PHÀN MỞ ĐÀU
Lý do chọn đề tài
Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, nhưng cuộc đời và tác phẩm của bà vẫn còn nhiều điều chưa được làm sáng tỏ Các nhà nghiên cứu và giảng dạy về thơ của Hồ Xuân Hương vẫn tiếp tục tranh luận về những khía cạnh cơ bản trong cuộc sống và sáng tác của bà.
Hồ Xuân Hương, được Tản Đà mô tả là "thơ bà thỉ trung hữu quỷ" và được Xuân Diệu gọi là "Bà Chúa thơ Nôm", là một nhà thơ có phong cách riêng biệt và tài hoa Bà không chỉ là một nhà thơ giàu giá trị nhân văn mà còn mang đến một giọng điệu lạ và sắc thái sáng tạo độc đáo Thơ của Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt trong văn học Việt Nam, thể hiện tính cách độc đáo của bà qua những hình ảnh phụ nữ đẹp và mạnh mẽ Bà là người đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc mang đến tiếng nói của người phụ nữ với những tiếng than, tiếng thét, và sự châm biếm sâu cay, tạo nên sự nổi bật và độc đáo trong thơ ca.
Thơ Hồ Xuân Hương đã chinh phục độc giả từ mọi lứa tuổi và giới tính, từ những người trí thức đến những người bình dân trong và ngoài nước Việc khẳng định giá trị thơ nôm của bà là điều cần thiết và phản ánh mong muốn của nhiều người yêu thích văn chương, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi tài năng của bà được công nhận rộng rãi Nhiều bài thơ của bà, với nội dung trữ tình về vẻ đẹp của người phụ nữ, đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ Văn ở các trường THPT và THCS, tạo cơ hội để đánh giá lại giá trị thơ của Hồ Xuân Hương Tìm hiểu thơ của bà chính là hành trình trở về với cội nguồn văn học dân tộc, tiếp nối những nỗ lực của các nhà khoa học nhân văn trong nước.
Dựa trên những nghiên cứu và tài liệu liên quan, chúng tôi quyết định chọn đề tài "Hình tượng người phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương" nhằm đóng góp thêm tiếng nói cho các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Bà Chúa Thơ Nôm Đề tài này không chỉ mang lại giá trị cho nghiên cứu mà còn là tài liệu hữu ích cho công tác giảng dạy thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy trong tương lai.
Mục đích nghiên cứu
Bài viết này tập trung vào việc nghiên cứu tác giả và hình tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương, nhằm khám phá sâu sắc hơn về thơ ca và cuộc đời của bà.
Hồ Xuân Hương để phục vụ tốt hơn cho học tập và giảng dạy sau này.
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu xung quanh hình tượng người phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, không bao gồm khảo sát thơ chữ Hán của tác giả.
Tập thơ mà chúng tôi khảo sát là Hồ Xuân Hương tác phẩm và lời bình của Tuấn Thành và Anh Vũ tuyển chọn NXBVH.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương, đồng thời làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của chủ đề này trong tác phẩm của bà.
Phương pháp nghiên c ứ u
Để triển khai đề tài này tôi đã vận dụng những thao tác và phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát thống kê những bài thơ nôm của Hồ Xuân Hương viết về hình tượng người phụ nữ
Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu liên quan đến Hồ Xuân Hương từ các công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhằm làm rõ những đặc điểm và giá trị nghệ thuật của bà.
- Phương pháp so sánh đối chiếu với các bài thơ cùng giai đoạn viết về phụ nữ
Lịch sử vấn đề
Hồ Xuân Hương, với tài năng thơ độc đáo, đã trở thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng Đến nay, đề tài về Hồ Xuân Hương vẫn giữ được sức hấp dẫn và tính thời sự trong văn học, là một lĩnh vực không bao giờ trở nên nhàm chán.
Qua các nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hương, có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Trương Tửu, nhà phê bình Nguyễn Bách Khoa, với quan điểm duy vật sử quan, đã gọi thơ bà là thiên tài hiếu dâm Trong khi đó, theo phái khoa học, dựa trên thuyết phân tâm học của Freud, tác giả Nguyễn Lãng Vân trong quyển "Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và tài năng" cho rằng nữ sĩ mang tư tưởng hiếu dâm do bị dục vọng dồn ép, dẫn đến khủng hoảng sinh lý tình dục.
Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu vào đầu những năm 20 của thế kỷ 20 đã có những phê bình tinh quái về thơ Hồ Xuân Hương, đặc biệt là những câu thơ gây ấn tượng mạnh Nhiều công trình nghiên cứu đã bàn về hình tượng người phụ nữ trong thơ của bà, như cuốn "Văn Học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX" của Nguyễn Lộc (NXBGD 2001) và cuốn "Hồ Xuân Hương: tác gia và tác phẩm" (NXBGD).
Năm 2007, tác phẩm "Hồ Xuân Hương Bà Chúa Thơ Nôm" được tái bản có bổ sung, do NXB Phổ Thông in 1961 (nộp lưu chiếu 11/1961) Tác phẩm này chứa đựng những tư tưởng sâu sắc trong ba bài thơ mà Hồ Xuân Hương sáng tác từ năm đó.
1972 đến năm 1979 NXBVHHN 1987, Hồ Xuân Hương thơ và đời của Lữ Huy Nguyên.
Nói chung tất cả các cuốn trên đều có đề cập về cuộc đời cũng như sự nghiệp của
Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nổi bật với những giá trị nghệ thuật độc đáo trong thơ ca Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về hình tượng người phụ nữ trong thơ của bà Đề tài của chúng tôi kế thừa những thành tựu và gợi ý từ các nghiên cứu trước, với hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào việc khẳng định giá trị tuyệt vời của thơ Hồ Xuân Hương.
Cấu trúc đề tà i
Chương 1: Hồ Xuân Hương - cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1 3 Vị trí của Hồ Xuân Hương trong thơ Nôm Đường luật nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung
Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong thơ nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương
2 1 Hình tượng người phụ nữ thể hiện trên phương diện nội dung
2 1 3 Số phận cay đắng tuổi nhục
2 2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương qua phương diện hình thức nghệ thuật
2 2 1 Nghệ thuật miêu tả trực tiếp
2 2 2 Nghệ thuật miêu tả ẩn dụ
NỘI DUNG CHÍNH
Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, nhưng tiểu sử của bà vẫn còn nhiều tranh cãi Đến nay, năm sinh và năm mất của nữ sĩ vẫn chưa được xác định rõ ràng Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau, các nhà nghiên cứu đều đồng thuận rằng bà xuất thân từ gia đình họ Hồ, tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, miền Bắc Việt Nam Bà cũng là bạn của Chiêu Hổ, tức Phạm Đình Hổ (1768-).
Hồ Xuân Hương sống vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 Năm 1957, Hồ Tuấn Niêm đã xác nhận mối liên hệ giữa Hồ Xuân Hương và Quang Trung Nguyễn Huệ thông qua sáu bộ gia phả ở Nghệ An, làm sáng tỏ gốc gác của bà Đến năm 1963, Trần Thanh Mại phát hiện tập thơ chữ Hán mang tên Lưu Hương Ký, cho thấy Hồ Xuân Hương là bạn tình của tác giả Truyện Kiều và là em ruột của Hoàng Giáp (Hồ Sĩ Đống) Tuy nhiên, năm 1974, một tài liệu mới đã đặt ra nghi vấn về lai lịch của bà, khi đề cập đến một Hồ Xuân Hương mất năm 1870 tại núi Nguyệt Hằng Vấn đề này tiếp tục được làm rõ vào năm 1985, khi Hoàng Xuân Hãn chứng minh rằng Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm, và Hồ Xuân Hương bạn tình của Nguyễn Du là một người duy nhất, đồng thời cho biết bà từng là vợ lẽ của viên quan Tham Hiệp Trần ở Yên Quang.
HÒ XUÂN HƯƠNG - cuộc ĐỜI VÀ s ự NGHIỆP SÁNG T Á C
Vị trí của Hồ Xuân Hương trong thơ nôm đường luật nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung
Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong thơ nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương
Hình tượng người phụ nữ thể hiện trên phương diện nội dung
2 1 3 Số phận cay đắng tuổi nhục
2 2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương qua phương diện hình thức nghệ thuật
2 2 1 Nghệ thuật miêu tả trực tiếp
2 2 2 Nghệ thuật miêu tả ẩn dụ
B NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: HÒ XUÂN HƯƠNG - c u ộ c ĐỜI VÀ s ự NGHIỆP
Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, nhưng tiểu sử của bà vẫn còn nhiều tranh cãi Đến nay, năm sinh và năm mất của nữ sĩ vẫn chưa được xác định rõ ràng Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau, các nhà nghiên cứu đều đồng thuận rằng bà xuất thân từ gia đình họ Hồ, tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, miền Bắc Việt Nam Bà cũng là bạn của Chiêu Hổ, tức Phạm Đình Hổ (1768-).
Hồ Xuân Hương sống vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 Năm 1957, Hồ Tuấn Niêm đã xác nhận mối liên hệ giữa Hồ Xuân Hương và Quang Trung Nguyễn Huệ thông qua sáu bộ gia phả ở Nghệ An Năm 1963, Trần Thanh Mại phát hiện tập thơ chữ Hán mang tên Lưu Hương Ký, cho thấy Hồ Xuân Hương là bạn tình của tác giả Truyện Kiều và là em ruột của Hoàng Giáp (Hồ Sĩ Đống) Tuy nhiên, năm 1974, một tài liệu mới đã đặt ra nghi vấn về lai lịch của bà, khi đề cập đến một tài nữ Nghệ An có tên cổ Nguyệt Đường Năm 1985, Hoàng Xuân Hãn đã chứng minh rằng Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm, và Hồ Xuân Hương có phần mộ ở Hà Nội là một người duy nhất, đồng thời cho biết bà từng là vợ lẽ của viên quan Tham Hiệp Trần ở Yên Quang vào khoảng năm 1818.
Trân Phúc Hiên, một nhân vật lịch sử, đã bị triều đình khép án tư hình vào năm 1819, cho thấy sự phức tạp trong tiểu sử của Hô Xuân Hương Bà là một tài nữ nổi bật, đã mạnh mẽ lên tiếng đòi nữ quyền qua những tác phẩm thơ ca sắc sảo, phản ánh cảnh vật và con người Hà Nội, như chùa Quán Sứ và Núi Khán Sử Là con của Hồ Diễn Phi nhưng lại là con của một người thiếp, Hô Xuân Hương không có địa vị may mắn, sống trong cảnh vợ bé, vợ lớn đầy khổ đau Sau khi cha mất, bà trải qua những tháng ngày tủi nhục, và cuộc đời không hề có một ngày hạnh phúc Nỗi buồn và sự chua xót đã theo đuổi bà suốt cuộc đời, khiến cho nụ cười của bà chỉ là nụ cười mỉa mai cho số phận của mình, điều này khiến cho cuộc sống của bà không thể vui vẻ và đầy hận thù với đời.
Cuộc đời của Hồ Xuân Hương là một hành trình lênh đênh, trôi nổi, như chính bài thơ của bà đã diễn tả Tuy nhiên, bà đã để lại dấu ấn sâu đậm qua những tác phẩm thi ca và giai thoại độc đáo, mang đến cho người đọc những cảm xúc vui tươi và mới lạ Nhiều người đã đồn đại rằng bà là cữu vĩ hồ ly, đầu thai thành người để dùng thi văn quấy phá trần gian Như Nguyễn Sĩ Tế đã viết trong quyển sách năm 1956, cuộc đời của Hồ Xuân Hương được phơi bày trên trang giấy với giọng điệu hồn nhiên và tinh nghịch.
Từ những thập niên 50 đến 70, thi phẩm của Hồ Xuân Hương đã được phổ biến và in lại, tuy nhiên nhiều tác phẩm của bà đã bị mất, hiện còn lưu truyền chủ yếu là 28 bài thơ Nôm Năm 1962, Trần Văn Giáp công bố năm bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương trên báo Văn Nghệ, viết về Vịnh Hạ Long Đến năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên cho năm bài này Tập thơ Lưu Hương Ký, mặc dù có nội dung về tình yêu, đất nước và gia đình, nhưng không thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, do đó, việc nghiên cứu giá trị thơ của bà chủ yếu tập trung vào những bài thơ Nôm truyền tụng.
Liên Xô đã xuất bản một tập thơ của Hồ Xuân Hương được dịch sang tiếng Nga bởi N Liculin Sự nghiệp của Hồ Xuân Hương được ví như ngọn hải đăng, như đã được nhấn mạnh trong lời tựa của tuyển tập thơ bằng tiếng Pháp Mặc dù bà để lại không nhiều tác phẩm cho văn học Việt Nam, chủ yếu là thơ Nôm, nhưng những tác phẩm của bà đã góp phần làm rạng danh cho thể loại thơ Nôm đường luật và nền văn học Việt Nam nói chung.
1.3 Vị trí của Hồ Xuân Hương trong thơ nôm đường luật nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung
Văn học dân tộc Việt Nam bắt đầu với văn học chữ Hán từ thế kỷ X, và đến nửa sau thế kỷ 13, văn học chữ Nôm ra đời, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của văn học dân tộc Sự xuất hiện của chữ Nôm không chỉ thể hiện tinh thần tự lực tự cường mà còn đồng hành cùng văn học chữ Hán Nội dung thơ Nôm trong giai đoạn này phản ánh chí làm trai của người quân tử vì dân, vì nước, trong khi thơ Hồ Xuân Hương tập trung vào hình ảnh người phụ nữ bình dân và yêu đời.
Từ thế kỷ XV đến XVII, thơ Nôm đường luật phát triển mạnh mẽ, đặc biệt với sự ra đời của hai tập thơ lớn: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi ở nửa đầu thế kỷ.
Hồng Quốc Ấm thỉ tập xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ, với Nguyễn Trãi là người tiên phong trong nỗ lực xây dựng một lối thơ Việt Nam độc đáo Quốc Ấm thỉ tập không chỉ mang giá trị văn học mà còn phản ánh lịch sử văn hóa của dân tộc.
Thể thơ đường luật ở Việt Nam được sáng tạo dựa trên nền tảng của thể thơ Trung Quốc, với sự thể hiện mạnh mẽ của Nguyễn Trãi trong việc phá cách Sự xuất hiện của câu sáu chữ, không phải là đường luật đích thực, đã trở nên phổ biến trong Quốc Âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập, đánh dấu bước phát triển theo hướng xã hội hóa Nội dung các tác phẩm không chỉ kế thừa mà còn phát triển từ giai đoạn trước, chủ yếu xoay quanh lòng trung quân ái quốc và lễ giáo phong kiến, trong khi giai đoạn này lại chú trọng đến phụ nữ và những điều cấm kỵ Thế kỷ XVIII và XIX chứng kiến sự khởi sắc của thơ nôm đường luật, với những cú hích quan trọng từ Quốc Âm thi tập và Hồ Xuân Hương, người đã đưa thơ nôm lên một đỉnh cao mới.
Thơ nôm đường luật đã mở rộng các đề tài chủ đề khuôn sáo của thơ nôm đường luật Hán, giúp hạn chế sự đơn điệu và lặp lại Điều này dẫn đến những cách tả tinh tế hơn thông qua trí tưởng tượng phong phú Hệ thống đề tài trong thơ nôm đường luật phản ánh tư duy nghệ thuật mới, mở ra những trường mỹ cảm độc đáo.
Hồ Xuân Hương là cầu nối giữa văn học viết và văn học dân gian, với thơ bà thể hiện sự dân chủ hóa nội dung và hình thức thể loại Thơ nôm của bà không chịu ảnh hưởng của các học thuyết tôn giáo hay chính trị, mà là sự giải phóng khỏi giáo điều phong kiến và tinh thần đẳng cấp của Nho giáo Xuân Hương đã cách tân thể thơ đường luật, đưa cuộc sống đời thường và bản năng tự nhiên trở thành đối tượng thẩm mỹ, tạo nên phong cách trữ tình trào phúng độc đáo Xu hướng dân chủ hóa trong thơ bà mạnh mẽ đến mức có thể khiến người đọc cảm nhận rằng bà không quá chú trọng vào tính dân tộc trong hình thức Nếu Nguyễn Trãi là người tiên phong trong tinh thần phá cách, thì Hồ Xuân Hương lại thể hiện mong muốn trở về với cấu trúc vốn có của đường luật, tạo nên một nghịch lý thú vị trong hiện tượng thơ của bà.
Hồ Xuân Hương không chỉ đơn thuần thể hiện xu hướng dân tộc trong thơ ca như Nguyễn Trãi, mà còn đóng góp lớn vào sự phát triển của đường luật Nôm thông qua xu hướng dân chủ hóa Ý thức dân tộc trong thơ của bà đã phát triển sâu sắc vào thế kỷ XVIII, khi triều đình phong kiến mất vai trò đại diện dân tộc, và ngọn cờ dân tộc phất cao trong các cuộc khởi nghĩa nông dân Thơ Hồ Xuân Hương đã đạt đến sự ổn định về cấu trúc hình thức, với việc phá cách mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của thể loại Bà đã sử dụng nội dung không nghiêm chỉnh để khẳng định chức năng trào phúng mạnh mẽ của đường luật Thơ của Hồ Xuân Hương được công nhận là rực rỡ nhất, với hình thức đẹp và gần gũi với công chúng Sự xuất hiện phong cách tác giả trong thơ bà đánh dấu bước phát triển vượt bậc của thơ Nôm đường luật, cho thấy thể loại này đã sẵn sàng bước vào giai đoạn văn học hiện đại.
Thơ nôm đường luật của Hồ Xuân Hương không chỉ tạo nên thành công rực rỡ ở thế kỷ XVIII - XIX mà còn mang đậm bản sắc dân tộc, phản ánh đời sống bình dân trên đất nước Những cảnh sắc núi non sông nước được bà miêu tả một cách chân thực, khác hẳn với những khuôn sáo trong văn học đương thời Hồ Xuân Hương để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc với những tác phẩm như Chợ trời, Quan khánh, Động hương tích Bà đã khéo léo kết hợp gốc nho sĩ với văn hóa bình dân, thể hiện qua hình ảnh bánh trôi, con ốc, và quả mít, những biểu tượng nguyên chất của đời sống dân gian.
Hồ Xuân Hương, với khoảng 28 bài thơ nôm, đã đóng góp lớn cho thể loại thơ nôm đường luật của dân tộc, khẳng định vị thế của nó trong văn học Việt Nam Tương tự như Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ nôm của bà cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng và được biết đến rộng rãi Năm 1968, một tập thơ Hồ Xuân Hương đã được dịch sang tiếng Nga và xuất bản tại Liên Xô Tuyển tập Việt Nam xuất bản ở Bungari năm 1973, do thi sĩ Balaga-Đimitrôva biên soạn, đã dành riêng cho việc dịch thơ của bà, khẳng định Hồ Xuân Hương là một trong những hiện tượng độc đáo nhất trong nền thơ thế giới Bà được biết đến với cái tên Hương mùa xuân, và thơ của bà đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả.
Hình tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương từ phương diện hình thưc nghệ th u ật
Ba bài Tự tình thể hiện nỗi buồn sâu sắc và nữ tính, phản ánh những trắc trở trong duyên phận của người phụ nữ Trong xã hội thời Xuân Hương, tình yêu tự do và hôn nhân hạnh phúc là điều hiếm hoi, phụ nữ thường phải lấy chồng như một nghĩa vụ.
Hồ Xuân Hương, một người phụ nữ chịu nhiều nỗi bất hạnh, đã thể hiện qua thơ ca nỗi buồn và khát khao về một tình yêu chân thành, chung thủy Sự thực trái ngược với mong muốn của bà đã dẫn đến những cảm xúc chán chường, đau khổ Qua các tác phẩm của mình, Xuân Hương không chỉ bộc lộ thân phận hẩm hiu mà còn gửi gắm ước mơ về một cuộc tình mặn nồng, thể hiện tiếng nói và khát vọng của người phụ nữ.
Hồ Xuân Hương đã khắc họa một cách sâu sắc số phận hẩm hiu của người phụ nữ trong xã hội, mặc dù chưa thể phản ánh hết mọi nỗi khổ Bà đã chỉ ra những vấn đề thực tế như nỗi khổ của người vợ phải làm lẽ và nỗi đau của người con gái dở dang Những bất hạnh này thể hiện rõ ràng qua tác phẩm của bà, góp phần làm nổi bật những khó khăn mà phụ nữ phải đối mặt.
Hương san sẻ Viết lên qua những bài thơ ấy, bà đã thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo của mình đối với người phụ nữ bị bất hạnh.
2.2 Hình tưong người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hưong từ phương diên hình thưc nghê thuât
2.2.1 Nghệ thuật được miêu tả trực tiếp
Trong văn học trung đại Việt Nam, nhiều tác giả đã khắc họa vẻ đẹp của người phụ nữ một cách đa dạng và phong phú, thể hiện tài năng sáng tạo của họ qua những hình ảnh và kiểu cách khác nhau.
Cái đẹp của người cung nữ trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều được miêu tả với sự kiêu sa, như Tây Thi mất vía hay Hằng Nga giật mình Trong khi đó, cô Kiều của Nguyễn Du, dù được giới thiệu là người bình thường với cuộc đời giản dị, vẫn toát lên cốt cách và vẻ đẹp quý phái, sang trọng của người phụ nữ cao quý.
Trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, vẻ đẹp của người phụ nữ được miêu tả như một mục đích và đối tượng chính Bài thơ "Thiếu nữ ngũ ngày" là một tác phẩm tiêu biểu ca ngợi vẻ đẹp trinh nguyên của người thiếu nữ Vẻ đẹp này được thể hiện một cách trực tiếp và cụ thể, sử dụng những biện pháp nghệ thuật độc đáo, nhằm khắc họa chân thực sự vật như nó vốn có.
Mùa hè với gió nồm mang đến không khí dễ chịu, khi thiếu nữ nằm chơi trong giấc ngủ say Tóc được cài lược trúc một cách lười biếng, trong khi yếm đào buông lơi dưới nương long Đôi gò Bồng Đảo vẫn còn ngậm sương, bên cạnh lạch Đào Nguyên chảy nhẹ nhàng Quân tử cảm thấy bối rối, không thể quyết định đi hay ở, vì cả hai lựa chọn đều không trọn vẹn.
Bài thơ "Thiếu nữ ngủ ngày" nổi bật với cấu trúc hình tượng đặc sắc, mang lại giá trị nghệ thuật cao Là một tác phẩm thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ thể hiện hai hình tượng chính: người thiếu nữ và người quân tử Qua nghệ thuật cấu trúc chính - phụ, nhà thơ đã khắc họa vẻ đẹp toàn mỹ của thiếu nữ thanh tân Hình ảnh trong bài thơ hiện lên như một bức tranh sống động, phản ánh nét đẹp trẻ trung, mơn mởn của người con gái Hồ Xuân Hương đã thành công trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật để tạo nên những hình ảnh sắc nét và tinh tế.
Tác giả sử dụng nghệ thuật cấu trúc chính - phụ để làm nổi bật nhân vật chính, đồng thời mượn nhân vật phụ nhằm tăng cường sự ấn tượng cho nhân vật chính Hình tượng người thiếu nữ được thể hiện qua bút pháp gợi tả, khác với ca dao thường miêu tả nét đẹp của người con gái một cách cụ thể.
Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương mả lúm đồng tiền
Bài thơ của Hồ Xuân Hương thể hiện vẻ đẹp tươi tắn, hồn nhiên và khỏe mạnh của người con gái Nhà thơ không chỉ miêu tả tóc và ngực mà còn sử dụng biện pháp gợi hình để khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc, tạo nên sự khác biệt so với ca dao truyền thống.
Lược trúc biếng cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Nhà thơ đã khéo léo sử dụng hình ảnh tóc và yếm để thể hiện vẻ đẹp của người thiếu nữ Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng câu tục ngữ để làm nổi bật ý nghĩa trong hai câu thơ này.
Nương long ngày càng cao
Mả đào ngày càng thẳm
Nương long - tức là ngực phụ nữ, ở đây ý muốn nói về sự nở nang của thiếu nữ dậy thì.
Hai câu thơ của Hồ Xuân Hương miêu tả vẻ đẹp giản dị, mạnh mẽ của một thiếu nữ, không mang vẻ kiêu sa mà rất gần gũi Sự hồn nhiên trong ngôn từ thể hiện sức sống tràn đầy và vẻ đẹp quyến rũ của cơ thể trẻ trung, tạo nên một hình ảnh đẹp đẽ và đáng trân trọng.
Cùng thời với Hồ Xuân Hương, nhiều nhà thơ khác cũng ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, điển hình là hình ảnh cơ thể Thuý Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du khi nàng tắm.
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên
Nhưng vẻ đẹp mà Nguyễn Du miêu tả ở đây còn ước lệ, chung chung, chưa có một chi tiết nào cụ thể, sinh động.
Hồ Xuân Hương có cách miêu tả độc đáo, chú ý đến những bộ phận cơ thể thường bị giấu kín của con người, điều mà văn học đương thời thường né tránh Bà nhận thấy vẻ đẹp của con người qua những chi tiết cụ thể và sinh động, không chung chung hay mờ nhạt Tác phẩm "Thiếu nữ ngủ ngày" có thể được xem như một bức tranh khỏa thân nghệ thuật.
Không dừng lại đó, ở bài Đề tranh Tố Nữ Hồ Xuân Hương đã bât diệt hóa, vĩnh cửu hóa vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ :
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh. Đôi lứa như in tờ giấy trắng Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Xỉếu mai chi dám tình trăng gió
Bo lieu thôi đành phận mỏng mcinh Con thú vui kia sao chăng vẽ Trách người thợ vẽ khéo vô tình
Trong thơ Hồ Xuân Hương, người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp mạnh mẽ và lộng lẫy, thể hiện sự tươi trẻ của những thiếu nữ ở độ tuổi dậy thì Tác giả miêu tả vẻ đẹp hình thức của cô gái qua nhiều tính từ như xinh, trắng xanh, và sử dụng thành ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp của Tổ Nữ Để thể hiện sự yếu đuối và mỏng manh của vẻ đẹp hình thể, nhà thơ đã áp dụng các điển cố như Xiếu mai, Bồ liễu Qua việc sử dụng từ ngữ mang tính chất hằng số, nữ sĩ Hồ đã vĩnh cửu hóa vẻ đẹp của cô gái, khẳng định rằng cái đẹp đó sẽ tồn tại mãi mãi.