Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai (45tr)
Trang 1SVTH : Vi Huong Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
PHAN 1 : MUC DICH VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU DE TAI - 1
Y nghia chon dé tai
Mục đích nghiên cứu đề tài
Giới hạn đề tài
Phương pháp tiếp cận nghiên cứu đề tài
Các nguôn sô liệu
Lời cảm ơn
PHAN 2 : THUC TRANG TiNH HiNH XUAT KHAU HANG THU CONG
MY NGHE VIET NAM 3
1.1 Tổng quan vé nganh hang thu céng my nghé Viét Nam - 5 1.1.1 Lịch sử ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
1.1.2 Vai trò của ngành hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
1.2.1 Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ
2.1.4 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sang thị trường
Nhật Bản - -=—-===r 26
===.ỪẰÿẰŸẰƑ=
“Thực trạng và giải pháp thúc đầy xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
1
Trang 2SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
2.2.4 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sang thị trường
2.3.2 Một số vẫn đề cần lưu ý khi xuất nhập khẩu tại thị trường EU - 43
2.3.4 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sang thị trường
3.3 Quy trình xuất khâu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam - 56
CHUONG 4: MOT SO GIAI PHAP DAY MANH XUAT KHAU HANG THU CONG MY NGHE VIET NAM S8
4.3 Những giải pháp đối với các thị trường trọng diém - 70
CHUONG 5: MOT SO KIEN NGHI VOI CHÍNH PHỦ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 76 KÉT LUẬN CHUNG 78
=
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
H
Trang 3SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền
Trang 4SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền
a ngan
1.Ý NGHĨA CHỌN ĐÈ TÀI:
Thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang đậm nét văn hoá dân tộc Việc đây mạnh xuât khâu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ không những thu được nhiều ngoại tệ về cho đất nước mà còn tạo ra được nhiều công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt là lao
động nông thôn
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã tăng nhiều trong thời gian qua, tuy nhiên nó vẫn chưa tương xứng với tiêm năng của ngành hàng này
2.MUC DICH NGHIEN CUU DE TAI:
o_ Phân tích thực trạng ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
o_ Nêu phương hướng phát triển xuât khâu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
o_ Đưa ra những giải pháp thúc đây xuât khâu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
3.GIỚI HẠN ĐÈ TÀI:
o_ Khi phân tích các thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chỉ chú trọng phân
tích các thị trường trọng điểm là Nhật Bản, Mỹ và EU
o Do giới hạn về thời gian nghiên cứu nên chưa nêu được hết những khó khăn và thuận lợi của ngành hàng
o_ Các số liệu thông kê được lấy từ năm 1998 cho tới 2004 Các số liệu năm của 6
tháng đầu năm 2005 được lấy từ số dự báo trên websites và trên các báo kinh tê
4.PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ĐÈ TÀI :
Đề tài dùng phương pháp so sánh, phân tích, liệt kê để nghiên cứu
5.CÁC NGUÒN SÓ LIỆU:
Ngoài các tài liệu tham khảo đã được nêu ở phần cuối của bài luận văn tốt nghiệp thì các
số liệu thống kê được lấy từ các nguồn sau:
o_ Niên giám thông kê Việt Nam 2002, 2003, 2004
JETRO
Bộ thương mại Việt Nam
Cục xúc tiến thương mại và đầu tư
Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư thành phố (TTPC)
Các websites như www.exim-pro.com, www.smenet.com.vn,
www.industry.gov.vn, www.cbi.nl và các websites liên ngành khác
6.LOI CAM ON:
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Trung tâm xúc tiến thương mại và dau tu (ITPC)
đã tạo mọi thuận lợi cho em trong thời gian nghiên cứu dé tiến hành làm luận văn Sự giúp
đỡ của trung tâm cùng:sự góp ý của giáo viên hướng dẫn là thây Lê Văn Hiền đã giúp em
hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
=7
«Thực trạng và giải pháp thúc day xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam” Trang 2
Trang 5
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
——ỄỄỄ
PHẢN 2
THỰC TRẠNG TINH HÌNH XUẤT KHẨU
HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM
a
“Thực trạng và giải pháp thúc đấy xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 3
Trang 6SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
Trang 7SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền 1.1 TONG QUAN VE NGANH HANG THU CONG MỸ NGHỆ VIỆT NAM
1.1.1 LICH SU NGANH HANG THU CONG MY NGHE VIET NAM
Nghé thủ công mỹ nghệ Việt Nam có truyền thống hàng trăm ngàn năm, gắn liền với tên nhiều làng nghề phố nghề, được biêu hiện qua nhiều sản phẩm độc đáo tỉnh xảo và hoàn
mỹ
Từ thế kỷ XI dưới thời Lý việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã được thực hiện Khi
đó các sản phâm chỉ bao gồm : gốm, đồ gỗ, mây tre, giấy dó, tơ lụa, đồ bạc, sừng, nga Qua 11 thê kỷ các phường thợ, làng nghề truyền thống đã trải qua nhiều bước thăng
trâm, một sô làng nghệ bị suy vong ( giấy sắc, dệt quai thao) nhưng bên cạnh đó cũng có
một số làng nghề mới xuất hiện và phát triển
Ngày nay, tiếp tục truyền thống thủ công mỹ nghệ của cha ông để lại hàng nghìn làng nghệ được phục hồi và phát triên trên cả 3 miền cua dat nước
Hiện nay cả nước có 52 nhóm nghề truyền thống với 1400 làng nghề với những sản phâm từ lâu đã có tiếng tăm như thô cầm dân tộc Mông (Lào Cai) , cham khac go (Bac Ninh), đúc đồng (Quảng Ngãi), gôm sứ (Bình Thuận, Đông Nai) thu hút 30% lao động
cả nước trong đó có hơn 1,3 triệu là lao động nông thôn
Hiện nay ngoài việc sản xuất và tiêu thụ những loại sản phâm chính yêu quen thuộc như
đồ gỗ gia dụng, gỗm sứ mỹ nghệ, thêu ren, tho cam, mây tre dan thì các làng nghệ còn cho
ra đời những sản phâm làm bằng chất liệu mới từ dừa, nhựa, sắt, sừng trâu, composit, vỏ
lon, polyester
1.1.2 VAI TRO CUA NGANH HANG THU CONG MY NGHE XUAT KHẨU
Hàng thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang đậm nét văn hoá dân tộc nên không những chỉ đáp ứng nhu cầu hàng ngày mà còn là những sản phẩm văn hoá phục vụ đời sống tỉnh thần Ngày nay xu hướng mua sắm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các nước phát triển Vì vậy Việt Nam cần tận dụng những diém manh
có được để đây mạnh xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghê Đây là việc làm cân thiết
vì không những thu được nhiều ngoại tệ về cho đất nước mà còn tạo được nhiêu công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn
Do hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước và nguyên liệu nhập khâu thường không đáng kê Vi vậy xuât khâu # £ hàng thủ công
mỹ nghệ đạt mức thực thu ngoại té rat cao, chiếm từ 95% đến 97% giá trị xuất khẩu Mặc
dù là ngành sản xuất nhỏ nhưng hiện nay các sản phâm thủ công mỹ nghê đã trở thành một
trong 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất (Năm 2000 đứng thứ tám về kim
ngạch xuât khâu, đạt 235 triệu USD; năm 2004 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghê đạt 410 triệu USD)
==—
ŸƑ_._.-=reereeeere'
“Thực trạng và giải pháp thúc day xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam” Trang 5
Trang 8SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
Bang 1 : Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
DVT: Triéu USD
Nguồn : Niên giám thông kê, Tổng cục thông kê
Ngoài ra, ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ đã thu hút được khoảng 600.000 lao động, nêu tính cả lao động nộng nhàn thì con số này lên đến 1 triệu người.Điêu này cho thay néu
mở rộng cơ hội xuât khâu hàng thủ công mỹ nghệ sẽ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động nông thôn
Hầu hết các mặt hàng thủ công mỹ nghệ đều mang những giá trị văn hoá, lịch sử nhât
định nên việc xuất khẩu các mặt hàng này cũng có một vai trò không nhỏ trong việc truyền
bá, giao lưu văn hoá Việt Nam đên các nước trên thê giới
| 1.2, HANG THU CONG MY NGHE VIET NAM
Ị
| 4.2.1 BAC DIEM SAN XUAT VA TIEU THY
1.2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chung:
a) Thuân lợi
Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống được tạo ra bởi những bàn tay tài hoa Đây là đặc điểm nhưng cũng là điều kiện không thể thiếu và những yếu tố đó đang phát triển
ở nước ta Trong các làng nghề truyền thống của tất cả các mặt hàng (gốm sứ, đồ go,
đề đồng, dệt lụa, mây tre đan ) đều có các nghệ nhân hoặc những tay thợ lanh nghe
Hàng trăm năm đã qua đi nhưng bao giờ cũng có sự kế tiếp đó Chúng ta luôn tin
tưởng là dù cho có sự thăng trầm trong quá trình phát triển nhưng người tài bao giờ cũng có và họ đã phát huy truyền thống tốt đẹp của các bậc tiền bối để tạo ra những
sản phẩm ngày càng tuyệt mỹ Những tác phẩm nỗi tiếng gần đây như tượng, phù điêu,
hàng giả cổ là bằng chứng về sự tồn tại và phát triển của đội ngũ lao động giỏi cho
mọi ngành nghề
Cùng với sự phát triển, một số tiến bộ mới đã được áp dụng thay thế lao động thủ công nặng nhọc (công nghệ nhào trộn đất, dập, phay kim loại, cưa, đục, chạm bằng máy, lò nung đốt bằng gas, phương tiện vận tải, thông tin hiện đại, kĩ thuật giao tiêp
qua mạng ) Sự ăn nhập vẻ tiến bộ kĩ thuật trong sản xuất thể hiện xu hướng phát
triển Với sự thay thế này sức lao động được giảm nhẹ, số lượng sản phẩm sản xuất ra
nhiều hơn, chất lượng sản phẩm tăng, hiệu quả kinh tế lớn, thị trường tiêu thụ sản
phẩm mở rộng trong khi tính chất mỹ nghệ truyền thống của sản pham van được
bảo đảm Từ đây người lao động có thể tập trung suy nghĩ vào các khâu chuyên môn
cao để tạo nên sản phâm bắt hủ
Thị trường của những sản phẩm này ngày càng được mở rộng, đặc biệt là thị trường ngoài nước Khách nước ngoài muôn tìm đên nguồn gốc á Đông với những sản phâm
==————ễễễễễễễễễ
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 6
Trang 9SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
do chính bàn tay lao động thủ công của người thợ tạo nên từ các nguyên liệu thiên nhiên Trong thời gian gần đây thị trường ngoài nước của một số mặt hàng thủ công
mỹ nghệ truyền thông đã được mở rộng và tiềm năng vẫn còn rất lớn (đặc biệt là gốm
sứ, gỗ, mây tre đan, thêu ren, thể cẩm ) Thị trường lớn, giá cả hợp lí, khả năng luân
chuyển vốn nhanh hơn là những thuận lợi rất lớn cho sản xuất Đó là một tương lai
sáng sủa về phát triển sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống ở nước ta Thị trường trong nước cũng khá phát triển khi cuộc sống của người dân ngày một nâng cao, cơ sở hạ tầng ngày một phát triển
“Đây là thứ hàng mà bản thân nó đã chứa đựng bản sắc văn hoá dân tộc Dù cho kinh
tế thị trường có chao đảo, dù cho có rất nhiều người phải bỏ nghề và một số nghề bị
mai một nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống đang được lựa chọn và có sức sống mãnh liệt Sự thay đổi cách sản xuất nhiều mặt hàng dân dụng do công
nghiệp lớn tạo ra có ảnh hưởng nhiều tới ngành nghề thủ công trong vùng nông thôn
nhưng đối với hàng thủ công mĩ nghệ truyền thống thì sự phát triển của công nghiệp
lớn chưa hẳn đã là điều thách đố ghê gớm Trong quá trình sáng tác ra tác phẩm của
mình, các nghệ nhân cần có sự hỗ trợ của máy móc và công nghệ mới nhưng dù có hiện đại đến đâu chúng cũng không thể thay thế các nghệ nhân trong việc tạo nên sản phẩm có “hồn” mang những ý nghĩa văn hoá truyền thống và nghệ thuật sâu sac Điều
cơ bản là ngày nay khi đã có một cuộc sống tương đối én định, tiêu dùng của con người lại hướng về các sản phẩm mang tính tự nhiên hơn các sản phẩm công nghiệp
hiện đại
Chính sách của Chính phủ ngày càng trở nên thiết thực hơn, huy động ngày càng triệt để và có hiệu quả hơn các tiềm năng cho sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
truyền thống Vận dụng chính sách của Chính phủ từng địa phương đã có những giải
pháp tích cực cho sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống (Bắc Ninh,
Hà Tây, Hà Nội và những nơi có mật độ làng nghề truyền thống cao đã có nội dung chương trình phát triển hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống trong chương trình phát triển ngành nghề và phát triển kinh tế của địa phương) Chủ trương khôi phục và phát
triển các làng nghề truyền thống, qui hoạch các vùng sản xuất tập trung, cho vay vốn
sản xuất, xét duyệt và chỉ đạo thực hiện các phương án sản xuất ngành nghề của các
địa phương, thường xuyên xét phong tặng danh hiệu nghê nhân đã tạo điêu kiện rât
thuận lợi cho phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống
b) Khó khăn:
» Tinh trang thiéu chi dong về nguyên liệu xảy ra đối với hầu hết các loại sản phẩm, một số nguyên liệu trong tình trạng có nguy cơ bị cạn kiệt chăng hạn đất sét phải lấy từ xa, giá ngày một tăng, tình trạng cung ứng mây tre song không được chủ động, nguồn gỗ quí khan hiếm dần, nguyên liệu kim loại bị thu hút bởi các cơ SỞ sản xuất lớn
= Co sé ha tang cho san xuat con yéu va non yếu Các cơ sở sản xuất đều gặp khó khăn về mặt bằng sản xuất, bãi tập kết nguyên liệu và các cửa hàng giao bán sản phẩm ; đường giao thông xấu, xuống cấp; hệ thống công cụ còn quá lạc hậu, khả năng thay thế kém; giá điện cao Những yêu tô đó đã làm cho năng suât lao động
thấp, chỉ phí sản xuất lớn và nhiều khâu trong sản xuất, tiêu thụ không được tiên
hành kịp thời
L1
“Thực trạng và giải pháp thúc day xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ”
Trang 10SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
Cee Te ee ee ee ee ——————————_—_— ee
= Kha nang tiép c4n thi trường yếu Chúng ta quen với phương châm sản xuất nhanh nhiều tốt rẻ nhưng làm thế nào bán được hàng nhanh và bán được nhiều hàng thì
đó còn là một vấn đề mới mẻ Hệ thống thị trường trong nước chưa ổn định, nhiều
người chưa biết bán sản phẩm cho ai, hàng hoá bị tồn đọng, luân chuyển chậm ở các vùng nông thôn người dân it có cơ hội tiếp cận với những mặt hàng mới, hiểu biết tiêu dùng mới trong khi đó thị trường ngoài nước đang trong quá trình tìm
kiếm Việc giới thiệu sản phẩm ở các Hội chợ quốc tế rất tốn kém, các doanh
nghiệp ít có kinh nghiệm tìm hiểu thị trường ngoài nước và còn gặp rất nhiều khó
khăn trong việc thông thạo các công ước quốc tế, hiểu biết nhu cầu thị trường, cách tiếp cận với các đối tác nước ngoài, nghệ thuật buôn bán và kinh nghiệm tạo nên cơ chế ràng buộc các đối tác về thanh toán trả tiền mua hàng đúng hạn, hàng
của ta không bị ép cấp, ép giá Các doanh nghiệp trong nước chưa được gan két
thành một khối mạnh mẽ trong quan hệ với các đối tác nước ngoài, mọi quan hệ
đều mới ở mức riêng rẽ, mạnh ai nấy được nên không có sức mạnh lớn trong cạnh tranh
“ Sức mua của dân ta còn thấp, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống tiêu thụ trong nước còn ít nên thị trường trong nước chưa được mở rộng, đặc biệt ở các vùng đông dân xa các trung tâm thương mại lớn
= Trong điều kiện mặt trái của nền kinh tế thị trường đã xuất hiện những hàng nhái kém phẩm chất, làm ảnh hưởng đên uy tin và lợi ích của các cơ sở sản xuât hàng thủ công mỹ nghệ truyền thông
s_ Vốn là một yếu tố rất cần thiết nhưng khả năng cung ứng về vốn yếu Các cơ sở chưa bằng kết quả sản xuất kinh doanh của mình để tiếp cận tốt, thuyết phục được các ngân hàng cho vay vốn Các ngân hàng cũng chưa tìm ra cơ chê thích hợp đề
cho các đơn vị sản xuất vay vốn nhiều hơn và tăng thời hạn vay dài hơn Mặt khác
tình trạng tồn đọng vốn vẫn dây dưa nhằng nhịt ở mọi khâu trong sản xuất và tiêu thụ giữa các hộ với công ty và giữa các công ty với các hộ Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sản xuất
= Số thợ giỏi có trình độ cao ngày một ít đi (theo Phạm Văn Dũng trong sản xuất gốm sứ mỹ nghệ của Gia Lâm chỉ còn một nghệ nhân; nghề điêu khắc gỗ của
Đông Anh, sơn mài, khám trai, chạm trổ đá của Đông Anh chỉ còn một nghệ nhân;
số thợ giỏi trong số 83 làng nghề ở Hà Nội chỉ có 150 người và đa số là tuổi cao)
Trong điều kiện hội nhập chúng ta gặp những đối thủ cạnh tranh có những điêu kiện thuận lợi về tài nguyên, lao động văn hoá dân tộc gần như ta Trung Quôc,
Thái Lan ) Nếu chúng ta không chú ý phát triển một nền kinh tế trí thức với trình
độ tay nghề cao thì sẽ sớm bị loại trên thương trường
s Nhiéu mat hang của Việt Nam chưa thật đẹp, giá thành cao, tính đồng bộ thấp nên
sức cạnh tranh yếu Việc tổ chức sản xuất còn phân tán, khó khăn nhât là đôi với
Trang 111.2.1.2 Tiềm năng phát triển hàng thủ công mỹ nghệ:
a) Tiềm năng sản xuất và tính bền vững:
= Các mặt hàng thủ công truyền thống khi đạt tới trình độ mỹ nghệ đều có thể đứng
vững trong nên kinh tê thị trường, một số mặt hàng còn có thê mở rộng quy mô do
sự phát triên của thị trường
"_ Điều đó đã được khẳng định trong thực tế, đặc biệt là từ những năm sau “đổi mới”,
khi mọi đơn vị sản xuất kinh doanh được phát huy quyên tự chủ, khi mọi sản phẩm
được xuất hiện (hoặc tái xuất hiện) trong điêu kiện cạnh tranh của kinh tê thị trường
se Qua một thời kì phat triển, các hình thức tô chức sản xuất kiểu mới, các quan hệ liên kết kinh tế mới đã xuất hiện và tỏ ra phù hợp với qui luật vận động Sự minh
chứng đó chứng tỏ một điều là chúng ta đã trải qua việc tim toi mo mam, da biét
cách làm, cách đi, không sợ chệch hướng Từ các cơ sở thực tế đó chúng ta không
hề phải băn khoăn về tương lai tồn tại của mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống Bản thân mặt hàng này tồn tại với những lí do sâu xa (đã được lịch sử thừa nhận) và đứng vững trong điêu kiện mới khi thu nhập từ sản xuất những mặt hàng này cao gấp nhiều lần so với sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của chúng rất
phù hợp với quy luật phát triển kinh tế tiến bộ
“ Với chủ trương khôi phục các nghề truyền thống, Nhà nước với các trường lớp đào tạo nghề của mình đã cung cấp một lớp thợ có trình độ bảo đảm về việc sản xuất các mặt hàng ngành nghề, trong đó có rất nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống quen thuộc Cũng từ chủ trương này nhiều gia đình đã được quan tâm trong
việc truyền nghé, đã tổ chức truyền nghề tốt hơn, rộng rãi hơn
= Piéu lo lang cia ngudi san xuất mặt hàng truyền thống là nguyên liệu, vốn, thị
trường và thực tế đã chứng tỏ điều đó là đúng Từ đó mỗi người khi xác định quy
mô sản xuất đều phải tính đến các yếu tố đó Qua những bước thăng trầm, quy luật
kinh tế thị trường đã dạy bảo người ta không được chủ quan tuỳ tiện khi xây dựng một cơ sở sản xuất mới hay mở rộng qui mô sản xuất Đâu phải chỉ cần có ý chí là
đủ Ngay những người “yêu nghề hơn yêu mình” cũng thay rằng chỉ có thê yêu nghề khi nghề đó có thể bảo đảm cuộc sống của gia đình Điều mà họ hành động
không phải là chạy theo những thu nhập cao đơn thuần để làm mai một những
nghề truyền thống, cũng không phải cố bám lấy nghề mà không có một mức sống tối thiểu Điều họ chấp nhận là đang làm một nghề mà tuy phải chịu đựng cuộc sống còn khó khăn nhưng danh giá của nghề vẫn được giữ vững, bản sắc văn hoá
dân tộc vẫn được bảo tồn và quy luật cho thấy rằng truyền thống tốt đẹp bao giờ
cũng tồn tại
b) Tiềm năng trong tiêu thụ sản phẩm:
s Sự mở rộng của thị trường ngoài nước được thực hiện dựa trên cơ sở:
==—.—
«Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ”
Trang 9
Trang 12
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hiền
———————————————====EFễĂ Thực hiện tốt chủ trương hội nhập, tăng cường sức cạnh tranh, tiếp thu kĩ thuật công nghệ mới, trình độ quản lí và kinh nghiệm sản xuất, khai thác các điêu kiện vật chât cho sản xuât hàng trong nước
Tổ chức tốt việc liên kết các đơn vị sản xuất trong việc tô chức sản xuất hàng xuât
khẩu, tạo sức cạnh tranh lớn và phát triển quan hệ hợp tac trong san xuat và tiêu thụ
sản phâm
Làm tốt công tác giới thiệu sản phâm đôi với khách nước ngoài
Tổ chức tốt ký kết và thực hiện hợp đồng từ cả hai phía (Việt Nam và nước ngoài)
trên cơ sở các công ước và quy định quôc tê và luật pháp của các nước
=_ Đối với thị trường trong nước
Khi cuộc sống của người dân được nâng cao, sức mua được cải thiện, điều mà con người hướng tới là sự quay lại với tự nhiên, gắn bó với truyền thống Đó là một qui luật phổ biến không chỉ đối với các tầng lớp quí phái mà với mọi tầng lớp dân cư Vì vậy khi đông đảo cư dân nông thôn có cuộc sống nâng lên là lúc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống trong nước có điều kiện phát triển Thị trường trong nước tiêu thụ một phần rất lớn sản phẩm sản xuất ra từ trong nước nếu sản phâm đó đủ SỨC cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài, hơn thế nữa đây lại là những sản phẩm quen biết,
mang tính truyền thống Hãy sản xuất ra những mặt hàng cho chính người dân nước
mình trước khi nói đến chuyện xuất khẩu là bài học đối với nhiều doanh nghiệp của Việt Nam trong điều kiện mới hình thành và phát triển
1.2.2 THUC TRANG CAC LANG NGHE
Cuộc điều tra mới đây ở 18 tỉnh có nhiều làng nghề trong cả nước của Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn cho thấy vốn sản xuất bình quân của 1 cơ sở tuy đạt 700,31 triệu đồng song quy mô cế định lại khác nhau, chỉ 4% số cơ sở có vốn hơn Š tỷ đồng; 21,9% cơ
sở có vốn dưới 50 triệu đồng Vốn sản xuất bình quân mỗi hộ là 25,73 triệu đồng nhưng
lại có tới gần 40% số hộ có vốn kinh doanh đưới 10 triệu đồng
Lượng vốn nhỏ đã hạn chế khả năng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng sản xuất nên tình trạng nhiều cơ sở sản xuật phải đóng cửa và một sô làng nghề đang tôn tại một cách leo lắt là điêu khó tránh khỏi
Rất nhiều cơ sở sản xuất ở các làng nghề Việt Nam đã gặp phải không ít lao đao vì
không tìm ra được thị trường tiêu thụ, đầu ra sản phẩm thì bị lệ thuộc hoàn tàon vào các công ty trung gian Phải xuất uỷ thác, bị ép giá, không được bao tiêu sản phẩm và thụ động
chờ thu mua, nhiều cơ, sở thiếu vốn trầm trọng để tái sản xuất dẫn đến tình trạng sản xuât
Trang 13Tại hội thảo nghệ nhân Thăng Long với việc bảo tồn và phát triển nghề thủ công hôm nay, nhiều nghệ nhân đã đưa ra nguyên nhân của tình trạng trên Ông Nguyễn Ngọc Khuông, Chủ tịch Hội mỹ nghệ kim hoàn thành phố Hà Nội, cho rằng, làng nghề dần biến
mất do không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống đương đại Trong khi đời sông kinh tế,
điều kiện làm việc của nghệ nhân còn nhiều bức xúc Người làm nghề kim hoàn đang yếu
thế trước sự cạnh tranh của hàng trang sức nước ngoài Hàng nước ngoài có nhiều mầu mã
phong phú còn chế tác trong nước không kịp đổi mới do các nghệ nhân hạn chế vốn liếng
Tóm lại vì chưa có hiệp hội, chưa có tiếng nói chung nên việc quy hoạch, hoạch định một chiến lược phát triển lâu dài cho ngành thủ công mỹ nghệ đang bị bỏ ngỏ, tình trạng mạnh ai nay làm, khai thác bừa bãi, đang dẫn tới nguy cơ làm cạn kiệt nguôn nguyên liệu
tuy được coi là đồi dào
— rnễTẫỶ¬“¬rmrm—m—m—sasrsarasaaxrarreeerreeer
“Thực trạng và giải ¡ pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 11
Trang 14SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hiền
a
CHUONG 2
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG
MY NGHE VIET NAM
“Thực trạng và giải pháp thúc day xuất khẩu ngành hàng thủ công mj nghé Vigt Nam”
Trang 12
Trang 15Việt Nam đạt 220 triệu USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm 2004 Tuy nhiên, kim ngạch
trong tháng 5 chỉ đạt 37 triệu USD, đặc biệt trong tháng 4 và tháng 5 với mức giảm sút trung bình là 17% so với tháng 3 (là tháng xuất khâu hàng thủ công mỹ nghệ đạt kim ngạch cao nhất) Cụ thé là tháng 4 giảm 12,7% so với tháng 3 và tháng 5 giảm 9,8% so với tháng 4
So với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành thủ công mỹ nghệ trong năm 2005 đạt 500 triệu USD (tăng 20% so với năm 2004), thì mức tăng trưởng như trên con thap, nhưng chúng ta có thê hoàn toàn tin tưởng vào sự khả quan của những thang tiép theo
Mat hang thủ công mỹ nghệ chủ yếu được xuất sang thị trường châu Au, My, Nhat va
Hồng Kông Các mặt hàng đạt giá trị xuất khâu lớn gồm gốm sứ mỹ nghệ, mây tre lá,
trang sức và các mặt hàng khám Pháp dẫn đầu về nhập khâu các mặt hàng thủ công mỹ
nghệ của VN, kế đến là các thị trường Đức, Nhật Bản, Mỹ, Bi, Anh, Hồng Kông
Bảng 2: Thị trường nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam 5 thang đầu 2005
Nguồn : Hải quan Việt Nam
Để có thể đạt được mục tiêu đã để ra trong năm 2005 và các năm về sau, Bộ Thương
Mại cũng đã kiến nghị Chính Phủ chỉ đạo triển khai thực hiện từ năm 2003 các biện pháp
hé trợ các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ngành hàng thủ công mỹ nghệ vệ vô, thuê,
về định hướng thị trường và mặt hàng xuất khẩu Vào năm 2004 Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam cũng đã xây dựng sàigiao dịch điện tử cho hàng thủ công mỹ nghệ
Trang 165 Tiền tệ: Yên ; Yên/USD = 105,16
6 Lực lượng lao động(1998) : 67,76 triệu; trong đó : thương mại và dịch vụ (65%), công nghiệp (30%), nông lâm ngư nghiệp (5%)
7 Tỷ lệ biết chữ : 99%
8 Cơ cầu hành chính : gồm 47 quận
9 Thành phố cảng (chính ):
> Thanh phé : Osaka, Fukuoka, Nagoya, Yokohama
> Cang : Tokyo, Osaka, Fukuoka, Yokohama
10 Thông tin liên lạc :
> Bao chi : 124 tờ báo
> Phát thanh và truyền hình : công ty PT & TH cộng đồng HNK và 170 công
12 Các chỉ số kinh tế :
> GDP (2003) : 4.326,4 ty USD
( Nguồn : Theo World Bank, World development Indicators Database, July, 2004.)
> GDP/dau người (2003) : 34.012 USD
(Nguén : Theo World Bank, World development Indicators Database, July, 2004.)
13 Tỷ lệ thất nghiệp : ở mức cao là 4,7 % (tháng 5/2004)
14.Tổng nợ trong dân của chính phủ Nhật : chiếm 140% GDP (khoảng 6500 tỷ
USD) cao nhất trên thế giới
Trang 17SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
eee a eee eee reece eee
Biểu đồ 2 : Ty trong cac nganh kinh té trong co cau GDP cua Nhat
Nhật Bản là nước nghèo nàn về tài nguyên trong khi dân số đông với 127,2 triệu người
(2003) với 66,9% trong độ tuổi từ 15-64 tuổi Nhật Bản đã phải nhập khẩu phần lớn
nguyên nhiên liệu, kinh tế đất nước bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh nhưng với các
chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao
độ (1955-1973) Giai đoạn này được coi là giai đoạn phát triển kinh tế thần kỳ của Nhật
Bản Từ 1974 tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản chậm lại song đây vẫn được coi là một nườc có tiềm năng lớn thứ hai trên thế giới về kinh tế, khoa học kỹ thuật, tài chính Tuy
nhiên sau thời kỳ kinh tế “bong bóng” 1986-1990, từ năm 1991 tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nhật Bản giảm mạnh do ảnh hưởng mức đầu tư thái quá trong những năm cuối của thập
kỷ 80 và những chính sách trong nước nhằm hạn chế sự tăng vọt của giá cổ phiếu và thị
trường địa ốc
Trong những năm 1992-1995 mức tăng trưởng xuống thấp dưới 1%, thậm chí năm 1998
là —1,7% (xem biểu đồ) Năm 1998 kinh tế Nhật Bản đã lâm vào suy thoái nghiêm trọng
nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1974 đến nay với những biểu hiện khủng
hoáng hệ thống tài chính tiền tệ, đồng Yên, chứng khoáng giảm giá mạnh, nợ khó đòi tăng
cao, sản xuất trì trệ và tỷ lệ thất nghiệp hoàn toàn đạt con số kỷ lục trong 45 năm nay
(5,5% tháng 12/02)
Năm 1997, GDP thực -0,7%, năm 1998 là -1,8%.Cuộc suy thoái kinh tế này của Nhật Bản chủ yếu mang tính chất cơ cấu liên quan đến mô hình phát triển của Nhật đang bị thách thức với một môi trường đã thay đổi khác trước Vấn đề phục hồi kinh tế thông qua đây mạnh cải cách cơ cấu kinh tế, tài chính, ngân hàng đang là một vấn đề cấp bách đặt ra
trước mắt đối với chính phủ Nhật Nhật Bản đang xúc tiễn 6 chương trình cải cách lớn
trong đó có cải cách cờ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính
và săp xếp lại cơ cấu chính phủ Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ 1/2001
Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo ở Nhật Bản
Năm 1992, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản đạt 3,87 triệu JPY/người tăng lên
3,94 triệu JPY/người (31.300 USD/người) vào năm 2002 và 4,2 triệu JPY/người (34.012
USD/người) vào năm 2003 Như vậy, tốc độ tăng trung bình hàng năm của GDP theo đầu
người chỉ đạt 0,8% thời gian hơn 10 năm qua Tuy nhiên nền kinh tế đã có những dấu hiệu
phục hồi từ cuối 2002 với tốc độ tăng GDP đạt 0,3% trong năm 2002 và đạt 2,2% trong
năm 2003
Từ năm 2004 đến nay nền kinh tế Nhật Bản có những chuyển biến tốt đẹp, triển vọng
sáng sủa Chính phủ Nhật Bản tiếp tục tiên hành cải cách mang tính kết câu đôi với các
==.=—=—
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ”
Trang 15
Trang 18SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
a a ES
ngành ngân hàng, thuế, tài chính, hành chính.Chính phủ Nhật Bản dự đoán mức tăng GDP
năm 2005 đạt 1,3%, thậm chí có thể đạt 1,6% Theo thống kê mới nhất của nội các Nhật
Bản, chỉ riêng quý 1/2005 mức tăng GDP đã đạt 1,3% Đây được coi là trường hợp hiểm
thây sau khi “nên kinh tế bong bóng” Nhật Bản bị nô tung
Sản xuất công nghiệp của Nhật Bản chủ yếu phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (khoảng 90% nhu cầu năng lượng của Nhật Bản phải nhập từ nước ngoài đặc biệt từ dầu
mỏ) Thành tựu kinh tế Nhật Bản chủ yếu tập trung trong ngành chế tạo mà nỗi bật nhất là
chế tạo ô tô, xe máy Nhật Bản còn là trong những nước đứng hàng đầu thế giới về đóng tàu, sản xuất sắt thép, sợi tổng hợp, hoá chat, xi mang, đề điện và các thiết bị điện tử
Chính những thành tựu này đã giúp cho Nhật Bản đứng vững ở vị thế cường quốc thứ hai
trên thế giới về kinh tế dù cho Nhật Bản vẫn còn đang phải đứng trước nhiều thách thức
Ngoài ra, vai trò quan trọng của nền kinh tế Nhật Bản đối với thế giới còn được củng cố khi Nhật Bản là nước xuất khâu tư bản ra nước ngoài lớn nhất thế giới Cán cân thương
mại của Nhật Bản luôn xuất siêu lớn (Mỹ luôn được cho là cường quốc đứng đầu thế giới
vệ kinh tế lại có nền thương mại nhập siêu lớn) Nhật Bản xuất khâu chủ yếu là các loại
thiết bị điện, điện tử, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và nhập khâu lớn nguyên
nhiên liệu cho nông sản Trong cơ cấu xuất khâu hàng hóa của Nhật Bản năm 2002, máy
móc thiết bị chiếm tới 40% tống kim ngạch xuất khẩu và phương tiện giao thông chiếm 25%
Bảng 3 : Tình hình thương mại của Nhật Bản 1992 — 2003
Đơn vị : Tỷ USD;%
Xuất khẩu | Nhập khẩu | Xuất khẩu | Nhập khẩu mại
Nhin vao bang 3 ta co thể thấy kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản tăng én định từ năm
1992-1997 với tốc độ tăng trưởng bình quân là xuât khâu bình quân 4,7%/năm và tăng
trưởng nhập khâu bình quân 7,8%/nam Tu nam 1998 đến 2004 ,tình hình xuất nhập khâu
đã trở nên bât ôn định hơn, xuât khâu giảm vào các năm 199§ và 2001 dưới tác động ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á (1998) và sự trì trệ của nền kinh tế thế giới
(2001) Từ năm 2002 đến nay, xuất nhập khẩu của Nhật Bản lại phục hồi và tăng trưởng
==———
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 16
Trang 19
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Văn Hiền
———————
cao (năm 2003, xuất khâu tăng 13%, nhập khẩu tăng 13,3% so với 2002) Năm 2004 kim
ngạch xuất khâu của Nhật Bản đạt 61,1 ngàn tỷ yên (khoảng 582,6 tỷ USD), tăng 12,2
so với năm 2003 Thị trường xuất khẩu chính của Nhật Bản là Mỹ (chiếm 22,4% tong kim
ngạch xuất khâu, chủ yêu là thiết bị vận tải và máy móc), EU (15,5%, mặt hàng xuất khâu chính là thiết bị vận tải), Trung Quốc (13%, chủ yếu là máy móc), Hàn Quốc (7,8%), 10 nước ASEAN (chiếm 12,9% với kim ngạch xuất khâu của Nhật Bản đạt 7.893 tỷ yên, tăng
11,5% so với năm 2003, trong đó Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philíppin và Inđônêxia
là thị trường xuất khẩu chính của Nhật Bản) Chỉ riêng những tháng đầu năm 2005 (tới
tháng 2/05), Bộ Thương mại Nhật Bản cho biết kim ngạch xuất khẩu của Nhật tăng 3,2%,
lên 4.412,6 tỷ Yên-tháng thứ 14 liên tục tăng, kim ngạch nhập khẩu tăng 11,6% lên
4.211,8 tỷ Yên-tháng tăng thứ 11 liên tục Cả kim ngạch nhập khẩu và xuất khâu đề đạt
mức cao kỷ lục và đây là một dấu hiệu cho thấy hoạt động thương mại Nhật Bản đang trên
đà phục hồi.)
Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu năm 2004 của Nhật Bản đạt 49,1 ngàn tỷ yên
(khoảng 472,8 tỷ USD), tăng 10,9% so với năm 2003 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Nhật Bán là nguyên liệu thô, nhiên liệu, khoáng chất và thiết bị máy móc Thị trường
nhập khẩu chính của Nhật Bản là Trung Quốc (chiếm 20,7%), 10 nước ASEAN (14,8% so
với 2003 là 15,3 Inđônêxia, Malaysia và Thái Lan là 3 nước trong ASEAN có kim ngạch xuât khâu lớn nhất sang Nhật Bản Việt Nam đứng thứ 6 sau 3 nước trên, Philíppin
và Singapore), Mỹ (13,7% chủ yếu là hóa chất và thiết bị máy móc, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm ngoái), EU (12,6%) và Hàn Quốc (4,85%)
2.1.2 QUAN HE VIET NAM - NHẬT BẢN
Sau khi thiét lap quan hé ngoai giao ngay 21/9/1973, Viét Nam va Nhat Ban da dan phat triển các mỗi quan hệ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tê
Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam Quan hệ giữa Việt Nam- Nhật Bản phát triên nhanh chóng trên nhiêu lĩnh vực và đã bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu Các mối quan hệ kinh tê chính trị, giao lưu văn hóa không ngừng được mở rộng; đã hình thành khuôn khô quan hệ ở tâm vĩ mô; sự hiểu biết giữa hai nước không ngừng được tăng lên
2.1.2.1 QUAN HỆ CHÍNH TRỊ GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN
Nhật Bản và Việt Nam hàng năm đều có các cuộc gặp cấp cao, Thủ tướng Nhật Bản
thăm Việt Nam 4 lần (Murayama 8/1994, Hashimoto 1/1997, Obuchi 12/1998, Koizumi 4/02), Ngoại trưởng Nhật thăm chính thức 2 lần (1996 và 2004) Thủ tướng ta thăm Nhật
bản 6 lần (1993, 1999, 2001, 2003 (2 lần) và 6/2004) Từ 1993 đến nay, Tổng Bi thu (2 lần
thăm Nhật 1995 và 2002), Chủ tịch Quốc hội và Bộ trưởng Ngoại giao ta cũng đã thăm
Nhật Bản Năm 2002, Lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất xây dựng quan hệ Việt Nam-
Nhật Bản theo phương châm "đối tác tin cậy, ổn định lâu đài" Trong chuyến thăm Việt Nam 7/2004 của Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung "Vươn tới tâm cao mới của đối tác bền vững"
Hai bên đã tạo dựng được cơ chế đối thoại ở nhiều cấp Ngoài đối thoại chính trị định
kỳ ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao (từ năm 1993), hai bên cũng đã xây dựng được cơ chê đôi
==——ễ=—— neeeereeern
y
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công my nghệ Việt Nam” Trang 17
Trang 20
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Văn Hiển
thoai kinh té, an ninh va quéc phong Hai bén da trao đổi tùy viên quân sự, mở Tổng lãnh
sự quán ở TPHCM và Osaka
Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (vào APEC, WTO, ASEM, ARF, vận động OECD giúp ta về kỹ
thuật .); coi trọng quan hệ với Việt Nam, lấy lợi ích và mục tiêu lâu dài làm trọng Ta ủng
hộ Nhật là thành viên.thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc mở rộng, làm thành viên Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc và vận động Nhật ủng hộ ta ứng cử làm thành viên
không thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2008-2009
2.1.2.2 QUAN HE THUONG MAI VIET NAM - NHẬT BẢN
Từ năm 1986, Việt Nam bước vào một giai đoạn mới với công cuộc đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường và thực hiện chính sách mở cửa Đây là bước ngoặt lớn của
Việt Nam trong phát triển kinh tế cả đối nội lẫn đối ngoại Quan hệ thương mại Việt -
Nhật cũng bước vào giai đoạn mới với hai đặc trưng là sự tăng lên vững chắc về khối lượng buôn bán và sự quan tâm ngày càng cao của các nhà kinh doanh và các công ty Nhật
Bản đối với thị trường Việt Nam
Hiện nay, Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam sau Hoa Kỳ, là một trong ba nhà đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam với số vốn đăng ký (từ năm 1988 đến tháng
6 năm 2003) là 4,3 tỷ USD nhưng lại là nhà đầu tư đứng hàng dau xét VỆ các dự án được thực hiện (3,74 tỷ USD) Nhật Bản cũng là nước đứng đầu về cung cập hồ trợ phát triên chính thức (ODA) cho Việt Nam với tông vỗn ODA mà Nhật Bản cung cấp từ năm 1991-
2002 là 927,8 triệu USD
Chúng ta có thể hình dung tình hình hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản
ở những năm gân đây qua biêu đô 2 và qua bảng số liệu sau:
Biểu đồ 3 : Tình hình hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản những
===
—ẰẼ_Ẽ_ẼƑ_-Rerremoeereeel
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 18
Trang 21SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền
Bảng 4 : Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản
Đơn vị : Triệu USD, khác ghi rõ
Nguôn : Niên giám Thống kê 2003, Số liệu xuất nhập khẩu 2003, Tổng cục Thông
kê, Japan Staticstical: Association
Quan hệ thương mại Việt — Nhật đã có những bước phát triển khá tốt thời gian hơn 10
năm qua và Nhật Bản luôn là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam
Kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng từ 879 triệu USD năm 1990 lên 2082 triệu USD
năm 1995 và 4871 triệu USD vào năm 2000 Sau khi có sự suy giảm chút ít vào năm 2001,
thương mại hai chiều lại hồi phục, đạt 4796 triệu USD năm 2002 và tăng mạnh năm 2003
đạt mức 5521 triệu USD
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đã tăng từ 662 triệu USD năm 1991 lên
2621 triệu USD năm 2000, đã tăng gấp 4 lần trong vòng 10 năm, tốc độ tăng trung bình
hàng năm đạt 15% Thời kỳ 2001-2003, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đã trải
qua sự suy giảm liên tục các năm 2001 và 2002 trước khi đạt mức phát triển cao là 2909
triệu USD năm 2003, tăng 19,3% so với năm 2002 Tuy nhiên, tỷ trọng của Nhật Bản
trong tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam đang có xu hướng giảm đi cùng với
chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam Bên cạnh đó, xuât khâu
của Việt Nam mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ bé trong tổng kim ngạch nhập khẩu của
Nhật Bản
Bảng 5 : Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Nhật Bản
ộ Đơn vị : Triệu Yên
Trang 22
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
Bảng 6 : Cơ cầu xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản
Đơn vị : 1000 USD
1995 1999 2000 2001 2002 2003 Tổng kìm ngạch 1.461.000 | 1.786.252 | 2.621.658 | 2.509.802 | 2.438.144| 2.909.151
Ty trong (%) 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Ca phé 35.253 24.496 20.946 17.858 15.594 18.564
Ty trong (%) 2,42 1,37 0,80 0,71 0,64 0,64 Cao su 6.062 2.968 5.669 5.229 10.447 11.986
Ty trong (%) 0,41 0,17 0,22 0,21 0,43 0,41 Rau qua 5.445 9.365 11.729 14.527 14.527 16.710
Ty trong (%) 037 0,52 "0,44 0,58 0,60 0,57 Thuy hai san 336863] 412.378 | 488.201 474.755 555.442 651.314
Ty trong (%) 733,05 23.08 18,62 18,92 22,78 22,38 Hang thi cong my nghé 28.262 25.851 35.327 25.159 43.176 48.162
gỗ, than đá Ngoài những mặt hàng chính yêu nhự
Nhìn vào bảng 6 ta có thể thấy các mặt hàng chính của Việt Nam xuất khâu sang Nhật
Bản là hàng đệt may, thủy sản, dâu thô, đô nội thật, đô thủ công mỹ nghệ, các sản phâm
dệt may, thủy sản, dâu thô đem về
những lượng ngoại tệ lớn cho đất nước thì trong thời gian qua nhiều sản phẩm như đồ thủ
công mỹ nghệ hay các sản phẩm làm từ gỗ đang ngày được thị trường Nhật Bản quan tâm,
ưa chuộng nên kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này đang ngày một tăng cao Bên cạnh
đó có một số mặt hàng mới xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản được người tiêu dùng
Nhật chấp nhận như mỳ ăn liền, hạt điều, khoai lang, bột sắn, lốp ôtô, tầu thủy
Nhìn chung những năm vừa qua Nhật Bản luôn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt
Nam ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Năm 2004, quan hệ thương mại Việt Nam
Nhật Bản đạt kết quả tốt Trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường
Nhật Bản đạt 3,82 tỷ USD, tăng 28% so với năm 2003
Những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao của Việt Nam vào thị trường này là; Hàng
thủy hải sản tăng 27,5% so với năm 2003; hàng dây và cáp điện tăng 33%; sản pham 20
tăng 24%; than đá tăng 64%; hàng nông sản tăng 20%; sản phẩm nhựa tăng 50%; giầy đép
tăng 15%; dệt may tăng 9%; dầu thô tăng 4%
Bảng 7 : Cơ cấu hàng nhập khấu của Việt Nam tir Nhat Ban — 2002
Phương tiện giao thông vận tải (như ô tô, xe máy) 22,6
Máy móc (thiết bi động cơ, máy dệt, máy xây dựng) 20,7
San pham va nguyén liéu dét 11,5
Sản phâm khác 45,2
Nguon : JETRO
Về mặt nhập khẩu qua bảng số liệu chúng ta thấy nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản
liên tục tăng trong các năm qua Nêu nam 1991 nhap khau dat 217 trigu USD, sau 10 nam
con số này đã tăng lên gấp hơn 10 lân (năm 2000), tang lên 2.260 triệu USD Tôc độ tăng
== ÉŸẰ-Ÿ-Ÿ-.-.-n=eeeee'
“Thực trạng và giải pháp thúc đầy xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 20
Trang 23
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
trung bình hàng năm đạt 26,6% va nhập khẩu 2003 đạt 2.612 triệu USD, tăng 10,82% so với năm 2002 Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì việc tăng nhập
khẩu từ thị trường Nhật Bản, một thị trường công nghệ nguồn hàng đầu của thế giới sẽ là
tốt cho Việt Nam Tuy nhiên tăng nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản cũng đặt ra cho Việt
Nam yêu cầu phải đây mạnh xuất khâu hơn nữa sang thị trường này Ta có thể nhận thấy xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản chi chiếm gần 0,6% thị phân nhập khẩu của Nhật Bản(năm 2003), một con số khiêm tốn so với tiềm năng lợi thế của Việt Nam và sự nhiệt
tình hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản Năm 2004 tỷ trọng hàng Việt Nam xuất khâu vào thị trường Nhật Bản chỉ chiếm khoảng 1% tổng lượng hàng hoá nhập khâu của Nhật Bản
Trong khi một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam lại giảm trong năm 2004 như chè
giảm 66%; xe dap và phụ tùng xe đạp giảm 51%; máy vi tính và linh kiện vi tính giảm 27%; hàng mây tre đan giảm 19%
Vào những tháng đầu năm 2005 đã có những tín hiệu đáng mừng trong việc xuất khâu các mặt hàng Việt Nam sang thị trường Nhật Bản Tính riêng trong 4 tháng đầu năm 2005, tổng kim ngạch buôn bán Việt Nam - Nhật tăng khoảng 14% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu tăng 9,5% Nếu trừ dầu thô (do đây là mặt hàng thường xuyên và
không biến động nhiều), xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật tăng 11,1
Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật có kim ngạch lớn và tăng trưởng nhanh là thủy sản, may mặc, dây điện Ngoài ra, xuất khâu mạch điện tử tích hợp và vi linh kiện điện tử gần đây cũng tăng mạnh Đôi với mặt hàng gạo, sô lượng Việt Nam giành được trong đấu thầu tại Nhật hiện đang tăng rất nhanh Mới đây theo số liệu thống kê của Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản thì tổng kim ngạch xuất nhập khâu Việt Nam ~ Nhật Bản đạt khoảng 3,75 tỷ USD, tăng 17,9% trong đó sáu mặt hàng có kim ngạch xuất khâu lớn là dệt may, thủ sản, dây điện, đồ gỗ, than đá và giày dép Cụ thể là hàng dệt may đạt 338,2 triệu USD tăng 8,3%; hải sản đạt 246 triệu USD tăng 2,8%, dây điện đạt 199 triệu
USD tăng 24,6%, đồ gỗ đạt 86,5 triệu USD tăng 13,8%, than đá đạt 84,7 triệu USD tăng
31,5% và giày dép đạt 64,6 triệu USD tang 9,5% Bên cạnh đó, một số mặt hàng khác
cũng có tốc độ tăng trưởng xuất khâu cao là hạt tiêu (21,36%), mạch điện tử (29,87%), gạo
(140%), mô tơ loại nhỏ (55,5%), sản phẩm nhựa (36,9%), than đá (31,5%), tơ tăm (tăng 26,1%) và dây điện (24,6%)
Tóm lại, với những thuận lợi về vị trí địa lý, về truyền thống giao lưu và về tính bổ sung
Z lẫn nhau của cơ cấu hàng hoá xuât nhập khẩu giữa hai nước thì những kết quả ngoại thương đã đạt được là khá nhỏ bé so với tiêm năng
2.1.3 THỊ TRƯỜNG VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG NHẬT BẢN
2.1.3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1) Đặc điểm cơ cấu dân cư và phân đoạn thị trường:
Nhật Bản đang phải đối mặt với một thực tế là tỷ lệ người cao tuổi ở nước này đang có
xu hướng tăng nhanh
Trang 24Nguon : Emerging Business Opportunities in Japan-2005
Nhìn vào bảng số liệu này ta có thể thấy rõ dân số Nhật Bản đang ngày một già đi Nếu vào năm 1970 tỷ lệ người trong độ tuổi đưới 15 tuổi chiếm 24,03% thì sau 20 năm (năm 1990) tý lệ này đã giảm xuống còn 18,24% và hiện nay (năm 2003 tới nay) tỷ lệ này chỉ
còn lại 14% Trong khi đó tỷ lệ người ở độ tuổi từ 15-64 tuổi và trên 65 tuổi đang ngày
một tăng Điêu này thực sự đã tác động đến nhiều mặt trong đời sống xã hội của Nhật Bản
hiện nay (cơ cấu chỉ tiêu trong tổng thu nhập, cơ cấu tiêu dùng hàng hoá, tập quán mua
săm )
ii.) Thu nhập và chỉ tiêu
Trong những năm cuối của thập niên 90, chỉ tiêu của hộ gia đình Nhật Bản đã giảm liên
tục đo tình hình kinh tế suy yếu và thu nhập không ổn định : mức suy giảm là 2,2” năm
1998, 1,2% năm 1999, 0,9% trong năm 2000, 1,2% năm 2001 và 0,8% năm 2002 Trong
năm 2005 Nhật dự đoán chỉ tiêu của người dân sẽ tăng lên khoảng 0,9%
Trong cơ cấu tiêu dùng của người Nhật, chi tiêu cho thực phẩm vẫn chiếm phần lớn
nhat
iii.) Dac điểm của hệ thống phân phối
Hàng hoá vào thị trường Nhật Bản phải qua nhiều khâu phân phối lưu thông nên khi đến
được tay người tiêu dùng hàng hoá có giá cả rất cao so với giá nhập khẩu Hệ thống phân
phối của tại Nhật Bản nhìn chung tương đối phức tạp cần huy động nhiều nhân công, bộ
máy công kềnh Sự phức tạp của hệ thống phân phối làm tăng chỉ phí và đó cũng là lý do
khiến cho giá thành hàng hoá bán tại Nhật cao hơn rất nhiều so với các thị trường khác
trên thế giới Thập kỷ vừa qua là thời kỳ khó khăn của ngành phân phối, do sự đòi hỏi của
khách hàng và việc nhận thức của các giới chức Nhật Bản về sự cần thiết tăng tính hiệu
quả của nền kinh tế, một số thay đổi đã được thực hiện một cách nhanh chóng Tuy vậy,
hệ thống phân phối truyền thống vẫn còn tồn tại, nó vẫn tiếp tục không chỉ là sự cản trở
của nền kinh tế trong nước mà nó là một hàng rào khó vượt qua nổi đối với các hàng hoá nhập khâu cũng như là dịch vụ
Khó khăn đối với việc phân phối tại Nhật cũng một phân do vấn đề văn hoá Người Nhật rất do dự về việc phải làm gián đoạn các môi quan hệ truyền thống với các nhà cung câp,
ngay cả khi các nhà xuât khâu nước ngoài có thể cung cấp các sản phẩm tốt hơn với giá
thành hạ hơn
je
“Thiec trang va gidi pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thú công my nghệ Việt Nam” Trang 22
Trang 25nước ngoài Đồng thời, họ cũng e ngại việc các nhà cung cấp nước ngoài không thể giao
hàng đúng hẹn, không có khả năng cung cấp các dịch vụ hậu mãi tốt, mà đây lại chính là điều đáng quan tâm của người Nhật và là điểm mạnh của các nhà cung cấp Nhật Bản
Mối lo ngại này một phần cũng do không có thói quen trong làm ăn với người nước ngoài, với những rủi ro khó dự báo trước, làm cho đôi khi quan hệ trở nên miễn cưỡng Đê
có thê hợp tác và phát triển mối quan hệ lâu dài với các doanh nghiệp Nhật Bản thì điều cốt lõi là phải vượt qua được sự miễn cưỡng này Có sự hiện diện tại Nhật (ngay cả thông qua các mỗi quen biết hoặc văn phòng đại diện) là một lợi thế trong việc chiếm được lòng
tin đối với đối tác Nhật Bản
ii) Hệ thống bán lẻ
Khoảng một nửa lượng mua của người tiêu dùng Nhật Bản được thực hiện tại các cửa hàng nhỏ gọi là "Mom and Pob" Stores Và, thông thường, các cửa hàng này không bán các hàng nhập ngoại Trên thực tê, một mặt, các cửa hàng này có môi quan hệ mật thiệt với
các nhà sản xuất trong nước bao gồm cả các ưu đãi về tài chính, sự tài trợ về cơ sở hạ tầng,
sự hậu thuẫn trong công tác marketing (Quảng cáo và tiếp thị sản phẩm, khuyến mại ).Mặt khác, các cửa hàng nhỏ này không có đủ diện tích cần thiết để dự trữ một lượng lớn hàng hoá, không có đủ tiềm lực tài chính để đầu cơ các mặt hàng đắt tiền hoặc theo đơn đặt hàng Trong những năm gần đây, sự chững lại của nền kinh tế đất nước đã gây cho các chủ cửa hàng loại nhỏ này không ít khó khăn và bị thay thế bằng các của hàng tự phục
vụ, các cửa hàng giảm giá và cá siêu thị
Có thể nói hệ thống cửa hàng bán lẻ nhỏ và cửa hàng thức phẩm nhỏ đã chiếm địa vị thống trị trong hệ thông kinh doanh bán lẻ thực phẩm của Nhật Bản Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, vị trí của các cửa hàng này giảm đi cùng với sự phát triển của các cửa
hàng bach hoa (GMS), cac quây thực phẩm trong các cửa hàng lớn (D5), các siéu thi (SM)
và các chuỗi cửa hàng chuyên dụng (CVS) Đặc điểm và xu hướng của các loại hình bán lẻ được thể hiện qua bảng sau :
Bảng 9 : Đặc điểm hệ thống bán lẻ Nhật Bản
GMS | SM | DS | CVS | Cửa hàng
nhỏ
Tỷ trọng (2002), % 10 32 5 11 42 Triển vọng tăng trưởng H-M |H-M |L H-M |D Triển vọng nhập khâu H-M|H-MÌM |L L
Đặc điểm mặt hàng kinh doanh
Chất lượng cao/giá cao M M H M M Chất lượng vừa phải/giá thấp H H M |M M Sản phâm mới H H H H L
Chú thích : H - cao; M - trung bình; L - thấp; D - giảm
Nguồn : METI Commercial Census (2002); ATO and Promar estimates of import growth and receptivity
“Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ”
Trang 23
Trang 26Nắm bắt được thị hiểu :
o Tinh đa dạng của thị trường (4 mùa, lứa tuổi, khu vực, v.v )
o_ Sản xuất càng gần với thị trường càng tốt (Market-in) Điều quan trọng là phải có
phản ứng nhanh nhậy với khuynh hướng của người tiêu dùng
o Khong phải là “có cầu mới có cung” mà phải chuyển sang cách nghĩ “cung tạo ra câu”
o_ Chuẩn bị nhiều chủng loại sao cho phong phú cho dù chỉ một mặt hàng Người tiêu dùng muốn lựa chọn ( Ví dụ: to nhỏ, nhiêu chức năng, hình thái, v.v )
Định giá thành sản phẩm:
Thị trường quyết định giá cả Người tiêu dùng Nhật Bản có đặc điểm nếu họ thấy cần
thiết thì dù đắt cũng mua Ngược lại, những thứ mà thị trường không ưa thì giá dù rẻ cũng không thể bán được Tuy nhiên, dù giá sản phẩm tại Việt Nam có rẻ đi chăng nữa, song nếu giá vận chuyên và thuế cao sẽ làm cho giá thành sản phẩm tăng lên và có thể cao hơn
so với hàng hoá cùng loại của các đối thủ cạnh tranh Vì vậy, việc định giá chào hàng không nên dựa vào giá bán lẻ tại thị trường Nhật Bản
Bảo đảm thời gian giao hàng:
Điều tối quan trọng là phải báo đảm thời hạn mà bên mua yêu cầu Nếu giao hàng chậm không bảo đảm được thời hạn giao hàng sẽ làm mắt đi cơ hội bán hàng Nếu mất uy tín,
bên mua sẽ không đặt hàng đến lần thứ hai
o Khong nhat thiệt mọi chúng loại hàng hoa déu phai co chat lugng cao, ma diéu
quan trong là chất lượng hàng hoá phải on định
o Không nên đưa ra những sản phâm có chât lượng vượt quá yêu câu sử dụng cân thiết Vì nếu cố đầu tư để có chất lượng cao sẽ làm tăng giá thành sản phâm và người tiêu dùng sẽ không muôn mua nữa
Sự hiện diện trực tiếp trên thị trường Nhật Bản là cách tốt nhất để có thê thâm nhập được
vào thị trường này Tuy nhiên đây là hình thức hệt sức tến kém đòi hỏi phải có sự tuyên chọn kỹ lưỡng dựa trên sự hiệu biệt sâu sắc đối tác của doanh nghiệp tại Nhật Bản
Ngoài ra, theo một số chuyên gia chuyên nghiên cứu về Nhật Bản, khi kinh doanh với
người Nhật, các doanh nghiệp VN cân lưu ý tới một sô điểm sau đây:
o_ Đặc điểm nỗi bật khi làm việc với các doanh nhân Nhật Bản là giữ chữ tín, giữ lời hứa dù là những việc nhỏ nhất Đặc biệt, họ coi trọng ấn tượng trong buổi gặp mặt đầu tiên hay trong đợt giao địch đầu tiên Điều này có nghĩa khi các doanh
nghiệp VN không thực hiện được lời hứa, thì việc đầu tiên là phải xin lỗi, cho dù vì bất kỳ lý do gì Việc giải thích lý do phải được thực hiện hết sức khéo léo và vào
Trang 27
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền
vẫn yêu cầu đối tác làm ăn đưa đến tận nơi sản xuât để tận mặt chứng kiên tô chức, năng lực sản xuất của bạn hay của đối tác sản xuất hàng cho bạn Nhưng khi bắt
đầu vào giao dịch chính thức thì các công ty Nhật Bản lại nỗi tiếng là ổn định và
trung thành với bạn hàng
o Thời gian đặt hàng thử, số lượng nhỏ kéo dài rất lâu Nhiều khi, sau vài đơn hàng đầu tiên với số lượng ít, doanh nghiệp phía VN không đủ kiên trì để tiếp tục nên đã không nhiệt tình trong giao tiếp kinh doanh, dẫn đến mắt khách hàng tốt
trong tương lai
o_ Việc tham gia hội chợ thương mại tại Nhật Bản là rất quan trọng, nó không chỉ giúp tìm kiêm khách hàng mới mà còn khẳng định tính thường xuyên, ổn định trong kinh doanh với khách hàng cũ.Tuy nhiên, việc tham gia hội chợ tại Nhật Bản
thường rất tốn kém, chưa kể những mẫu mã hàng hóa chọn để trưng bày nên có sự
trao đối và thống nhất trước với những khách hàng truyền thống của mình, tránh
tình trạng vi phạm cam kết về mẫu mã trước đó
o_ Khi giới thiệu hay bán hàng tại gian trưng bày, người phụ trách bán hàng không được ăn, uống trước mặt khách hàng, cho dù phía trước gian hàng chỉ thấy có
khách đi qua, lại Phải luôn đứng, tươi cười mời chào khách với thái độ thật niềm
nở và cám ơn cho dù khách đó chỉ nhìn và gian hàng của ta rồi lại đi luôn
öo Người Nhật rất coi trọng chuyện gặp mặt trước khi bàn bạc hợp tác và rất chu đáo trong việc chăm sóc khách hàng Việc mời ăn, đón, tiễn sân bay (đặc biệt là nếu vào được tận trong máy bay để đón thì sẽ gây được ấn tượng đặc biệt với bạn) Trong giao dịch thương mại, vấn đề quan hệ cá nhân là vô cùng quan trọng Chú ý, trong bữa ăn mời khách, ta nên chủ động tiếp đồ uống cho cho
khách, cố găng làm sao để khách không bao giờ phải tự rót rượu cho mình trong
suốt bữa ăn
o_ Văn hóa trao danh thiếp: Nhật Bản là một trong những nước hay sử dụng danh
thiếp nhất thế giới Việc không có hay hết danh thiếp khi giao dịch không bao giờ
để lại ấn tượng tốt với khách hàng
o_ Trực công ty: Người Nhật sẽ cảm thấy rất bất ôn về đối tác khi họ gọi điện đến
công ty mà không thấy có người trả lời máy điện thoại hoặc trả lời không đúng
mực
o_ Rất thích khi đối tác sử dụng được tiếng Nhật vì họ cảm thấy gần gũi hơn
Hơn nữa ở những doanh nghiệp vừa và nhỏ, số người nói được tiếng Anh rat it
o_ Người Nhật Bản rất coi trọng giờ hẹn Vì vậy, khi đi làm việc với khách Nhật, ta phải chủ động lựa chọn phương tiện hợp lý và thời gian đảm bảo tránh bị muộn vì
lý do tắc đường
o_ Sau khi đàm phán hay thống nhất vấn đề gì đó dù là không quan trọng lắm
cũng cần phải làm bản tóm tắt nội dung đã thống nhất gửi lại cho đôi tác o_ Chú ý tặng quà khách vào một số dịp lễ của Nhật như dịp Ô Bôn (thang 7), dip này nên gửi dé An; dịp cuỗi năm dương lịch nên tặng đồ uống
o_ Gửi thiếp chúc mừng nhân dịp ngày thành lập công ty; gửi thiếp chúc mừng Giáng sinh và năm mới (lưu ý thiếp chúc mừng phải được gửi tới tay đối tác trước
ngày Giáng sinh, tốt nhất là vào khoảng nửa đầu tháng 12)
o Hang héa, cho dù bất kỳ loại gì cũng phải có hình thức đẹp, sạch sẽ Bao bì sản phẩm phải rất cân thận đúng tiêu chuẩn, hình thức đẹp, kích thước hợp tạo được sự lôi cuỗn và tiện dụng cho người sử dụng So với các thị trường khác, tại Nhật Bản đối với một số mặt hàng như hàng quà tặng, chi phi cho bao bì chiếm tỷ trọng cao hơn trong giá thành sản phẩm
2.1.3.2 NHU CAU VA THI HIEU CUA NGƯỜI TIỂU DUNG NHAT BAN
===—— —
“Thực trạng và giải pháp thúc day xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 28
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
Thị hiểu tiêu dùng của người Nhật Bản bắt nguồn từ truyền thống văn hoá và điều kiện
kinh tế, nhìn chung họ có độ thâm mỹ cao, tỉnh tế do có cơ hội tiếp xúc với nhiều loại
hàng hóa dịch vụ trong và ngoài nước
Thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản rất đa dạng nhưng cũng khá độc đáo Người tiêu dùng Nhật rất chú ý đên chât lượng hàng hóa Sông trong môi trường có thu nhập cao nên người Nhật Bản thường đòi hỏi rât khắt khe về chât lượng hàng hóa, bao gồm cả vân đê vệ
sinh, hình thức và dịch vụ hậu mãi Những vết xước hàng hóa trong quá trình vận chuyên cũng có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tiêu thụ cả lô hàng và ảnh hưởng đến uy tín
Người Nhật sẵn sàng trả giá cao hơn một chút cho những sản phẩm có chất lượng tốt
Yêu cầu này còn bao gồm các dịch vụ hậu mãi như sự phân phối kịp thời của nhà sản xuât khi một sản phẩm bị trục trặc, khả năng và thời gian sửa chữa các sản phâm đó Những lỗi nhỏ do sơ ý trong khi vận chuyên, hay khâu hoàn thiện sản phẩm ví dụ như những vết xước nhỏ, mẫu chỉ cắt còn sót lại trên mặt sản phâm, bao bì xô lệch v.v cũng có thê dân đến tác hại lớn là làm lô hàng khó bán, ảnh hưởng đên kế hoạch xuất khâu lâu dài Bởi vậy cần có sự quan tâm đúng mức tới khâu hoàn thiện, vệ sinh sản phâm, bao gói và vận chuyển hàng
Người Nhật Bản cũng rất nhạy cảm với giá tiêu dùng hàng ngày Sau cuộc khủng hoảng kinh tê bong bóng vào cuối những năm 90 của thê kỷ trước, người Nhật không chỉ quan tâm đến vấn đề chất lượng mà còn rất chú ý đên sự thay doi giá cả
Đối tượng mua hàng chủ yếu là những phụ nữ nội trợ đi mua hàng ngày, có nhiều thời gian (tình trạng sau khi lấy chồng sẽ bỏ việc làm tại công ty vẫn còn phố biến) nên họ rât quan tâm đến sự thay đổi về giá và về mẫu mã hàng hóa Tuy vậy, tâm lý thích dùng hàng xịn, hàng đồ hiệu cho dù với giá rất cao vẫn không thay đổi nhiều so với trước đây Bên cạnh đó, họ cũng quan tâm nhiều đến vấn đề thời trang và màu sắc hàng hóa phù hợp theo từng mùa xuân, hạ, thu, đông Mặt khác, tính đa dạng của sản phẩm là yêu tô vô cùng quan trọng cho việc thâm nhập thị trường Trên thực tế, trong các siêu thị ở Nhật Bản có
vô số những kiêu dáng, loại của cùng một loại hàng tiêu dùng
Tiêu dùng của người Nhật Bản mang tính “mùa vụ” rất rõ rệt Không ít mặt hàng (một
số trường hợp bao gồm cả màu sắc) người Nhật chỉ sử dụng cho mùa này, dịp này mà không bao giờ dùng cho mùa kia và ngược lại Người Nhật cũng đặc biệt ưa thích những hàng thủ công mỹ nghệ tỉnh xảo và thực sự được làm bằng phương pháp thủ công Đây là
2
điểm Việt Nam có thê khai thác mạnh, tận dụng được trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ sang Nhật Bản Tuy nhiên, chất lượng đồng đều là rất quan trọng đối với xuất khâu sang Nhật Bản, nhiều hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam bị trả về do mẫu mã sản phẩm không đông đêu vì làm băng tay
Ngày nay tại thị trường Nhật Bản các giới tiêu thụ thuộc nhiều lửa tuổi khác nhau ngày càng tỏ ra ưa chuộng các loại quà tặng và các sản phẩm trang trí nội thất được sản xuât băng thủ công với các loại nguyên liệu tự nhiên, phản ánh truyền thông và văn hoá đặc thù
của các nước Châu Á
2.1.4 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
Việt Nam”
Trang 26
“Thực trạng và giải pháp thúc đấy xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ
Trang 29
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
Hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam thời kỳ 1291-1995 gặp rất
nhiều khó khăn do các thị trường xuất khâu chủ yếu (Liên Xô cũ và Đông Âu) bị mất Tuy
nhiên cùng với sự cô găng lớn của Chính phủ và các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị
trường mới nên từ năm 1996 đến nay, việc xuất khẩu mặt hàng này đã tìm được lối thoát, khôi phục và phát triển Hiện nay, thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã xuất khâu đến khoảng
100 thị trường nước và khu vực trong đó Nhật Bản là thị trường nước lớn nhất, luôn chiếm
từ 10 — 29 % tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam từ năm 1997 đến
nay Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đi Nhật Bản tuy biến động thất
thường nhưng nhìn chung có chiều hướng phát triển khá tốt
Các nguyên nhân chính để đạt được các kết quá phát triển xuất khẩu thủ công mỹ nghệ sang Nhật Bản như trên là do Chính phủ và các doanh nghiệp rất nỗ lực trong việc tìm
kiếm thị trường và phát triển sản xuất Từ năm 1996 tới nay thị phần nhập khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ tại Nhật tăng mạnh hàng năm
Trong số các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản thì gốm
sứ, đồ gỗ nội thất và mây tre đan là các mặt hàng chính Kim ngạch xuất khâu các mặt hàng này chiếm từ 50-85% tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ hàng năm của Việt Nam vào Nhật
Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu gốm sứ vào thị trường Nhật Bản tăng 82, đạt giá trị 9,1 triệu USD, năm 2003 ước tính sẽ tăng 21% và đạt giá trị khoảng 11 triệu USD Từ năm 1996 trở lại đây Nhật Bản trở thành thị trường nhập khẩu mây tre đan lớn nhất của
Mây tre đan Việt Nam xuất khẩu vào Nhật liên tục tăng với nhịp độ cao, tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng từ 30-35% năm trong giai đoạn từ 1996 đên nay Giá trị xuat khẩu hàng mây tre đan năm 2002 đã đạt giá trị 22,5 triệu USD
Tuy từ năm 1997 đến nay, nhu cầu nhập khâu đồ gỗ nội thất vào Nhật Bản tăng nhưng xuất khẩu mặt hàng này từ Việt Nam sang Nhật Bản tăng thất thường và đang có chiều
hướng chững lại Xuất khâu đồ gỗ Việt Nam năm 2000 tăng đến 79% nhưng sang năm
Trang 30
Biểu đồ 4 : Cơ cấu mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sang Nhật năm 2003
5%
El Gốm sư my nghệ 45% D6 gỗ chạm trổ
[IHäng mây tre la [Hảng khác (thêu, ren, thổ cẩm, sơ dưa)
Xét về mặt hàng, Nhật Bản là nơi tập trung hàng đồ gỗ chạm trổ, gốm sứ, mây tre đan
của Việt Nam Nhu cầu về đồ gỗ làm bằng tay ở Nhật Bản là khá lớn và hiện có xu hướng
phát triển mạnh Theo thống kê của phía Nhật Bản, hàng năm Việt Nam xuất khẩu sang thị
trường Nhật Bản khoảng 15 triệu USD đồ dùng gia đình, chủ yếu là đồ gỗ Một thuận lợi
cho việc xuất khâu mặt hàng này là hàng nhập khẩu không phải qua kiểm dịch và kiểm tra
vệ sinh
Đồ gốm sứ là mặt hàng có tiềm năng phát triển rất lớn ở Nhật Bản, nhập khẩu hàng gốm
sứ tăng nhanh trong những năm gần đây Thuế nhập khẩu đồ gốm sứ thấp (khoảng 0-3%)
tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam Đồ gốm sứ của Việt Nam đã có mặt tại Nhật Bản nhưng kim ngạch còn khá khiêm tốn (theo báo cáo của thương vụ khoảng Š triệu
USD/ năm) Để tăng xuất khâu mặt hàng sang thị trường Nhật Bản cần hết sức chú ý đến
khâu tạo hình
Ngoài ra, ngành thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cũng có nhiều sản phẩm khác được thị
trường Nhật Bản ưa chuộng như thảm len, các loại thảm thủ công cỡ nhỏ, đô nội thât băng
tre, lụa tơ tăm, thô cẩm, san phẩm làm từ sơ dừa, cọng lục bình, nón lá, chiếu hoa, tranh lụa, tranh sơn mài, tranh thêu
Một đặc điểm nữa là hàng Việt Nam xuất sang Nhật không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhật mà nó còn được tái xuât sang các thị trường khác, phổ biến nhất
là qua trung gian các làng du lịch Nhật Bản ở nước ngoài
Phương thức đưa hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường Nhật Bản:
Trang 31
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền
Sơ đồ 5 : Kênh phân phối hàng thủ công nhập khẩu
(4) Cửa hàng bách (5) Siêu thị (6) Các cửa hàng bán lẻ chuyên
Với cách này nhiều nhà bán lẻ của Nhật Bản vào Việt Nam chọn lựa sản phẩm, ký hợp
đồng mua trực tiếp để các nhà sản xuất hoặc các nhà thương mại thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam gửi hàng qua Nhật Bản Điều này có nghĩa giảm được chỉ phí trung gian, làm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam rẻ hơn Cách này chỉ chiếm 5% trị giá hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu vì các bên Việt Nam và Nhật Bản chưa tìm kiếm được phương thức thanh toán tối ưu và an toàn
Trang 32SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền
Vài nét về đối thủ cạnh tranh ở mặt hàng thủ công mỹ nghệ trên thị trường Nhật
Qua bang trén cho thấy, mặc dù Việt Nam là một trong Š nước xuất khẩu nhiều hàng thủ
công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản nhưng giá trị thị phần còn chiếm rất nhỏ so với
Trung Quốc, Thailand và Indonesia Một số nguyên nhân đối thủ cạnh tranh mạnh hơn
Việt Nam có thể nói tới là :
Mẫu mã đa dạng và thay đổi thường xuyên, đáp ứng yêu cầu của một thị trường
năng động
Phương cách tiếp thị tốt, tổ chức thường xuyên hội thảo hội nghị chuyên đề về
sản phâm thủ công mỹ nghệ mang văn hoá Phương Đông với sự tham gia của các nhà thương mại, các học giả, các nhà văn hoá Nhật Bản
Du khách Nhật Bản đến Trung Quốc, Thailand đông gấp chục lần so với Việt
Nam, họ là những người tiêu dùng, người cô động cho hàng thủ công mỹ nghệ thâm nhập
Họ coi trọng phát triển thương hiệu mạnh
2.2 THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
2.2.1 THÔNG TIN CƠ BẢN VẺ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1 Diện tích : 9.629.091 kmỸ
2 Dân số : 290.809.777 người (năm 2003), trong đó 21% ở độ tuổi 0 -14, 66,4%
ở độ tuổi 15 - 64 và 12,6% ở độ tuổi trên 65 Tốc độ tăng dân sô năm 2002 ước tính 0,89%
3 Thủ đô : Washington D.C
4 Các thành phố chính :
«= New York (16 triệu dân )
® Chicago (7,75 triéu dan)
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 30
Trang 33Los Angeles (10,5 triệu dân)
Philadelphia (5,65 trigu dan) San Francisco (4,65 triệu dân) Washington D.C (3,1 triệu dân) Ngôn ngữ chính : tiếng Anh
Lực lượng lao động : 141,8 triệu (kế cả những người thất nghiệp — số liệu năm 2001, trong đó: lao động quản lý và chuyên gia 31%, lao động hành chính
và bán hàng 28,9%, lao động dịch vụ 13,6%, lao động trong ngành công nghiệp chế tạo, khai khóang, giao thông vận tải và thủ công nghiệp 24,1%, lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp 2,4%
7 Giao thông vận tải:
* Đơn vị tiền tệ chinh : US dollar (USD)
= Téng san pham quéc ndi (GDP) : 10,082.2 ty USD
Nguén :United States Chamber of Commerce Stastics anh Research Center
Hién nay va theo nhan dinh cua nhiéu chuyén gia thi vao trong nhiều thập kỷ nữa, Hoa
Kỳ vẫn là nước có nền kinh tế lớn nhất và có sức cạnh tranh nhất trên thế giới Năm 1999,
GDP của Hoa Kỳ là 9.350 tỷ USD trong khi của cả thế giới khoảng 40.700 tỷ USD và của
cả khối G7 là 15.170 tỷ USD Mặc dâu, tỷ trọng GDP của Hoa Kỳ trong tổng GDP của
toàn thế giới có xu hướng giảm, song hiện nay, Hoa Kỳ vẫn là nước có thu nhập quôc dân lớn nhất và có thu nhập bình quân đâu người đứng đầu thế giới Năm 2002, tông thu nhập
quốc dân của Hoa Kỳ ước tính khoảng 10.450 tỷ USD, chiếm khoảng trên 21% tông thu
pe
“Thực trạng và giải pháp thúc đầy xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 31
Trang 34Nguôn : Tổng hợp từ các thống kê kinh tế của Hoa Kỳ
Trong cơ cấu kinh tế của Hoa Kỳ, hiện nay, có tới 80% GDP được tạo ra từ các ngành dịch vụ, trong khi đó công nghiệp chỉ chiếm 18%, và nông nghiệp chi dong gop 2% Ty
trọng dịch vụ trong GDP của Hoa Kỳ còn tiếp tục tăng trong các năm tới
Hoa Kỳ rất mạnh và đóng vai trò chỉ phối thế giới trong các lĩnh vực tài chính tiền tệ,
thương mại điện tử, thông tin, tin học, bưu điện, du lịch, vận tải hàng không, vận tải biển,
y tế, giáo dục, điện ảnh, tư vấn v.v Trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, hiện nay, Hoa Kỳ
chiếm khoảng 50% tổng lưu lượng thanh toán và đầu tư quốc tế thực hiện băng đồng đô la
Hiện nay, mỗi năm Hoa Kỳ xuất khẩu khoảng trên 300 tỷ USD dịch vụ
Các ngành công nghiệp chính của Hoa Kỳ bao gồm: dầu lửa, sắt thép, ô tô, hàng không,
viễn thông, hóa chất, điện tử, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, khai thác gỗ, khai
khoáng Các ngành chế tạo hàng không, điện tử, tin học, nguyên tử, vũ trụ, hóa chât là những ngành công nghiệp mũi nhọn của Hoa Kỳ
Các sản phẩm nông nghiệp chính của Hoa Kỳ gồm lúa mỳ, các loại ngũ côc khác, ngô, hoa qua, bông, thịt bò, thịt lợn, gia câm, sản phẩm sữa, lâm sản, cá
Hoa Kỳ cũng được coi là nước cung cấp vốn, kỹ thuật, công nghệ và là thị trường quan trọng nhât đề phát triền kinh tê thê giới
2.2.2 QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ
Việt Nam và Hoa Kỳ vừa bước tới cột mốc 10 năm thiết lập và bình thường hoá quan hệ Trong suốt mười năm qua với sự nỗ lực của hai bên, mối quan hệ giữa hai nước đã có những bước tiến dài.Với những kết quả đạt được hiện nay, tương lai của mối quan hệ hợp
tác Việt Nam — Hoa Kỳ sẽ còn mở rộng hơn, phát triển sâu hơn và tiếp tục mang lại nhiều
lợi ích cho cả hai bên ˆ
2.2.2.1 NHỮNG CỘT MÓC QUAN TRỌNG TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM VÀ HOA KỲ
== —ẰỶẰ-
“Thực trạng và giải pháp thúc day xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ”
Trang 32
Trang 35
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền
PS am ———— —= — — &ăœxsšsša.v.A
o Ngày 29/9/1990: Ngoại trưởng Mỹ J Baker và Phó Thủ tướng kiêm BTNG
Nguyễn Cơ Thạch lần đầu tiên gặp nhau đề bàn về quan hệ hai nước tại New York o_ Ngày 3/2/1994: Tổng thống Mỹ W Clinton tuyên bế bỏ hoàn toàn cắm vận và lập
Cơ quan liên lạc giữa hai nước
o Ngay 11/7/1995 : Tổng thống Mỹ W Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam Ngày 12/7, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ
o Thang 8/1995: Việt Nam và Mỹ khai trương Đại sứ quán tại Oa-sinh-tơn và Hà
Nội Ngoại trưởng Mỹ W Christopher lần đầu tiên thăm Việt Nam
o Thang 4/1997: Bộ trưởng Tài chính Mỹ Rubin thăm Việt Nam, ký thoả thuận về
xử lý nợ của chính quyền Sài gòn với Bộ trưởng Tài chính Nguyễn Sinh Hùng
Việt Nam cử Tuỳ viên quân sự đầu tiên tại Hoa Kỳ
o_ Ngày 12/5/1997 : Việt Nam và Mỹ trao đổi Đại sứ đầu tiên
o Ngay 30/9-2/10/1998 : Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao VN Nguyễn
Mạnh Cầm lần đầu tiên thăm chính thức Mỹ
©_ Ngày 12-13/9/1999: Nhân dự Cấp cao APEC tại Auckland, New Zealand, Thủ tướng Phan Văn Khải và Tổng thống Clinton đã có các cuộc tiếp xúc riêng trao đổi một số vấn đề trong quan hệ song phương
eo Ngày 14/7/2000: Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và đại diện thương mại Mỹ
Barshefsky ký Hiệp định thương mại song phương Mỹ - Việt tại Washington, D.C
o_ Ngày 6/9/2000: Nhân dự Hội nghị Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại New York (Mỹ), Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã có cuộc gặp với Tổng thống Clinton, và
đã chính thức mời Tổng thống Clinton thăm VN vào thời gian thuận tiện cho hai
bên
o_ Ngày 16-19/11/2000: Tổng thống Mỹ Clinton thăm chính thức Việt Nam Trong
dịp này, hai bên ký Hiệp định vê hợp tác khoa học công nghệ và Bản ghi nhớ vê hợp tác lao động và chứng kiến lễ ký 12 Thư Thoả thuận về đầu tư, buôn bán
o_ Ngày 24-26/7/2001: Ngoại trưởng Hoa Kỳ Colin Powell lần đầu tiên thăm Việt
Nam dip dự ARF 8 và PMC tại Hà Nội
o_ Ngày 9-14/12/2001: Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng thăm làm việc
tại Hoa Kỳ, chứng kiến Lễ phê chuẩn HĐTM Việt Nam — Hoa Kỳ (Có hiệu lực
ngày 10/12/2001)
o_ Ngày 12-22/6/2002: Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cằm thăm làm việc tại Hoa Kỳ,
chứng kiến Lễ ký Tuyên bế về Hợp tác giữa Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Bang Texas
và Bản ghi nhớ về Chương trình hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện HĐTM Việt Nam — Hoa Kỳ
o_ Ngày 6-12/9/2002: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên thăm làm việc tại Hoa
Kỳ nhằm thúc đây quan hệ hai nước
o_ Ngày 3-12/12/2003: Phó Thủ tướng Vũ Khoan chính thức thăm làm việc tại Mỹ,
chứng kiến Lễ ký 5 văn bản, trong đó có Hiệp định hợp tác về Hàng không, Thoả
thuận hợp tác phòng chống ma tuý
o_ Ngày 20-21/11/2004: Hội nghị cấp cao APEC 12 tại Santiago (Chi lê) Chủ tịch nước Trần Đức Lương tiếp xúc song phương với Tổng thống Mỹ George Bush bên
lề Hội nghị cấp cao
o_ Ngày 10/12/2004: Chuyến bay trực tiếp đầu tiên từ Mỹ đến VN sau 1975
o Ngày 19-25/6/2005: Thủ tướng Phan Văn Khải thăm chính thức Hoa Kỳ, một chuyến đi thu hút sự quan tâm của dư luận tại Hoa Kỳ và toàn thế giới
2.2.2.2 QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ
=
«Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ”
Trang 33
Trang 36
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
Trong những gần đây, kim ngạch thương mại Việt Nam vào Mỹ tăng nhanh, từ khoảng
800 triệu USD năm 2001, đên nay dat 6,4 ty USD, xuat khau cua Viét Nam da dat 5,2 ty USD Dự kiến xuất khâu của Việt Nam sang Mỹ sẽ còn tiệp tục tăng nhanh trong thời gian
Z
tol
Có thể nói thị thường Mỹ là một thị trường rộng lớn nhưng rất khó tính và cạnh tranh
gay gắt Vì vậy, để từng bước gia nhập và khẳng định vị trí trên thị trường Hoa Kỳ, các
doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý tìm hiểu kỹ đối tác, luật lệ cũng như tập quán kinh doanh của thị trường
Hiện nay, Hoa Kỳ là một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam Thị trường Mỹ với quy mô nhập khẩu 1.300 tỷ USD mỗi năm với đầy đủ các chủng loại hàng hoá thuộc các phẩm cấp khác nhau, là thị trường có sức mua cao Trong những năm qua, nhất là từ khi Việt Nam ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA), kim ngạch thương mại Việt
7
Nam và Mỹ đã tăng rât nhanh, từ khoảng 800 triệu USD năm 2001 trước khi ký BTA, dén
nay kim ngạch xuất nhập khâu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 6,4 tỷ USD, xuất khâu của Việt
Nam đã đạt 5,2 tỷ USD Mục tiêu mà Bộ Thương mại dé ra trong năm 2005 là đạt kim
ngạch xuất khẩu 6,230 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm ngoái Trong thời gian gần
đây tình hình xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, nhất là những rào cản thương mại như các vụ
kiện bán phá giá Tuy nhiên, những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn không ngừng tìm kiếm cơ hội mở rộng con đường vào thị trường này
Chỉ tiêu cụ thể của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như sau: Dệt may
2.800 triệu USD (tăng 100 triệu USD so với năm 2004); thủy sản 800 triệu USD (+226 triệu USD); giày dép: 580 triệu USD (+ 107 triệu USD); dầu khí 250 triệu USD; đồ gỗ 800 triệu USD (+392 triệu USD); rau quả 200 triệu USD (+18 triệu USD); cà phê 150 triệu USD (+ 6 triệu USD); máy thiết bị 150 triệu USD (+8 triệu USD); mỹ nghệ 50 triệu USD
(+23 triệu USD); đồ nhựa 50 triệu USD (+22 triệu USD); các mặt hàng khác 400 triệu
USD (+20 triệu USD)
Mục tiêu đặt ra đối với các mặt hàng chủ lực được coi là “vừa tầm” với năng lực của các doanh nghiệp Việt Nam Để đây mạnh hơn nữa tốc độ xuất khẩu sang thị trường quan trọng này, đến nay, Bộ Thương mại đã xây dựng 27 chương trình xúc tiến thương mại quốc gia cho khu vực châu Mỹ, trong đó thị trường Hoa Kỳ là trọng điểm Hiện kim ngạch
nhập khẩu hàng năm của Hoa Kỳ là 1.400 tỷ USD
Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ không có thay đổi lớn trong thời gian gần đây Các mặt hàng xuất khẩu chính vẫn là dệt may (54,5%); thuy hai san (11%, kế cả
thuỷ hải sản chế biến); giầy đép (9,1%); nông lâm sản và thực phẩm kể cả thực phẩm chế biến (6,8%) trong đó chủ yếu là hạt điều, cà phê hạt sống, tiêu hạt, mật ong tự nhiên, cao
su thiên nhiên); đồ gỗ nội thất (7%); và dầu khí và sản pham dầu khí (4,7%) !
==—— ừỨ .Ÿ._
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 34
/
Trang 37
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Van Hién
Bang 13 : Kim ngach thwong mai hai chiều Việt Nam — Hoa Ky
Đơn vi : Triệu USD
Năm |Việt Nam xuất sang Mỹ| Việt Nam nhập từ Mỹ Tong kim ngạch
Nguôn : Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ
Nhìn vào bảng số liệu ta có thê thấy kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang
thị trường Hoa Kỳ tăng khá nhanh Nếu năm 1998 Việt Nam chỉ xuất khẩu sang Hoa Kỳ là
554.1 triệu USD thì cho tới năm 2004 con số này đã tăng lên là 5275,8 triệu USD, tức là
tăng khoảng 10 lần Trong đó những mặt hàng xuất khâu chính của Việt Nam vào Hoa Kỳ
là dệt may, thủy sản, đồ gỗ nội thất và giày dép Đối với hàng dệt may, Việt Nam đứng thứ
8 trong số các nước xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ Mặt hàng thủy sản xuất sang Hoa
Kỳ năm 2004 có tổng kim ngạch là 565 triệu USD và là mặt hàng xuất khâu lớn thứ 2 sau
dệt may Riêng đối với hàng đồ gỗ nội thất đã có những bước tiến dài Theo những số liệu
mới nhất của Tổng cục thống kê cho thấy xuất khâu đồ gỗ nội thất trong tháng 4/05 tăng
trưởng tốt, tăng 30% so với tháng trước và 126,1% so với cùng kỳ năm trước Đây cũng là
lần đầu tiên từ trước tới nay, đồ gỗ đã vươn lên vị trí thứ 2 trong số các sản phẩm xuất
khẩu chính của Việt Nam sang thị trường này Xuất khẩu đồ gỗ tháng 4/2005 đạt 52 triệu
USD, đứng ngang (thậm chí nhỉnh hơn chút ít) so với xuất khẩu giày dép Với kết quả đó,
Việt Nam đã đứng trong tốp 10 nước xuất khẩu đề gỗ nội thất lớn nhất vào Hoa Kỳ
Mặc dù xuất khâu của Việt Nam sang Mỹ tăng tới 5 lần kể từ sau khi có BTA, song con
số này cũng chỉ mới chiếm khoảng 0,4% tổng giá trị nhập khâu của Mỹ Với kim ngạch
nhập khẩu 1.764 tỷ USD năm 2004, Mỹ đang là thị trường lớn cho các loại hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam
Những mặt hàng nhập khẩu chính từ Hoa Kỳ là máy móc thiết bị cơ khí, phân bón, nhựa, máy móc thiệt bị điện và bông Nhìn chung có thê thấy sang năm 2005, cơ cấu xuất
khẩu từ Hoa Kỳ sang Việt Nam đã ngày càng có sự đa dạng
Thời gian qua hàng hoá Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ cũng là do các doanh
nghiệp Việt Nam trực tiếp xuất khẩu với các thị trường Mỹ, kể cả qua trung gian là ở các
công ty Mỹ, các nhà bán buôn như Tracy Các doanh nghiệp Việt kiều cũng đóng vai trò nhất định trong việc đưa hàng hoá Việt Nam vào Mỹ Trong nhiều năm qua, nhiều doanh
nghiệp kiều bào đã trực tiếp tham gia, hoặc tích cực phối hợp, hỗ trợ các doanh nghiệp
trong nước trong các hoạt động xuất nhập khâu hàng hoá hay cung ứng dịch vụ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Hy vọng trong thời gian tới, với số lượng đông đảo Việt kiêu và các doanh nghiệp kiều bào tại Mỹ có thể đưa hoặc quảng bá hàng hoá Việt Nam sang xuât
khẩu tại thị trường Mỹ
Tóm lại cùng với những thuận lợi khách quan, trong những năm qua các doanh nghiệp
Việt Nam cũng đã không ngừng đầu tư phát triên sản xuất, đôi mới công nghệ, nhờ đó khả
A năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế đã được cải thiện, cơ cấu hàng
“Thực trạng và giải pháp thúc day xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 35
Trang 38
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lê Văn Hiền
xuất khẩu ngày càng phong phú hơn Trong bối cảnh chung của quan hệ giữa hai nước đang từng bước được cái thiện, các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp cận và hiểu
biết hơn về thị trường Mỹ Tắt cả những nhân tổ đó đang tạo điều kiện thuận lợi cho các
nhà sản xuất Việt Nam tiếp cận và mở rộng xuất khâu vào thị trường Mỹ
2.2.3 KENH PHAN PHOI TAI THI TRUONG HOA KY
HE THONG CAC KENH TIEU THY HANG HOA TREN TH] TRUONG MY
"Nhiều công ty Hoa Kỳ, bao gồm các công ty lớn, vừa và nhỏ có hệ thống kênh phân phối rất đa dạng trên thị trường Các công ty, tập đoàn lớn thường có hệ thống phân phối riêng
và họ tự làm lấy tất cả các khâu từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối, kể cả nhập
khẩu Các tập đoàn và các công ty lớn có khả năng ảnh hưởng nhiều đến chính sách của Chính phủ Ngược lại các công ty vừa và nhỏ hoạt động và vận động xung quanh hệ thông
thị trường và được Chính phủ hỗ trợ
Các công ty vừa và nhỏ áp dụng rất nhiều cách bán hàng nhập khẩu trên thị trường Mỹ Thông thường các công ty này nhập khâu hàng hoá từ nước ngoài về, sau đó tô chức tiêu thụ trên thị trường Mỹ theo một sô kênh phô biên sau :
o_ Bán buôn cho các cửa hàng bán lẻ Hầu hết các loại hàng hoá như : dé trang strc, quan 4o, dé chơi, mỹ nghệ, tạp hoá đều có thể bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ thông qua các nhà nhập khẩu hay người bán hàng có tính chất cá nhân và các công
ty nhập khâu hay các tổ chức buôn bán hàng hoá chuyên nghiệp Các bán hàng này rất có hiệu quả và dễ dàng thu được các lợi nhuận cao đối với những hàng hoá mà thị trường đang có nhu cầu tiêu thụ mạnh Nhìn chung nếu ngành hàng đa dạng vỆ chủng loại, đáp ứng hết được nhu cầu của người tiêu dùng thì hiệu quả thu được
o Ban buén cho nha phân phối Thay vì bán hàng trực tiếp cho người bán lẻ, nhà sản xuất có thể bán hàng cho các nhà phân phối vì họ có hệ thống phân phối rộng khắp tại một khu vực nào đó hoặc nằm trong nhóm ngành công nghiệp nào đó Vì lợi thế này nên nhà phân phối có khả năng tiêu thụ hàng nhanh chóng, trong thời gian ngăn Tuy nhiên, theo cách này nhà xuất khẩu phải chia sẻ bớt lợi nhuận của
mình cho các nhà phân phối
co Bán (rực tiếp cho các nhà công nghiệp Đây là cách mà theo đó các nhà máy/công xưởng sẽ mua hàng trực tiếp của một số thương nhân nhỏ ở nước sở tại
khi họ không có điều kiện mua trực tiếp từ các nhà xuất khẩu nước ngoài hoặc mua
o Ban buôn qua đường bưu điện Phương pháp này thường được áp dụng đôi với
một số sản phẩm nhỏ, gọn, không quá đắt và có thể bán qua một số trung gian bán buôn Lợi thế của phương pháp này là hàng hoá có thể được tiêu thụ trên phạm vi
rộng và không cần qua các khâu trung gian phân phối hay bán buôn, vì thế mà có
thể tăng lợi nhuận
o Ban lé qua đường bưu điện Một số nhà nhập khâu không cần qua trung gian mà
họ trực tiếp gửi bưu kiện đến cho người mua Để làm được cách này phải có hệ
thống nghiên cứu thị trường chuẩn xác và thiết kế được thị trường một cách chỉ
tiết Làm được điều này hiệu quả bán hàng sẽ rất cao Một số nhà nhập khâu khác
bán hàng qua catalog thông qua các nhà buôn theo kiêu này hay trực tiệp lập ra
công ty để bán hàng theo catalog Chìa khoá thành công cho phương thức này là Â
1
«Thực trạng và giải pháp thúc đầy xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 36
Trang 39o_ Bán lẻ Đây là cách mà nhà nhập khẩu tự tộ chức việc nhập khẩu và bán lẻ hàng
hoá theo khả năng nghiên cứu thị trường của mình và tự gánh chịu mọi rui ro vé
nhu cầu của thị trường Đổi lại, nhà nhập khẩu sẽ thu được toàn bộ lợi nhuận do
nhập khâu mang lại Tuy nhiên, điều quan trọng là họ phải biết được xu hướng thị
trường đê có kế hoạch nhập khẩu và phải tự làm lấy hết mọi việc trong mọi khâu
buôn bán Đây là điều chứa đựng nhiễu rủi ro lớn
o_ Bán hàng qua các cuộc trưng bày hàng hoá trên các kênh truyền hình là hình
thức mới và phải có hàng tức thời và bán theo giá công bố |
o_ Bán hàng trực tiếp cho các nhà máy công xưởng với các điều kiện như ta bán
cho các nhà bán buôn bán lẻ
o_ Đại lý bán hàng Một số người Mỹ có quan hệ tốt cả với nhà xuất khẩu nước ngoài và hệ thống phân phối bán buôn bán lẻ trong nước thì họ thường làm đại lý
cho nước ngoài để khỏi lo khâu tài chính cho kinh doanh.Họ chỉ cần đưa ra điều
kiện L/C chuyển nhượng là có thể giải quyết được việc này
o Ban hang qua “buỗi tiệc giới thiệu bán hàng” (Bali imports Party).Một số nhà
nhập khẩu mua một số lượng nhỏ hàng hoá, sau đó mời người thân quen đếm dự buổi giới thiệu va bán hàng luôn tại chỗ Cũng có một số nhà nhập khẩu trả hoa
hồng cho người đứng ra tổ chức và giới thiệu bạn hàng cho họ
o Bán ở chợ ngoài trời (Flea Market) Các hãng lớn tổ chức nhập khâu và bán hàng ở chợ ngoài trời với quy mô lớn và trên diện rộng khắp cả nước Cách làm
này đòi hỏi phải có mối quan hệ rộng với người bán hàng ở nhiều nước khác nhau
và phải trả một phần lợi tức cho người bán hàng Hơn nữa, việc đặt giá trực tiếp đến người tiêu dùng cũng được yêu cầu
o_ Bán hàng qua các Hội chợ, triển lãm tại Mỹ Có người mua hàng về kho của
minh và quanh năm đi dự các hội chợ triển lãm khắp nước Mỹ để tìm kiếm các đơn
đặt hàng tại quầy rồi về gửi hàng cho người mua theo đường bưu điện, Fedex hay UPS Cách này chỉ có thể làm ở quy mô nhỏ với hàng đặc chủng, hàng mới và giá
cao
o Ban hang qua hé thong Internet nhu dang Amazon.com
NGUON TRUNG GIAN DAT HANG (SOURCING PERSON)
Đây là một cách phân phối hàng hoá thông qua các kênh trung gian đặt hàng Tiếp cận
thị trường qua trung gian này có một số điểm lợi cho nước nhập khẩu bởi lẽ hàng sẽ được
vận chuyển từ nước sản xuất đến thị trường tiêu thụ một cách nhanh chóng Nước nhập
khẩu cũng không cần phải tiến hành khâu nghiên cứu thị trường thường rât tôn kém và
khó khăn trong quá trình thực hiện khi ở nước khác
Theo cách này cũng có một số nhược điểm đó là :
© Người nào năm được thông tin về cơ cầu thị trường càng nhiều thì người đó càng
có vị thế có lợi hơn và thường hay ép đôi tác bên kia đê thu chênh lệch giá lớn
o_ Việc xác định giá rất phức tạp và hai bên thường mâu thuần nhau
o_ Khách hàng muốn làm đại lý độc quyền cho nhà nhập khẩu lo sợ rằng nhà nhập
`
khẩu cùng một lúc có nhiều khách hàng khác nữa Vì vậy, điều quan trọng là
trước khi quyết định chọn khách hàng làm đại lý cho mình, nhà xuât khâu cân
tiến hành các chuyên đi khảo sát thị trường đề năm vững cơ câu giá và đàm phán
kỹ lưỡng với họ về chia sẽ lợi ích trên thị trường
==———ễễ —_e
“Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 37
Trang 40
SVTH : Vũ Hương Giang Luận văn tốt nghiệp GVHD : Ths Lé Văn Hiền
—————————————-srs-sraaarnnnana-nỶnnnmmm
Một trong những khó khăn nhất của nhà xuất khẩu chính là việc tìm kiếm được nguồn
trung gian tin cậy
Một số website chuyên đề tìm khách hàng như:
http://www.lebb.com
http://www.pierspub.com
http://www.digilead.com http://www.buysellex.com
2.2.4 THUC TRANG XUAT KHAU HANG THU CONG MY NGHE VIET NAM SANG THI TRUONG HOA KY
Cac mat hang thu công mỹ nghệ của Việt Nam như hàng gốm ngoài vườn và gốm trang trí trong nhà, chậu trồng cây, tượng, hình các con vật, đài phun nước, vỏ đồng hồ là mặt hàng thị trường Hoa Kỳ có nhu câu lớn và Việt Nam có khả năng cạnh tranh tốt Tuy nhiên, còn các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác đang gặp nhiều khó khăn khi thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ
Bảng 14: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang Hoa Kỳ
(2000-2005)
Đơn vị : triệu USD
Nguồn : Hải quan Việt Nam
Qua bảng số liệu cho thấy, 5 tháng đầu năm 2005 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ đạt mức kỷ lục so với cùng kỳ là 273%, tăng 38,1% so với cả năm 2004, chiếm 32% trong tong kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này Hiện Hoa Kỳ vẫn chiếm vị trí số 1 về kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
Tuy nhiên nếu so sánh với các mặt hàng khác cùng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ như dệt may, thủy sản, giày dép có thể thấy kim ngạch hàng thủ công mỹ nghệ còn rất thấp (như năm 2004 chỉ bằng gần 2% so với kim ngạch của hàng dệt may) Việc tăng kim
ngạch mặt hàng này sang thị trường Hoa Kỳ đã và đang là thách thức đối với Việt Nam
Những khó khăn mà doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam thường gặp phải khi thâm nhập thị trường Hoa Kỳ là :
oœ_ Khó khăn đầu tiên chính là sự cạnh tranh gay gắt từ phía Trung Quốc Đây là nước hiện nay cung cấp chính cho thị trường Hoa Kỳ những mặt hàng thủ công
mỹ nghệ và quà tặng (hàng mây tre lá, shang thêu, hàng quà tặng ) tương tự như các mặt hàng mà Việt Nam đang cố gắng xuất khẩu Việt Nam muôn cạnh tranh được với Trung Quốc về ngành hàng này tại thị trường Hoa Kỳ thì cần phải tạo
ra nhiều mặt hàng độc đáo hơn và giá cần giảm hơn nữa Hiện các mặt hàng thủ
=====—ễễ.—
Thực trạng và giải pháp thúc đây xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam”
Trang 38