Đề tài nhằm tìm hiểu quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em, và so sánh quan điểm, thái độ của công chúng đối với sữa nội và sữa ngoại, từ đó đưa ra các kiến nghị để người dân tin dùng sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.Nhiệm vụ nghiên cứu - Thao tác hóa các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu : quan điểm, thái độ, hàng hóa, hàng nội địa, thương hiệu, sữa nội, trẻ em. - Đo lường thực trạng sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em ở các hộ gia đình thông qua việc hỏi phụ nữ đã có con trong độ tuổi từ 6 tháng đến 10 tuổi. - Tìm hiểu quan điểm, thái độ của phụ nữ có con nhỏ về sữa nội và so sánh thái độ của họ với sữa ngoại trên một số tiêu chí: thương hiệu, chất lượng, giá cả, chủng loại, chế độ tiếp thị và khuyến mại. - Đo lường các yếu tố tác động đến quan điểm, thái độ của phụ nữ về thương hiệu, chất lượng, giá cả, chủng loại, thương hiệu, chế độ tiếp thị và khuyến mại của các hãng sữa nội dành cho trẻ em. - Đưa ra kết luận và đề xuất kiến nghị để người dân tin dùng sản phẩm sữa và các sản phầm từ sữa nội dành cho trẻ em.
Trang 1PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức ra nhập tổ chức thươngmại thế giới ( WTO), đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nền kinh tế của đất nước
Để hội nhập sâu rộng và phát triển nền kinh tế mạnh mẽ và bền vững, Đảng và nhànước ta đặc biệt quan tâm thị trường tiêu dùng trong nước Xác định được tầmquan trọng của thị trường nội địa, ngày 7 tháng 8 năm 2009, thường trực Ban Bíthư, đồng chí Trương Tấn Sang đã kí , ban hành văn bản số 246 – TB/TW thôngbáo kết luận của bộ chính trị về tổ chức cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiêndùng hàng Việt Nam” Tuy nhiên việc tiến hành có đạt được kết quả hay khôngcòn tùy thuộc vào sự nỗ lực của các doanh nghiệp, vào sự quan tâm của Đảng, nhànước và vào cả chính những người tiêu dùng Thực tế, trên thế giới đã có nhiềunước áp dụng mô hình kinh tế này và đã thu được những kết quả như mong đợi
Cụ thể đó là đất nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Việc học tập và áp dụng
mô hình này vào tình hình kinh tế Việt Nam là phù hợp
Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một
chủ trương lớn của Bộ chính trị nên các tiêu chí có liên quan cần phải được thốngnhất rõ ràng khi bắt tay thực hiện để tăng khả năng thành công Việc nghiên cứutập trung vào một mặt hàng nhất định góp phần làm rõ quan điểm, thái độ củangười tiêu dùng về mặt hàng đó là cần thiết Cụ thể như qua việc khảo sát thịtrường trong thời gian vừa qua nổi lên những vụ việc liên quan đến sữa Trongnăm 2008, vụ sữa bột Trung Quốc có chứa chất Melamine ảnh hưởng lớn đến tâm
lý của những người có con nhỏ đang dùng sữa bột Điều đó có ảnh hưởng đến tâm
lý người tiêu dùng trên phạm vi rộng những nước có nhập khẩu sữa bột của TrungQuốc, trong đó có Việt Nam Cũng theo khảo sát, giá sữa ngoại trên thị trườngViệt Nam có giá cao nhất trên thế giới, khiến người tiêu dùng trong nước chịunhiều thiệt thòi Như vậy, quyền lợi người tiêu dùng bị xâm phạm Hơn nữa, ngàynay do cuộc sống người dân không ngừng tăng lên, sữa và các sản phẩm từ sữa
Trang 2càng trở nên gần gũi và dần trở thành thức uống dinh dưỡng không thể thiếu trongcuộc sống Nhìn vào thực tế ta thấy, nếu trước những năm 90 chỉ có 1-2 nhà sảnxuất, phân phối sữa, chủ yếu là sữa đặc và sữa bột ( nhập ngoại) thì hiện nay thịtrường sữa Việt Nam đã có gần 20 hãng sữa nội địa và rất nhiều doanh nghiệpphân phối sữa chia nhau một thị trường tiềm năng với 80 triệu dân Tổng lượngtiêu thụ sữa Việt Nam liên tục tăng mạnh với mức từ 15-20% năm, theo dự báonhững năm tiếp theo, mức tiêu thụ sữa tại thị trường sẽ tăng gấp đôi và tiếp tụctăng gấp đôi vào năm 2020.
Nhu cầu sử dụng sữa bột cho trẻ nhỏ càng trở lên cần thiết khi trẻ em là đốitượng có nhu cầu dinh dưỡng cao cho sự tăng trưởng và phát triển về mọi mặt Tuynhiên, theo báo cáo của Viện Dinh Duỡng Quốc Gia, kết quả nghiên cứu điều tradinh dưỡng toàn quốc 2009-2010 tại 63 tỉnh, thành phố với hơn 50.000 trẻ từ 2 đến
5 tuổi cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chiếm 19,62%, tỷ lệ suy dinhdưỡng thể thấp còi là 29,05% Các kết quả nghiên cứu về vi chất dinh dưỡng trongnghiên cứu này cho thấy tình trạng thiếu vi chất còn phổ biến ở trẻ em Việt Nam,thể hiện qua tỷ lệ thiếu máu, thiếu vitamin A tiền lâm sàng (retinol huyết thanhthấp), thiếu kẽm… Bên cạnh đó vấn đề biếng ăn của trẻ em trong các nghiên cứu
từ năm 2004 đến nay cũng cho thấy khá cao, căn cứ tỷ lệ bà mẹ mang con đếnphòng khám (45,9-57,7%) Trẻ em là tương lai của đất nước, để đảm bảo trẻ tăngtrưởng và phát triển tốt, sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em là nguồn dinhdưỡng không thể thiếu Vì vậy, sữa đã trở thành một sản phẩm đặc thù dành chotrẻ em Việc tìm hiểu thực trạng, quan điểm, thái độ của các bà mẹ trong việc sử
dụng các sản phẩm sữa cho con cái họ là điều cần thiết Đề tài “Quan điểm, thái
độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em ” nhằm tìm
hiểu quan điểm, thái độ của phụ nữ về chất lượng, giá cả, chủng loại, thương hiệu,chế độ tiếp thị và chăm sóc khách hàng của sữa và các sản phẩm từ sữa dành chotrẻ em của Việt Nam và một số hãng sữa ngoại, từ đó nhằm đưa ra những khuyếnnghị , giải pháp cho ngành sản xuất sữa bột dành cho trẻ em của Việt Nam nhằmcạnh tranh hiệu quả với các hãng sữa ngoại trong thị trường nội địa
Trang 32 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Ngày 7 tháng 8 năm 2009, thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã kýban hành văn bản số 264-TB/TW thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức
cuộc vận động " Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" Mục đích cuộc
vận động nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôndân tộc, xây dựng văn hoá tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất ra nhiềuhàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trongnước và xuất khẩu Từ cuộc vận động của bộ chính trị, vấn đề sử dụng hàng nội địađược đề cập đến nhiều và đã trở thành các hoạt động cụ thể
Thông qua việc điểm luận tài liệu, tác giả thấy rằng đã có một số công trìnhnghiên cứu, các bài báo đăng trên các tạp chí và các website đề cập đến vấn đềhàng nội địa và các vấn đề liên quan đến hàng nội địa – hàng Việt Nam, về việcngười Việt ưu tiên dùng hàng Việt
“ Điều tra, khảo sát thị trường trong nước năm 2009” là một trong những nhiệm vụ của Chương trình "Xúc tiến thị trường thương mại nội địa năm 2009”
do Bộ Công Thương giao cho Viện Nghiên cứu Thương mại tổ chức và triển khaivới các mặt hàng lương thực - thực phẩm, dệt may – da giầy và đồ gia dụng Mụcđích bước đầu của cuộc khảo sát nhằm cung cấp thông tin để các doanh nghiệp xâydựng kế hoạch sản xuất, chiến lược kinh doanh, marketing và mạng lưới bán hàngcủa mình trong thời gian tới Nội dung thứ nhất của cuộc điều tra xoay quanh tâm
lý, nhận thức, hành vi mua sắm của người tiêu dùng đối với hàng sản xuất trongnước của Việt Nam Nội dung thứ hai của cuộc điều tra là mạng lưới phân phối: về
số lượng, quy mô, loại hình, phân bố, xu hướng phát triển của các cơ sở kinhdoanh Nội dung thứ ba là điều tra thương nhân: về năng lực kinh doanh, nhu cầunâng cao kiến thức quản lý, kỹ năng kinh doanh của thương nhân trong các khẩuphân phối: bán buôn, bán lẻ Kết quả khảo sát cho thấy thực trạng người dân trongnước khá coi trọng mặt hàng nội địa có thương hiệu và họ có nhu cầu sử dụngnhững mặt hàng nội địa có chất lượng và đảm bảo giá thành Tuy nhiên, một bộphận người vẫn chưa có niềm tin vào hàng nội bởi nhiều lý do về chất lượng, hàng
Trang 4hóa không đủ tiêu chuẩn…Về phía doanh nghiệp và những nhà sản xuất có nhucầu hướng vào thị trường trong nước, nhưng do cơ sở hạ tầng và hệ thống phânphối chưa đáp ứng được Cuộc khảo sát cũng chỉ đi tìm hiểu về thực trạng, hành vi
và nhu cầu sử dụng các mặt hàng gia dụng như may mặc, thực phẩm của người dân
và hệ thống phân phối hàng của các doanh nghiệp mà chưa đi sâu tìm hiểu rõ lý do
và giải thích vì sao người tiêu dùng có những hành vi như vậy
Theo Khảo sát về người tiêu dùng của Tập đoàn Grey Group (Mỹ) đã công
bố kết quả nghiên cứu 3 năm đối với người tiêu dùng tại 16 quốc gia châu Á, trong
đó có Việt Nam vào năm 2008 Một thông tin đáng chú ý từ nghiên cứu này là77% người Việt Nam ưa chuộng thương hiệu nước ngoài và những người ViệtNam được phỏng vấn đều mong muốn có những thương hiệu từ trong nước và khuvực ngày càng lớn mạnh Trong khi đó với các nước châu Á khác, con số trungbình là 40% Từ nghiên cứu này cho ta thấy thực trạng trong tâm lý sử dụng hànghóa ở người dân vẫn còn tâm lý “sính ngoại” rất lớn Tuy nhiên, nghiên cứu chỉdừng lại ở khảo sát về thực trạng việc lựa chọn các hãng sản phẩm hàng nội địahay hàng ngoại mà chưa đi sâu vào tìm hiểu quan điểm, thái độ cũng như các tácđộng đến hành vi sử dụng các sản phẩm hàng nội địa hay hàng ngoại của một mặthàng cụ thể nào, chỉ là chung chung về hành vi ưu chuộng hàng ngoại của ngườidân Việt Nam so với các nước khác trong khu vực
Nếu khảo sát của Tập đoàn Grey Group có kết quả như trên, thì cuộc khảo
sát về “Thái độ của người tiêu dùng đối với hàng Việt” do Công ty Tư vấn và
Nghiên cứu FTA Việt Nam thực hiện trong tháng 10 năm 2009 tại 4 thành phốchính là Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ và TP.HCM lại đưa ra kết quả khác Kết quảcho thấy, 71% trong số 400 người tiêu dùng tham gia khảo sát tin vào nhãn hiệuhàng Việt Nam chất lượng cao Họ cho biết chọn hàng nội địa vì giá cả phải chăng
và chất lượng chấp nhận được Giữa các vùng miền, mục tiêu lựa chọn hàngViệt cũng có sự khác biệt nhất định Nếu số đông người tiêu dùng TP.HCM quantâm đến giá (47% người chọn mua hàng Việt vì giá), thì yêu cầu cao nhất củangười tiêu dùng Đà Nẵng là chất lượng, rồi mới đến giá Cuộc khảo sát đã tìm hiểu
Trang 5thái độ của người tiêu dùng với hàng Việt và đưa ra các tiêu chí lựa chọn hàng hóagiữa các vùng, miền là khác nhau Tuy nhiên như vậy thì vẫn chung chung vìchúng ta còn tìm hiểu các yếu tố tác động đến thái độ của người tiêu dùng như vềchất lượng, giá cả, mẫu mã Bên cạnh đó, hạn chế của nghiên cứu là khảo sát ngườidân ở những thành phố lớn với những nhãn hiệu hàng Việt Nam đã được khẳngđịnh chất lượng mà chưa nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng ở khu vực nôngthôn, khu vực chiếm tới gần 70 % dân số của cả nước
Vào năm 2010, Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung
ương tiến hành điều tra về kết quả một năm thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" cho thấy: Có đến 59% người tiêu dùng tự
xác định khi mua hàng hoá sẽ ưu tiên dùng hàng Việt Nam ; 38% người tiêu dùngkhuyên người thân trong gia đình, bạn bè, người quen biết nên mua hàng ViệtNam; 36% người tiêu dùng trước đây có thói quen mua hàng có nguồn gốc xuất
xứ ở nước ngoài, nay đã dừng mua (hoặc ít mua hơn), thay bằng mua hàng ViệtNam Nhiều nhóm hàng hoá sản xuất trong nước được người Việt Nam ưa chuộnghơn so với những năm trước đây như: sản phẩm dệt may, quần áo, giày dép sảnxuất trong nước có tới 80% người tiêu dùng ưa chuộng; thực phẩm, rau quả là58%; các sản phẩm đồ gia dụng là 49%; vật liệu xây dựng, đồ nội thất là 38%; đồchơi, dụng cụ học tập dành cho cho trẻ em là 34%; văn phòng phẩm là 33%; cácsản phẩm điện tử, điện lạnh là 26%; thuốc men, dược phẩm, dụng cụ y tế là 26%;
ô tô, xe máy là 18%; hoá mỹ phẩm là 10% Nhìn vào kết quả của những cuộc điềutra ta thấy các mặt hàng được xét trong danh sách lựa chọn của người tiêu dùngchưa đề cập đến mặt hàng cụ thể mà chỉ chung cho tất cả các hàng nội địạ
Muốn phát triển và mở rộng hệ thống hàng nội địa, trước hết cần có hệthống phân phối bán lẻ mà ở đó, hàng nội chiếm được bày bán nhiều hơn so với
hàng ngoại Bài báo “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam: Phải là quốc sách” của tác giả Đặng Loan đăng trên trang Hanoimoi.com.vn, ngày 19 tháng 2 năm
2011 đề cập đến việc tổng kết một năm thực hiện cuộc vận động người Việt dùnghàng Việt, trong đó có đề cập đến hệ thống phân phối hàng nội ở các siêu thị Tỷ lệ
Trang 6hàng Việt tiêu thụ trong hệ thống Co.opMart, Co.opFood và cửa hàng Co.op tăng58% so cùng kỳ, trong khi hàng ngoại nhập chỉ tăng 22% Trước đó, khi mới thànhlập vào năm 1995, tỷ lệ này chỉ là 20% Đến năm 2008, tỷ lệ hàng Việt mới nânglên được khoảng 40% và tăng vọt lên 90% từ năm 2009 đến nay Năm 2010, lượngtiêu thụ hàng Việt trong hệ thống Co.opMart tăng 58%, trong khi hàng ngoại chỉtăng 22% Tại hệ thống BigC, hàng Việt cũng chiếm hơn 90% Ít hơn hai hệ thốngsiêu thị trên, nhưng tỷ lệ hàng Việt trong các siêu thị Maximax, CitiMart cũng tănglên rất nhiều Như vậy, cuộc vận động bước đầu đã đem lại những kết quả nhấtđịnh.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu công phu về dư luận, thái độ của côngchúng với hàng Việt thì đây cũng là chủ đề được quan tâm nhiều của báo chí Bài
báo “Sức lan tỏa của hàng Việt ngày càng sâu rộng” của tác giả Thanh Hương
đăng trên trang Baocongthuong.com.vn, ngày 18 tháng 2 năm 2011, thông qua
phỏng vấn Thứ trưởng Bộ công thương Hồ Thị Kim Thoa cho biết : Với sự hỗ trợ
của Bộ Công Thương, Trung tâm BSA đã tổ chức được 43 đợt đưa hàng Việt vềnông thôn Trong năm 2010, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố đã tổ chức được
109 đợt bán hàng về nông thôn của các doanh nghiệp Bộ Công Thương đã hỗ trợ
tổ chức 24 đợt bán hàng cho công nhân tại các khu công nghiệp trên cả 3 miền.Các Sở Công Thương đã phối hợp tổ chức 78 chương trình khuyến mại với 2.052lượt doanh nghiệp tham gia; tiếp nhận và theo dõi hơn 200 đợt bán hàng khuyếnmại, với hơn 16.253 lượt doanh nghiệp tham gia; tổ chức 151 hội chợ, triển lãm,thu hút 12.279 doanh nghiệp tham gia
Cuộc vận động người Việt ưu tiên dùng hàng Việt đã thu được những kếtquả bước đầu Tuy nhiên, nếu chỉ là vận động chung chung thì hiệu quả sẽ khôngcao bằng các ngành sản suất cụ thể có chiến lược vận động người tiêu dùng sửdụng sản phẩm của mình Một trong những ngành đi tiên phong trong cuộc vậnđộng này là ngành sản xuất sữa Sữa là mặt hàng khá nhạy cảm trên thị trường ViệtNam Thêm vào đó, thị trường sữa trong nước luôn biến động thất thường bởi giá
cả Tiếp nối cuộc vận động người Việt ưu tiên dùng hàng Việt, ngành sữa có cuộc
Trang 7vận động Người Việt ưu tiên dùng sữa Việt là chương trình được Hội Tiêu
chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng (Vinastas) phát động ngày 18/8/2009 tại
Tp.HCM Bài báo cùng tên "Người Việt ưu tiên dùng sữa Việt" đăng trên
Dantri.com, ngày 18 tháng 8 năm 2009 của tác giả P.V có viết: mục đích chươngtrình là vận động người tiêu dùng lựa chọn, mua và sử dụng sữa nội có chất lượngtốt do các doanh nghiệp trong nước sản xuất Sữa là mặt hàng được Vinastas chọnlàm tiên phong trong hưởng ứng cuộc vận động bởi sữa nội có chất lượng tốt vàgiá rẻ Phó chủ tịch Vinastas Hồ Tất Thắng cho biết, sở dĩ Vinastas chọn mặt hàngsữa làm tiên phong hưởng ứng cuộc vận động dùng hàng Việt bởi sữa nội có chấtlượng tốt và giá rẻ nhưng vẫn bị “lép vế” trước sữa ngoại, đặc biệt là sữa cho trẻ
em Thị trường sữa bột dành cho trẻ em tại Việt Nam hiện nay khá đa dạng vàphong phú khiến các bà mẹ khó có sự lựa chọn các loại sữa thích hợp với con của
họ và hợp với túi tiền của gia đình Có quá nhiều quảng cáo, tiếp thị, khuyến mạicủa các hãng sữa khác nhau tác động vào tâm lý của các bà mẹ trong việc lựa chọncác sản phẩm sữa Tuy nhiên chưa có một khảo sát cụ thể nào tìm hiểu về quanđiểm, thái độ, của các bà mẹ khi lựa chọn các sản phẩm sữa cho con mình
Để so sánh chất lượng các loại sữa nội và ngoại tiêu biểu trên thị trường,
Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam đã khảo sát và công bố kết
quả chỉ tiêu an toàn, chất lượng dinh dưỡng một số sản phẩm sữa ngoại bán tạiTp.HCM năm 2010 Theo đó, giá bán lẻ của sữa nhập khẩu cao hơn 46% so với giásữa sản xuất trong nước Giá bán lẻ trung bình của sữa nước ngoài là 32.100đồng/lít, giá sữa nước sản xuất tại Việt Nam 22.000 đồng/lít Kết quả thử nghiệmtrên 9 mẫu sữa sản xuất tại Việt Nam và 7 mẫu sữa nhập khẩu cho thấy, các chỉtiêu về an toàn vi sinh vật, kim loại nặng và hàm lượng dinh dưỡng của sữa nội vàsữa ngoại tương đương nhau đều đạt mức quy định của Bộ Y tế Về giá sữa bộtnguyên hộp nhập khẩu của một số hãng tại nước ta với các nhãn sữa cùng loạiđược bày bán tại nhiều nước trên thế giới và trong khu vực - do Cục Quản lý cạnhtranh (Bộ Công Thương) tiến hành mới đây - cho thấy: so với một số nước trongkhu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, giá sữa nhập khẩu của Việt Nam nhìn
Trang 8chung cao hơn từ 20-60% Cá biệt có trường hợp còn cao hơn từ 100-150% Trongkhi đó, thuế nhập khẩu với sữa bột nguyên liệu và sữa bột nguyên hộp vào ViệtNam không quá 10%, thấp hơn nhiều so với thuế nhập khẩu vào Thái Lan (0 -40%)
Như vậy, qua các số liệu công bố trên ho thấy người tiêu dùng sữa ở ViệtNam phải mua sữa ngoại với giá quá cao so với các nước trên thế giới, trong khisữa nội có chất lượng tương đương thì giá thành rẻ hơn Có nhiều cách lý giải chohiện tượng này, trong đó phải kể đến chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại củacác hãng sữa ngoại Theo số liệu của Công ty Nghiên cứu thị trường TNS trong 5tháng đầu năm 2009 các hãng sữa đã chi 152 tỷ đồng để quảng cáo sữa tăng 36%
so với cùng kỳ năm 2008 (112 tỷ đồng) Đứng đầu các hãng sữa chi mạnh choquảng cáo là Dutch Lady: 44 tỷ đồng, Dumex: 25 tỷ đồng; Mead Johnson: 25 tỷđồng Số tiền quảng cáo này là một trong những yếu tố đẩy giá sữa ngoại tại ViệtNam lên cao Giá sữa ở Việt Nam thuộc diện cao nhất thế giới
Thực hiện Chủ trương của Đảng qua kết luận của Bộ Chính Trị về Cuộc vậnđộng “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên cả nước, kể từ tháng9/2009 đến nay, Trung tâm Nghiên cứu và Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp -BSA và Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao TPHCM đã tổ chứccác hoạt động sau :
- Truyền hình trực tiếp vận động chủ trương người Việt dùng hàng Việt
- Giao lưu trực tiếp vận động người tiêu dùng thông qua các buổi tọa đàm,hội thảo, diễn đàn giữa lãnh đạo nhà nước, doanh nghiệp và người tiêudùng
- Tổ chức các sự kiện bán hàng, phiên chợ ở cả đô thị, nông thôn, và khucông nghiệp
- Thành lập câu lạc bộ Đại sứ hàng Việt, vận động sáng tác ca khúc vềhàng Việt Sau một năm thực hiện, cuộc vận động đã thu được nhiều kếtquả khả quan
Trang 9- Riêng khu vực Đông Nam Bộ, tổng doanh thu hàng nội đạt 38,319 tỷ đồng, 823.696 lượt người đến tham quan và mua sắm, 43 lớp huấn luyện
kỹ năng bán hàng cho hơn 2.767 tiểu thương tại địa phương Có
1680 lượt doanh nghiệp, 188 doanh nghiệp đã tham gia chương trình và Gần 50 cơ quan truyền thông cùng đồng hành.
Cuộc vận động Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt đã thu được nhữngthành công nhất định và còn được tiếp tục phát huy để những kết quả bước đầuđược nhân rộng nhiều lần hơn nữa Đảng và nhà nước có những ưu ái nhất địnhcho những đơn vị, doanh nghiệp, xí nghiệp, công ty phân phối sản phẩm của mình
ở thị trường nông thôn
Theo Thông tư số 207/2009/TT-BTC do Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần
Văn Hiếu ký ban hành ngày 28/10/2009, các hoạt động tổ chức hội chợ hàng nôngsản, làng nghề phía Nam và phía Bắc sẽ được hỗ trợ 70% chi phí cấu thành gianhàng trên cơ sở giá đấu thầu Đối với hoạt động đưa hàng Việt về bán tại nôngthôn, các khu công nghiệp và đô thị: Hỗ trợ 70% chi phí vận chuyển, quầy hàng vànhân công phục vụ Chi cho các hoạt động truyền thông tạo nhận thức chung chocộng đồng hướng về hàng Việt: Hỗ trợ 100% kinh phí thực hiện bài viết và pháthành trên các phương tiện thông tin đại chúng
Với ngành sữa, có nhiều hội thảo diễn ra nhằm thu hút người tiêu dùng sửdụng sữa nội Bên cạnh đó, các hãng sữa nội trong đó có hãng sữa Vinamilk đãhợp tác với châu Âu nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng sữa bột cho trẻ emViệt Nam Như vậy, ngành sữa Việt Nam rất cố gắng nâng cao chất lượng nhằmđáp ứng được nhu cầu về chất lượng và dinh dưỡng các loại sữa dành cho trẻ em Qua tổng quan tài liệu nghiên cứu cho thấy vấn đề liên quan hàng nội còn ítcông trình nghiên cứu, chủ yếu là các bài báo bài viết trên phần nào đã nêu lênđược thực trạng và sự tác động trực tiếp của nhà nước, doanh nghiệp với việckhuyến khích người dân sử dụng hàng trong nước Các nghiên cứu hay bài viết vềchủ đề này chủ yếu hay đề cập đến thực trạng, và thái độ người tiêu dùng với hàngViệt so sánh với hàng ngoại mà chưa đi sâu tìm hiểu kĩ các vấn đề liên quan đến
Trang 10nhận thức, quan điểm của người dân đến một mặt hàng là sữa Việt Nam Tác giảvới hướng tiếp cận nghiên cứu của mình một mặt tiếp thu những kinh nghiệm củacác tác giả đi trước, mặt khác sẽ có sự nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu hơn vềquan điểm, thái độ của người dân về mặt hàng cụ thể, đó là sản phẩm sữa nội dànhcho trẻ em, từ đó đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm hướng tới nâng cao tỷ lệngười sử dụng sữa nội nhiều hơn.
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm tìm hiểu quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từsữa nội dành cho trẻ em, và so sánh quan điểm, thái độ của công chúng đối vớisữa nội và sữa ngoại, từ đó đưa ra các kiến nghị để người dân tin dùng sữa và cácsản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu : quan điểm, thái độ, hànghóa, hàng nội địa, thương hiệu, sữa nội, trẻ em
- Đo lường thực trạng sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em ở các
hộ gia đình thông qua việc hỏi phụ nữ đã có con trong độ tuổi từ 6 tháng đến 10tuổi
- Tìm hiểu quan điểm, thái độ của phụ nữ có con nhỏ về sữa nội và so sánh thái độcủa họ với sữa ngoại trên một số tiêu chí: thương hiệu, chất lượng, giá cả, chủngloại, chế độ tiếp thị và khuyến mại
- Đo lường các yếu tố tác động đến quan điểm, thái độ của phụ nữ về thương hiệu,chất lượng, giá cả, chủng loại, thương hiệu, chế độ tiếp thị và khuyến mại của cáchãng sữa nội dành cho trẻ em
- Đưa ra kết luận và đề xuất kiến nghị để người dân tin dùng sản phẩm sữa và cácsản phầm từ sữa nội dành cho trẻ em
4 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sản phẩm sữa Việt Nam dành cho trẻ em.
Thời gian nghiên cứu : từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2011
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
- Phần lớn phụ nữ có con nhỏ từ 6 tháng tuổi đến 10 tuổi trong địa bàn nghiên cứuđều sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ
- Phụ nữ có đông con và có con càng lớn tuổi thì càng có xu hướng ủng hộ sữa nội,đặc biệt là về giá cả
- Thái độ và nhận thức của phụ nữ đối với sữa nội hiện nay khá tích cực, tuy nhiênvẫn còn một bộ phận phụ nữ có thu nhập khá, điều kiện kinh tế gia đình tốt vẫn có
xu hướng ủng hộ sữa ngoại hơn sữa nội
- Sự chủ động tìm hiểu thông tin về sữa trên các PTTTĐC có ảnh hưởng mạnh mẽđến quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ
Trang 12độ củaphụ nữ vềsữa vàcác sảnphẩm từsữa nộinội dànhcho trẻ
Chính sách của Đảng, nhà nướckhuyến khích dùng hàng nội địa
Giá cả
Trang 13- Các tiện nghi sinh hoạt trong gia đình
- Thu nhập của cá nhân và của gia đình
- Chi tiêu
* Đặc điểm xã hội của người trả lời :
- Nơi ở
- Mức độ tham gia các hoạt động cộng đồng
* Mức độ tiếp cận các thông tin về sữa trên các phương tiện truyền thông đạichúng
Biến số phụ thuộc
Quan điểm, thái độ của phụ nữ có con từ 6 tháng tuổi đến 10 tuổi về sữa nội.Tuy nhiên nghiên cứu này, tác giả sẽ khảo sát quan điểm, thái độ của phụ nữ vềsữa và các sản phẩm từ sữa trên một số khía cạnh : chất lượng, giá cả, thương hiệu,chủng loại, chế độ tiếp thị và khuyến mại của các hãng sữa nội
Biến số can thiệp
- Những chính sách khuyến khích sử dụng hàng nội địa của Đảng, nhà nước
- Các chương trình thu hút người tiêu dùng hàng nội địa của nhà sản xuất,doanh nghiệp
7 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
7.1 Phương pháp luận
Trang 14Phương pháp luận chung nhất mà đề tài sử dụng đó là phương pháp luậnMacxit làm kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là phép biện chứng
tự nhiên khi xem xét về quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từsữa không tách rời với các điều kiện của gia đình, bản thân, bạn bè và xã hội
Sử dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là phép biệnchứng xã hội: ứng với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, quanđiểm, thái độ của con người cũng thay đổi theo Vì vậy khi tìm hiểu về quan điểm,thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em trong thời kỳhiện nay, gắn liền việc Việt Nam chính thức tham gia vào tổ chức thương mại thếgiới WTO, và chủ chương vận động “ Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” và “Người Việt ưu tiên dùng sữa Việt” của Bộ chính trị
Đề tài còn sử dụng các lý thuyết xã hội học như lý thuyết hành động xã hội, lýthuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết văn hóa tiêu dùng
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, khảo sát bằng bảng hỏi anketvới cỡ mẫu là 300 phụ nữ có con từ 6 tháng tuổi đến 10 tuổi được chọn ngẫunhiên, trong đó tại địa bàn xã Hợp Tiến là 150 mẫu và thị trấn Nam Sách là 150mẫu Tuy nghiên cứu không có tính suy rộng cho tổng thể nhưng kết quả củanghiên cứu có ý nghĩa nhất định trong địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu áp dụngphương pháp chọn mẫu nhiên hệ thống phân chùm với hai địa bàn
Các bước lấy mẫu được tiến hành cụ thể như sau :
- Lập danh sách mẫu, với thị trấn Nam Sách, danh sách mẫu được lấy từtrung tâm y tế dự phòng thị trấn Nam Sách Với xã Hợp Tiến, danh sách được lấy
từ trạm y tế xã Do ở các cơ sở này có lưu trữ danh sách theo dõi tình trạng sứckhỏe của trẻ em về chiều cao, cân nặng, tiêm phòng , trong đó có họ tên của các
bà mẹ và con họ
Thị trấn Nam Nam Sách, số phụ nữ có con dưới 10 tuổi là 1037 Vậy N = 1037
Trang 15Lập danh sách mẫu, đánh số thứ tự từ 1 đến 1037
Tính bước nhảy k = N / n = 1037 / 150 = 6.9133, làm tròn k = 7 Chọn ngẫu nhiêntheo bước nhảy k, người đầu tiên là người ở vị trí số 7 Tiếp tục chọn các mẫu tiếptheo với k =7 để lấy ra 150 mẫu
Xã Hợp Tiến, số phụ nữ có con dưới 10 tuổi là 753 Tương tự các bước nhưtrên, lập danh sách mẫu từ 1 đến 753, tức N =753, vậy k = 753 / 150 = 5.02, làmtròn k = 5 Vậy người thứ nhất được lấy ở vị trí số 5, và tiếp tục lấy với k = 5, lấy
ra 150 người
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính.
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu dựa trên các công trìnhnghiên cứu, các báo cáo khoa học của tập thể và cá nhân, số liệu thống kê của Cụcchăn nuôi, Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam Các tài liệu, bàibáo liên quan đến cuộc vận động “ Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” và “ NgườiViệt ưu tiên dùng sữa Việt” của bộ chính trị và các báo cáo của các tổ chức củangành sữa nhằm làm rõ các khái niệm cơ bản của đề tài Đó cũng là tiền đề, cơ sởcho nghiên cứu và giúp tác giả có định hướng đúng đắn khi tiến hành và phân tíchnghiên cứu của mình
- Phương pháp phỏng vấn sâu, mẫu được chọn có chủ đích, trong đó phỏng vấn sâu
16 đối tượng và chọn có chủ đích, gồm 4 đại diện doanh nghiệp sản xuất sữa trongnước để làm rõ khái niệm sữa nội và tham khảo các chiến lược sản xuất, kinhdoanh, phân phối sữa và các sản phẩm từ sữa nội hiện nay Phỏng vấn sâu 10 phụ
nữ, trong đó 4 phụ nữ có con nhỏ từ 6 tháng tuổi đến 2 tuổi thường xuyên và thithoảng sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa cho trẻ Trong 4 phụ nữ này, tác giảlựa chọn những người có đặc điểm kinh tế gia đình, thu nhập, nghề nghiệp khácnhau nhằm tìm hiểu, lý giải sâu hơn cho các kết quả phân tích trong nghiên cứuđịnh lượng Tương tự với cách lựa chọn mẫu có đặc điểm như trên, phỏng vấn sâu
4 phụ nữ có con lớn hơn 2 tuổi và ở các độ tuổi khác nhau Phỏng vấn sâu 2 phụ
nữ, trong đó 1 phụ nữ luôn luôn sử dụng các sản phẩm sữa ngoại và một phụ nữ
Trang 16luôn luôn sử dụng các sản phẩm sữa nội nhằm tìm hiểu nguyên nhân, ưu và nhượcđiểm của sữa nội so với sữa ngoại
7.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Xử lý thông tin định lượng bằng phần mềm SPSS 16
- Xử lý thông tin định tính bằng phần mềm Nvivo 7
8 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
8.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài “ Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nộidành cho trẻ”đi sâu phân tích quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sảnphẩm từ sữa nội thông qua một số khía cạnh như chất lượng, giá cả, thương hiệu,chủng loại, tiếp thị, chăm sóc khách hàng Nghiên cứu được thiết lập trên nền tảng
lý luận nghiên cứu về dư luận xã hội, góp phần bổ sung nhận thức đối với bộ môn
dư luận xã hội
8.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Cuộc vận động “Người Việt ưu tiên dùng sữa Việt” bước đầu đi vào nhậnthức của đa số người dân Việt Nam Nghiên cứu này chỉ tập trung vào một nhóm
xã hội nhỏ có nhu cầu tiêu dùng sữa và các sản phẩm từ sữa cao là những phụ nữ
có con nhỏ, vì vậy đề tài mang tính tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo vềhàng nội địa nói chung và với ngành sữa nội nói riêng Đề tài cũng là kết quả củaquá trình áp dụng những kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội mà sinh viênđược học tập tại trường vào thực tiễn nghiên cứu một đề tài khoa học hoàn chỉnh
Đề tài nghiên cứu với tư cách là khóa luận tốt nghiệp đặc biệt có ý nghĩa với bảnthân sinh viên thực hiện, đánh dấu thành quả của quá trình học tập, rèn luyện trongsuốt thời gian học tại trường
9 Kết cấu khóa luận Phần thứ nhất : PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 17Phần thứ hai : PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SỮA VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ SỮA
CHO TRẺ EM
CHƯƠNG III : QUAN ĐIỂM, THÁI ĐỘ VỀ SỮA VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ SỮA
VIỆT NAM
CHƯƠNG IV : NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN ĐIỂM, THÁI
ĐỘ CỦA PHỤ NỮ VỀ SỮA VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ SỮA NỘI
Phần thứ 3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
PHẦN II : NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 181.1Thao tác hóa các khái niệm
1.1.2 Thái độ
Theo từ điển tiếng Việt, thái độ được hiểu theo hai cách :
Thứ nhất : thái độ là tổng thể nói chung biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử
chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc sự vật nào đó
Thứ hai : thái độ là cách nghĩ, cách nhìn nhận, hành động theo một hướng nào đó
trước một vấn đề, một tình hình
Theo tâm lý học, thái độ là nền tảng ứng xử của cá nhân, định hướng hành
động của con người theo một hướng nào đó trước một sự kiện Thái độ của mộtngười trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành hoặc phản đối, thông quahành vi tham gia hoặc không tham gia vào sự kiện đó Thái độ của một người đượcquy định bởi các yếu tố xã hội, phụ thuộc vào các khuôn mẫu xã hội Trước một sựkiện xã hội con người đối chiếu với một khuôn mẫu xã hội đã được lĩnh hội, nếu
nó đúng thì tán thành, và ngược lại nếu nó không đúng thì không tán thành
- Thuật ngữ Thái độ ( Attitude ) có nghiều định nghĩa khác nhau Theo
Shaver ( 1977 ) thì thái độ là “ một tâm thế ủng hộ hay phản đối đối với một nhóm
đối tượng nhất định” Hay theo Fishbein và Ajzen ( 1975 ) thì đó là “ một vị trí trong thang lưỡng cực về tình cảm hoặc đánh giá.”
- Một định nghĩa gần đây của Tourangcau và Rasinksi ( 1988 ) thì cho rằngthái độ là “những mạng lưới của những niềm tin liên kết đan chéo nhau vốn đượclưu giữ lâu dài trong trí nhớ của chúng ta và được kích hoạt khi chúng ta gặp đối
Trang 19tượng của đối tượng hoặc vấn đề liên quan” Nói tóm lại, thái độ luôn bao gồmnhững yếu tố sau :
+ Nó được quy nạp, kết tinh và khái quát hóa từ kinh nghiệm sống
+ Nó mang tính tổng hợp Một thái độ có thể tổng hợp nhiều hành vi khác nhau.+ Nó sẵn có trong tâm trí chúng ta Nó tiết kiệm thời gian tư duy và phản ứng củachúng ta nhờ vào việc đưa ra những mô hình đã chương trình hóa
+ Nó được coi là nguyên nhân ( Cause ) của hành vi khác nhau
+ Nó có hai cực ( Bipolar ) Tuy nhiên, một cá nhân có thể tồn tại “ tâm trạng nướcđôi” (ambivalent), nhưng thực chất đó chỉ là một trạng thái trong đó cá nhân tồn tại
cả hai thái độ “ủng hộ” và “phản đối” chứ không phải là một thái độ mới
Nhiều khi khái niệm thái độ và ý kiến được sử dụng như những thuật ngữđồng nghĩa Nói cách khác, khi một chủ thể “có ý kiến rõ ràng cũng được coi là cóthái độ rõ ràng” Hai khái niệm này có quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng khôngnhất thiết trùng lặp
Từ những khái niệm trên về thái độ, ta có thể khái quát nội dung chủ yếu củathái độ như sau:
Thái độ được hình thành trong mối quan hệ xã hội, có thái độ của cá nhân
và có thái độ của cả nhóm
Theo từ điển xã hội học, thái độ được hiểu là : Trong mọi xã hội con người
bao giờ cũng biểu hiện thái độ của mình, hữu thức hoặc vô thức, ngấm ngầm haycông khai, là nền tảng ứng xử của cá nhân, một hành động tâm lý của cá nhân baohàm sự lý giải và biến đổi của các biến đổi của khuôn mẫu xã hội hoặc kinhnghiệm cá nhân
Thái độ là mọi hoạt động tâm lý cá nhân, là ý nghĩ tình cảm của cá nhân, nóđịnh hướng hành động của con người theo một hướng nào đó trước một tình hình.Thái độ là một ý nghĩ, một tình cảm bên trong của một con người, nhưng lại thểhiện ở một hành vi, hành động của con người Thái độ còn được hiểu là sự kiện xãhội, hiện tượng xã hội, đối tượng nghiên cứu của xã hội học Thái độ xuất phát chủyếu từ những thông tin nhận được về các đối tượng, các sự vật hiện tượng Có thể
Trang 20là thông tin trực tiếp phát ra từ đối tượng, cũng có thể là gián tiếp do người kháccấp cho Thái độ của một người trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thànhhoặc phản đối, thông qua hành vi tham gia hoặc không tham gia sự kiện đó Thái
độ của một người bị quy định bởi các yếu tố xã hội
Tóm lại, trong nghiên cứu này, tác giả không đi tìm hiểu quan điểm, thái độcủa những người được hiểu với tư cách là các cá nhân riêng lẻ Bằng phương phápnghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống phân cụm, nghiên cứu cố gắng tìm hiểu,khái quát quan điểm, thái độ của các nhóm phụ nữ khác nhau trong xã hội nóichung về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em
1.1.3 Thương hiệu
Thương hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng chủng loại củacác cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Theo tác giả Richard Moore, thươnghiệu là “ một từ, một kí hiệu, họa tiết, biểu tượng, logo hay khẩu hiệu để xác định
và phân biệt dịch vụ với các sản phẩm và dịch vụ khác”[ 20,tr.36]
Thương hiệu đáp ứng 3 mục đích quan trọng :
+ Xác định nguyên bản gốc của sản phẩm
+ Cung cấp một sự đảm bảo chất lượng+ Tạo ra sự trung hòa trong khách hàng ( được biết đến như làdanh tiếng ) [23,tr.56]
Như vậy thương hiệu có thể là logo, uy tín, từ ngữ, hình ảnh hay sự kết hợpcác yếu tố đó được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc, nhằm phân biệt một sảnphẩm với sản phẩm khác nhằm bảo vệ những lợi ích hợp pháp của doanh nghiệpvới sản phẩm
1.1.4 Hàng hóa
Theo giáo trình kinh tế chính trị : Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thểthoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đem trao đổi, mua, bán Hàng hóa làmột phạm trù kinh tế có thể phản ánh mối quan hệ giữa người sản xuất và trao đổihàng hóa Sản phẩm mang hình thái hàng hóa khi nó trở thành đối tượng mua –bán trên thị trường [ 20,tr.39]
Trang 21+ Theo từ điển Kinh tế - Kinh doanh Anh - Việt : “hàng hóa là những vật phẩmđược mua bán thông thường trên thị trường” [ 22,tr.521].
1.1.5 Hàng nội địa :
Hiện nay chưa có một văn bản nào quy định cụ thể thế nào là hàng nội địa, tuynhiên chúng ta có thể tham khảo và hiểu về hàng nội địa như sau :
* Hàng Việt Nam: để được gọi là hàng Việt Nam, cần phải đạt ba tiêu chí sau: 1.
Phải được sản xuất trong nước, nghĩa là có nhà máy trong nước; 2 Có phần giá trịgia tăng tạo ra trong nước đạt tỷ lệ nhất định do cơ quan thẩm quyền của Việt Namquy định tùy theo từng chủng loại và điều kiện cụ thể Đối với các ngành hàng màvật tư trong nước không đáp ứng đủ, sẽ chấp nhận mức giá trị gia tăng thấp hơn,như hàng điện tử, máy móc Ngược lại, các sản phẩm như thực phẩm, hàng tiêudùng thông thường, phải có giá trị gia tăng cao hơn; chủ sở hữu nhãn hiệu hànghóa phải là công dân Việt Nam
Như vậy có thể hiểu sữa nội là những hãng sữa thỏa mãn 3 tiêu chí nêu trên.Chúng ta có thể tham khảo các khái niệm liên quan :
* Hàng nội địa hóa: là hàng hóa được sản xuất từ nhà máy ở trong nước nhưng
mang nhãn hiệu nước ngoài, chủ sở hữu nhãn hiệu đó là công dân nước ngoài hoặc
đó là hàng sản xuất bởi nhà máy trong nước và sở hữu nhãn hiện là công dân ViệtNam nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng không đạt mức quy định của hàng Việt Nam Nhưvậy, với ô tô lắp ráp tại Việt Nam mang nhãn hiệu Ford, Toyota hoặc xe gắn máyhiệu Honda, Yamaha dù sử dụng nhân công Việt Nam và một số phụ tùng trongnước đều được xem là hàng nội địa hóa chứ chưa phải là hàng Việt Nam
* Hàng nhập khẩu: là hàng hóa được sản xuất từ một nước khác và nhập qua cửa
khẩu Việt Nam, có xuất xứ từ nước ngoài Như vậy, dù nhà máy này do người ViệtNam làm chủ, sử dụng nhân công Việt Nam, thậm chí có dùng một phần nguyênliệu từ Việt Nam cũng đều phải xem là hàng nhập khẩu Điều này phù hợp với quytắc xuất xứ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
1.6 Trẻ em :
Trang 22Theo điều 1, công ước Quốc tế về quyền trẻ em được đại hội đồng Liên hợpquốc thông qua ngày 20/11/1989: “ Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa
là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy địnhtuổi thành niên sớm hơn”
Theo điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 của ViệtNam thì quy định “ Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả giới hạn nghiên cứu về quan điểm, thái độ củanhững bà mẹ có con từ 6 tháng tuổi đến10 tuổi
1.2 Một số lý thuyết được sử dụng trong đề tài
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
Max Weber (1864-1920) là người có công đầu xây dựng xã hội học hiện đạivới tư cách là một khoa học có vị trí rõ ràng, độc lập Một trong những khái niệmquan trọng nhất của xã hội học Weber là khái niệm hành động xã hội Quan niệmcủa Weber cho thấy hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học.Weber đã chỉ ra sự khác nhau giữa hành động xã hội và những hành vi và hoạtđộng khác của con người Hành động xã hội được Weber tổng quát định nghĩa làhành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động cótính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác, trongđường lối, quá trình của nó Weber phân biệt 4 loại hành động xã hội, đó là:
hệ giữa công cụ /phương tiện và mục đích /kết quả
Trang 23Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu, tác giả nhận thấy việc lựa chọn mualoại sữa nào gắn với mức giá nhất định và có phù hợp với cơ thể trẻ hay không đềuđược tính toán, xem xét sao cho phù hợp với nhu cầu của cơ thể trẻ và phù hợp vớiđiều kiện kinh tế của gia đình.
1.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý ( Vận dụng nguyên tắc của kinh tế học) của
Colema – Nhà xã hội học Mỹ đưa ra những luận điểm như sau :
- Lý thuyết này đặt tiêu điểm vào cá nhân đó là những hành động có mục đích của
cá nhân hướng tới một mục tiêu nào đó mà mục tiêu này định hình bởi giá trị haycác sở thích Cá nhân sẽ lựa chọn những hành động nhằm tối đa hóa các lợi ích hay
thỏa mãn các nhu cầu của họ Điều này lý giải những người phụ nữ sẽ lựa chọn
những sản phẩm sữa mà họ cho là tốt nhất cho con họ, bên cạnh đó, giá cả cũngphải phù hợp với túi tiền của họ Loại sữa nào đáp ứng hai tiêu chí đó họ sẽ lựachọn
- Cách thức kết hợp của các hành động cá thể thể đưa tới hành vi của hệ thống Sự
tối đa hóa của cá thể bao gồm sự cân bằng và sự kiểm soát nhiều cá thể khác.Trong trường hợp hành vi tập thể, sự tối đa hóa của mỗi cá thể sẽ dẫn tới mất cânbằng trong xã hội Phần lớn các hãng sữa ngoại đầu tư rất nhiều cho hệ thốngquảng cáo, tiệp thị và khuyến mại Các hãng sữa lớn thường quảng cáo trên truyềnhình, và tần xuất xuất hiện nhiều lần, vô hình chung đã tạo ra sự ngộ nhận vớingười tiêu dùng rằng các sản phẩm sữa đó chắc chắn là tốt nhất Điều này dẫn tớihành vi nhiều người mua các loại sữa đó cho con họ sử dụng và dẫn đến sự mấtcân bằng thị trường sữa, giá các loại sữa ngoại cao hơn các loại sữa nội nhiều lần
dù dinh dưỡng, chất lượng như nhau nhưng người tiêu dùng vẫn lựa chọn loại sữa
mà họ biết nhiều thông qua quảng cáo hoặc được t Mức độ tiếp cận các thông tin
về sữa iếp thị
Các quyền kiểm soát hành động của bản thân một người và sự tiếp nhận mộtphần các kiểm soát hành động của người khác, kết quả là từng người riêng lẻ đều
nắm quyền và thực hiện kiểm soát đó Luận điểm này áp dụng trong đề tài nghiên
cứu nhằm giải thích lý do mua sữa của các bà mẹ thường được bạn bè, người thân
Trang 24và cả chủ cửa hàng bán sữa giới thiệu các sản phẩm sữa mà được nhiều người sửdụng và cho là tốt khi dùng cho trẻ
1.2.3 Lý thuyết văn hóa tiêu dùng
Theo lý thuyêt văn hóa tiêu dùng thì sự tiêu dùng không chỉ đơn giản làhành vi mua sắm, sử dụng, lựa chọn các loại hàng hóa mà văn hóa tiêu dùng đượcnhìn nhận “là một hiện tượng văn hóa” ( Mile 1998:3 ) và theo M.Cracken (1990 :XI) thì “nếu không có văn hóa hàng hóa, xã hội sẽ mất đi một phương tiện thenchốt để tái sản xuất và nhận biết văn hóa của họ”
Lý thuyết này nhấn mạnh rằng hành động của mỗi cá nhân được coi là mộtthông điệp và thông qua mỗi thông điệp ấy, cá nhân sẽ thể hiện lối sống của mình.Theo đó, hành vi lựa chọn các hãng sữa ngoại sử dụng cho trẻ em của các bà mẹthể hiện tâm lý “sính ngoại”, dùng sữa ngoại vì nghĩ rằng hàng ngoại luôn tốt vàtâm lý “ tiền nào của ấy”, sữa ngoại đắt thì chất lượng tốt Bên cạnh đó, việc chọndùng sữa ngoại của các bà mẹ còn thể hiện đẳng cấp tiêu dùng của gia đình mình
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SỮA VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ
SỮA CHO TRẺ EM.
2.1 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Trang 25Nam Sách là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương và có lịch sử phát triển khá lâuđời Huyện gồm 18 xã và 1 thị trấn, với dân số 114.635 người, diện tích tự nhiên là
109 km2 Theo báo cáo tổng kết năm 2010 của huyện, tốc độ tăng trưởng kinh tếcủa huyện đạt 10,8% /năm Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề, nông nghiệp đónggóp 30,2% trong tổng thu nhập toàn huyện Công nghiệp đóng góp 25,8%, buônbán, dịch vụ đóng góp 44% trong tổng thu nhập toàn huyện chia theo cơ cấu ngànhnghề Thu nhập bình quân một người là 10.5 triệu đồng / năm Huyện đã có khucông nghiệp Nam Sách được Chính phủ phê duyệt với trên 63 ha và cụm côngnghiệp An Đồng đã được tỉnh phê duyệt trên 35 ha Khu công nghiệp thu hút kháđông lực lượng lao động tham gia sản xuất trong khu vực công nghiệp
Thị trấn Nam Sách nằm ở trung tâm huyện và được hình thành từ rất sớm Về
vị trí địa lý, phía Bắc giáp xã Nam Trung, xã Quốc Tuấn, phía Tây giáp xã NamHồng và Hồng Phong, phía Nam giáp xã Đồng Lạc và phường An Châu thuộcthành phố Hải Dương, phía Đông giáp quốc lộ 183 và Ái Quốc thuộc thành phốHải Dương Thị trấn Nam Sách gồm 5 khu, có 3.123 hộ với 10.248 nhân khẩu.Diện tích tự nhiên khoảng 4.5 km2 Cơ cấu nghề nghiệp, tỷ lệ làm nông nghiệpgiảm trong những năm gần đây, trong khi tỷ lệ làm công nghiệp, dịch vụ tăng lên
Cụ thể, nông nghiệp có đóng góp rất nhỏ trong cơ cấu thu nhập của thị trấn,khoảng 15.4 %, đóng góp của công nghiệp, dịch vụ chiếm khoảng 80 %, còn lại là
cơ cấu nghành nghề khác
Xã Hợp Tiến cách thị trấn Nam Sách 5km về phía Nam Vị trí địa lý, phía Bắcgiáp xã Nam Hưng, phía Tây giáp xã Hiệp Cát, Nam Chính, phía Đông giáp xãThanh Quang và xã Quốc Tuấn Theo báo cáo quý I của Đảng ủy xã, Toàn xã có
2184 hộ với 7623 nhân khẩu Cơ cấu nông nghiệp đóng góp trên 50.2 %, côngnghiệp, dịch vụ buôn bán 25.8 %, còn lại là đóng góp của các ngành nghề nhỏkhác Trước kia Hợp Tiến là một xã thuần nông, tuy nhiên những năm đổi mới gầnđây, cơ cấu ngành nghề thay đổi nhiều Tỷ lệ làm nông nghiệp giảm, tỷ lệ làmcông nghiệp, dịch vụ tăng lên nhiều do phát triển khu công nghiệp ở huyện, thu hútnhiều lao động ở xã Cuộc sống người dân dần được cải thiện và nâng cao
Trang 262.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu.
Tổng số phiếu điều tra là 300, số phiếu hợp lệ 285, trong đó thị trấn có 143phiếu, chiếm tỷ lệ 50.2 %, xã có 142 phiếu, chiếm tỷ lệ 49.8 %
Do điều kiện chọn mẫu là những phụ nữ có con dưới 10 tuổi nên phần lớn đốitượng này nằm trong độ tuổi từ 20 đến 35 trong đó độ tuổi từ 20 đến 30 tuổi chiếm
tỷ lệ 62.8 %, từ 31 đến 35 tuổi chiếm 27.4 %, còn lại 9 8% là số phụ nữ trên 35tuổi trong tổng số mẫu hợp lệ là 285 người
Dân tộc kinh chiếm đến 99.3 %, chỉ có 0.7 % là người dân tộc khác.
Tôn giáo : 98.9 % không theo tôn giáo và 1.1 % theo tôn giáo, cụ thể là thiên chúa
Trang 27Tỷ lệ NTL có một con chiếm 46 %, tỷ lệ người có hai con là cao nhất, 49 %, trênhai con chỉ chiếm tỷ lệ 5 %.
Trình độ học vấn :
Bảng 2 Trình độ học vấn ( % )
Mù chữ, tiểuhọc
Cấp hai,cấp ba
Trung cấp,cao đẳng
Đại học, sauđại học
Nghề nghiệp
Phần lớn phụ nữ trong mẫu được chọn nằm trong độ tuổi lao động mà cáccông ty ở khu công nghiệp của huyện đang tuyển dụng nên tỷ lệ làm nông nghiệpthấp Nhóm viên chức bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau và được hiểu là làm
Trang 28trong khu vực biên chế nhà nước, vì vậy có sự chênh lệch giữa nhóm nghề này sovới những nghề khác
Đặc điểm gia đình
Gia đình hai thế hệ chiếm 60.7 % so với gia đình ba thế hệ là 36.5 %, còn
lại 2.8 % là gia đình trên ba thế hệ
Tỷ lệ phụ nữ có một con chiếm 46 %, có hai con chiếm 49.5 % và 4.6 % còn lại là
tỷ lệ phụ nữ có trên hai con
Sở hữu nhà
- Nhà được thừa kế chiếm tỷ lệ cao nhất là 59.3 %, tương ứng với 169 người
- Nhà mua chiếm tỷ lệ 37.9 %, tương ứng 108 người
- Còn lại là nhà thuê, chỉ chiếm 2.8 %, tương ứng 8 người
Nhận diện nhà ở thuộc loại nào
Thu nhập cả gia đình bình quân một tháng
Bảng 4 Thu nhập của cả gia
Tỷ lệ( % )
Số lượng(người )
500 nghìn – 2 triệu 1.8 52.1 triệu – 3.5 triệu 7.7 223.6 triệu – 5.5 triệu 32.3 925.6 triệu - 9 triệu 43.9 1259.1 triệu – 20 triệu 14.3 41
Trang 29Thu nhập của cá nhân bình quân một tháng
Bảng 5 Thu nhập NTL
(bình quân một tháng ) (%)
Tự đánh giá về mức sống
Phần lớn người được hỏi tự nhận mình có mức sống trung bình chiếm tỷ lệ tới
82 %, trong khi mức giàu và nghèo chỉ chiếm tỷ lệ 2 % Mức khá giả chiếm tỷ lệ
14 % Không có trường hợp nào đánh giá mức sống của họ ở mức đói Tuy nhiên,đây chỉ là đánh giá theo quan điểm nhìn nhận của cá nhân người được hỏi Đểđánh giá chính xác mức sống của họ, rất cần thiết phải đo lường thông qua các chỉbáo về tài sản, chi tiêu và thu nhập của họ
2.3 Thực trạng sử dụng sữa và các sản phẩm sữa cho trẻ em
2.3.1 Mức độ sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa cho trẻ em
Hiện nay, sữa và các sản phẩm từ sữa đã trở thành sản phẩm đặc thù dànhcho trẻ em Sữa có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng giúp cho trẻ tăng trưởng và
Thu nhập cá nhân /
tháng
Tỷ lệ ( % ) Số lượng
( người )Không có thu nhập 10.9 31
470 nghìn – 2 triệu 35.1 1002.1 triệu - 3 triệu 35.1 1003.1triệu - 5 triệu 15.8 45
Trang 30phát triển tốt về mọi mặt Về chiều cao, cân nặng, sức đề kháng, phát triển trí não
và rất nhiều ưu điểm khác từ sữa và các sản phẩm được chế biến từ sữa Nếunhững năm tháng đầu đời khi trẻ mới lọt lòng, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quantrọng không thể thiếu cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhưng sữa côngthức sẽ giúp bổ sung những thành phần mà trong sữa mẹ không có Sữa và các sảnphẩm từ sữa cũng đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của trẻ từ những nămđầu đời Nhận thức được tầm quan trọng và ưu điểm của sữa và các sản phẩm từsữa, các bà mẹ đã sử dụng sữa như thức uống dinh dưỡng quan trọng dành cho trẻ.Nhìn vào biểu đồ 4 ta thấy rõ mức độ sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa cho trẻkhá cao Cụ thể hơn, đối với sữa bột, tỷ lệ sử dụng sữa hàng ngày lên đến 70.9 %trong tổng số các bà mẹ tham gia khảo sát Và tương tự, với nhóm sữa tươi, mức
độ sử dụng hàng ngày vẫn ở tỷ lệ khá cao là 62.5 % những người được hỏi
Tỷ lệ “ Không bao giờ sử dụng” các sản phẩm sữa non, pho mai và các sảnphẩm khác cũng khá cao Với sữa non, tỷ lệ không bao giờ sử dụng lên tới 71.6 %,phô mai là 58.2 % và các sản phẩm khác là 61.8 % Điều này cũng dễ hiểu bởi đặc
Trang 31trưng của các loại sản phẩm này chỉ phù hợp với một lứa tuổi nhất định Với sữanon chỉ sử dụng cho các bé sơ sinh và ít tuổi, riêng với sữa bột, sữa chua và sữatươi được sử dụng rộng rãi với mọi lứa tuổi Bên cạnh đó, do đặc thù địa bànnghiên cứu, sữa non, pho mai và các sản phẩm khác ít được bán hơn so với sữabột, sữa tươi và sữa chua Cũng do đặc thù của sữa chua thường được dùng hỗ trợtiêu hóa và thúc đẩy quá trình trao đổi chất nên tỷ lệ sử dụng sữa chua vào một sốngày trong tuần là 47.4 % và sử dụng hàng ngày với tỷ lệ 28.1 % Ngoài ra, mức
độ sử dụng sữa bột và sữa tươi vào một số ngày trong tuần cũng thấp hơn so với tỷ
lệ sử dụng sữa chua khi cùng ở mức này Qua phỏng vấn sâu, nghiên cứu cũng thuđược một số quan điểm của người tiêu dùng về việc sử dụng sữa và các sản phẩm
từ sữa:
“ Chị sử dụng sữa bột hàng ngày cho cháu, sữa tươi cũng thế, khi nào cháu thích uống thì lại cho uống Còn sữa chua thì thi thoảng mới cho ăn thôi Sữa non, phô mai và các sản phẩm khác thì chị chưa dùng” PVS, nữ 25 tuổi, buôn bán, có một con 2 tuổi).
Số trẻ dùng sữa vàcác sản phẩm từsữa
Số con hiện tại
1 con 2 con 3 con trở
Trang 32“ Chị sinh cháu thứ ba là con trai Cháu còn nhỏ nên chị dùng sữa bột cho cháu uống hàng ngày Còn hai đứa lớn thì lớn cả rồi, thi thoảng mua sữa tươi hay sữa chua cho hai đứa thôi” (PVS, nữ 36 tuổi, nông dân, có ba con )
“ Nhà chị có hai cháu, đứa lớn 6 tuổi, đứa nhỏ 2 tuổi Do điều kiện kinh tế nên chị chỉ dùng sữa bột cho cháu nhỏ uống hàng ngày, còn cháu lớn thi thoảng cho uống sữa tươi và sữa chua thôi Tiền mua sữa cho con nhỏ một tháng cũng gần 2 triệu rồi” ( PVS, nữ 29 tuổi, công nhân, 2 con )
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, đa số phụ nữ được hỏi đều sử dụng sữa vàcác sản phẩm từ sữa dành cho trẻ Điều này càng khẳng định giả thuyết đưa ra vềviệc sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ đã phổ biến và thường xuyênvới sữa và các sản phẩm từ sữa được phần lớn các bà mẹ sử dụng cho con họ
Khi xem xét các yếu tố tác động đến mức độ sử dụng sữa và các sản phẩm
từ sữa, tác giả nhận thấy yếu tố thu nhập của gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ đếnmức độ sử dụng sữa bột Kết quả như bảng 7
Bảng 7 Tương quan thu nhập cả gia đình với mức độ sử dụng sữa bột (%)
Mức độ sử dụng sữa bột
Mức thu nhập trung bình / tháng của cả gia đình2.1 triệu -
3.5triệu
3.6 triệu 5.5triệu
-5.6 triệu- 9triệu
9.1 triệu 20triệu
Trang 33lớn đến mức độ sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ và mức độ sửdụng các sản phẩm đó cho bé.
Một minh chứng rõ ràng nữa, tương tự như sữa bột, mức độ sử dụng hàngngày với sữa tươi có xu hướng tăng dần trong các nhóm gia đình có thu nhập caodần Ở nhóm thu nhập thấp nhất, tỷ lệ sử dụng sữa tươi hàng ngày chỉ chiếm 40 %,trong khi ở nhóm thu nhập cao nhất, con số này lên tới 70.1 % Nhóm gia đình cóthu nhập từ 2.1 triệu đến 3.5 triệu / tháng có tỷ lệ sử dụng sữa tươi hàng ngày chotrẻ là 54.5 %, nhóm gia đình thu nhập từ 3.6 đến 5.5 triệu đồng / tháng có tỷ lệ sửdụng sữa tươi hàng ngày là 61.6 % Nhóm thu nhập còn lại có tỷ lệ sử dụng sữatươi hàng ngày cho trẻ là 64.1 %
Như vậy, nghiên cứu đã chỉ ra rằng những gia đình có thu nhập cao có xuhướng sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa dành cho trẻ thường xuyên hơn nhữngnhóm gia đình có thu nhập thấp hơn Thu nhập có ảnh hưởng nhiều đến hành vitiêu dùng của các bà mẹ trong mức độ sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa cho trẻ
2.3.2 Xuất xứ của sữa và các sản phẩm từ sữa đã và đang sử dụng.
Bảng 8 Nhãn hiệu sữa và các sản phẩm từ sữa đang dùng ( % )
Các sản phẩm Sữa nội Sữa ngoại Không biết,
1Báo cáo hội thảo “Sữa với người tiêu dùng Việt Nam”, tổ chức ngày 28 tháng 4 năm 2011 tại Hà Nội
Trang 34sữa ngoại đã có thương hiệu được khẳng định qua thời gian, còn thị trường sữa bột
ở Việt Nam chỉ bắt đầu khởi sắc trong những năm gần đây Vậy nên dựa vào tỷ lệtrên ta chúng ta một dự báo đáng mừng về triển vọng của các hãng sữa bột nộidành cho trẻ em
Nếu sữa bột ngoại được nhiều người lựa chọn hơn thì tỷ người dùng sữachua và sữa tươi nội cho trẻ lại khá cao, với sữa chua là 92.3 % và sữa tươi là 93.3
% trong khi tỷ lệ sử dụng sữa tươi và sữa chua của ngoại chiếm tỷ lệ khá khiêmtốn là 4.9 % và 3.2 % Điều này cũng dễ giải thích bởi lẽ qua khảo sát các cửahàng và đại lý bán sữa, tỷ lệ sữa bột ngoại luôn chiếm phần nhiều hơn so với sữabột nội, trong khi các nhãn hiệu sữa tươi và sữa chua nội địa chiếm gần như hầuhết thị phần sữa chua và sữa tươi trên thị trường Sữa tươi và sữa chua, đa phần là
sử dụng các nhãn hiệu sữa nội Không có sự khác biệt nhiều trong tỷ lệ sử dụngsữa tươi và sữa chua giữa các bà mẹ có ít con và nhiều con Với sữa non vàphomai, có rất ít phụ nữ sử dụng cho con họ, và không có sự khác biệt giữa nhóm
1 con, 2 con và ba con trở lên Sữa non được ít người sử dụng, tuy nhiên tỷ lệ sửdụng nhãn hiệu sữa non ngoại nhiều hơn gấp 3 lần sữa non nội địa với tỷ lệ 6.3 %nội với 19.3 % của ngoại
Có khá nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề sử dụng sữa nội hay sữa ngoại chotrẻ là tốt
“Chị thấy sữa nội không tốt bằng sữa ngoại Sữa ngoại có nhiều Vitamin, nhiều dưỡng chất hơn Mỗi lần đi mua chị đều đọc xem thành phần dinh dưỡng có những gì, sau về chị còn so sánh các thành phần dinh dưỡng của Similac và Dielac, chị thấy sữa ngoại có nhiều chất hơn”.( PVS, nữ 25 tuổi, 1 con, nội trợ )
“ Trong tâm tư thì ai cũng nghĩ sữa ngoại tốt hơn vì ở nước ngoài, nền công nghiệp của người ta đi trước, chắc chắn sữa của người ta phải có uy tín thì nước mình mới nhập vào, vì phải qua kiểm dịch thì mới nhập được Tức là chất lượng phải tốt, thương hiệu uy tín Có thể sữa ngoại không ngon như sữa nội, nhưng tâm lý của nhiều người vẫn tin sữa ngoại hơn” ( PVS, nữ 34 tuổi, viên chức, 2 con )
Trang 35“ Chị đang dùng sữa Dielac, bé nhà chị tăng cân đều, tiêu hóa tốt, chị thấy dùng sữa nội rất hợp với bé nhà chị, mà giá lại “mềm” hơn giá sữa ngoại” ( PVS,
nữ 28 tuổi, viên chức, 2 con )
“ Tôi lại thấy sữa nội hay ngoại tốt hay không còn tùy vào cơ thể của trẻ hấp thụ như thế nào Có trẻ thì chỉ hợp dùng sữa nội thì bảo sữa nội tốt, có trẻ chỉ hợp sữa ngoại thì lại cho là sữa ngoại tốt.” ( PVS, nữ, 32 tuổi, nông dân )
Tóm lại, khi đánh đánh giá sữa nội hay sữa ngoại, hầu hết NTL đều so sánh
về sữa bột mà không so sánh với sữa tươi, sữa chua và các sản phẩm khác, vì cácsản phẩm này, nhãn hiệu sữa nội chiếm ưu thế rõ rệt và được nhiều người sử dụng
Có sự khác nhau giữa số con hiện tại của NTL với việc sử dụng sữa bột nộihay sữa bột ngoại
Bảng 9 Tương quan số con và xuất sứ sữa bột đang sử dụng ( % )
Một con Hai con Ba con trở lên
“ Cô có ba con, hai đứa lớn rồi, còn đứa nhỏ được hơn một tuổi Cô không
có sữa nên phải nuôi “bộ” hết Cô thường dùng sữa Similac của Abbot vì người quen giới thiệu và dùng thấy tốt thật.” ( PVS, nữ 37 tuổi, nông dân, 3 con )
Trang 36“(…) Cô đang dùng sữa của Mead Johnson, thấy sữa đắt nên nghĩ sẽ tốt hơn, dùng rồi thấy em nó tăng cân đều, tiêu hóa tốt, ít bị ốm nữa.” (PVS, nữ 36 tuổi, buôn bán, 3 con )
“Mình mới có một đứa con nên ưu tiên mua sữa tốt nhất cho con dùng Sữa ngoại tốt nhưng mà đắt, con mình dùng hợp thì vẫn dùng thôi.” (PVS, nữ 25 tuổi, nội trợ, 1 con)
Bảng 10 Tương quan số tuổi
của trẻ và xuất sứ sữa đang sử
dụng ( % )
Bảng số liệu trên cho thấy một xu hướng rõ ràng, những phụ nữ có con nhỏ
có tỷ lệ dùng sữa bột nội nhỏ hơn so với những phụ nữ có con lớn tuổi hơn Tỷ lệdùng sữa bột nội ngày càng tăng lên theo số tuổi của trẻ Điều này chứng tỏ giảthuyết đưa ra là đúng một phần Theo phân tích số liệ ở bảng 9 cho thấy phụ nữ cóđông con, đặc biệt là phụ nữ có trên ba con lại sử dụng sữa bột ngoại cho trẻ nhiềuhơn nhóm ít con Tuy nhiên, qua bảng số liệu trên cho thấy phụ nữ có con càng lớntuổi thì càng có xu hướng ủng hộ và sử dụng sữa bột nội hơn Vậy giả thuyết
nghiên cứu đưa ra: Phụ nữ có đông con và có con càng lớn tuổi thì càng có xu hướng ủng hộ và sử dụng sữa bột nội, chỉ đúng một phần Bởi qua phân tích cho
thấy, những phụ nữ có từ ba con trở lên có tỷ lệ sử dụng sữa ngoại cho trẻ cao một
Số tuổi của bé
Xuất sứ sữa bột đang
dùngSữa nội Sữa ngoại
Trang 37chút so với nhóm phụ nữ có một con cũng dùng sữa ngoại, tỷ lệ tương ứng: 61.5 %
và 61.3 %
Như vậy, nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch giữa thực trạng sử dụng sữabột nội và sữa bột ngoại Sữa bột ngoại được nhiều người sử dụng hơn so với sữabột nội ( 40.7 % ) dùng sữa nội và 51.2 % dùng sữa ngoại, 8.1 % không biết hoặckhông sử dụng ) Các sản phẩm còn lại, nhãn hiệu trong nước chiếm ưu thế hơnhẳn Riêng với sữa bột, tỷ lệ người sử dụng sữa ngoại nhiều hơn nữa nội cũng bởinhiều lý do: tâm lý, điều kiện kinh tế bản thân và gia đình, sự thích ứng của trẻ vớicác sản phẩm sữa đó
2.3.3 Nhãn hiệu sữa tươi, sữa chua thường xuyên sử dụng
Đối với sữa tươi và sữa chua, ngoài việc phân tích mức độ sử dụng và tìmhiểu xuất sứ của hai loại sản phẩm này, tác giả còn tìm đi sâu tìm hiểu nhãn hiệusữa tươi và sữa chua nào được sử dụng nhiều cho trẻ Kết quả thể hiện ở bảng sau:
Bảng 11 Các nhãn hiệu sữa tươi và sữa chua đang dùng cho trẻ (%)
Trang 38Vì được nhiều người lựa chọn với tỷ lệ người dùng là 43.9 % Còn lại các nhãnhiệu sữa tươi khác có số người sử dụng cho trẻ ít hơn Riêng với nhãn hiệu sữa HàNội, Elovi và một số nhãn hiệu khác có thể không được ưa chuộng và phổ biếnnhư các nhãn hiệu sữa nói trên Như vậy, thực trạng sử dụng sữa một phần dochính người dân lựa chọn dựa vào chất lượng của sản phẩm đó, mặt khác do ngườidân chưa từng nghe và biết đến nhãn hiệu sữa đó, và sản phẩm đó có thể khôngđược bán ở nơi họ đang sống nên các sản phẩm họ sử dụng cho trẻ phần lớn là cácnhãn hiệu có uy tín và được quảng cáo nhiều trên các phương tiện truyền thông
Các nhãn hiệu sữa chua mà các bà mẹ tin dùng cho con mình nhất là nhãnhiệu sữa chua của Vinamilk, chiếm tỷ lệ 80.7 % người sử dụng cho trẻ trong tổng
số 100 % các bà mẹ được hỏi Sữa chua Vinamilk có nhiều hương vị khác nhau đểlựa chọn, hơn nữa có sữa chua dành cho người lớn và trẻ nhỏ riêng và được sửdụng rất phổ biến, chất lượng tốt, vì vậy, tỷ lệ người sử dụng rất cao Tiếp sau lànhãn hiệu sữa chua Ba Vì, với tỷ lệ 35.1 % người lựa chọn trong tổng số 100 %người được hỏi Cô gái Hà Lan cũng là nhãn hiệu có khá nhiều các sản phẩmhướng đến đối tượng là trẻ nhỏ Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng sữa tươi và sữa chua củanhãn hiệu này vẫn thấp hơn so với nhãn hiệu Vinamilk Các nhãn hiệu sữa chuacòn lại ít đước các bà mẹ chọn dùng cho con của họ hơn
“ Bé nhà chị hơn 2 tuổi, cháu thích uống sữa tươi của Mộc Châu lắm, đặc biệt là sữa hương dâu Nếu mà cho uống sữa khác, nó nhận ran gay và không uống Thế nên chị toàn dùng Mộc Châu thôi, thấy vị béo, ngọt và thơm nữa” (PVS, nữ 34 tuổi, viên chức, 2 con )
Không có sự khác biệt rõ ràng trong lựa chọn sữa tươi và sữa chua dành chotrẻ của các bà mẹ Bởi vì đối với sữa tươi và sữa chua, phần lớn các sản phẩmđược dùng cho trẻ là các sản phẩm sữa nội khá phổ biến và có thương hiệu trên thịtrường Hơn nữa, việc lựa chọn các sản phẩm trên phần lớn là do phản ứng của trẻvới các sản phẩm sữa đó Trẻ thích thì sẽ uống nhiều hơn, thậm chí chỉ uống loạisữa quen thuộc đã được uống, vì vậy những nhãn hiệu sữa tươi quen thuộc nhưMộc Châu, Vinamilk, Cô Gái Hà Lan, Ba Vì được khá nhiều người sử dụng Giá
Trang 39cả của sữa tươi và sữa chua nội khá hợp lý, dễ mua, tiện dụng và chiếm phần lớnthị phần sữa tươi và sữa chua trong nước.
2.3.4 Nhãn hiệu sữa bột thường sử dụng
Sữa bột là sản phẩm khá nhạy cảm và được nhiều bà mẹ đặc biệt quan tâm.Kết quả nghiên cứu cho thấy, với sản phẩm sữa bột trong 285 người được hỏi, có
267 phụ nữ đang sử dụng sữa bột cho con, tương ứng với tỷ lệ 93.7 % người sửdụng, và 18 người không sử dụng sữa bột, tương ứng tỷ lệ 6.3 % Nghiên cứucũng đưa ra kết quả cụ thể cho biết nhãn hiệu sữa bột nội được nhiều người tinnhư Vinamilk, Cô Gái Hà Lan Kết quả thể hiện ở biểu 5
Nhìn vào biểu trên cho thấy cho thấy nhãn hiệu sữa bột được nhiều người sửdụng cho trẻ nhiều nhất là nhãn hiệu Vinamilk, với tỷ lệ 42.5 % lựa chọn là có sửdụng trong tổng số 100 % các bà mẹ được hỏi Tiếp đến là nhãn hiệu Cô Gái HàLan, với tỷ lệ là 34.7 % người sử dụng Thấp hơn là nhãn hiệu Abbott với 20 % vàDumex là 18.2 % Như vậy, tỷ lệ phụ nữ sử dụng sữa bột nội cho trẻ khá cao Điềunày chứng tỏ sữa nội, đặc biệt là sữa bột của Vinamilk được nhiều người tin dùng
Trang 40“Trước kia, khi đang có bầu chị thấy có rất nhiều người dùng sữa Dielac của Vinamilk, nên chị nghĩ sữa đó tốt, sau này chị sẽ dùng cho con mình Hiện tại cháu đã hơn 1 tuổi, từ khi sinh cháu tới giờ chị vẫn dùng sữa Dielac, vì bé nhà chị tăng cân đều, tiêu hóa tốt” ( PVS, nữ 28 tuổi, công nhân, 1 con )
Khi xem các yếu tố tác động đến việc lựa chọn các nhãn hiệu sữa bột chotrẻ, tác giả nhận thấy không nhận thấy có sự tương quan rõ rệt giữa việc dùng nhãnhiệu sữa đó với quảng cáo của chính nhãn hiệu sữa đó Những người sử dụng nhãnhiệu sữa Abbott thường ấn tượng với quảng cáo của sữa Abbott, tương tự, nhữngngười sử dụng nhãn hiệu sữa Cô Gái Hà Lan thì ấn tượng với quảng cáo của nhãnhiệu Cô Gái Hà Lan, và Vinamilk cũng vậy Tuy nhiên, tỷ lệ người ấn tượng vớiquảng cáo của nhãn hiệu Cô Gái Hà Lan lại cao hơn ấn tượng với quảng cáo củanhãn hiệu Vinamilk lần lượt với tỷ lệ là 37.5 % và 33.3% trong khi tỷ lệ ngườidùng sữa của Vinamilk lại cao hơn của Cô Gái Hà Lan
“ Con chị thích quảng cáo của Cô Gái Hà Lan lắm, đặc biệt là sữa Fritso nên cháu cứ đòi mẹ mua sữa đó Ngoài ra, chị thấy quảng cáo của sữa Cô Gái Hà Lan khá gần gũi, không phô chương Chị đang dùng sữa đó nên hay chú ý đến quảng cáo của sữa này” ( PVS, nữ 34 tuổi, viên chức, 2 con )
Ngoài yếu tố về ấn tượng với quảng cáo của hãng sữa nào có ảnh hưởng tớiviệc sử dụng nhãn hiệu sữa bột đó, nghiên cứu cho thấy yếu tố “ lần đầu tiên muasữa do ai giới thiệu” thì tỷ lệ chọn “ do người quen giới thiệu” cao nhất ở nhãnhiệu sữa Vinamilk với tỷ lệ là 57.7 % và tương ứng với tỷ lệ người sử dụng sữaVinamilk nhiều nhất Như vậy, khi chọn mua nhãn hiệu sữa bột nào, phần lớn phụ
nữ đều tham khảo ý kiến của người quen, những người đã và đang nuôi con nhỏ
mà có dùng sữa
“(…)Mình cũng tham khảo ý kiến của những người đã dùng sữa này rồi, sau mới mua Khi dùng thấy trẻ ăn nhiều và tăng cân thì mình tin dùng sữa đó thôi” ( PVS, nữ, 32 tuổi, nông dân, 2 con ).
Qua phân tích kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dụng sữa và cá sản phẩm
từ sữa cho thấy hầu hết phụ nữ trong nghiên cứu đều sử dụng sữa và các sản phẩm
từ sữa cho con họ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng sữa hay lựachọn sữa nội hay sữa ngoại, tuy nhiên yếu tố kinh tế có tác động mạnh mẽ Ngoài