1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng một số phương pháp giảng dạy chủ động nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn nghiệp vụ lễ tân cho sinh viên ngành quản trị nhà hàng khách sạn trường đại học khánh hòa

68 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng Một Số Phương Pháp Giảng Dạy Chủ Động Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Môn Nghiệp Vụ Lễ Tân Cho Sinh Viên Ngành Quản Trị Nhà Hàng – Khách Sạn Trường Đại học Khánh Hòa
Tác giả Vũ Thị Trinh
Trường học Trường Đại học Khánh Hòa
Chuyên ngành Quản trị nhà hàng – khách sạn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Khánh Hòa
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 851,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại trường Đại học Khánh Hoà tuy đã có hơn 10 năm kinh nghiệm, nhưng để đạt được chất lượng đào tạo thật sự đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, đội ngũ giản

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÁNH HÒA

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÁNH HÒA

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHỦ ĐỘNG 7

1.1 Khái niệm phương pháp giảng dạy chủ động 7

1.2 Đặc điểm của phương pháp giảng dạy chủ động 8

1.2.1 Người học là trung tâm 8

1.2.2 Chú trọng phương pháp tự học 11

1.2.3 Phối hợp giữa học tập cá nhân với học tập hợp tác 14

1.2.4 Vai trò của giảng viên trong giảng dạy chủ động: người hướng dẫn, tổ chức hoạt động 15

1.2.5 Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của sinh viên 15

1.3 Một số phương pháp giảng dạy chủ động 16

1.3.1 Một số phương pháp giảng dạy giúp sinh viên học tập chủ động 16

1.3.2 Một số phương pháp giảng dạy giúp học tập trải nghiệm 17

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN NGHIỆP VỤ LỄ TÂN CHO SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG – KHÁCH SẠN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÁNH HOÀ 20

2.1 Các phương pháp đã, đang giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân và các yếu tố ảnh hưởng đến các phương pháp đó 20

2.1.1 Các phương pháp đã, đang giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân 20

2.1.2 Yếu tố ảnh hưởng đến các phương pháp đã và đang giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân 24

2.2 Nội dung giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân 28

2.2.1 Quy trình đặt phòng (trực tiếp và gián tiếp) 28

2.2.2 Quy trình làm thủ tục nhận phòng cho khách lẻ đã đặt phòng trước 28

2.2.3 Quy trình phục vụ khách trong thời gian lưu trú 28

2.2.4 Quy trình làm thủ tục trả phòng cho khách lẻ 29

2.3 Đánh giá hiệu quả giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân 29

2.3.1 Đánh giá của giảng viên 29

2.3.2 Đánh giá của sinh viên 30

Trang 4

CHƯƠNG 3.ÁP DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHỦ ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY MÔN NGHIỆP VỤ LỄ TÂN Ở TRƯỜNG ĐẠI

HỌC KHÁNH HOÀ 33

3.1 Điều kiện để áp dụng phương pháp giảng dạy chủ động 33

3.1.1 Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật 33

3.1.2 Điều kiện đối với giảng viên 34

3.1.3 Điều kiện đối với sinh viên 35

3.2 Một số nguyên tắc giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân khi áp dụng phương pháp giảng dạy chủ động 36

3.2.1 Đặt yêu cầu cao đối với sinh viên 36

3.2.2 Tôn trọng các điểm mạnh và kiểu học của từng sinh viên 36

3.2.3 Tạo ra bầu không khí học tập vui vẻ, thoải mái 37

3.3 Áp dụng một số phương pháp giảng dạy chủ động trong giảng dạy nghiệp vụ Lễ tân và thiết kế bài giảng 37

3.3.1 Phương pháp hội thảo và phương pháp trò chơi 38

3.3.2 Phương pháp động não 47

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

1 Kết luận 60

2 Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 64

PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN CỦA SINH VIÊN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN 64

PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC NGHIỆP VỤ LỄ TÂN 66

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Quy trình/ tiến trình dạy và học so với phương pháp giảng dạy lấy người dạy

làm trung tâm 10

Hình 1.2 Cấu trúc phương pháp mô phỏng trong dạy học 18

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Đánh giá của giảng viên về môi trường làm việc của họ 24

Bảng 2.2 Đánh giá của giảng viên về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy 25

Bảng 2.3 Chính sách lương thưởng, đãi ngộ đối với giảng viên 26

Bảng 2.4 Đánh giá của giảng viên về tập thể sinh viên 27

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong thời kì phát triển khi hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, với những cơ hội và thách thức chưa từng có, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực thích ứng Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển của xã hội Chính vì vậy, nhu cầu đào tạo và nâng cao trình độ cho người lao động ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết Nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất so với tất cả tài nguyên khác của doanh nghiệp, là nhân tố quyết định đến sự phát triển và thành bại của doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp du lịch Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế Một trong những yếu tố góp phần nên chất lượng của ngành du lịch không thể không kể đến chất lượng nguồn nhân lực du lịch Vì vậy muốn nâng cao được chất lượng dịch vụ du lịch trước hết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà cụ thể hơn phải bắt đầu từ đổi mới phương pháp giảng dạy

Việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại trường Đại học Khánh Hoà tuy đã có hơn

10 năm kinh nghiệm, nhưng để đạt được chất lượng đào tạo thật sự đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, đội ngũ giảng viên cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học, đặc biệt đối với các môn học thực hành nghiệp vụ nhà hàng khách sạn, góp phần nâng cao uy tín đào tạo của khoa du lịch nói riêng và nhà trường nói chung Môn nghiệp vụ Lễ tân là một môn học cơ bản trong các môn chuyên ngành của sinh viên tổ Nhà hàng khách sạn Trong môn học này, để đạt được hiệu quả cao bên cạnh việc tiếp thu kiến thức chuyên môn còn đòi hỏi sinh viên phải có một nền tảng kiến thức tổng hợp của các môn học khác như: Kĩ năng giao tiếp, tin học, ngoại ngữ, tiếp thị và bán sản phẩm, tâm lý khách hàng Ngoài ra sinh viên còn phải trang bị cho mình những kiến thức tổng hợp về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Để vận dụng nhuần nhuyễn các kiến thức chuyên môn cùng với kiến thức bổ trợ, đòi hỏi sinh viên phải được thực hành nhiều lần, lặp đi lặp lại Tuy nhiên, do thời gian thực hành trên lớp có hạn, việc tự thực hành là không thể vì không có trang thiết bị hỗ trợ nên sinh viên gặp khó khăn trong vấn đề ghi nhớ và thành thục động tác cũng như giao tiếp với khách

Vì vậy đề tài “Áp dụng một số phương pháp giảng dạy chủ động nhằm nâng cao hiệu quả

giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân cho sinh viên ngành Quản trị nhà hàng- khách sạn trường Đại học Khánh Hoà” trên cơ sở các phương pháp đang có sẽ khắc phục được

những mặt tồn tại trong việc giảng dạy môn này

Trang 7

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài nhằm phát huy hơn nữa tính tích cực, chủ động trong học tập của sinh viên ngành Quản trị Nhà hàng- khách sạn trường Đại học Khánh Hoà, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên, đề tài hướng tới việc áp dụng một số phương pháp giảng dạy chủ động vào giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Một số phương pháp giảng dạy chủ động được áp dụng

trong giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân cho sinh viên ngành Quản trị nhà hàng- khách sạn trường Đại học Khánh Hòa

3.2 Phạm vi nghiên cứu: thông qua khảo sát việc dạy và học của giảng viên và sinh

viên ngành Quản trị nhà hàng- khách sạn trường Đại học Khánh Hoà, đề tài tập trung nghiên cứu khả năng áp dụng một số phương pháp giảng dạy chủ động trong việc dạy học môn nghiệp vụ Lễ tân

4 Giả thiết khoa học

Quá trình giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân tại trường Đại học Khánh Hoà cho thấy rằng hiệu quả của bài giảng chưa thực sự cao, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động đối với sinh viên Đặc thù của môn học lại đòi hỏi tính chủ động hoc tập, sáng tạo cao của sinh viên, trong điều kiện thời gian có hạn và phương tiện kĩ thuật hỗ trợ chỉ có ở phòng thực hành trên trường nên sinh viên không thể tự thực hành được

Nếu vận dụng tốt phương pháp chủ động trong dạy học môn nghiệp vụ Lễ tân sẽ khắc phục những vấn đề đang tồn tại nêu trên, phát huy được tính tích cực của sinh viên trong các giờ thực hành môn nghiệp vụ Lễ tân, góp phần nâng cao được chất lượng và hiệu quả

của quá trình giảng dạy của giảng viên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm đạt được mục tiêu đề ra ở trên, tôi tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp giảng dạy chủ động

- Nghiên cứu thực trạng giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân ở trường Đại học Khánh Hoà

- Áp dụng một số phương pháp giảng dạy chủ động vào giảng dạy môn học nghiệp

vụ Lễ tân cho sinh viên ngành Quản trị nhà hàng – khách sạn trường Đại học

Khánh Hoà

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: tác giả đã học tập và kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài: các cuốn sách, tạp chí, ấn phẩm, luận văn, kỷ yếu hội thảo khoa học về phương pháp giảng dạy hiện đại; các giáo

Trang 8

trình, video về lý thuyết và thực hành nghiệp vụ lễ tân của Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tác giả tiến hành quan sát các hoạt động của sinh viên và giảng viên tại các buổi học nghiệp vụ lễ tân, cũng như tổng kết quá trình giảng dạy thực tế của bản thân

- Phương pháp điều tra, thống kê, phân tích: hệ thống các câu hỏi được phát ra với nội dung liên quan đến các phương pháp giảng dạy được nhìn nhận từ phía sinh

viên và giảng viên Trên cơ sở đó, tác giả tổng hợp và phân tích số liệu

7 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về phương pháp giảng dạy chủ động

Chương 2: Thực trạng giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân cho sinh viên ngành Quản trị nhà hàng – khách sạn ở trường Đại học Khánh Hoà

Chương 3: Áp dụng một số phương pháp giảng dạy chủ động nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân ở trường Đại học Khánh Hoà

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHỦ ĐỘNG

1.1 Khái niệm phương pháp giảng dạy chủ động

Phương pháp giảng dạy chủ động là một thuật ngữ được rút gọn từ thuật ngữ trong tiếng Anh “Active teaching” được dùng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới để chỉ những phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Chủ động “Active” trong phương pháp giảng dạy được dùng với nghĩa là hoạt động, tích cực trái nghĩa với bị động, thụ động Vì vậy phương pháp giảng dạy chủ động hay phương pháp giảng dạy tích cực từ đây tác giả sẽ dùng với nghĩa tương tự nhau Phương pháp giảng dạy hiện đại xuất hiện ở các nước phương tây từ đầu thế kỷ XX

và được phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ, có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Từ những năm 1960 vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên đã được đặt ra trong ngành giáo dục Việt Nam Ở thời điểm này, các trường sư phạm đã có khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Năm

1980 trong cuộc cải cách giáo dục lần hai, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng cải cách nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo làm chủ đất nước

Từ đó trong nhà trường xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt của các giáo viên giỏi theo hướng tổ chức cho người học hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới Tuy nhiên phương pháp giảng dạy phổ biến vẫn là phương pháp thông báo kiến thức “Đọc - Chép” hay còn gọi là phương pháp truyền thụ một chiều Thực hiện phương pháp giảng dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là “kho tri thức sống”, người học là người nghe, ghi chép và suy nghĩ theo Kết quả của quá trình đạo tạo này thể hiện nhiều nhược điểm, người học thụ động, không chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức mới, không tự trau dồi cho mình những kĩ năng cần thiết dẫn tới chất lượng nguồn lao động không cao, không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, khoa học xã hội trong thời đại mới

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự thách thức của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đầy đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế để có nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu đó, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới nền giáo dục, trong đó có đổi mới mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục và phương pháp dạy và học Chính vì vậy trong điều 24.2 Luật Giáo dục sửa đổi ban hành ngày 27/06/2005 ghi “phương pháp giảng dạy phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học”.Tính tích cực là một phẩm chất tốt của con người, nó được biểu hiện trong mọi hoạt động sinh hoạt trong cuộc sống thường ngày, trong đó có hoạt động học tập Tính tích cực trong học tập được biểu hiện qua ba cấp độ:

Trang 10

bắt chước (cố gắng thực hiện theo các mẫu hoạt động của thầy của bạn); tìm tòi (độc lập giải quyết vấn đề nêu ra và tìm kiếm cách giải quyết khác nhau một vấn đề); sáng tạo (tạo

ra cách giải quyết mới độc đáo, hữu hiệu) Ngoài ra tính tích cực trong học tập còn có liên quan với động cơ học tập Động cơ học tập sẽ tạo ra hứng thú học tập Hứng thú học tập sẽ là tiền đề của tính tự giác học tập Hứng thú và tự giác học tập là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực học tập Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là nền tảng của sáng tạo và ngược lại

Phương pháp giảng dạy theo lối phát huy tính tích cực chủ động của người học hay còn gọi là phương pháp giảng dạy chủ động, ở đó người dạy giữ vai trò là người hướng dẫn, gợi ý, tổ chức giúp cho người học tự tìm kiếm khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm Người dạy có vai trò là trọng tài, cố vấn, điều khiển tiến trình giờ dạy Phương pháp này quan tâm đến đối tượng người học, coi trọng việc nâng cao sự tự chủ cho người học Người dạy là người nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của người học, từ đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những kiến thức cần nắm vững Để làm được điều này đòi hỏi cần có sự nỗ lực cố gắng rất nhiều ở người dạy và người học Bài giảng cần được chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước, giáo án cần phải được thiết kế theo hai hướng phản ánh song hành giữa hoạt động của người dạy và người học Chính vì vậy người học sẽ có cơ hội được thắc mắc, nêu lên các vấn đề xoay quanh nội dung học tập, từ đó tiến tới giải quyết vấn đề Tuy nhiên để người học luôn cảm thấy ý thức được quá trình học tập của

họ như vậy, người dạy bên cạnh việc chuẩn bị kỹ giáo án còn phải có trình độ và kinh nghiệm để tích cực hoá người học trong quá trình giảng dạy của mình

1.2 Đặc điểm của phương pháp giảng dạy chủ động

1.2.1 Người học là trung tâm

Bên cạnh thuật ngữ “người học là trung tâm” còn có một số thuật ngữ được dùng với nghĩa tương tự nhau như: dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một ý nghĩa đó là nhấn mạnh vào hoạt động học và vai trò của người học trong quá trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh vào hoạt động dạy và vai trò của giáo viên

Quá trình dạy và học có những thay đổi theo thời gian xuất phát từ những yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho xã hội, việc học đi từ: học để biết, để hiểu đến học để làm, học để biết cách học và học để sáng tạo Với phương pháp dạy học truyền thống, việc dạy

và học hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin, kiến thức một chiều (học để hiểu) Trong

đó vai trò của người dạy là vô cùng quan trọng, họ là người hoạt động nhiều hơn, nói nhiều hơn người học trong giờ học Hay nói cách khác người dạy là trung tâm của giờ học Với phương pháp giảng dạy này đã bộc lộ nhược điểm của việc dạy từ chương, hàn lâm là làm cho người học thụ động, rập khuôn và thiếu thực tiễn Người học sẽ được lĩnh

Trang 11

hội kiến thức trong sách vở và không biết cách áp dụng vào thực tế Từ đó việc dạy học chuyển sang “học để làm”, lúc này việc dạy học đã hướng đến thực tiễn hơn, lý thuyết đã gắn với thực hành và kéo theo phương pháp dạy học đã có sự chuyển biến, việc thực hành đã được xem trọng hơn Tuy nhiên nó vẫn còn dáng dấp của của việc truyền thụ kiến thức, kỹ năng một chiều tức là người học vẫn phải chấp nhận những gì có sẵn và cố gắng áp dụng nó, thiếu tính sáng tạo Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu đó là học thì nhiều

mà áp dụng thì không đáng kể Với những hạn chế này, phương pháp dạy học đã được đưa lên một tầm cao mới là làm thế nào để người học sau khi học biết được cách phát triển nó, biết tìm hiểu thêm và tìm cách áp dụng vào thực tế (tức là học để biết cách học) Lúc này phương pháp dạy và học không chỉ hướng đến việc cung cấp phương pháp luận,

tư duy mà còn hỗ trợ cho người học phát triển kiến thức, kỹ năng Từ đó phương pháp dạy và học đã được thay đổi không còn tính một chiều nữa mà hướng đến phát huy năng lực tự học, tự phát triển tri thức của người học và người học lúc này là trung tâm Đến giai đoạn ngày nay, khi nền kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển một cách mạnh mẽ đòi hỏi nguồn nhân lực phải có chất lượng cao Để cung cấp nguồn nhân lực không bị thụ động trong tiếp nhận thông tin, kiến thức có sẵn mà còn phát triển được nó, sáng tạo

ra những cái mới mẻ cho xã hội đòi hỏi việc đào tạo phải được đổi mới Như vậy bản chất của phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm là sự thay đổi quy trình/ tiến trình dạy và học so với phương pháp giảng dạy lấy người dạy làm trung tâm (hình 1.1) Từ việc người học thụ động chấp nhận kiến thức thông qua người dạy theo trình tự: Kiến thức – người dạy – người học chuyển sang người học tự tìm hiểu kiến thức, phân tích khám phá với sự thúc đẩy trợ giúp của người dạy

Trang 12

Hình 1.1 Quy trình/ tiến trình dạy và học so với phương pháp giảng dạy lấy người

dạy làm trung tâm

Trong dạy học, người học không chỉ là đối tượng trí tuệ của người dạy, mà còn là sản phẩm chất lượng cao phù hợp với xã hội và thời đại Cùng với đó, người học là chủ thể của hoạt động học tập Người học tiếp thu tri thức nhân loại để phát triển bản than trở thành chủ thể tích cực, sáng tạo Vì vậy nhân vật trung tâm này phải là một chủ thể có ý thức, có nhu cầu, có hứng thú, ham học và tích cực trong học tập, biết cách học để chiếm lĩnh khoa học Vì vậy tiến trình dạy và học thay đổi từ lấy “người dạy là trung tâm” sang lấy “người học là trung tâm” không phải hạ thấp vai trò của người dạy, đưa người dạy xuống thành người quan sát chứng kiến hoạt động của người học Mà ngược lại vì lấy

“người học là trung tâm” nên yêu cầu càng cao đối với năng lực của người dạy Người dạy phải là người có năng lực tổ chức, điều khiển mọi hoạt động của người học, giúp người học học tập tốt nhất

Trong giai đoạn này mục tiêu của giáo dục đào tạo là tạo ra nguồn nhân lực năng động, chủ động để phát triển nền khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội Vì vậy phương pháp dạy và học phải đổi mới trong đó phương pháp “lấy người học làm trung tâm” được

Quá trình dạy học Người dạy là trung tâm Người học là trung tâm

Bài giảng PowerPoint (một lần trong nhiều năm)

Bài giảng, bài tập tình huống, bài giao nhiệm vụ Lựa chọn phương pháp công cụ, phương tiên Chuẩn bị

Kiểm tra giờ lên lớp, thi

hết môn

Thi hết môn Đánh giá kết quả học tập

Giảng viên chuẩn bị

Giảng viên làm việc là

Giảng viên

là chính

Sinh viên có thể làm bài tập cá nhân

Sinh viên báo cáo, thảo luận, tranh

Giảng viên thúc đẩy, hỗ Giảng viên

Sinh viên phản hồi

Giảng viên

Sinh viên làm việc

Trang 13

hình thành và phát triển Thực tế đã chứng minh tính đúng đắn của nó trong chiến lược giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở nhiều nước trên thế giới

1.2.2 Chú trọng phương pháp tự học

Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội” Từ những quan điểm về tự học nêu trên, có thể đi đến định nghĩa về tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định

Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau: thứ nhất người học tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có sách và sự hướng dẫn của người dạy Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học Kết quả của quá trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu Tới trình độ tự học này người học không thầy, không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình Thứ2 tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức: tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy và tự học có người ở xa hướng dẫn thứ 3: tự học có sách, có người dạy giáp mặt một số tiết trong ngày, sau đó người học về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của người dạy

Trong quá trình học tập trên lớp, người dạy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để người học tự chiếm lĩnh tri thức Người học với vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình học tập Mối quan hệ giữa người dạy và người học chính là mối quan hệ giữa Nội lực và Ngoại lực, Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển.Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầy, nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn những yêu cầu do giáo viên đề ra Tự học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của giáo viên, được giáo viên định hướng về nội dung, phương pháp tự học

Trang 14

để người học thực hiện Như vậy ở hình thức tự học thứ ba này quá trình tự học của sinh viên có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong

đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của giáo viên và quá trình tự học của sinh viên

Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở đại học nói riêng, giáo viên luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù giáo viên

có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp

lý, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quả cao được.Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập

Khi bàn về vai trò của tự học nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã phát biểu: “Tự học,

tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của mỗi người, trong điều kiện kinh tế –

xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình

tự giáo dục Qui mô của giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học” (Trích thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo ngày 6/1/1998) Học ở đại học, đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó, cho nên ngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để

mở rộng và đào sâu tri thức Cũng chính thông qua hoạt động tự học này đã giúp rất nhiều cho sinh viên trong quá trình học tập biểu hiện

Thứ nhất, tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai Chính trong quá trình tự học sinh viên đã từng bước biến vốn kinh nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho sinh viên hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới

Thứ hai, tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú thói quen và phương pháp tự thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay

Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp sinh viên mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp sinh viên hình thành được những phẩm chất trí tuệ và

Trang 15

rèn luyện nhân cách của mình Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoa học

Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có của họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giáo viên và tập thể sinh viên trong nhà trường Các lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viên khuyến khích hướng dẫn sinh viên tự học một cách đúng hướng và hiệu quả

Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, làm phát triển

xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là khả năng tự học, tự nâng cao,

tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấp tiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kỹ thuật và hiện đại hoá vốn tri thức của mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hành trang bước vào cuộc sống

Ở bất kỳ bậc học hay cấp học nào hoạt động tự học cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả học tập, tuy nhiên đối với sinh viên ở các trường đại học nó lại càng thiết thực hơn bởi hoạt động tự học của sinh viên ở các trường đại học có nét đặc thù so với phổ thông, thể hiện hoạt động nhận thức của sinh viên ở mức cao hơn, mang tính chất độc lập, tự lực, tự giác, sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức cũng như việc vận dụng tri thức vào các tình huống cụ thể Phương pháp học tập của sinh viên cũng khác, nó mang tính chất tự học, tự nghiên cứu nhưng điều đó cũng không có nghĩa là thiếu vai trò của người giáo viên Do đó có thể nói hoạt động tự học là một khâu của quá trình giáo dục, là một quá trình gia công, chế biến và tự điều khiển theo đúng mục tiêu giáo dục qui định Hoạt động tự học của học sinh, sinh viên không chỉ nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyện thói quen, kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức của bản thân vào cuộc sống mà còn giáo dục tình cảm và những phẩm chất đạo đức của bản thân Vì trên cơ sở những tri thức họ tiếp thu được nó có ý nghĩa sâu sắc đến việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống, niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cá nhân cũng như những phẩm chất ý chí cần thiết cho việc tổ chức lao động học tập của mỗi học sinh; Bên cạnh đó còn rèn luyện cho

họ cách suy nghĩ, tính tự giác, độc lập… trong học tập cũng như rèn luyện thói quen trong hoạt động khác Nói cách khác hoạt động tự học hướng vào việc rèn luyện phát triển toàn diện nhân cách học sinh Mặt khác hoạt động tự học không những là yêu cầu cấp bách, thiết yếu của học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường để họ tiếp nhận

Trang 16

tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân mà còn có ý nghĩa lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi con người, đó là thói quen học tập suốt đời, bởi sau khi ra trường vẫn phải tiếp tục: Học, học nữa, học mãi và người học sinh, sinh viên cần phải học khi còn là học sinh, nhưng cần phải học tập hơn nữa khi đã rời ghế nhà trường và sự học tập ở giai đoạn thứ hai này còn quan trọng hơn gấp bội lần sự học tập thứ nhất và hiệu quả của nó, ảnh hưởng của nó đến cá nhân con người và đến xã hội

Tự học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người học mà còn góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học và đào tạo Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò trách nhiệm của người giáo viên mà dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo của người giáo viên, học sinh đã biết cách tự học, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại

Như vậy muốn nâng cao chất lượng học tập của sinh viên trong trường học nói chung, cần phải quan tâm đúng mức đến việc bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ của người giáo viên đồng thời phải đặc biệt chú ý đến vị trí trung tâm của người học trong hoạt động tập thể để làm sao khai thác triệt để những tiềm năng vốn có trong người họ, phát huy tính tự giác, tích cực sáng tạo, chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp giáo dục

1.2.3 Phối hợp giữa học tập cá nhân với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của sinh viên không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp chủ động buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp chủ động ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Tuy nhiên trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp giảng viên – sinh viên, sinh viên – sinh viên, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh kiến thức Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể,

ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Điều này phù hợp với môi trường thực tế saunày khi sinh viên đã tốt nghiệp và đi làm, buộc mọi người phải học tập suốt đời, phối hợp giữa học tập cá nhân và học tập hợp tác

Là phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ còn được gọi bằng một số tên khác như Phương pháp thảo luận nhóm hoặc phương pháp dạy học hợp tác Đây là một phương pháp dạy học mà người học được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi hs tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho

Trang 17

các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung

1.2.4 Vai trò của giảng viên trong giảng dạy chủ động: người hướng dẫn, tổ chức hoạt động

Người dạy giữ một vai trò quyết định đối với quá trình dạy và học, một lực lượng

có “chức năng đặc biệt” chi phối và định hướng cho nguồn nhân lực tương lai của đất nước Người dạy thông qua các hoạt động giảng dạy và giáo dục góp phần cung cấp kiến thức, kỹ năng cơ bản cần thiết cho người học, đồng thời cũng chính người dạy là người

có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành nhân cách của người học Phát huy những khả năng sáng tạo cũng như giúp người học phát triển tư duy trong một môi trường học tập đổi mới thức sự

Trong hoạt động giảng dạy người dạy không còn đơn thuần đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người hướng dẫn cho sinh viên trên con đường đi tìm tri thức Một cách cụ thể hơn, người dạy còn đóng vai trò thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để người học tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trinh Trên lớp, người học hoạt động là chính, nguời dạy chỉ là người hướng dẫn Nhưng trước khi lên lớp, người dạy phải đầu tư nhiều thời gian để thiết kế bài giảng sao cho đạt được chuẩn đầu ra; chọn lọc các phương pháp giảng dạy và phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu và nội dung bài giảng Trong quá trình giảng dạy, ngoài giờ lên lớp, người thầy phải theo dõi các hoạt động tự học của người học, giúp đỡ khi cần thiết, trao đổi thảo luận và góp ý để người học đi đúng hướng Như vậy, người dạy trong giảng dạy và học tập chủ động cần phải đầu tư công sức và thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của người học

1.2.5 Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của sinh viên

Phương pháp giảng dạy chủ động cũng cần được thể hiện rõ qua việc thiết kế đề cương chi tiết môn học (syllabus) Chúng ta không nên quan niệm rằng đề cương chi tiết môn học là bảng liệt kê các nội dung kiến thức cần được học mà nên hiểu đó là kế hoạch các hoạt động giúp người học đạt được các mục tiêu Do vậy, phương pháp dạy và học tập cần được thể hiện rõ trong đề cương Người giảng viên phải tạo ra được các cơ hội học tập, thông qua các hoạt động đa dạng, kích thích sinh viên khám phá, áp dụng, phân tích và đánh giá các ý tưởng hơn là truyền đạt thông tin một chiều Sinh viên sẽ có cơ hội được thắc mắc, nêu lên các vấn đề để xoay quanh các khái niệm hay các ý tưởng, từ đó tiến tới giải quyết các vấn đề Người học sẽ cảm thấy luôn ý thức được quá trình học của

Trang 18

họ, họ đang học gì và phải học như thế nào Đây cũng chính là cách nâng cao cho người học cách xây dựng động cơ học tập và hình thành thói quen học tập suốt đời

Việc đánh giá không còn là “đặc quyền” của người dạy Trước đây việc đánh giá được dùng như một công cụ nhằm theo dõi các hoạt động học tập, tách rời khỏi hoạt động dạy học, và thường được thể hiện thông qua bài thi cuối kỳ thì nay việc đánh giá được dùng như một công cụ nhằm khuyến khích và chẩn đoán học tập, và được thực hiện trong suốt quá trình học Việc đánh giá không chỉ được thực hiện bởi người dạy mà còn

có sự kết hợp với tự đánh giá của người học và dự đánh giá lẫn nhau của các thành viên trong nhóm, trong lớp học Liên quan với điều này, người dạy cần tạo điều kiện thuận lợi

để người học được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho sinh viên Một điểm cần chú ý trong việc đánh giá đó là phải đánh giá dựa trên quá trình, tránh tập trung đánh giá vào cuối học kỳ và đa dạng các hoạt động đánh giá để người học có cơ hội thể hiện sự tiến bộ của mình trong quá trình học tập

1.3 Một số phương pháp giảng dạy chủ động

Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế tri thức, vai trò của các trường đại học, cao đẳng đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế càng trở nên quan trọng Một trong những thách thức mà các trường đại học, cao đẳng phải đối mặt là làm thế nào để đào tạo được sinh viên đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Một trong những cách tiếp cận để nâng cao chất lượng và chuẩn hóa chương trình đào tạo đó là áp dụng các phương pháp giảng dạy học tập tích cực, chủ động Áp dụng phương pháp giảng dạy chủ động không những giúp người học chủ động, tích cực trong học tập mà còn giúp người dạy trang bị cho mình những kỹ năng và phương pháp giảng dạy chủ động tích cực trước khi bắt đầu quá trình đào tạo

1.3.1 Một số phương pháp giảng dạy giúp sinh viên học tập chủ động

Phương pháp động não: là phương pháp được định nghĩa là cách thức vận dụng

kinh nghiệm và sáng kiến của mỗi người trong thời gian tối thiểu tuỳ vấn đề đưa ra để có được tối đa những dữ kiện tốt nhất Động não là phương pháp giúp sinh viên trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó, trong

đó có nhiều ý tưởng sáng tạo Thực hiện phương pháp này, người dạy cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho những buổi thảo luận trên lớp

Phương pháp suy nghĩ – từng cặp – chia sẻ: Phương pháp này được thực hiện

bằng cách cho người học cùng đọc tài liệu hoặc suy nghĩ về một chủ đề, sau đó người học ngồi bên cạnh nhau có thể trao đổi với nhau về ý kiến và kinh nghiệm của mỗi người trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó chia sẻ với cả lớp Phương pháp này có ưu điểm là rất dễ dàng thực hiện mọi cấu trúc lớp học, ai cũng có thể tham gia vào việc chia

sẻ ý kiến của mình, tạo được sự tự tin cho người học dám nói ra suy nghĩ của mình (đây

Trang 19

là điểm yếu đối với đa số các sinh viên Việt Nam), giúp người học tập trung vào chủ đề đang học, biết mình đang học gì và đã hiểu vấn đề đến đâu, thậm chí nêu lên cả những vấn đề mới cho bài học

Phương pháp học dựa trên vấn đề: mục tiêu của học dựa trên vấn đề llaf để học

nhiều hơn về một chủ đề chứ không phải là chỉ tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi được người dạy đưa ra Trong phương pháp học dựa trên vấn đề, người học vừa nắm được những kiến thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội kiến thức xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết các vấn đề nảy sinh

Phương pháp hoạt động nhóm: lớp học được chia thành từng nhóm 5-7 người

Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, cả nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của môn học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau Khi làm việc nhóm, các thành viên phải làm việc theo quy định do người dạy đặt ra hay do nhóm đặt ra Các thành viên đều phải làm việc chủ động, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Khi có một nhóm nào lên thuyết trình, các nhóm còn lại phải đặt ra câu hỏi phản biện hoặc câu hỏi đề nghị làm sáng tỏ vấn đề Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang suy nghĩ mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ người dạy

Phương pháp đóng vai: là phương pháp tổ chức cho người học thực hành một số

các ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Phương pháp này có những ưu điểm là người học được thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi được thực hành trong thực tiễn; gây hứng thú và chú ý cho người học; tạo điều kiện nảy sinh óc sáng tạo của người học, khích lệ sự thay đổi hành vi của người học theo chuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị- xã hội, có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn

1.3.2 Một số phương pháp giảng dạy giúp học tập trải nghiệm

Học tập qua trải nghiệm là quá trình học của người học được trải qua những việc làm mô phỏng thực tế có tính thực hành và vận dụng cao như các đồ án thiết kế- triển khai, các tình huống nghiên cứu, từ đó người học đúc kết thành kinh nghiệm cho bản thân, làm sáng tỏ hơn những lý thuyết đã được học Quá trình học tập được chia làm 4 nhóm cơ bản phù hợp với 4 xu hướng học tập khác nhau: 1.Quan sát suy ngẫm, học tập thông qua quan sát các hoạt động do người khác thực hiện hoặc chiêm nghiệm lại bản thân, suy ngẫm và đúc kết những trải nghiệm; 2.Khái niệm hoá: học tập thông qua vệc

Trang 20

xây dựng các khái niệm, tổng hợp biện giải và phân tích những gì quan sát được; 3.Trải nghiệm thực tế: học tập thông qua các hoạt động, hành vi, thao tác cụ thể, trực tiếp; 4.Thử nghiệm: học tập thông qua những thử nghiệm, đề xuất các phương án giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định

Người học có thể áp dụng một cách linh hoạt các xu hướng học tập trên dựa vào điều kiện cụ thể của bản thân cũng như môn học

Học dựa vào dự án: là việc tổ chức dạy và học thông qua các dự án hay công

trình thực tế Dự án được hiểu là những nhiệm vụ phức tạp từ các câu hỏi hay vấn đề mang tính chất kích thích người học tìm hiểu, khám phá Giải pháp đó có thể bao gồm các rải nghiệm thực tế - triển khai Từ đây người học sẽ tham gia vào thiết kế, đưa ra quyết định hay khảo sát các hoạt động có liên quan đến dự án Với phương pháp này người học sẽ phải làm việc theo nhóm và khám phá những vấn đề gắn liền với cuộc sống, sau đó sẽ thuyết trình trước lớp và chia sẻ những gì họ đã làm được trong dự án của mình Trong buổi thuyết trình có thể sử dụng các phương tiện nghe nhìn, một vở kịch, một bản báo cao viết tay, một trang web hoặc một sản phẩm được tạo ra

Mô phỏng: là quá trình phát triển mô hình hoá rồi mô phỏng một đối tượng cần

nghiên cứu Thay cho việc phải nghiên cứu đối tượng cụ thể mà nhiều khi là không thể hoặc rất tốn kém tiền của, thì xây dựng những mô hình hoá của đối tượng đó trong phòng thí nghiệm và tiến hành nghiên cứu đối tượng đó dựa trên mô hình hoá này Mô phỏng trong dạy học cũng là một trường hợp riêng của mô phỏng trong nghiên cứu khoa học

Hình 1.2 Cấu trúc phương pháp mô phỏng trong dạy học

Nghiên cứu tình huống: là phương pháp dựa trên các tình huống thực tế của cả

người học và người dạy Mục đích chính của các tình huống là để miêu tả, trao đổi kinh nghiệm về cách thức giải quyết vấn đề và những mâu thuẫn trong khi thực hiện công việc được giao Bằng những tình huống khác nhau càn phải giải quyết trong khoảng thời gian định sẵn cũng nguồn lực có hạn, người học được đặt vào vị trí cần phải đưa ra quyết định

Xử lý sư phạm

Tổ chức hoạt động dạy học

Đối tượng nghiên cứu

Trang 21

hoặc kêu gọi sự hỗ trợ của các thành viên nhóm để tìm hướng giải quyết hợp lí Sự đa dạng của các tình huống được đưa lên không chỉ khuyến khích người học phát huy tính chủ động, óc sáng tạo mà còn đem đến sự thoải mái, sảng khoái về mặt tinh thần khi tham dự lớp Yếu tố này làm người học có thể tiếp thu nội dung kiến thức bài giảng dễ dàng, sâu và nhớ lâu hơn các phương pháp truyền thống

Phương pháp học tập phục vụ cộng đồng:là một phương pháp dạy và học mà

thông qua đó người học áp dụng được những kiến thức đã học được trong lớp vào điều kiện thực tế, đồng thời kết quả của quá trình học đáp ứng nhu cầu cảu cộng đồng và được cộng đồng sử dụng Phương pháp này là sự phối hợp làm việc, hợp tác trên cơ sở các mối quan hệ của 4 thành phần tham gia là: nhà quản lý trường học, giảng viên, cộng đồng

và sinh viên Quá trình học này thông qua trải nghiệm nên người học có điều kiện tăng cường kiến thức học thuật, rèn luyện và phát triển các kỹ năng mềm như tư duy suy xét, phản biện, làm việc theo nhóm, giao tiếp, thuyết trình và các kỹ năng sống

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN NGHIỆP VỤ LỄ TÂN CHO SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG – KHÁCH SẠN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

KHÁNH HOÀ

2.1 Các phương pháp đã, đang giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân và các yếu tố ảnh hưởng đến các phương pháp đó

2.1.1 Các phương pháp đã, đang giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân

Nghiệp vụ lễ tân là môn nghiệp vụ có rất nhiều kỹ năng cần truyền đạt cho sinh viên Chính vì thế, để truyền đạt hết nội dung, giảng viên bộ môn cần phải sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau và đôi khi cần sự phối hợp giữa các phương pháp này Dưới đây là các phương pháp đã và đang được các giảng viên sử dụng trong các buổi học của mình:

Phương pháp thuyết trình: đây là phương pháp được các giảng viên sử dụng để

trình bày về phần lý thuyết của mỗi một nội dung học Tất cả các nội dung từ đặt phòng đến làm thủ tục trả phòng tại khách sạn sẽ được giảng viên trình bày ở trên lớp Tổng thời lượng cho phần này là 30 tiết cho tổng môn học

Ngoài ra, trong phần thực hành tại quầy lễ tân, trước khi bắt tay vào giảng dạy thực hành giảng viên luôn sử dụng phương pháp này để giới thiệu chung cũng như vai trò của nội dung sẽ học trong buổi học để sinh viên nắm bắt được hệ thống hơn Phần diễn giải này có thời lượng từ 3- 5 phút trong buổi học

Đặc điểm cơ bản nổi bật của phương pháp này là những kiến thức đến với sinh viên theo phương pháp này như đã được giảng viên chuẩn bị sẵn để sinh viên thu nhận Sinh viên chỉ nghe, nhìn, cùng tư duy theo lời giảng của giảng viên sau đó hiểu, ghi chép lại và ghi nhớ

Ưu điểm của phương pháp này đó là thông tin đến được với nhiều người nghe, giảng viên đề cập được nhiều thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng sắp xếp tổ chức lớp học theo các chủ đề mà giảng viên muốn truyền đạt Tuy nhiên, phương pháp này sẽ làm cho sinh viên ngồi nghe một cách thụ động vì thông tin chỉ có một chiều Bài học dễ trở nên nhàm chán nếu sinh viên lười tư duy và họ không được thể hiện kiến thức và kỹ năng Chính vì vậy, mỗi giảng viên bộ môn lễ tân trước khi lên lớp phải chuẩn bị kế hoạch trình tự cẩn thận, trong quá trình trình bày phải duy trì được sự quan tâm của sinh viên bằng những câu hỏi hoặc những đề nghị cần làm rõ và khuyến khích ghi chép mới

có thể làm cho sinh viên nhập tâm và hứng thú với nội dung kiến thức hơn Nếu không, sau 30 tiết lý thuyết sinh viên sẽ không còn nhớ gì để thực hành trên quầy lễ tân.Đặc biệt môn nghiệp vụ lễ tân có rất nhiều kiến thức đòi hỏi sinh viên cần nắm chắc và nhớ lâu

Thao diễn minh hoạ: Phương pháp này được giảng viên sử dụng ở trong các buổi

thực hành tại quầy lễ tân và áp dụng cho tất cả các nội dung của môn học Sau khi giới

Trang 23

thiệu tổng quát về vấn đề học tập, giảng viên sẽ tiến hành thao diễn các hoạt động liên quan đến nội dung học Đây là phần kỹ năng nên đòi hỏi giảng viên phải thao diễn thuần thục, tránh sai sót để sinh viên có thể quan sát được và hình dung ra mình cần phải làm

gì Mục tiêu của phương pháp này nhằm nâng cao sự hiểu biết của sinh viên về vấn đề giảng viên đã giới thiệu tổng quát, nâng cao khả năng quan sát cũng như kỹ năng thực hành để thực hiện công việc của nhân viên lễ tân

Ưu điểm của phương pháp này là khơi dậy được sự tò mò, quan tâm của sinh viên

về vấn đề giảng viên muốn truyền đạt Sinh viên rất hứng thú khi cùng một lúc sử dụng nhiều giác quan như nghe, nhìn, cảm nhận làm cho hiệu quả tiếp thu cao hơn Trong phương pháp này, bên cạnh việc thao tác, trình diễn, giảng viên sử dụng các phương tiện

hỗ trợ trực quan sinh động như các biểu mẫu, kéo, băng keo, hồ dán… hấp dẫn được sinh viên Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm đó là không áp dụng được cho những nhóm có số lượng sinh viên lớn, sinh viên có thể không quan tâm, nhàm chán nếu phần trình diễn quá dài Đặc biệt như tình hình hiện nay, mỗi nhóm học thực hành có thể lên tới 20 sinh viên làm hạn chế tầm nhìn cũng như khả năng nghe của sinh viên Vì vậy để nâng cao hiệu quả, giảng viên cần giải thích rõ ràng, duy trì nhịp độ trình bày như nhau, trong một vài giai đoạn có thể kéo sinh viên cùng tham gia Ngoài ra, giảng viên phải có

sự chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho nội dung thao diễn và phải nắm chắc kiến thức, biết rõ mình đang làm gì và vì sao phải làm như vậy

Thực hành thí nghiệm: Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình

thực hành tại quầy lễ tân, mà nhân vật chủ đạo đó là sinh viên Sau khi giảng viên thao tác minh hoạ xong, lần lượt từng cặp sinh viên sẽ thực hành về nội dung vừa được quan sát từ giảng viên Lúc này, sinh viên có thể được cầm nắm, sử dụng các phương tiện, công cụ hỗ trợ cho kỹ năng mình được học Giảng viên sử dụng phương pháp này nhằm phát triển kỹ năng quan sát, nâng cao kỹ năng làm việc bằng chân tay cho sinh viên Bên cạnh đó việc để cho sinh viên được “động tay động chân” sẽ giúp phát triển kỹ năng áp dụng và kiểm chứng lý thuyết cũng như kỹ năng trình bày kết quả thu được sau quá trình lĩnh hội kiến thức Khi áp dụng phương pháp này, giảng viên cũng có thể đánh giá mức

độ nhanh nhạy, linh hoạt trong công việc của nhân viên lễ tân tương lai

Ưu điểm của phương pháp này đó là lý thuyết được củng cố hơn sau quá trình thực hành của sinh viên, các nguyên tắc quy định thao tác nghiệp vụ được minh hoạ cụ thể rõ ràng Nhấn mạnh vào việc chú ý đến an toàn, an ninh cũng như các yếu tố thao tác nghề đem lại sự hài lòng cho khách hàng Thông qua hoạt động thực hành, sinh viên cũng

có thể đánh giá được sự tiến bộ của nhau từ đó học tập những mặt tích cực để có thể áp dụng vào công việc sau này Tuy nhiên để sử dụng phương pháp này hiệu quả, yếu tố trang thiết bị còn nhiều bất cập, các dụng cụ không đủ và không được cập nhật khiến cho việc thực hành còn nhiều khó khăn, nhiều thao tác phải bỏ qua Thời gian thực hiện một

Trang 24

công việc của mỗi sinh viên khác nhau, có sinh viên làm nhanh những cũng có sinh viên thao tác chậm làm ảnh hưởng đến việc thực hành của các sinh viên khác Nếu nhóm có số lượng sinh viên đông, có thể một vài em chưa được thực hành thì đã hết giờ

Đóng vai: đây là một trong những phương pháp không thể thiếu trong thực hành

nghiệp vụ lễ tân Đóng vai là phương pháp tổ chức cho sinh viên thực hành, làm thử trong các tình huống của nghiệp vụ lễ tân Trong vai trò làm nhân viên lễ tân và làm khách, sinh viên sẽ hiểu sâu sắc hơn về vấn đề nhân viên lễ tân phải làm gì để khách hàng

có được sự hài lòng

Ngoài ra, phương pháp này đặc biệt áp dụng cho nội dung học “xử lý phàn nàn của khách” Trong mỗi tình huống được giảng viên dựng lên, sinh viên sẽ đóng các vai thích hợp và diễn Qua đó mọi người có thể nhìn, cảm nhận được sự đúng sai của vấn đề cũng như thấy được cảm nhận của khách hàng ra sao khi đón nhận những dịch vụ như vậy Từ đó có thể tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề khác

Phương pháp này có khả năng nhấn mạnh và rút ra các cảm giác, tình cảm và những điều có vai trò nhất định trong các tình huống thực tế Đồng thời có thể kiểm chứng thái độ của khách hàng từ đó có biện pháp để sửa đổi Với phương pháp đóng vai, sinh viên tham gia tích cực, nhiệt tình hơn, thích thú học tập hơn Tuy nhiên cũng vẫn có những sinh viên lười học, không muốn hoặc e dè thiếu tự tin nên không tham gia hoạt động một cách hiệu quả Phương pháp này chỉ áp dụng trong các nhóm nhỏ không có quá nhiều người tham gia Đặc biệt giảng viên phải luôn kiểm soát và làm chủ tình huống, để sinh viên không biến thành những tình huống phi thực tế Vì vậy, khi cho tình huống và phân vai giảng viên bộ môn cần phải xác định rõ ràng, theo dõi thời gian hạn định đã đưa

ra, nhạy cảm với những cách ứng xử, lời nói không phù hợp trong môi trường khách sạn

Động não: Mỗi một nội dung học, sinh viên đều phải tiếp xúc với khách hàng

(trực tiếp hoặc gián tiếp) Với mỗi lần tiếp xúc với khách hàng, nhân viên lễ tân đều có khả năng xảy ra những tình huống đòi hỏi phải có sự nhanh nhạy, linh hoạt để xử lý Vì vậy, giảng viên sẽ đưa ra các tình huống, những vấn đề cần giải quyết đòi hỏi sinh viên phải suy nghĩ, vân dụng kiến thức thực tế và môn học có liên quan Sinh viên sẽ sử dụng tổng hợp các kiến thức để đưa ra phương án giải quyết hợp lý mang lại sự hài lòng cho khách hàng nhất Với phương pháp này được sử dụng nhiều ở quy trình “Phục vụ khách trong thời gian lưu trú”, giảng viên khuyến khích sinh viên đưa ra nhiều ý tưởng để giải quyết vấn đề, kích thích họ cùng suy nghĩ, quan tâm về một vấn đề để có thể chọn ra một phương án hợp lý nhất

Ưu điểm của phương pháp này là mang lại giải pháp cho vấn đề, tình huống đưa

ra Phát triển các khả năng linh hoạt và nhạy bén của sinh viên trong quá trình giải quyết vấn đề Tuy nhiên, nếu không kiểm soát chặt chẽ về thời gian, lớp học sẽ mất thời gian vào những ý tưởng vô bổ, có thể gây nên tình trạng lộn xộn do những ý tưởng trái chiều

Trang 25

Vì vậy, giảng viên cần phải có kiến thức thực tế, đối xử lịch sự với các ý tưởng của sinh viên

Hướng dẫn từng người học: cầm tay chỉ việc là phương pháp phổ biến trong đào

tạo nghề, được dùng cho người chưa biết thực hiện công việc như sinh viên hoặc nhân viên mới Khi để từng cặp sinh viên thực hiện công việc, giảng viên sẽ đứng bên cạnh để quan sát và điều chỉnh khi cần thiết Với phương pháp này sinh viên có thể phát triển kỹ năng một cách nhanh chóng và chính xác nhất

Ưu điểm của phương pháp này là sinh viên có thể đặt câu hỏi trực tiếp với giảng viên khi gặp vấn đề khó khăn và nhận được thông tin phản hồi, sửa chữa ngay lập tức Sinh viên tham gia vào phương pháp này một cách tích cực và hài lòng Tuy nhiên, phương pháp này tốn rất nhiều thời gian, thời gian học tập trên lớp không đủ để đảm bảo toàn bộ sinh viên được tham gia Giảng viên chú ý đến một sinh viên sẽ không thể kiểm soát được tình hình lớp học cũng như các sinh viên khác Vì vậy muốn thực hiện được hiệu quả phương pháp này, giảng viên phải có sự chuẩn bị giáo án tốt, phân chia thời gian chặt chẽ cho từng hoạt động, ấn định thời gian cho từng công việc và bám sát vào lịch biểu đã đặt ra

Dạy trên máy vi tính: là phương pháp giảng viên hướng dẫn sinh viên học cách

sử dụng phần mềm quản lý khách sạn (SMILE) hỗ trợ cho công việc phục vụ khách của nhân viên lễ tân Mục tiêu của phương pháp này nhằm đào tạo sinh viên theo chuẩn hoá

và có thể ứng dụng trong công việc về sau Phương pháp này sinh viên sẽ được vận hành thành thạo các kỹ năng trên máy tính nên họ rất hào hứng với việc học này Để mua được phần mềm, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu bỏ ra lớn và đòi hỏi sinh viên phải biết sử dụng máy vi tính

Hiện nay, trong quá trình giảng dạy bộ môn nghiệp vụ lễ tân, tuỳ vào nội dung giảng viên sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp nêu trên trong một buổi học Mỗi một buổi thực hành, sinh viên sẽ được tiếp cận với một nội dung khác nhau không lặp lại vì thế để kích thích sự tò mò và giúp sinh viên có thể nắm vững kiến thức, thông thường tiến trình giảng dạy một kỹ năng được thực hiện qua những bước sau:

Bước 1 Giải thích: ở bước này giảng viên sẽ sử dụng kỹ năng thuyết trình để nêu tổng quát vấn đề trong buổi học, lý do vì sao phải học kỹ năng này và các đặc điểm của

nó Với sự hỗ trợ của bảng trong giảng viên liệt kê những kỹ năng cần thực hiện trong buổi học, mô tả vấn đề một cách tổng quát nhất để sinh viên ghi chép và nắm được nội dung bài học

Bước 2 Thao diễn kèm theo giải thích: lúc này giảng viên sẽ đứng trong quầy lễ tân và trình bày với sự hỗ trợ của các dụng cụ, phương tiện hỗ trợ liên quan đến quy trình thao tác nghiệp vụ sinh viên sẽ đứng xung quanh quầy và quan sát

Trang 26

Bước 3 Sinh viên thực hành: lần lượt từng sinh viên sẽ vào trong quầy lễ tân thực hành lại các thao tác dưới sự quan sát của giảng viên Sinh viên sẽ vận dụng ngay kiến thức mà giảng viên giảng giải và thao tác, nếu có bất kỳ lỗi nào, giảng viên sẽ nhắc nhở rút kinh nghiệm sinh viên còn lại sẽ ngồi quan sát và đánh giá

Bước 4 Thông tin phản hồi và củng cố: đây là bước cuối cùng sau khi việc thực hành của sinh viên kết thúc Lúc này giảng viên sẽ tổng hợp lại các vấn đề và giải đáp những thắc mắc nếu có Động viên sinh viên để lần sau tiếp tục cố gắng

2.1.2 Yếu tố ảnh hưởng đến các phương pháp đã và đang giảng dạy môn nghiệp vụ

Môi trường làm việc: môi trường làm việc của giảng viên rất đa dạng, phong phú bao gồm

mối quan hệ giữa giảng viên với sinh viên, với lãnh đạo nhà trường… Trong đó môi trường gắn

bó, gần gũi nhất đối với giảng viên đó chính là môi trường làm việc tại Khoa Du lịch, nơi mà mỗi giảng viên bộ môn nghiệp vụ lễ tân là một thành viên Theo điều tra đối với 04 giảng viên

bộ môn nghiệp vụ lễ tân cho thấy đánh giá tích cực về môi trường làm việc của mình (bảng 2.1), điểm trung bình chung của toàn thang đo là 2,75, xếp ở mức 3 Các yếu tố liên quan đến môi trường làm việc của Khoa được khảo sát bao gồm: bầu không khí tâm lý, tinh thần tranh luận khoa học, sự chia sẻ công việc giữa các thành viên và phong cách lãnh đạo của lãnh đạo Khoa

3 Giảng viên trẻ trong Khoa được hướng dẫn về chuyên môn

mà họ sẽ đảm nhiệm giảng dạy

Trang 27

Trên thực tế, Khoa Du lịch là Khoa có phong trào Công đoàn rất mạnh với các hoạt động xây dựng văn hóa, nề nếp làm việc đã đi vào chiều sâu trong nhiều năm qua Chính truyền thống của Khoa và phong trào xây dựng văn hóa công sở ở nơi làm việc đã góp phần tạo dựng môi trường làm việc ở Khoa thực sự thoải mái, hợp tác và giúp đỡ lẫn

nhau Trong số các mệnh đề được khảo sát, mệnh đề “Bầu không khí làm việc trong Khoa

rất thoải mái” và “Lãnh đạo Khoa tạo mọi điều kiện cho giảng viên làm việc” nhận được ý

kiến đồng tình mạnh mẽ nhất từ các giảng viên, điểm trung bình của tiêu chí này là 3,75

Có thể nhận thấy, các giảng viên trong diện khảo sát đã đánh giá tích cực môi trường làm việc của mình Những đánh giá tích cực này là tiền đề quan trọng để giảng viên có thể cống hiến cho công việc, hăng say với công việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học

Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy: Hoạt động giảng dạy của giảng viên sẽ không

thể diễn ra nếu không có một hệ thống cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy đáp ứng ở mức

độ nhất định Các yếu tố liên quan đến cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy được khảo sát (bảng 2.2) bao gồm: máy móc, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, cơ sở học liệu, phòng thực hành lễ tân, hệ thống mạng internet, máy vi tính và phần mềm quản lý khách sạn…

1 Máy móc, trang thiết bị phục vụ giảng dạy –

5 Phần mềm quản lý khách sạn (SMILE) hoạt động

ổn định, đáp ứng nhu cầu giảng dạy

Bảng 2.2 Đánh giá của giảng viên về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy

Trong các vấn đề liên quan đến cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy được khảo sát, theo đánh giá của giảng viên, “Hệ thống mạng internet phục vụ giảng dạy” và “Phần mềm quản lý khách sạn (SMILE) hoạt động ổn định, đáp ứng nhu cầu giảng dạy” còn nhiều hạn chế Cả hai tiêu chí này đều có điểm TB là 2.0, xếp ở mức 2 Tại phòng thực hành nghiệp vụ lễ tân đã trang bị hệ thống internet để chạy phần mềm quản lý khách sạn (SMILE) từ năm 2004 Tuy nhiên do thời gian lắp đặt khá lâu, lại không được nâng cấp,

hệ thống máy vi tính xuống cấp làm cho hiệu quả sử dụng không cao Trong năm 2017 toàn trường đại học (cơ sở 1 và 2) đã lắp đặt hệ thống mạng Internet không dây (wifi) phục vụ giảng dạy tại các khu giảng đường và các khu làm việc của giảng viên Tuy

Trang 28

nhiên, tốc độ đường truyền quá kém và giảng viên phải tiến hành nhiều thao tác kỹ thuật phức tạp mới có thể sử dụng được khiến nhiều giảng viên gặp khó khăn trong việc sử dụng và gián đoạn giảng dạy Đó là lý do khiến nhiều giảng viên đánh giá hệ thống mạng internet và phần mềm SMILE không tốt Bên cạnh đó, các tiêu chí máy móc, trang thiết bị cũng như cơ sở học liệu được các giảng viên đánh giá ở mức kém (2 điểm) Điều này phản ánh thực trạng xuống cấp của các trang thiết bị máy móc và học liệu không được quan tâm, một số không đáp ứng kịp thời hoặc đã hết do đã được trang bị từ rất lâu (năm 2004) Hiện nay, tất cả các trang thiết bị này hoặc là đã xuống cấp, hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển của ngành nghề Tóm lại, kết quả khảo sát ở bảng số liệu 2.2 cho thấy, nhìn chung giảng viên đánh giá cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy hiện nay ở mức độ kém, chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy của giảng viên, điểm trung bình của thang đo này đạt 2,25 xếp ở mức độ 2

Chính sách lương, thưởng đãi ngộ đối với giảng viên Các vấn đề liên quan đến

chính sách lương, thưởng đãi ngộ vật chất đối với giảng viên được khảo sát bao gồm: cơ chế trả lương, mức lương trả cho giảng viên, cơ chế trả thu nhập tăng thêm và chính sách khen thưởng vật chất đối với các giảng viên… Kết quả khảo sát về những vấn đề trên được phản ánh ở bảng số liệu 2.3

1 Cơ chế trả lương hiện nay không khuyến khích

được giảng viên tích cực làm việc

2 Lương trả cho giảng viên hiện nay quá thấp khiến

giảng viên không có động lực làm việc

3 Trả thu nhập tăng thêm, thưởng cần dựa trên sự

đóng góp của từng giảng viên

viên Ở tiêu chí “Cơ chế trả lương hiện nay không khuyến khích được giảng viên làm

việc tích cực” có tới 01 giảng viên đánh giá ở mức 4 và 02 giảng viên đánh giá ở mức 3

Hoặc “Lương trả cho giảng viên quá thấp khiến giảng viên không có động lực làm việc”

có tới 03 giảng viên đánh giá ở mức 4 và 01 giảng viên ở mức 3 Như vậy, về cơ bản giảng viên không đồng ý với cơ chế trả lương, số lương được trả và thu nhập tăng thêm

Trang 29

theo kiểu bình quân và theo thâm niên công tác hiện nay Họ đánh giá cao các hình thức trả lương ,thưởng dựa trên sự đóng góp của từng giảng viên và trả lương/thưởng dựa

trên hiệu quả công việc Việc “Trả thu nhập tăng thêm, thưởng cần dựa trên sự đóng

góp của từng giảng viên” nhận được sự đồng tình rất mạnh mẽ của giảng viên Tất cả

các giảng viên được hỏi đều đồng ý rằng chính sách khen thưởng có vai trò lớn trong việc tạo động lực để mọi người làm việc hiệu quả hơn

Tập thể sinh viên Giảng dạy là hoạt động hai chiều giữa giảng viên và sinh

viên Động cơ, mục đích giảng dạy của giảng viên trong trường nói chúng và khoa Du lịch nói riêng cũng bị ảnh hưởng, chi phối bởi bởi tập thể sinh viên Các khía cạnh liên quan đến tập thể sinh viên được khảo sát bao gồm: tinh thần, thái độ học tập, hứng thú,

ý thức kỷ luật trong học tập của sinh viên… Các kết quả khảo sát về đánh giá của giảng viên đối với tập thể sinh viên được thể hiện ở bảng số liệu 2.4 chỉ ra rằng, về cơ bản giảng viên đã có đánh giá tích cực về tập thể sinh viên nơi họ giảng dạy, điểm trung bình chung của toàn thang đo = 4.18, xếp ở mức 4

1 Sự ham học hỏi của sinh viên kích thích

giảng viên tích cực đổi mới nội dung,

phương pháp giảng dạy

2 Phong trào học tập của sinh viên rất tốt

khiến giảng viên có hứng thú trong giảng

dạy

3 Ý thức tổ chức kỷ luật của sinh viên rất

nghiêm túc khiến giảng viên có tinh thần

trách nhiệm hơn trong giảng dạy

“Yếu tố nào ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến động cơ giảng dạy của thầy/cô?”, nhiều giảng viên cho rằng, đó chính là hứng thú học tập của sinh viên

Từ những điều phân tích ở trên, có thể rút ra kết luận về tác động của các yếu tố khách quan đến động cơ giảng dạy của giảng viên Nhìn chung, giảng viên trong diện khảo sát đánh giá tích cực các yếu tố khách quan như môi trường làm việc; mối quan hệ

Trang 30

giữa giảng viên với tập thể sinh viên Tức là hầu hết các giảng viên cho rằng họ đã và đang làm việc trong môi trường thuận lợi cùng với ý thức học tập của sinh viên khá cao Điều này dẫn tới chất lượng giảng dạy các môn nghiệp vụ ở mức tương đối Thực tế chứng minh rằng trong công tác đào tạo nghiệp vụ du lịch nói chung, nghiệp vụ lễ tân nói riêng trường Đại học Khánh Hoà chiếm một vị trí quan trọng và được hầu hết các doanh nghiệp tuyển dụng tin tưởng và đánh giá khá cao khả năng và trình độ tay nghề của sinh viên tốt nghiệp ra trường Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những mặt còn hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác giảng dạy và chính sách lương thưởng Để nâng cao được chất lượng đào tạo nghiệp vụ lễ tân hơn nữa cần phải có những biện pháp khắc phục tình trạng này

2.2 Nội dung giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân

Nghiệp vụ lễ tân là môn học thực hành liên quan đến rất nhiều kỹ năng khác nhau Trong khuôn khổ 60 tiết của môn học, giảng viên chỉ có thể tập trung hướng dẫn vào những trọng điểm của vấn đề Đó là những kỹ năng cơ bản nhất mà một nhân viên lễ tân cần biết viên tiếp thu, lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng khác mà khách sạn trở lên từ 3 sao yêu cầu đối với một nhân viên lễ tân Trong một chu trình tiếp đón khách tại khách sạn nói chung, bao gồm 4 giai đoạn Mỗi một giai đoạn thể hiện cách thức, quy trình phục vụ khác nhau Bốn quy trình dưới đây thể hiện ở 4 giai đoạn khác nhau trong chu trình phục

vụ khách tại khách sạn

2.2.1 Quy trình đặt phòng (trực tiếp và gián tiếp)

Đây là quy trình thuộc giai đoạn đầu tiên trước khi khách tới khách sạn để ở (pre arrival / pre stay) ở giai đoạn này, khách đang trong quá trình lựa chọn khách sạn để ở vì thế lễ tân cần biết các yếu tố dẫn tới quyết định ở một khách sạn nhất định của khách Giảng viên sẽ thuyết trình để diễn giải vấn đề này nhằm giúp sinh viên hiểu rõ hơn về khách góp phần phục vụ khách một cách tốt nhất có thể Giảng viên sẽ làm cho sinh viên hiểu rằng muốn gây được ấn tượng ban đầu tốt đẹp cho khách, nhân viên lễ tân hay nhân viên nhận đặt buồng phải có khả năng ứng xử nhanh, đáp ứng chính xác các yêu cầu đặt buồng của khách và cần có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng tốt

2.2.2 Quy trình làm thủ tục nhận phòng cho khách lẻ đã đặt phòng trước

Quy trình này thuộc giai đoạn khách tới khách sạn để ở (arrival), là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa khách và khách sạn Vì thế nhân viên lễ tân là đại diện của khách sạn phải tạo ra được ấn tượng tốt đẹp góp phần tạo nên kỳ nghỉ thoả mãn của khách tại khách sạn

Để làm được điều này, trước hết nhân viên lễ tân phải biết chính xác mình cần làm những công việc gì Giảng viên sẽ sử dụng nhiều phương pháp khác nhau làm cho sinh viên hiểu được các hoạt động như: Đón tiếp, làm thủ tục nhận buồng, cung cấp thông tin cho khách, nhân viên lễ tân phải xác định được tình trạng đặt buồng của khách trước khi tiến hành làm thủ tục đăng ký cho khách

2.2.3 Quy trình phục vụ khách trong thời gian lưu trú

Trang 31

Đây là giai đoạn khách đã ở trong khách sạn Liên quan đến giai đoạn này, nhân viên lễ tân sẽ làm rất nhiều công việc khác nhau để phục vụ khách, mang lại sự hài lòng cho khách hàng Thời gian khách lưu trú trong khách sạn, bộ phận lễ tân đại diện cho khách sạn trực tiếp tiếp xúc, phục vụ khách Tiếp nhận và giải quyết mọi thắc mắc, phàn nàn của khách (nếu có), ghi chép các giao dịch của khách trong thời gian lưu trú Đồng thời kiểm tra, cập nhật các chi phí, hóa đơn của khách để tránh sự nhầm lẫn khi thanh toán đó là những công việc một nhân viên lễ tân cần làm để khách hài lòng và quay trở lại khách sạn hoặc giới thiệu cho bạn bè, người thân tạo ra nguồn khách tiềm năng cho khách sạn

2.2.4 Quy trình làm thủ tục trả phòng cho khách lẻ

Quy trình này nằm trong giai đoạn cuối cùng của chu trình phục vụ khách tại khách sạn, đó là giai đoạn khách rời khỏi khách sạn Ở giai đoạn này, nếu nhân viên lễ tân không làm cho khách hài lòng thì mọi cố gắng trong các giai đoạn trước không còn ý nghĩa Công việc chính của nhân viên lễ tân trong giai đoạn này chủ yếu là liên quan đến thanh toán và tiễn khách Yêu cầu việc thanh toán phải theo tiêu chuẩn: đúng – đủ - nhanh (kiểm tra đúng hóa đơn, đếm đủ tiền và nhanh) mang lại sự hài lòng cho khách hàng, tạo nên lượng khách tiềm năng cho khách sạn

2.3 Đánh giá hiệu quả giảng dạy môn nghiệp vụ Lễ tân

2.3.1Đánh giá của giảng viên

Sự đánh giá của các giảng viên khác cùng giảng dạy môn nghiệp vụ lễ tân có vai trò quan trọng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đóng góp ý kiến để tìm ra phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất Trong khuôn khổ của đề tài, việc đánh giá của giảng viên

về hiệu quả giảng dạy môn nghiệp vụ lễ tân bao gồm 04 tiêu chí: thiết kế và trình bày bài giảng phù hợp với trình độ kiến thức của sinh viên cho mỗi buổi học; cung cấp cho sinh viên kiến thức mới, cập nhật Tạo điều kiện, giúp sinh viên phát triển tính sáng tạo, tư duy, khả năng độc lập giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình làm việc; tham gia tích cực vào các hoạt động liên quan đến giảng dạy như tư vấn cho sinh viên trong việc lựa chọn nghề nghiệp, định hướng nghề để cho sinh viên có kế hoạch học tập phù hợp; có khả năng thu hút sự quan tâm, thích thú của sinh viên đối với bài giảng

Cũng như bên trên đã đề cập, việc gán điểm từ 1- 4 điểm cho các tiêu chí đánh giá như sau:

Rất tốt: 4 điểm

Tốt: 3 điểm

Trung bình: 2 điểm

Kém: 1 điểm

Thiết kế và trình bày bài giảng: các nhận xét của giảng viên về khả năng thiết kế

và trình bày bài giảng ở mức độ khá cao đạt điểm trung bình 3,25 (mức độ 3) Trong đó

có 3 giảng viên đánh giá bài giảng được thiết kế và trình bày phù hợp với trình độ kiến thức của sinh viên cho mỗi buổi học ở mức tốt, 01 giảng viên đánh giá ở mức rất tốt

Trang 32

Cung cấp cho sinh viên kiến thức mới: nghiệp vụ lễ tân là công việc đòi hỏi phải

được cập nhật thường xuyên và ở các cấp độ khách sạn khác nhau Vì vậy giảng viên muốn cập nhật kiến thức thực tế cho sinh viên cần phải có quá trình đi thực tế tại các khách sạn Tại trường Đại học Khánh hoà, 100% giảng viên thuộc tổ bộ môn Quản trị nhà hàng khách sạn trong đó có giảng viên bộ môn nghiệp vụ lễ tân hàng năm đi thực tế tại các khách sạn lơn: Sheraton, Novotel, Galina, Michelia do đó chỉ tiêu này 100% giảng viên đánh giá ở mức thang cao nhất

Tham gia tích cực vào hoạt động liên quan đến giảng dạy: trong quá trình

giảng dạy, khi mở rộng kiến thức thực tế cho sinh viên có những giảng viên lồng ghép việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp cũng như định hướng nghề cho sinh viên Đây là việc làm hết sức cần thiết, thiết thực để giúp sinh viên có cách nhìn nhận đúng đắn hơn về nghề nghiệp tương lai của mình Trong khuôn khổ của cuộc điều tra, có 02 giảng viên đánh giá ở mức độ trung bình, 1 giảng viên đánh giá ở mức tốt và 1 giảng viên đánh giá ở mức rất tốt Trung bình chung cho điểm đánh giá tiêu chí này đạt 2,75 (mức độ 3)

Có khả năng thu hút sự quan tâm, thích thú của sinh viên đối với bài giảng:

đây là một tiêu chí vô cùng quan trọng để đánh giá hiệu quả giảng dạy của một giảng viên Trong quá trình giảng dạy, giảng viên ngoài việc truyền đạt kiến thức phải quan tâm đến cảm xúc, sự chú ý của sinh viên Đòi hỏi giảng viên phải linh hoạt và nhạy bén mới

có thể làm được Nội dung có gắn với thực tế, cách truyền đạt có hấp dẫn thì mới có thể thu hút được sự chú ý của sinh viên Điểm đánh giá của giảng viên cho tiêu chí này đạt mức độ 2,25 (mức độ 2)

Có thể nói rằng, sự đánh giá của các giảng viên bộ môn khác cho các tiêu chí ở mức độ khác nhau Đối với tiêu chí cập nhật kiến thức mới, đây là tiêu chí được đánh giá cao nhất, phù hợp với tính chất nghề nghiệp Tiếp đến là tiêu chí thiết kế và trình bày bài giảng và tham gia tích cực vào hoạt động liên quan đến giảng dạy là hai tiêu chí được đánh giá ngang nhau ở mức độ 3 Cuối cùng là tiêu chí có khả năng thu hút sự quan tâm, thích thú của sinh viên đối với bài giảng là tiêu chí được đánh giá thấp nhất (mức độ 2) Điều này thể hiện thực trạng giảng viên trang bị kiến thức chuyên môn cũng như thực tế rất tốt nhưng chưa thu hút được sự quan tâm của sinh viên Vấn đề không phải ở chỗ giảng viên hoàn toàn không thu hút được sự quan tâm, chú ý của sinh viên mà là không kéo dài được sự quan tâm chú ý đó Trong một buổi học, có thể lúc đầu sinh viên rất thích thú, hăng say học tập, nhưng sau đó sự thích thú đó giảm dần dẫn đến thực trạng khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên nói chung chưa được cao

2.3.2 Đánh giá của sinh viên

Phiếu khảo sát ý kiến của 131 sinh viên về hiệu quả giảng dạy môn nghiệp vụ lễ tân bao gồm nội dung khảo sát về 4 tiêu chí với 13 chỉ báo, mỗi chỉ báo có 4 mức độ (xem phần 2.3.1) đánh giá tương ứng được thiết kế theo thang đo Linkert Điểm đánh giá

Trang 33

của sinh viên cho từng nhóm chỉ báo được sử dụng tính điểm trung bình cho hiệu quả giảng dạy của giảng viên Điểm đánh giá của sinh viên cho từng nhóm chỉ báo được sử dụng tính điểm trung bình chung cho hiệu quả giảng dạy như: nội dung giảng dạy; phương pháp giảng dạy; học liệu và phương tiện hỗ trợ dạy – học; trách nhiệm, nhiệt tình của giảng viên

Nội dung giảng dạy: các ý kiến phản hồi của sinh viên về nội dung giảng dạy bao

gồm: nội dung môn học được trình bày đầy đủ theo đề cương, giảng viên trình bày mục đích, yêu cầu của từng bài học một cách rõ ràng, kiến thức cơ bản của môn học được giảng viên trình bày chính xác, giảng viên thường cập nhật và mở rộng kiến thức liên quan đến nội dung bài giảng, sinh viên tích luy được kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của học phần Điểm đánh giá của sinh viên đối với từng nội dung riêng lẻ được sử dụng

để tổng hợp thành điểm đánh giá về tác động của ý kiến phản hồi từ sinh viên đến hiệu quả giảng dạy của giảng viên đạt 2,75 (mức độ 3) Theo đó chỉ có 3 sinh viên cho rằng nội dung kiến thức không được đầy đủ 26 sinh viên cho rằng có đầy đủ nhưng sinh viên chưa nắm được hết, 102 sinh viên cho rằng kiến thức đầy đủ và sinh viên nắm được sau khi được truyền tải

Phương pháp giảng dạy: số lượng sinh viên trong một nhóm học nghiệp vụ lễ tân

tương đối cao, các sinh viên hay nhóm sinh viên có những kiểu học khách nhau thì giảng viên phải nắm rõ được những điểm khác nhau này, nếu có thể thay đổi phương pháp dạy học của mình cho phù hợp Để duy trì năng lực sư phạm các giảng viên phải tích cực cập nhật các phương pháp giảng dạy nhằm tạo ra cơ hội giáo dục bình đẳng cho các nhóm sinh viên khác nhau Việc làm trên đòi hỏi giảng viên phải có được thông tin phản hồi của sinh viên về phương pháp dạy học để có cơ sở điều chỉnh phù hợp Ý kiến phản hồi của sinh viên về phương pháp giảng dạy được đánh giá qua các yếu tố: giảng viên trình bày nội dung bài giảng dễ dàng và dễ hiểu; giảng viên sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tự học, tự nghiên cứu của sinh viên; giảng viên khuyến khích sinh viên phát biểu hoặc đặt câu hỏi trong giờ học Điểm đánh giá hiệu quả phương pháp giảng dạy của giảng viên đạt giá trị trung bình là 2,6 (mức độ 3) Nhìn chung, sinh viên đánh giá ở tiêu chí phương pháp giảng dạy là tốt tuy nhiên nếu nhìn vào những con số cụ thể ở các thang điểm thì rõ ràng tiêu chí này còn nhiều hạn chế Cụ thể,

có 02 sinh viên đánh giá ở mức độ 1 (kém), có 52 sinh viên đánh giá ở mức độ 2 – trung bình, có 69 sinh viên đánh giá ở mức độ 3 – tốt và chỉ có 7 sinh viên đánh giá mức độ 4- rất tốt Có thể thấy, bên cạnh con số đánh giá ở mức độ 3 và 4 thì con số đánh giá ở mức

độ 1- 2 vẫn còn khá cao, chiếm 41,2 % tổng số sinh viên tham gia đánh giá

Học liệu và phương tiện hỗ trợ dạy – học: việc đánh giá mức độ sử dụng và áp

dụng các phương tiện, tài liệu dạy học của giảng viên thông qua các tiêu chí: giảng viên thường giới thiệu và khuyến khích sinh viên khai thác các nguồn tài liệu mở; sinh viên

Trang 34

làm việc nhiều với các nguồn tri thức khác nhau dưới sự hướng dẫn của giảng viên; giảng viên sử dụng hiệu quả các phương tiện hỗ trợ dạy học (máy vi tính, thiết bị điện tử khác ) Điểm đánh giá trung bình của 131 sinh viên về sử dụng hiệu quả các phương tiện

hỗ trợ dạy và học đạt giá trị 2,5 (mức độ 3) Trong đó 57,3% sinh viên cho rằng việc khai thác và sử dụng các phương tiễn hỗ trợ chưa cao, 34,3% sinh viên đánh giá cao việc khai thác và sử dụng các phương tiện hỗ trợ này, số sinh viên đánh giá rất cao tiêu chí này là 8,4%

Trách nhiệm và nhiệt tình của giảng viên: việc đánh giá yếu tố trách nhiệm và

sự nhiệt tình của giảng viên trong giảng dạy có vai trò lớn trong việc đánh giá hiệu quả giảng dạy Theo đó sinh viên cho ý kiến phản hồi theo các tiêu chí như: giảng viên đảm bảo kế hoạch giảng dạy theo kế hoạch (không cắt bớt giờ dạy), giảng viên sử dụng thời gian trên lớp một cách hiệu quả Điểm đánh giá của sinh viên về tiêu chí này đạt mức độ

4 Tức là 100% sinh viên cho rằng giảng viên rất nhiệt tình, trách nhiệm với bài giảng và với sinh viên trên lớp học

Như vậy có thể thấy rằng, sự đánh giá của sinh viên về các yếu tố nội dung giảng dạy; phương pháp giảng dạy; học liệu và phương tiện hỗ trợ dạy – học; trách nhiệm, nhiệt tình của giảng viên ở mức độ khá cao Trong đó tiêu chí trách nhiệm, nhiệt tình của giảng viên đạt ở mức độ cao nhất tiếp sau đó là phương pháp giảng dạy, nội dung giảng dạy, học liệu và phương tiện hỗ trợ giảng dạy Tuy nhiên riêng chỉ tiêu phương pháp giảng dạy mặc dù được đánh giá ở mức độ 3 nhưng xét cụ thể có tới gần một nửa số sinh viên tham gia trả lời bảng hỏi đã đánh giá ở mức độ 1 và 2 Tức là có khá nhiều sinh viên chưa được hài lòng về phương pháp giảng dạy của giảng viên, hay nói cách khác, phương pháp giảng dạy của giảng viên chưa đạt hiệu quả cao

Ngày đăng: 31/07/2023, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bài giảng tích hợp thuộc chương trình đào tạo viênVTOS, dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tích hợp thuộc chương trình đào tạo viênVTOS, dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
2. Lê Đình (2008), Đánh giá giảng dạy- một nhân tố quan trọng trong đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục đại học, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giảng dạy- một nhân tố quan trọng trong đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục đại học
Tác giả: Lê Đình
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2008
3. Ngô Công Hoàn (1997), Tâm lý học xã hội trong quản lý, NXB ĐHQG, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội trong quản lý
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia
Năm: 1997
4. Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2008), Lý luận dạy học đại học , Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
5. Nguyễn Thành Hải, Phùng Thuý Phƣợng, Đồng Thị Bích Thuỷ(2010), Giới thiệu một số phương pháp giảng dạy cải tiến giúp sinh viên học tập chủ động và trải nghiệm đạt các chuẩn đầu ra theo CDIO, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh- Hội thảo CDIO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu một số phương pháp giảng dạy cải tiến giúp sinh viên học tập chủ động và trải nghiệm đạt các chuẩn đầu ra theo CDIO
Tác giả: Nguyễn Thành Hải, Phùng Thuý Phƣợng, Đồng Thị Bích Thuỷ
Nhà XB: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
9. Nguyễn Văn Lƣợt (2013), “Động cơ giảng dạy của giảng viên đại học”, Luận án tiến sĩ tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động cơ giảng dạy của giảng viên đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Lƣợt
Năm: 2013
11. Hồ Tấn Nhựt, Đoàn Thị Minh Trinh (Biên dịch) (2009), Cải cách và xây dựng chương trình đào tạo kỹ thuật theo phương pháp tiếp cận CDIO, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách và xây dựng chương trình đào tạo kỹ thuật theo phương pháp tiếp cận CDIO
Tác giả: Hồ Tấn Nhựt, Đoàn Thị Minh Trinh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2009
12. Lê Thị Ngọc Thương (2011): Đóng vai như là một phương pháp giảng dạy, Viện nghiên cứu Giáo dục – Đại học Sƣ Phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng vai như là một phương pháp giảng dạy
Tác giả: Lê Thị Ngọc Thương
Nhà XB: Viện nghiên cứu Giáo dục – Đại học Sư Phạm TP.HCM
Năm: 2011
15. Tổng cục Du lịch Việt Nam (2010), Giáo trình nghiệp vụ lễ tân khách sạn, NXB Hà Nội 16. Tổng cục Du Lịch Việt Nam(2009), Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam,Dự ánphát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Du lịch Việt Nam (2010), Giáo trình nghiệp vụ lễ tân khách sạn, NXB Hà Nội 16. Tổng cục Du Lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Hà Nội 16. Tổng cục Du Lịch Việt Nam(2009)
Năm: 2009
6. Lê Đức Luận, Những yếu tố tác động đến chất lƣợng giáo dục đại học Khác
7. Nguyễn Văn Lƣợt, Một số yếu tố khách quan tác động đến động cơ giảng dạy của giảng viên đại học, tạp chí khoa học Đại học QGHN, Khoa học xã hội và nhân văn, số 28 (2012) 35-38 Khác
8. Nguyễn Văn Lƣợt, Một số yếu tố chủ quan tác động đến động cơ giảng dạy của giảng viên đại học, tạp chí khoa học Đại học QGHN, Khoa học xã hội và nhân văn, số 4 (157) 4 - 2012 Khác
10. Tổng bí thư Đỗ Mười, thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học tự đào tạo, 6/1/1998 Khác
13. Nguyễn Thị Tình, Những yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực giảng dạy của giảng viên đại học, tạp chí Tâm lí học số 2 (2011) 80-88 Khác
17. Phan Thị Hồng Vinh, Đánh giá chất lượng đào tạo trong các trường TCCN, cao đẳng và đại học, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 18 (2007) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w