giả khi không xác định rõ phần của từng người hoặc vượt quá phần đã đồng ý chia sẻ mà không thông báo cho các đồng tác giả khác Hiện tượng này xảy ra đặc biệt trong các tác phẩm đồng tác giả, khi các tác giả không rõ ràng về phần của từng người hoặc sử dụng phần của tác phẩm vượt quá giới hạn cho phép mà không có sự phối hợp hoặc thông báo.

Trong giai đoạn 2005-2017, vi phạm xâm phạm quyền tài sản, đặc biệt là sao chép tác phẩm, vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất với 216 vụ, tăng 50 vụ so với giai đoạn 1994-2005 Trong đó, tỷ lệ các vụ vi phạm này chiếm 41% tổng số các vụ vi phạm trong khoảng thời gian này Tiếp theo là vi phạm về xâm phạm quyền tài sản – tác phẩm phái sinh, với 198 vụ chiếm 38%, phản ánh mức độ phổ biến của các hành vi này Ngoài ra, vi phạm về xâm phạm quyền nhân thân gắn với tài sản chiếm 56 vụ, tỷ lệ 10%, cho thấy các hành vi liên quan đến quyền nhân thân vẫn còn đáng chú ý trong các vụ vi phạm về sở hữu trí tuệ.

Các hành vi xâm phạm quyền nhân thân không gắn với tài sản bao gồm việc chiếm đoạt quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, cũng như mạo danh tác giả, hoặc sửa chữa, cắt xén và xuyên tạc tác phẩm dưới mọi hình thức Những hành động này gây tổn hại đến danh dự, uy tín của tác giả và vi phạm quyền nhân thân của họ.

Ví dụ Nhạc sĩ Đông Phương Thắng mạo danh nhạc sĩ Hoàng Đinh Hùng tự nhận là tác giả ca khúc “Nhật Ký Cho Em (Single)”

Thực trạng hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả các tác phẩm âm nhạc từ 2005 đến nay

2.3.1 Hệ thống VBQPPL đã được ban hành 2.3.1.1 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, đã được chỉnh sửa bổ sung năm 2009, là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Ngoài ra, Việt Nam đã ký kết các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ và quyền tác giả, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này Năm 1987, Bộ Văn hóa Thông tin thành lập “Hãng bảo hộ quyền tác giả Việt Nam,” tiền thân của Cục Bản quyền tác giả thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày nay, nhằm bảo vệ quyền lợi của tác giả và nhà sáng tạo nội dung.

Năm 1994, Việt Nam ban hành Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả do Hội đồng Nhà nước ban hành, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Năm 1995, Chủ tịch Trần Đức Lương ký lệnh công bố Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó có chương nổi bật quy định về quyền tác giả, làm rõ các quyền cơ bản của tác giả đối với tác phẩm của mình Đến năm 2005, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền tác giả bằng việc xây dựng và ban hành Luật sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan, nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Sở hữu trí tuệ được hình thành và chỉnh sửa lần cuối năm 2009 để phù hợp với Công ước Berne, Công ước quốc tế quy định về sở hữu trí tuệ và quyền tác giả, trong khi Việt Nam gia nhập vào năm 2004 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định rõ việc tổ chức, cá nhân sử dụng ghi âm, ghi hình đã công bố cho mục đích thương mại phải trả phí tác quyền cho nhạc sĩ, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi Không chỉ hoạt động kinh doanh trên Internet mà các lĩnh vực như nhà hàng, khách sạn, siêu thị, dịch vụ bưu chính, viễn thông, du lịch, hàng không, và giao thông công cộng đều có nghĩa vụ trả phí tác quyền khi sử dụng bản ghi âm, theo quy định tại Điều 35 Nghị định 100/2006 Việc thu phí bản quyền do Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam (VCPMC), Hội Bảo vệ Quyền của Nghệ sĩ Biểu diễn Âm nhạc Việt Nam (APPA) và Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam (RIAV) đảm trách, đại diện theo ủy quyền của các nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi.

2.3.1.2 Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản Văn hoá, Luật Điện ảnh

Các luật như Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản Văn hóa, Luật Điện ảnh và Pháp lệnh Quảng cáo đều quy định rõ về quyền tác giả nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong các lĩnh vực đặc biệt quan trọng Ngoài ra, Luật Hải quan cũng đưa ra các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, góp phần bảo vệ quyền lợi của tác giả và các chủ sở hữu trí tuệ.

Theo Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009, điều 170a quy định mức phạt tối đa là 200 triệu đồng và 3 năm tù giam đối với các hành vi vi phạm quyền tác giả Ngoài ra, các văn bản pháp luật khác như Luật Hải quan 2005, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, Luật Điện ảnh 2006, Luật công nghệ thông tin 2006, Luật chuyển giao công nghệ 2006 và Luật Đầu tư 2005 cũng góp phần quy định các hình phạt và xử lý các vi phạm liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ và quyền tác giả Những quy định này nhằm tăng cường công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm để đảm bảo hài hòa lợi ích của các tác giả, nhà sáng tạo và các bên liên quan.

Thông tư số 27/2001/TT-BVHTT do Bộ Văn hóa-Thông tin ban hành hướng dẫn thực hiện quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của tác giả và thúc đẩy hoạt động sáng tạo Văn bản này cụ thể hoá các quy định của Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 và Nghị định số 60/CP ngày 6/6/1997 của Chính phủ về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan Việc thực hiện Thông tư giúp nâng cao nhận thức về quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các hoạt động liên quan đến tác phẩm sáng tạo.

Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, cũng như Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17 tháng 10 năm 2006, góp phần thúc đẩy việc thực thi các quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị về việc tăng cường công tác bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, thể hiện rõ quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ trong chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Chính sách này đi kèm với các văn bản và hoạt động nhằm nâng cao nhận thức và thực thi quyền tác giả, góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường sáng tạo và giải trí trong nước Việc ban hành chỉ thị này là minh chứng rõ nét nhất cho cam kết của Chính phủ trong việc bảo vệ quyền lợi của các tác giả và các bên liên quan trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan.

Nghị định 47/2009/NĐ-CP và Nghị định số 131/2013/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 16/10/2013, gồm 4 chương và 43 điều chỉnh sửa đổi về hành vi vi phạm, mức xử phạt, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả nhằm phù hợp với quy định mới của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, đảm bảo tính giáo dục và tính răn đe Việc thi hành nghị định với tinh thần trách nhiệm cao và nghiêm minh của các cơ quan là yếu tố then chốt trong công tác xử lý vi phạm Trước đó, Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ký ngày 20/9/2011 đã sửa đổi và bổ sung một số nội dung của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ liên quan đến quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực từ ngày 10/11/2011.

Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2012 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định liên quan đến thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27 tháng 02 năm 2012, đồng thời mở rộng thẩm quyền từ trung ương đến các cấp địa phương Đây là nguồn tài liệu quan trọng cho các nghiên cứu về thủ tục hành chính và chính sách trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch.

2.3.2 Những nội dung điều chỉnh chính của hệ thống VBQPPL về bảo hộ quyền tác giả các tác phẩm âm nhạc

2.3.2.1 Những nội dung điều chỉnh hệ thống VBQPPL

Luật Sở hữu trí tuệ là hệ thống quy định rõ ràng về quyền tác giả nhằm bảo hộ, khai thác sử dụng và quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy sáng tạo và bảo vệ quyền lợi của tác giả Các quy định bao gồm điều kiện và đối tượng bảo hộ theo Điều 13-15, nội dung, giới hạn và thời hạn bảo hộ từ Điều 18-27, cùng với các hành vi xâm phạm quyền tác giả theo Điều 28 Luật còn quy định về quyền của chủ sở hữu quyền tác giả (Điều 36-42), chuyển nhượng quyền tác giả (Điều 45-46), chuyển quyền sử dụng quyền tác giả (Điều 47-48), đăng ký quyền tác giả (Điều 50-55), tổ chức đại diện tập thể, tư vấn và dịch vụ quyền tác giả (Điều 56), cũng như các biện pháp bảo vệ hoặc thực thi quyền tác giả trong phần thứ năm của luật này.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền tác giả đối với tác phẩm được bảo hộ tự động ngay từ thời điểm sáng tạo, đảm bảo quyền lợi cho tác giả từ khi hoàn thành tác phẩm Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 6 của Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013, ca khúc của quý khách sẽ được pháp luật bảo hộ ngay khi quý khách sáng tác ra nó, không cần phải đăng ký hoặc thực hiện thủ tục gì thêm Chính sách bảo vệ này nhằm khẳng định quyền sở hữu và quyền tác giả của tác giả đối với tác phẩm âm nhạc của mình.

“Điều 6 Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ:

1 Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm đƣợc sáng tạo và đƣợc thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chƣa đăng ký.”

Quý khách vừa sáng tác ca khúc X và sử dụng thời gian, tài chính, cũng như cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để tạo ra tác phẩm Theo quy định tại Điều 37 của Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm, quý khách là tác giả và đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả của ca khúc này.

Năm 2013, khách hàng được hưởng các quyền nhân thân và tài sản theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH Các quyền này đảm bảo quyền lợi pháp lý của khách hàng đối với các vấn đề về nhân thân và tài sản, theo đúng quy định của pháp luật Để nắm rõ hơn về các quy định này, bạn có thể tải luận văn tốt nghiệp mới nhất qua địa chỉ email z z @gmail.com hoặc truy cập vào các nguồn tài liệu uy tín về luật để hiểu rõ hơn về các nội dung liên quan.

“Điều 19 Quyền nhân thân Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

1 Đặt tên cho tác phẩm

2 Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; đƣợc nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm đƣợc công bố, sử dụng

3 Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

Ngày đăng: 31/07/2023, 20:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật dân sự năm 2005, số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 2. Bộ luật Dân sự 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự năm 2005
Năm: 2005
4. Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999, đƣợc sửa đổi bổ sung bởi Luật số 37/2009/QH12 ngày 19 tháng 06 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10
Năm: 1999
6. Bùi Nguyên Hùng (2009), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan ở nước ta hiện nay (Chuyên đề số 6, Đề tài NCKH về tài sản ảo, Uỷ ban Kinh tế Quốc hội, 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề số 6, Đề tài NCKH về tài sản ảo
Tác giả: Bùi Nguyên Hùng
Nhà XB: Uỷ ban Kinh tế Quốc hội
Năm: 2009
8. Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 31/12/2008 về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả vả quyền liên quan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 31/12/2008 về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2008
11. Công ƣớc Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886 (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ƣớc Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886
Năm: 2004
10. Chu Mạnh Quân, Ca khúc độc quyền bị xâm phạm, http://m.tuanvietnam.net/2013/07/tai-sao-ca-khuc-doc-quyen-hay-bi-xam-pham- quyen/ Link
7. Chỉ thị số 04/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22/02/2007 về việc tăng cường bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính Khác
12. Công ước Brussel liên quan đến việc phân phối các tín hiệu mang chương trình đƣợc truyền qua vệ tinh (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 12/01/2006)luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1. Một số vụ vi phạm bản quyền âm nhạc giai đoạn 1986-2017 - (Luận văn) hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc
Bảng 2. 1. Một số vụ vi phạm bản quyền âm nhạc giai đoạn 1986-2017 (Trang 41)
Bảng 2. 2. Tỷ trọng hình thức vi phạm quyền tác giả tác phẩm - (Luận văn) hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc
Bảng 2. 2. Tỷ trọng hình thức vi phạm quyền tác giả tác phẩm (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w