Các nhân tố xã hội, kinh tế và kỹ thuật tác động đến việc trồng cây thức ăn xanh, thu gom chế biến, dự trữ và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong hệ thống chăn nuôi trang trại và nông hộ ở vùng sinh thá
Trang 1CÁC NHÂN TỐ XÃ HỘI, KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TRỒNG CÂY THỨC ĂN XANH, THU GOM CHẾ BIẾN, DỰ TRỮ VÀ SỬ DỤNG PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP TRONG HỆ THỐNG CHĂN NUÔI TRANG TRẠI VÀ NÔNG HỘ Ở 2
VÙNG SINH THÁI: MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC Đinh Xuân Tùng, Hàn Anh Tuấn, Đỗ Văn Đức, Nguyễn Đăng Thanh
Bộ môn Kinh tế - Môi trường và Hệ thống Chăn nuôi
Tóm tắt
Sự đánh giá dựa theo bảng câu hỏi được tiến hành ở các trang trại chăn nuôi vùng núi phía Bắc và Đông Nam Bộ nhằm nghiên cứu tính chất của các trang trại có áp dụng tiến bộ kỹ thuật và các trang trại không áp dụng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về trồng trọt, bảo quản và chế biến thức ăn chăn nuôi Tổng số 120 trang trại đã được đến thăm và phỏng vấn
Kết quả chỉ ra rằng khoảng 5 trên 10 kỹ thuật về thức ăn gia súc được áp dụng bởi người dân Việc trồng cỏ voi được áp dụng nhiều nhất Kết quả cho thấy có rất nhiều yếu tổ tác động đến việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất chế biển cỏ và thức ăn: trình độ học vấn của chủ hộ, lao động, diện tích đất, qui mô đàn gia súc, mức thu nhập từ chăn nuôi và nguồn và thông tin về các tiến bộ kỹ thuật về thức ăn chăn nuôi
Các phát hiện chỉ ra rằng muốn tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật về trồng trọt, bảo quản và chế biến thức ăn cần phải có sự nỗ lực thúc đẩy người dân tiếp cận đến trình độ học vấn nhất định, các hoạt động đem lại thu nhập, và các phương pháp khuyến nông
1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia súc ăn cỏ như trâu bò, dê cừu là nghề chăn nuôi truyền thống nhưng vẫn có vai trò quan trọng đối với nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia súc ăn cỏ đang có sự tăng trưởng nhanh và ổn định trên
cả nước, đặc biệt là về sản lượng Theo định hướng của Chính phủ trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, nước ta sẽ tăng số lượng đàn bò sữa bình quân 11% năm, đạt khoảng 500 ngàn con, trong đó 100% số lượng bò sữa được nuôi thâm canh và bán thâm canh Đàn bò thịt: tăng bình quân 4,8% năm, đạt khoảng 12,5 triệu con, trong đó bò lai đạt trên 50% Đàn trâu: ổn định với số lượng khoảng 2,9 triệu con Đàn dê cừu: tăng bình quân 7% năm, đạt khoảng 3,9 triệu con (Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020)
Nước ta là một nước nông nghiệp, đa dạng về sinh thái và có hệ thực vật phong phú, nguồn thức ăn thô và phụ phẩm nông nghiệp rất dồi dào (chỉ tính riêng khối lượng vật chất khô một số loại phụ phẩm nông nghiệp chính như rơm lúa, thân cây ngô, thân lá lạc, dây khoai lang, ngọn lá sắn và lá mía đã có sản lượng ước tính khoảng 30 triệu tấn/năm) (Tính toán dựa trên số liệu thống kê về diện tích của TCTK, 2008) Đó là nguồn thức ăn lớn và có giá trị đối với các loại vật nuôi ăn cỏ Tuy nhiên, năng suất chăn nuôi gia súc nhai lại ở nước ta vẫn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Một trong những nguyên nhân chính là đàn vật nuôi không được cung cấp đủ và đều thức ăn chất lượng cao trong mọi thời điểm trong năm, đặc biệt là trong mùa khô/đông Hiện nay,
Trang 2trong lĩnh vực giải quyết thức ăn cho gia súc nhai lại ở nước ta đang có hai thách thức lớn, thứ nhất là
sự dư thừa thức ăn thô xanh và phụ phẩm lúc thời vụ và sự thiếu thức ăn lúc giáp vụ (ở miền Bắc vào mùa đông và miền Nam vào mùa khô nhiều vùng chăn nuôi trâu bò thiếu thức ăn nghiêm trọng) và thứ hai là chất lượng nguồn thức ăn thô xanh cho vật nuôi ăn cỏ còn rất thấp
Về lĩnh vực phát triển các giống cỏ trồng cho các vùng sinh thái nước ta, chúng ta đã tuyển chọn được một số giống trong nước và nhập nội và đã được đánh giá là thích nghi với một số vùng sinh thái, nhưng bộ giống đưa ra mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát giống do vậy mà hầu hết các giống chưa đạt được đúng tiềm năng sản xuất của từng giống nên năng suất và chất lượng còn thấp Hơn nữa thảm cỏ trồng hầu hết là cỏ hoà thảo dẫn đến chất lượng thô xanh vẫn ở trong tình trạng thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng so với yêu cầu chăn nuôi gia súc nhai lại, đặc biệt là cho bò sữa và bò thịt ở nhiều vùng trong cả nước Việc nghiên cứu chế biến, dự trữ và sử dụng các phụ phế phẩm nông nghiệp tuy đã thu được một số thành tựu quan trọng, một vài kỹ thuật chế biến đã thực sự có hiệu quả (như kỹ thuật xử lý rơm lúa bằng urea), nhưng tính khả thi và việc ứng dụng trong sản xuất (cả trong điều kiện trang trại và nông hộ) còn rất hạn chế Tình trạng về nguồn và chất lượng thức ăn thô xanh như vậy chắc chắn sẽ không thể đáp ứng với nhu cầu phát triển đàn vật nuôi ăn cỏ ở nước ta trong những năm trước mắt cũng như lâu dài Bởi vậy việc tiến hành nghiên cứu phát triển nguồn thức ăn thô xanh, phụ phẩm nông nghiệp có năng suất chất lượng cao phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở một số vùng sinh thái trọng điểm của nước ta
là rất cần thiết Đồng thời với những nghiên cứu về kỹ thuật, việc nghiên cứu về mức độ áp dụng các TBKT về thức ăn thô xanh và chế biến, dự trữ phụ phẩm nông nghiệp, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự áp dụng các TBKT về thức ăn trong các cơ sở chăn nuôi là vô cùng cần thiết
để đề xuất được các giải pháp nhằm đẩy nhanh việc ứng dụng các TBKT về thức ăn thô xanh và tính bền vững của các giải pháp kỹ thuật này trong thực tế sản xuất thuộc một số vùng sinh thái trọng điểm
Với ý nghĩa đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố kinh tế, xã hội và kỹ
thuật tác động đến việc trồng cây thức ăn xanh, thu gom chế biến, dự trữ và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong hệ thống chăn nuôi trang trại và nông hộ ở hai vùng sinh thái: Miền Đông Nam bộ và Miền núi phía Bắc” với mục tiêu đánh giá hiện trạng áp dụng TBKT về thức
ăn cho gia súc ăn cỏ trong hệ thống chăn nuôi trang trại và nông hộ ở 2 vùng sinh thái: Miền Đông Nam bộ và Miền núi phía Bắc
Xác định các nhân tố kinh tế, xã hội và kỹ thuật tác động đến việc trồng cây thức ăn xanh, thu gom chế biến, dự trữ và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp
2 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ chăn nuôi gia súc có trồng cây thức ăn xanh, thu gom chế biến, dự trữ và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp ở 2 vùng sinh thái: Miền Đông Nam bộ và Miền núi phía Bắc
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 32.2.1 Phạm vi về thời gian
Đề tài nghiên cứu tình hình trồng cây thức ăn xanh, thu gom chế biến, dự trữ và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp của các cơ sở chăn nuôi gia súc ăn cỏ trong giai đoạn 2009-2010
2.2.2 Phạm vi về nội dung
Đánh giá hiện trạng áp dụng TBKT về thức ăn cho gia súc ăn cỏ và xác định các nhân tố kinh tế, xã hội và kỹ thuật tác động đến việc trồng cây thức ăn xanh, thu gom chế biến, dự trữ và
sử dụng phụ phẩm nông nghiệp
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Chọn điểm và cơ sở nghiên cứu
Các cơ sở chăn nuôi gia súc ăn cỏ được chọn theo phương pháp phân tầng - hệ thống - ngẫu nhiên; đại diện cho các phương thức chăn nuôi: Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và chăn nuôi trang trại ở hai vùng MNPB và ĐNB
(i) Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ: Chăn nuôi trâu bò sinh sản, lấy sữa dưới 10 con, lấy thịt
dưới 50 con Các hộ này được chọn một cách ngẫu nhiên dựa trên danh sách các hộ chăn nuôi trong xã Danh sách này được khuyến nông viên xác lập trước khi cuộc điều tra chính thức bắt đầu Trưởng các đoàn điều tra căn cứ vào danh sách các hộ chăn nuôi, lựa chọn các hộ theo phương pháp hệ thống ngẫu nhiên Mỗi tỉnh chọn 52 hộ chăn nuôi quy mô nhỏ
(ii) Chăn nuôi trang trại: Các trang trại được lựa chọn theo tiêu chí trong thông tư liên tịch
số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK giữa Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê: Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò: Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên, chăn nuôi lấy thịt
có thường xuyên từ 50 con trở lên Chăn nuôi dê, cừu: Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên từ 100 con trở lên; dê thịt từ 200 con trở lên
Căn cứ vào danh sách các trang trại được công nhận của xã, huyện và các trang trại cũng được lựa chọn một cách ngẫu nhiên Mỗi tỉnh lựa chọn 8 trang trại chăn nuôi
Tổng số mẫu điều tra là 120 cơ sở chăn nuôi, trong đó có 16 trang trại
2.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu
Số liệu được thu thập từ các nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp Số liệu sơ cấp được lấy từ cuộc điều tra 120 cơ sở chăn nuôi gia súc ăn cỏ đại diện cho hai vùng: MNPB và ĐNB
Thông tin thu thập từ các cơ sở chăn nuôi dựa trên bảng câu hỏi thiết kế sẵn Bảng câu hỏi bao gồm các biểu mẫu và nội dung phù hợp với mục tiêu cần đạt được Thông tin thu thập từ mỗi
cơ sở sẽ được ghi chép vào bộ câu hỏi, bao gồm 2 phần:
Phần thứ nhất: Thông tin cơ bản của cơ sở điều tra
Phần thứ hai: Thông tin về áp dụng TBKT trồng cây thức ăn thô xanh, chế biến thức
ăn cho gia súc ăn cỏ Diện tích, năng suất, thời gian áp dụng, các nguyên nhân tác động, mục tiêu, động lực của việc áp dụng các TBKH, vv
Bộ câu hỏi được thử nghiệm để kiểm tra tính hợp lý trong các chỉ tiêu cần thu thập trước khi triển khai điều tra chính thức
Trang 42.3.3 Phương pháp phân tích số liệu
Về phân tích số liệu, đề tài này sẽ áp dụng các phương pháp sau đây:
Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế-xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Các chỉ tiêu: trung bình cộng, max, min và
độ lệch chuẩn Sử dụng các số liệu điều tra phỏng vấn để mô tả quy mô chăn nuôi, diện tích, năng suất các giống cỏ, phân tích các yếu tố tác động đến việc trồng và chế biến thức ăn theo phương thức chăn nuôi và theo các vùng sinh thái
Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp thống kê so sánh dùng để so sánh các chỉ tiêu nghiên cứu giữa các phương thức sản xuất và các vùng sinh thái khác nhau
Trang 53 Kết quả nghiên cứu
3.1 Đặc điểm cơ bản của các cơ sở chăn nuôi
Bảng 1 Một số đặc điểm cơ bản của các cơ sở chăn nuôi
Các chỉ tiêu Đvt
Áp dụng Bỏ áp dụng Chưa áp dụng Áp dụng Bỏ áp dụng Chưa áp dụng
Hộ TT Hộ TT Hộ TT Hộ TT Hộ TT Hộ TT
Tuổi chủ hộ Năm 47,14 49,23 50,00 48,00 41,89 - 43,16 47,00 47,00 50,00 48,25 56,50 Diện tích đất Ha 2,13 4,50 5,50 2,91 1,66 - 4,27 40,03 5,89 1,21 1,80 5,36 Trình độ học vấn
- Không biết chữ % 2,70 - - - 3,13 - 33,33 - 50,00 -
- Tiểu học % 2,70 - 16,67 - 55,56 - 18,75 - 16,67 - 25,00 100,00
- THCS % 37,84 15,38 25,00 - 33,33 - 43,75 20 16,67 - 25,00 -
- THPT % 48,65 53,85 50,00 - 11,11 - 25,00 53,33 16,67 100,00 - -
- Trên THPT % 8,11 30,77 8,33 100,00 - - 9,38 26,67 - - - -
- Lao động Người 1,30 8,95 1,17 1,00 1,33 - 3,96 6,32 2,83 3,00 2,00 2,00
- Lao động GĐ Người 1,30 3,15 1,17 1,00 1,33 - 2,13 1,87 1,83 3,00 2,00 2,00
- Lao động thuê Người - 5,80 - - - - 1,83 4,45 1,00 - - -
Ở cả hai vùng MNPB và ĐNB, các trang trại thuộc nhóm áp dụng TBKT về thức ăn thô xanh có số lao động cao hơn hẳn so với các hộ trong cùng nhóm và các cơ sở chăn nuôi khác thuộc hai nhóm còn lại (trung bình 9 người/trang trại ở MNPB và 6 người/trang trại ở vùng ĐNB) Điều này cho thấy nhu cầu về lao động của các trang trại chăn nuôi áp dụng TBKT về thức ăn thô xanh
Xét một cách tổng thể ở cả 2 vùng, trình độ học vấn của nhóm các cơ sở áp dụng TBKT
về thức ăn thô xanh đều cao hơn so với nhóm bỏ áp dụng và nhóm chưa bao giờ áp dụng Học vấn của các chủ trang trại thuộc nhóm áp dụng TBKT ở cả hai vùng là tương đương nhau, đa số đều có trình độ THPT và trên THPT (84,62% ở vùng MNPB và 80,00% ở vùng ĐNB) Có tới 55,56% chủ hộ chưa bao giờ áp dụng TBKT về thức ăn thô xanh ở vùng MNPB chỉ có trình độ tiểu học; tương tự ở vùng ĐNB, các cơ sở thuộc nhóm bỏ áp dụng và chưa bao giờ áp dụng TBKT về về thức ăn thô xanh có trình độ học vấn tập trung chủ yếu ở mức tiểu học và không biết chữ Điều này cho thấy trình độ học vấn có ảnh hưởng đến nhận thức và khả năng duy trì việc áp dụng TBKT của các cơ sở chăn nuôi
3.2 Quy mô
Bảng 2 Quy mô đàn gia súc ăn cỏ hiện tại (con/hộ)
Các chỉ tiêu
Áp dụng Bỏ áp dụng Chưa áp
dụng Áp dụng Bỏ áp dụng Chưa áp dụng
Hộ T trại Hộ T
trại Hộ
T
trại Hộ T trại Hộ T trại Hộ T trại Quy mô đàn bò thịt 1,39 18,67 2,00 - 3,00 - 3,84 47,73 - - 1,25 -
Trang 6Quy mô đàn bò sữa 16,83 42,40 - - - - 0,25 19,80 - 35,00 - 17,50 Quy mô đàn trâu 4,60 43,00 - - - - 0,66 1,60 1,50 - 1,25 - Quy mô đàn gia súc khác 18,00 - - - 11,06 4,00 - - - -
Số gia súc quy đổi (TLU) 6,43 47,82 2,00 - 3,00 - 7,80 82,33 1,80 56,00 2,75 28,00
Giống vật nuôi tại các cơ sở chăn nuôi gia súc ăn cỏ được điều tra ở cả hai vùng là tương đối đa dạng bao gồm bò thịt, bò sữa, trâu và các gia súc ăn cỏ khác như dê Để thuận lợi trong quá trình so sánh, đồng thời để có một cái nhìn tổng thể về quy mô đàn gia súc ăn cỏ ở các cơ sở chăn nuôi chúng tôi sử dụng Đơn vị Gia súc Nhiệt đới (TLU) để quy đổi
Các cơ sở thuộc nhóm áp dụng TBKT về thức ăn thô xanh có số gia súc cao hơn so với nhóm bỏ áp dụng và chưa bao giờ áp dụng (tương ứng giữa các quy mô hộ gia đình và trang trại) Trong cùng nhóm áp dụng thì các trang trại vùng ĐNB có số gia súc ăn cỏ cao gấp 10,55 lần các hộ gia đình
Qui mô đàn gia súc ăn cỏ hiện tại của nhóm hộ bỏ áp dụng là thấp nhất so với các hộ thuộc hai nhóm còn lại (trung bình chỉ đạt 1,8 con/hộ, bằng 23,07% so với nhóm hộ đang áp dụng và bằng 65,45% so với nhóm hộ chưa bao giờ áp dụng TBKT về trồng cỏ) Điều này cho thấy một trong các nguyên nhân chính khiến các hộ bỏ áp dụng TBKT ở vùng ĐNB là do giảm quy mô chăn nuôi hoặc bỏ không chăn nuôi, có lẽ khi mà hiệu quả của TBKT về thức ăn thô xanh phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả chăn nuôi gia súc ăn cỏ của các hộ chăn nuôi TBKT có thể giúp tăng năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi nhưng khi bản thân việc chăn nuôi gia súc chưa thực sự mang lại thu nhập như mong muốn thì người chăn nuôi vẫn bỏ không áp dụng
Phan Minh Tâm_Tân Thành, Củ Chi: "mình mà có đất trồng cũng giống như
nhà có lúa gạo ăn đều, còn không có đất trồng cỏ thì như nay ăn gạo này, mai ăn gạo
khác, chạy ăn từng bữa vất vả lắm"
Nhóm hộ chưa bao giờ áp dụng TBKT về thức ăn thô xanh có quy mô đàn tương đối nhỏ, trung bình 2,75 con/hộ Vì vậy, áp lực thiếu cỏ trong chăn nuôi của các hộ thuộc nhóm này là không lớn, các hộ thường tận dụng nguồn thức ăn thô xanh từ tự nhiên và các nguồn phụ phẩm nông nghiệp khác
3.3 Nguồn thu nhập của các cơ sở chăn nuôi
Bảng 3 Cơ cấu thu nhập của các cơ sở nghiên cứu (%)
Các chỉ tiêu
Áp dụng Bỏ áp dụng Chưa áp
dụng Áp dụng Bỏ áp dụng
Chưa áp dụng
Hộ T
trại Hộ
T
trại Hộ
T
trại Hộ
T
trại Hộ
T
trại Hộ
T
trại
- Thu nhập trồng trọt 36,67 21,90 41,13 91,43 44,87 - 44,06 34,67 52,17 25,00 58,75 35,0
- Thu nhập chăn nuôi 31,62 58,35 25,37 8,57 24,21 - 34,19 53,33 29,67 75,00 30,00 65,0
- Thu nhập khác 31,71 19,75 33,5 - 30,93 - 21,75 12,00 18,17 0,00 11,25 0,00
Trang 7Nguồn thu nhập chính của các trang trại thuộc nhóm áp dụng TBKT ở cả 2 vùng chủ yếu đều từ chăn nuôi (58,35% ở MNPB và 53,33% ở vùng ĐNB), vì thế các cơ sở này đều có sự đầu
tư trồng cỏ (đa dạng giống cỏ, hệ thống tưới …), để chủ động nguồn thức ăn Ngược lại các hộ thuộc nhóm bỏ áp dụng ở cả 2 vùng lại có thu nhập tương đối cao từ trồng trọt (trồng chè ở MNPB và cao su ở ĐNB) Điều này cho thấy thu nhập từ chăn nuôi gia súc ăn cỏ chưa phải là nguồn thu nhập đáng kể thì việc trồng cỏ và áp dụng các TBKT về chế biến thức ăn thôn xanh chưa được quan tâm chú ý.B)
Điểu Đe_Tân Quang, Bình Phước: "trồng cỏ không hiệu quả bằng trồng cao su, có
thêm đất tao cũng trồng cao su hết, không trồng cỏ"
3.4 Nguồn gốc và mức độ sử dụng thức ăn xanh cho gia súc của các cơ sở chăn nuôi
Bảng 4 Nguồn gốc và mức độ cung cấp thức ăn cho gia súc
Các chỉ tiêu
Thời gian sử dụng (tháng) Nguồn (%) Thời gian sử dụng (tháng) Nguồn (%)
MNPB
Cỏ trồng 9,78 11,67 9,61 - 100,0 9,67 12,00 10,20 10,00 90,00
Cây thức ăn 2,13 - 2,38 - 100,0 1,67 - 2,20 - 100,0
ĐNB
Cỏ trông 7,60 11,00 8,36 - 100,0 9,50 10,00 10,25 - 100,0
Cây thức ăn 2,63 - 3,21 - 100,0 - - 4,00 - 100,0
Lá các loại 4,50 - 2,62 - 100,0 1,00 - 4,25 - 100,0
Đối với các cơ sở chăn nuôi gia súc ăn cỏ thì việc chủ động được nguồn thức ăn thô xanh
là điều vô cùng quan trọng, vì thế chúng tôi đi sâu tìm hiểu khả năng cung cấp/chủ động nguồn thức ăn thông qua thời gian tối đa các cơ sở có thể cung cấp cho vật nuôi Ở vùng MNPB, chỉ có các trang trại chăn nuôi bò sữa có khả năng cung cấp cỏ trồng cho gia súc quanh năm (12
tháng/năm) Các hộ gia đình chăn nuôi bò thịt ở MNPB có khả năng chủ động cỏ trồng thấp nhất (cho ăn rải rác trong vòng 9,6 tháng/năm)
Trên thực tế không có một cơ sở chăn nuôi nào ở vùng ĐNB đủ cỏ cho gia súc ăn 12 tháng/năm, kể cả các trang trại lớn Điều này được giải thích do ngành trồng cỏ của vùng ĐNB chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhên (mùa khô, thiếu nước) Để bổ sung cho sự thiếu hụt này, các cơ sở chăn nuôi phải bổ sung các nguồn thức ăn khác như rơm, thân cây chuối hay các loại lá khác Đặc biệt, tỷ lệ các trang trại phải mua rơm tương đối cao (chiếm 83,33% số trang trại chăn nuôi của vùng)
3.5 Nguồn thông tin, thời gian áp dụng và mức độ áp dụng các TBKT thức ăn thô xanh
Bảng 5 Nguồn cung cấp thông tin TBKT thức ăn thô xanh
Trang 8Các chỉ tiêu Nhóm áp dụng Nhóm bỏ áp dụng Nhóm chưa bao giờ áp dụng
MNPB
ĐNB
Một điểm chung của các cơ sở chăn nuôi thuộc nhóm áp dụng TBKT ở cả hai vùng nghiên cứu là khả năng tiếp cận thông tin tương đối đa dạng ở tất cả các kênh như tivi, đài, báo, tập huấn, tham qua… trong khi đó ở 2 nhóm hộ còn lại, thông tin về TBKT chỉ được tiếp cận/biết qua một số kênh thông tin nhất định Có 50,00% hộ gia đình và 53,85 trang trại thuộc nhóm áp dụng ở MNPB tiếp nhận thông tin về TBKT thông qua kênh tập huấn, chuyển giao; trong khi đó ở vùng ĐNB thì các cơ sở thuộc nhóm áp dụng tiếp nhận nguồn thông tin
đa dạng hơn, điều này cũng cho thấy tính chủ động trong tìm hiểu và áp dụng của các cơ sở chăn nuôi ở vùng ĐNB cao hơn các đồng nghiệp của họ ở MNPB
Bảng 6 Thời gian áp dụng và nguồn gốc các TBKT thức ăn thô xanh
Các chỉ tiêu Thời gian áp dụng (tháng) Tỷ lệ bỏ áp dụng (%)
Nguồn (%)
MNPB
ĐNB
Trang 9Các TBKT về trồng cỏ ở cả 2 vùng MNPB và ĐNB đã được các cơ sở chăn nuôi áp dụng tương đối lâu (từ khoảng 6 đến 8 năm), không có sự khác biệt đáng kể về thời gian áp dụng TBKT trồng cở, chế biến thức ăn giữa các cơ sở và các vùng với nhau
Tỷ lệ các cơ sơ bỏ áp dụng TBKT về chế biến thức ăn luôn cao hơn hẳn tỷ lệ bỏ áp dụng các TBKT về trồng cỏ, tỷ lệ bỏ trồng cỏ cao nhất là ở các hộ chăn nuôi ở MNPB (22,45%) và thấp nhất ở các trang trại chăn nuôi vùng ĐNB (6,25%), trong khi đó có tới 100% hộ chăn nuôi ở MNPB bỏ áp dụng TBKT rơm ủ urê sau 48 tháng sử dụng, đối với các hộ ở vùng ĐNB
(65,34%)
Tỷ lệ bỏ áp dụng các TBKT về trồng cỏ và chế biến thức ăn của các hộ cao hơn các trang trại, điều này được giải thích do các trang trại chăn nuôi phải chịu áp lực về thức ăn cao hơn hẳn các hộ gia đình Quy mô đàn gia súc nhỏ khiến các hộ gia đình cảm thấy chế biến dự trữ thức ăn
là “phức tạp và chưa cần thiết”
Phan Văn Tính_Củ Chi: "đất hẹp, chăn nuôi còn không có chỗ đổ phân, lấy đâu chỗ mà ủ"
Trần Ngọc Điệp_Củ Chi: "Chúng tôi đã ủ chua cỏ để dự trữ nhưng bị thối, không giữ
được, có lẽ do yếm khí chưa tốt"
"tất cả phụ thuộc vào giá sữa, nếu giá sữa đạt 10.000 đ/l thậm chí chúng tôi sắn sàng
mua cả máy hút chân không để ủ cỏ"
Trang 10Bảng 7 Mức độ áp dụng các TBKT thức ăn thô xanh
TBKT cỏ
TBKT chế biến
Trong tổng số 10 TBKT đã và đang được áp dụng trong các cơ sở chăn nuôi ở 2 vùng, TBKT được áp dụng phổ biến nhất hiện nay ở cả 2 vùng là trồng cỏ voi
Trong khi cỏ VA06 được trồng khá phổ biến ở vùng ĐNB, thì lại được trồng rất ít ở các
cơ sở ở vùng núi phía Bắc
Bảng 8 Mức độ áp dụng các TBKT thức ăn thô xanh
Chỉ tiêu
Mức độ áp dụng TBKT trồng cỏ và chế biến thức ăn ở cả 2 vùng MNPB và ĐNB là tương đối thấp, không có một cơ sở chăn nuôi nào có mức độ áp dụng TBKT vượt mức 60% số các TBKT chủ yếu được điều tra Ở vùng MNPB, phần lớn các hộ gia đình chỉ áp dụng 1 loại TBKT, thì có tới
30 % trang trại áp dụng 4 loại TBKT Ở vùng ĐNB, phần lớn các hộ và trang trại áp dụng 2-3 loại TBKT