chất của tình trạng bỏ học, tác động, hậu quả của bỏ học đến chiến lược pháttriển của nguồn nhân lực tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa khai thác sâukhía cạnh quản lý của ngành giáo dục,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm qua cùng với tốc độ phát triển liên tục về kinh tế, xã hội Sựnghiệp giáo dục và đào tạo của chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn rấtđáng tự hào Quy mô giáo dục được duy trì và ngày càng phát triển, nhưngchưa thật cân đối đồng đều giữa các địa phương Một trong những vấn đề màngành giáo dục phải quan tâm tìm hiểu nguyên nhân thấu đáo và tìm giải pháphữu hiệu để khắc phục hiện nay là hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh đặcbiệt là ở những vùng miền khó khăn
Đối với vùng khó, lâu nay khi nói đến việc xóa đói giảm nghèo thìphương diện vật chất được xác định đầu tiên và hầu như lấn át các yếu tốkhác Nhưng xóa đói kiến thức, giảm nghèo nhận thức mới thực sự là sự xóađói giảm nghèo một cách căn cơ nhất cho sự phát triển bền vững và ổn định xãhội Hiện tượng học sinh bỏ học hàng loạt đến mức báo động như trong thờigian vừa qua đặt ra nhiều vấn đề cho cả xã hội suy nghĩ và lo lắng.Theo báocáo giám sát toàn cầu về phát triển giáo dục của UNESCO trong 5 năm gầnđây đã có hơn 3,5 triệu học sinh phổ thông các cấp bỏ học, trong đó con emcủa những gia đình nghèo khó ở những vùng sâu, vùng xa chiếm một tỷ lệđáng kể Khả năng rất lớn là sẽ có khoảng từng ấy (thậm chí hơn nữa) một lựclượng lao động dự trữ của xã hội có trình độ rất thấp và buộc phải mưu sinhchủ yếu bằng cách bán mồ hôi giá rẻ.Vì đã nghèo lại thiếu tri thức, nên chính
họ sẽ là người gánh chịu nhiều thua thiệt nhất, gặp nhiều rủi ro nhất trong quátrình vận động và phát triển của xã hội với những biến chuyển khôn lường,phức tạp Đồng thời cũng từ đó tạo ra hai cực phân hóa giàu nghèo càng gaygắt hơn, xung đột lợi ích sẽ ngày càng trầm trọng hơn Mặt khác chất lượngcuộc sống và sự hưởng thụ hạnh phúc của con người ngày càng liên quan mậtthiết với hiệu quả giáo dục mà họ được đào tạo Điều đáng lo ngại nhất ở đây
là trong vòng 5 đến 10 năm nữa thì hàng triệu học sinh bỏ học vừa qua chính
là nguồn lao động trẻ trong giai đoạn mà đất nước đang cần một sự tăng tốc
Trang 2mạnh mẽ để tiến về cái đích của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Vì vậy hãy nhìn nhận nghiêm túc, triệt để và toàn diện về vấn đề họcsinh bỏ học như là một nguy cơ khủng hoảng nguồn nhân lực có báo trước.Bên cạnh đó tình trạng này cũng tiềm ẩn gây ra những bất ổn xã hội khó lườngđoán hết được
Di Linh là một huyện vùng cao Tây Nguyên với dân số 160 ngàn dântrong đó 36% người dân tộc Tây Nguyên (chủ yếu là dân tộc K'ho) Được sựquan tâm đầu tư tích cực của Đảng và nhà nước như chương trình 134,chương trình 135 của Chính phủ Mạng lưới trường lớp đã được phát triểnđều khắp trong cộng đồng dân cư, cơ sở vật chất trường học cũng như hạtầng được tăng cường, đội ngũ giáo viên được bổ sung Tuy vậy so với mặtbằng Kinh tế -Xã hội chung của cả nước Di Linh vẫn là một huyện nghèo,nhất là các vùng khó khăn của huyện, trình độ dân trí thấp Giao thông đi lạicòn nhiều khó khăn, chất lượng giáo dục mặc dù đã có nhiều chuyển biếntiến bộ như: quy mô giáo dục được duy trì và phát triển nhưng vẫn còn nhiềubất cập, hạn chế chưa thật sự cân đối giữa các vùng trong huyện Đặc biệt làtình trạng học sinh bỏ học ngày càng nhiều nhất là các trường THPT vùngkhó trên địa bàn huyện Di Linh
Việc học sinh bỏ học là một thực tế diễn ra nhiều năm Qua khảo sátthực tế hầu hết học sinh bỏ học ở nhà mà không học tiếp bổ túc, không họcnghề, không đi làm với một công việc ổn định trở thành bỏ học “ Tiêu cực”
Về lâu dài, số học sinh bỏ học “ Tiêu cực” ảnh hưởng rất lớn đến tương lai củacác em, rộng hơn xã hội sẽ gánh chịu nguồn nhân lực chất lượng thấp
Theo thông kê của các trường THPT vùng khó của huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng hàng năm tỷ lệ bỏ học ở nơi này trên 10% (Nếu tính cả số liệuhọc sinh bỏ học trong hè) Vậy thực trạng, nguyên nhân và giải pháp khắcphục vấn đề này như thế nào?
Trong thời gian qua các trường THPT trong huyện đặc biệt các trườngTHPT vùng khó đã bỏ nhiều công sức, thời gian và hết sức vất vả tìm những
Trang 3giải pháp để khắc phục tình trạng bỏ học nhưng kết quả đạt được còn hạn chế
và chưa bền vững Từ những vấn đề đã nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài:
"
Biện pháp Quản lý của hiệu Trưởng nhằm khắc phục tình trạng học sinh
bỏ học ở các trường THPT vùng khó huyện Di Linh" là cần thiết cả về lý
luận và thực tiễn
Về lý luận: Đề tài đóng góp lý luận nghiệp vụ quản lý của hiệu
trưởng vùng khó trong điều kiện quản lý có nhiều khó khăn, kinh tế xã hội,dân trí còn thấp
Về thực tiễn: Đề tài mang lại thông tin mới về tình hình bỏ học ở các
trường THPT vùng khó, các nguyên nhân tác động, tìm ra nguyên nhân chủyếu và những biện pháp tích cực cũng như các yếu kém đang tồn tại và tìm ragiải pháp tối ưu để khắc phục tình trạng học sinh bỏ học trong các trườngTHPT trên địa bàn huyện Di Linh,tỉnh Lâm Đồng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lý luận và nghiên cứu đánh giáthực trạng học sinh bỏ học ở các trường THPT vùng khó huyện Di Linh, tỉnhLâm Đồng
Đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm khắc phục tìnhtrạng học sinh bỏ học trong các trường THPT huyện Di Linh góp phần nângcao hiệu quả giáo dục đào tạo
Có những khuyến nghị phù hợp đối với các cấp chính quyền, các cấpquản lý giáo dục, các tổ chức ban ngành liên quan nhằm khắc phục tình trạnghọc sinh bỏ học trên địa bàn huyện Di Linh
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện tượng bỏ học của học sinh trong năm trường THPT thuộc địa bànvùng khó huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đó là các trường THPT Nguyễn ViếtXuân, THPT Tân Thượng, THPT Hoà Ninh, THPT Lê Hồng Phong, THPT PhanBội Châu
Trang 4Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm khắc phục tình trạng học sinh
bỏ học thuộc năm trường vùng khó nêu trên
3.2 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý học sinh bỏ học của hiệu trưởng
3.3 Đối tượng khảo sát
Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh 5 trường THPT vùngkhó trên địa bàn huyện Di Linh
Lãnh đạo chính quyền địa phương, Già làng trưởng bản, phụ huynh họcsinh trên địa bàn vùng khó huyện Di Linh
4 Giả thuyết khoa học của đề tài:
Nếu khảo sát và đánh giá đúng thực trạng biện pháp quản lý của hiệutrưởng nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học trong các trường THPTvùng khó huyện Di Linh và đề xuất được các biện pháp đồng bộ phù hợp vớiđặc điểm vùng miền thì sẽ hạn chế tình trạng học sinh bỏ học với tỷ lệ lớn nhưhiện nay Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề học sinh bỏ học và công tácquản lý của Hiệu trưởng đối với vấn đề này
5.2 Khảo sát thực trạng bỏ học, các nguyên nhân tác động, những biệnpháp và việc làm của hiệu Trưởng nhằm khắc phục tình trạng bỏ học của họcsinh trong các trường THPT vùng khó huyện Di Linh
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm khắc phục đượctình trạng học sinh bỏ học của học sinh các trường THPT vùng khó huyện DiLinh
Trang 5THPT Tân Thượng, THPT Hoà Ninh, THPT Lê Hồng Phong, THPT Phan BộiChâu.
7 Các phương pháp nghiên cứu của đề tài
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp các tài liệu về quản lý giáo dục, quản lý trườnghọc, hiện tượng học sinh bỏ học, đánh giá kết quả thu được
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra phiếu:
Địa bàn điều tra:
Bốn trường THPT vùng khó huyện Di Linh đã nêu trên
Đối tượng điều tra
- Phiếu hỏi ý kiến cán bộ quản lý
- Phiếu hỏi ý kiến giáo viên
- Phiếu hỏi ý kiến học sinh đang học
- Phiếu hỏi ý kiến phụ huynh có con đang học
- Phiếu hỏi ý kiến các lãnh đạo chính quyền địa phương, các tổ chứcđoàn thể, già làng trưởng bản
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê toán học.
8 Dự kiến điểm mới của đề tài.
- Hiện tại có một số các nghiên cứu về tình hình bỏ học, tuy nhiên chưa
có nghiên cứu nào đề cập sâu về tình hình bỏ học của học sinh THPT vùngkhó
- Nghiên cứu vấn đề trên địa bàn vùng khó huyện Di Linh nơi có tỷ lệ
học sinh bỏ học cao và chưa có đề tài nghiên cứu khoa học phù hợp với đặc
Trang 6điểm vùng miền và tập quán người dân tộc K-Ho chiếm tỷ lệ lớn trên địa bàn
và có nguy cơ bỏ học cao
- Kết hợp giữa tổng kết kinh nghiệm cũng như đề xuất những biện phápquản lí mới nhằm khắc phục có hiệu quả tình trạng học sinh bỏ học trên địabàn
- So sánh đối chiếu phân tích độ phù hợp vùng miền của các biện pháp
quản lí đã được đề nghị trong các nghiên cứu trước đây về vấn đề này.
9 Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dungchính của luận văn được chia là 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng học sinh bỏ học và biện pháp quản lý của hiệu
trưởng nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở các trường THPT vùngkhó huyện Di Linh
Chương 3: Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm khắc phục tình trạng
học sinh bỏ học ở các trường THPT vùng khó huyện Di Linh
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Nghiên cứu một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm khắc phụctình trạng học sinh bỏ học đặc biệt là học sinh vùng khó trên địa bàn huyện DiLinh,tỉnh Lâm Đồng đang là thời sự nóng bỏng và cấp bách Để nâng cao chấtlượng giáo dục vùng khó đặc biệt là khắc phục tình trạng học sinh bỏ học “Tiêu cực” trước hết đòi hỏi chính hệ thống quản lý làm thế nào để tạo ra nộilực ở chính tổ chức mình cần có một hệ thống giải pháp nào để quản lý giáodục có hiệu quả hơn, cùng với nguồn lực như hiện nay mà làm giáo dục tốthơn Đó là vấn đề đặt ra hết sức bức xúc
Tình trạng học sinh bỏ học ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứunhư:
- Nguyễn Hữu Chuỳ, Vấn đề lưu ban, bỏ học xét từ bình diện tâm lý
Qua các đề tài nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy các công trình đã
đề cập sâu nhiều về vấn đề lý luận liên quan đến tình trạng bỏ học như bản
Trang 8chất của tình trạng bỏ học, tác động, hậu quả của bỏ học đến chiến lược pháttriển của nguồn nhân lực tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa khai thác sâukhía cạnh quản lý của ngành giáo dục, nhất là đối với trường THPT và vai trò
vị trí trách nhiệm của Hiệu trưởng hết sức quan trọng trong việc khắc phụctình trạng học sinh bỏ học Các giải pháp đề nghị còn bao quát chưa cụ thể hoácho hiệu trưởng và trường THPT
Các đề tài nghiên cứu của Sở Giáo dục & Đào tạo Lâm Đồng, chưa
có công cụ khảo sát phân tích khoa học còn mang tính chủ quan, nội dung baoquát chưa phân tích đánh giá cụ thể theo vùng miền, chưa đi sâu đề cập cụ thểđến biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học của Hiệu trưởng trong cáctrường THPT vùng khó huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
Muốn khắc phục tình trạng bỏ học trong các trường THPT vùng khóhuyện Di Linh có hiệu quả cần phải quan tâm nghiên cứu, đánh giá thực trạngcũng như biện pháp quản lý của hiệu trưởng một cách khoa học khách quan để
có những giải pháp thoả đáng, đồng bộ nhằm duy trì sĩ số học sinh góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục vùng khó
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lí làtác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đếnkhách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chứcvận hành đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr.1]
Trang 9Tác giả Nguyễn Minh Đạo định nghĩa: “Quản lí là tác động liên tục có
tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí (người quản lí hay tổ chức quản lí)lên khách thể (đối tượng quản lí) về mặt chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phươngpháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự pháttriển của đối tượng” [12, tr.7]
Dựa vào “điều khiển học”, tác giả “Đại bách khoa toàn thư Liên Xô” địnhnghĩa: “Quản lí - đó là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khácnhau (sinh vật, xã hội, kĩ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế
độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [28, tr.5]
Theo cách tiếp cận của một số nhà khoa học quản lí người nước ngoài:
“Quản lí là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làmviệc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu
đã định [38, tr.29]
Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu: quản lí làcách thức tổ chức - điều khiển (cách thức tác động) của chủ thể quản lí đếnkhách thể quản lí nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà tổ chức đã đề ra
1.2.2 Chức năng quản lý:
Chức năng quản lý là một hoạt động cơ bản mà thông qua đó chủ thểquản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu xác định.Chức năng quản lý chiếm giữ vị trí then chốt, nó gắn liền với nội dung củahoạt động điều hành ở mọi cấp
- Chức năng kế hoạch hoá
Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý đương đại hàng đầu, đã
đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những việc “đúng”)
và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúng việc) Ông cho rằng, tính hiệu nghiệm
là quan trọng hơn, bởi vẫn có thể đạt được hiệu quả khi chọn sai mục tiêu Haitiêu chuẩn này song hành cùng với hai khía cạnh của kế hoạch: xác định nhữngmục tiêu “đúng” và lựa chọn những biện pháp “đúng” để đạt các mục tiêu này
Cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa sống còn đối với quá trình quản lý [40]
Trang 10Để phản ánh bản chất của khái niệm chức năng kế hoạch hoá, chúng ta
có thể định nghĩa như sau: chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định mụctiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Nhưvậy, thực chất của kế hoạch hoá là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác
kế hoạch hoá, với mục đích, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn địnhtường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu
Nhiều lý thuyết gia quản lý cho rằng, kế hoạch là cái khởi nguyên củamọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác Họ ví kế hoạch như một chiếcđầu tầu kéo theo các toa “tổ chức”, “chỉ đạo”, “kiểm tra” Như vậy, ngườiquản lý, nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và cácnguồn nhân lực khác như thế nào, thậm chí họ còn không rõ phải tổ chức cái
gì nữa Không có kế hoạch, người quản lý không thể chỉ dẫn, lãnh đạo ngườithuộc quyền hành động một cách chắc chắn với những kỳ vọng đặt vào kếtquả mong đạt tới Cũng vậy, không có kế hoạch thì cũng không xác định được
tổ chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu, không biết khi nào đạt được mụctiêu và sự kiểm tra trở thành vô căn cứ
Trong QLGD, quản lý nhà trường, kế hoạch hoá là một chức năng quantrọng vì trên cơ sở phân tích các thông tin quản lý, căn cứ vào những tiềmnăng đã có và những khả năng sẽ có mà xác định rõ hệ thống mục tiêu, nộidung hoạt động, các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn củanhà trường khi kết thúc các hoạt động Kế hoạch hoá có vai trò to lớn như vậybởi bản thân nó có những chức năng cơ bản cụ thể sau:
Chức năng chẩn đoán: Bao gồm việc xác định trạng thái xuất phát và
những phân tích về trạng thái đó Đối với nhà trường đó là trạng thái về cơ sởvật chất, về đội ngũ giáo viên, về các kết quả về hoạt động sư phạm của cácnăm học trước đó, những mặt tốt và mặt tồn tại, nguyên nhân của chúng…Dựatrên những số liệu của năm học trước rút ra kết luận cụ thể về trạng thái xuấtphát của nhà trường trong năm học mới
Trang 11Chức năng dự báo: Bao gồm việc xác định nhu cầu và các mục tiêu
trên cơ sở phân tích và căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên về nhiệm vụ củanăm học mới để suy ra những hướng phát triển cơ bản của nhà trường, trong
đó có tính tới nhu cầu bên ngoài và bên trong của nhà trường, lựa chọn nhữnghướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá
Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phác thảo các phương án chọn lựa
có tính tiềm năng của nguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan
- Chức năng tổ chức
Bamard định nghĩa tổ chức như là “ Hệ thống các hoạt động hay tác động
có ý thức của hai hay nhiều người”
Cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” đã xác định: “Tổ chức là hoạt độnghướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhấtgiữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo (chấp hành)” [9]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoáVIII đã chỉ rõ: “Kiện toàn tổ chức và nâng cao trách nhiệm các cơ quan quản lýnhà nước” [11, tr72] Xuất phát từ quan điểm trên, trong quản lý giáo dục, quản
lý trường trung học, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định
rõ vai trò của mỗi bộ phận, cá nhân, bảo đảm các mối quan hệ ngược, sự thốngnhất và đồng bộ về tổ chức trong quản lý giáo dục ở trường trung học
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, chophép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung Tổ chức được coi làđiều kiện của quản lý, đúng như V.I.Lê-nin đã khẳng định: “Chúng ta phảihiểu rằng, muốn quản lý tốt…còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa” [44].Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữacác bộ phận trong hệ thống quản lý Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực,
tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý
- Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành
vi và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra Chỉ đạo
Trang 12thể hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viêntrong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đã đặt ra
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậyđộng lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệgiữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó để
họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu
- Chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất đểđạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để thực hiệnhoá các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra để xem xétviệc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cầnthiết trong các hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu đã xác định
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý nhưđổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đổi mới cơ chếquản lý, phương pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý
Tóm lại: Sự phân công và chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý đãhình thành nên các chức năng quản lý, đó là chức năng kế hoạch hoá, tổ chức,chỉ đạo và kiểm tra Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưminh hoạ ở sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ chức năng quản lý
Lập kế hoạch
Thông tin
Chỉ đạo
Trang 131.2.3 Các nguyên tắc quản lý:
Trong việc quản lý các tổ chức (Kinh tế - Chính trị - Văn hoá, Giáodục ) mà yếu tố chủ yếu là con người, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lýthường vận dụng các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng:
Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối vì thếtrong quản lý chúng ta phải thường xuyên bám sát vào các Chỉ thị, Nghịquyết, các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước
- Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc quan trọng đảm bảo sự thành công trong công tácquản lý Tạo khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ của
cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việcthực hiện mục tiêu quản lý
Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thốngđược tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch chủtrương đường lối phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản
để thực hiện Nguyên tắc tập trung được thông qua chế độ thủ trưởng
Dân chủ trong quản lý được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọithành viên trong tổ chức Huy động trí lực của họ, dân chủ được thể hiện ởchỗ các chỉ tiêu kế hoạch hoạt động đều được tập thể tham gia bàn bạc, phảnbiện, kiến nghị các biện pháp trước khi quyết định
Trong thực tiễn người quản lý phải biết kết hợp hài hoà giữa tập trung
và dân chủ, tránh tập trung dẫn đến quan liêu, độc đoán Song cũng phải biết
sử dụng quyền tập trung một cách đúng lúc, đúng chỗ, phải dám quyết đoán vàdám chịu trách nhiệm
-Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và thực tiễn
Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải nắm được quy luật phát triển của
bộ máy, nắm vững quy luật tâm lý của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địaphương, thực tế ngành mình đảm bảo hài hoà lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân
Trang 14đảm bảo hiệu quả kinh tế, đảm bảo vai trò quần chúng tham gia quản lý thựchiện tinh thần: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
1.2.4 Quản lý giáo dục.
Hiện nay, định nghĩa thế nào là quản lý giáo dục tuy chưa hoàn toànthống nhất với nhau nhưng đã có nhiều ý kiến đồng nhất với nhau Nhà nướcquản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục Nhà nướcquản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chếhoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản
lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quảđào tạo thế hệ trẻ
Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiềuquan niệm khác nhau về quản lý giáo dục
Theo M.I.Kônđacôp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ýthức và hướng đích của chủ quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắtxích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thànhnhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luậtchung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự pháttriển thể lực và tâm lý trẻ em [21tr124]
Theo P.V.Khuđôminxky (nhà lý luận Xô Viết): QLGD là tác động có hệthống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấpkhác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích bảođảm việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triểntoàn diện và hài hoà của họ
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối củaĐảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theonguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối vớingành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh…” [13]
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý là hệ thống những tác động cómục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận
Trang 15hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tínhchất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quátrình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lêntrạng thái mới về chất [30].
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động.Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi hoạt động giáo dục vàQLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậycon người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD
1.2.5 Quản lý nhà trường.
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục Nhà trường(cơ sở giáo dục) chính là nơi tiến hành các quá trình giáo dục đào tạo cónhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đamột quy luật tiến bộ xã hội là “ Thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả nhữngkinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền đạt lại đồngthời làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó”
Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác động sưphạm hợp lý có hướng đích của chủ thể quản ý đến tập thể giáo viên, học sinh
và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợpsức lực, trí tuệ của họ vào mọi hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoànthành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến Bản chất của hoạt độngquản lý là ở chỗ hệ quản lý (chủ thể quản lý) tác động một cách có hệ thống,
có mục đích đến hệ bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm thực hiện các mụctiêu đề ra Như vậy là trong quá trình hoạt động, chủ thể và khách thể tươngtác lẫn nhau một cách tích cực thông qua mối liên hệ thuận nghịch Trong nhàtrường hệ quản lý chỉ gồm các lãnh đạo trường (hiệu trưởng và các phó hiệutrưởng) còn hệ bị quản lý gồm tập thể giáo viên và tập thể học sinh Tuy nhiên
Trang 16xuất phát từ vai trò chủ đạo của giáo viên có thể nói rằng: Quản lý trường họcchủ yếu là tác động đến tập thể giáo viên để tổ chức và phối hợp các hoạt độngcủa họ trong quá trình giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo Trong trườngluôn luôn diễn ra quan hệ giáo dục - được giáo dục mà trước hết là quan hệgiữa hai hệ thống tập thể giáo viên và tập thể học sinh
Công tác quản lý trường học bao gồm sự tác động qua lại giữa trường học
và xã hội, đồng thời quản lý chính nhà trường Người ta có thể phân tích quátrình giáo dục - đào tạo của nhà trường như là một hệ thống gồm 6 thành tố:
6 Cơ sở vật chất và các phương tiện, thiết bị phục vụ giáo dục
Người quản lý trường học chính là Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng cáctrường Hoạt động của người quản lý phải làm sao cho hệ thống các thành tốvận hành, liên kết chặt chẽ với nhau và đưa lại kết quả mong muốn Như vậyxác định một cách tổng thể: Quản lý nhà trường phổ thông thực chất là tácđộng một cách có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả cácnguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục
và tiến tới mục tiêu giáo dục, mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy vàhọc tiến lên trạng thái mới về chất Do vậy công tác quản lý giáo dục nóichung và quản lý giáo dục nói riêng gồm có hoạt động quản lý trong nhàtrường và các quan hệ giữa nhà trường và xã hội
1.2.6 Học sinh THPT
Học sinh THPT là học sinh tốt nghiệp THCS được tuyển hoặc thi tuyểnvào trường THPT, có độ tuổi đầu cấp từ 15 đến 19, học sinh nữ được tăng 1tuổi so với tuổi quy định
Trang 17Học sinh có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ có thể học trước tuổihoặc vượt lớp nếu được hội đồng giáo dục nhà trường xét đề nghị và đượcgiám đốc sở Giáo dục & Đào tạo cho phép Học sinh dân tộc, học sinh ởnhững vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, học sinh bị khuyết tật, họcsinh kém phát triển về thể lực và trí tuệ, học sinh bị thiệt thòi, học sinh ở nướcngoài về nước có thể vào lớp đầu cấp ở tuổi cao hơn độ tuổi quy định.
Học sinh có nhiệm vụ kính trọng thầy cô giáo, nhân viên nhà trường,đoàn kết giúp đỡ bạn bè, phát huy truyền thống tốt đẹp của nhà trường, thựchiện điều lệ, nội quy nhà trường, chấp hành các quy tắc trật tự, an toàn xã hội.Hoàn thành nhiệm vụ học tập và rèn luyện theo yêu cầu của thầy cô giáo vàcủa nhà trường Rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh cá nhân, giữ gìn và bảo vệ môitrường Tham gia các hoạt động tập thể của nhà trường, của lớp của Đoànthanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, giữ gìn bảo vệ tài sản của nhà trường, giúp
đỡ gia đình, tham gia lao động công ích và công tác xã hội
Học sinh có quyền được bình đẳng trong việc hưởng thụ giáo dục toàndiện, được đảm bảo những điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, vệ sinh, antoàn để học tập ở lớp và tự học ở nhà, được cung cấp những thông tin về việchọc tập của mình, được sử dụng trang thiết bị, phương tiện để phục vụ các hoạtđộng học tập, văn hóa, thể dục, thể thao của nhà trường, được tôn trọng và bảo
vệ, được đối xử bình đẳng dân chủ, được quyền khiếu nại với nhà trường và cáccấp quản lý giáo dục về những quyết định đối với bản thân mình Được quyềnchuyển trường khi có lý do chính đáng theo quy định hiện hành Được tham giacác hoạt động nhằm phát triển năng khiếu vế các môn học, về thể dục, thể thao,nghệ thuật do nhà trường tổ chức nếu có đủ điều kiện
Học sinh trong giai đoạn này phát triển mạnh mẽ về tâm lý, các emcũng đã bắt đầu có nhu cầu khẳng định mình, có nhiều hoài bảo, mơ ước đượcthành đạt, được đóng góp xứng đáng cho gia đình và xã hội Trong nhà trườngcác em đồng thời vừa là đối tượng giáo dục vừa là chủ thể tích cực tham gia
Trang 18vào các quá trình giáo dục nhằm hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện sức mạnh
về tâm hồn, thể chất và trí tuệ Ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường,các em có thể có những đóng góp tích cực, thiết thực vào sự phát triển kinh tế-
xã hội ở địa phương Đó là những thuận lợi cho nhà trường tổ chức một cách
có hiệu quả hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường
1.2.7 Học sinh bỏ học.
Bỏ học tức là không tiếp tục đi học nữa, có loại bỏ học hẳn như học xongchương trình một lớp nào đó rồi bỏ học, có loại đang học dở một buổi học bỏmột hoặc vài tiết để giải quyết một vấn đề nào đó hoặc đi chơi (bỏ học trongthời gian ngắn) Trong giới hạn của đề tài này chủ yếu nói về học sinh ở lứatuổi THPT bỏ học, đang học giữa năm thì bỏ học không đi học nữa, hoặc chưahọc hết bậc THPT đến hè thì bỏ hẳn
Bộ Giáo dục & Đào tạo hướng dẫn các sở giáo dục tính số học sinh bỏ họctheo khái niệm: là học sinh có trong danh sách của trường, nhưng đã tự ý nghỉhọc quá 45 buổi (cộng dồn) tính đến thời điểm báo cáo Không tính học sinhchuyển từ trường phổ thông này sang trường phổ thông khác hoặc chuyểnsang học bổ túc văn hóa, học nghề, học trung cấp chuyên nghiệp
(Công văn số 3144/BGDĐT-VTC Ngày 14/4/2009 v/v báo cáo số liệu thống kê học sinh bỏ học)
Bỏ học ở cấp THPT là hiện tượng thường gặp phải ở hầu hết các quốc giatrên thế giới, nhất là các nước nghèo chậm phát triển Một trong những yêucầu cơ bản đối với quá trình dạy học nói riêng, quá trình giáo dục nói chung làphải đảm bảo cho mỗi học sinh được học trọn vẹn bậc học Nhưng trong thực
tế do nhiều nguyên nhân tác động, một bộ phận học sinh bỏ học không hoànthành được hết bậc học, thậm chí có em bỏ ngang ngay từ lớp 10 khôngchuyển qua hệ giáo dục thường xuyên, không chuyển qua trường nghề, không
có một định hướng nghề nghiệp trong tương lai đã trở thành gánh nặng cho giađình, xã hội và chính bản thân các em
Trang 191.2.8 Vùng miền khó khăn.
Theo qui định cụ thể về tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núitheo trình độ phát triển ban hành kèm theo quyết định số 393/ 2005/ QĐ- UBDTngày 29 tháng 8 năm 2005 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Uỷ ban dân tộc áp dụng chocác thôn, xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi thì lấy đơn vị xã để phân định Vùngdân tộc thiểu số và miền núi thành ba khu vực (I, II, III) theo các tiêu chí sau:
* Thôn đặc biệt khó khăn là thôn còn tồn tại cả 3 tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Về đời sống xã hội:
- Tỉ lệ hộ nghèo từ 70% trở lên, và còn tồn tại ít nhất 3 trong 4 chỉ tiêu sau:+ Trên 25% số hộ có nhà ở còn tạm bợ, tranh tre, lứa lá
+ Trên 10% số hộ còn du canh du cư hoặc định cư du canh
+ Trên 50% số hộ thiếu nước sinh hoạt
+ Trên 50% số hộ chưa có điện sinh hoạt
-Tiêu chí 2: Về điều kiện sản xuất: còn tồn tại ít nhất 2 trong 3 chỉ tiêu sau:
- Trên 20% số hộ thiếu đất sản xuất theo mức bình quân quy địnhcủa địa phương
- Trên 50% diện tích canh tác cây hàng năm của các hộ gia đình trongthôn chưa có hệ thống thuỷ lợi
- Tập quán sản xuất còn lạc hậu, chưa có cộng tác viên khuyến nông,khuyến lâm, khuyến ngư, chưa phát triển sản xuất hàng hoá
Tiêu chí 3: Về điều kiện kết cấu hạ tầng (KCHT):
- Chưa có đường giao thông nông thôn loại B từ thôn đến trung tâm xã
và còn tồn tại ít nhất 2/3 chỉ tiêu sau:
+ Chưa đủ phòng học cho các lớp tiểu học hoặc có nhưng còn tạm bợ.+ Chưa có hệ thống truyền thanh từ xã đến thôn
+ Chưa có nhà văn hoá thôn phục vụ sinh hoạt cộng đồng
* Tiêu chí phân định khu vực:
Xã khu vực III:
- Có từ 1/3 số thôn đặc biệt khó khăn trở lên
Trang 20- Có tỉ lệ hộ nghèo từ 55% trở lên
- Công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu: thiếu hoặc có nhưng còn tạm bợ
từ 6/10 loại công trình KCHT thiết yếu trở lên
- Các yếu tố xã hội; có ít nhất 3 trong 4 yếu tố sau:
+ Chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở (theo qui định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
+ Chưa đủ điều kiện khám chữa bệnh thông thường (theo quy định của
Bộ Y tế) Trên 50% số thôn chưa có y tế thôn
+ Trên 50% số hộ chưa được hưởng thụ và tiếp cận với hệ thống thôngtin đại chúng (theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
+ Trên 50% cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở chưa có trình độ từ sơcấp trở lên
- Điều kiện sản xuất rất khó khăn, tập quán sản xuất lạc hậu, còn mangnặng tính tự cung, tự cấp, chưa phát triển sản xuất hàng hoá
- Địa bàn cư trú: thuộc địa bàn Vùng dân tộc thiểu số và miền núi, điềukiện địa hình chia cắt hoặc ở vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo nhưngkhông thuộc địa bàn các thành phố, thị xã, thị trấn, trung tâm huyện lỵ, cáckhu công nghiệp, các cửa khẩu phát triển
Xã thuộc khu vực II:
- Không có hoặc có dưới1/3 số thôn đặc biệt khó khăn
- Có tỉ lệ hộ nghèo từ 30% đến dưới 55%
- Về kết cấu hạ tầng thiết yếu: thiếu hoặc có nhưng còn tạm bợ từ 3/10loại công trình KCHT thiết yếu trở lên
- Các yếu tố xã hội: có ít nhất 3 trong 4 yếu tố sau:
+ Chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở
+ Từ 10 đến dưới 50% số thôn chưa có y tế thôn nhưng đã cơ bản đảmbảo các điều kiện khám chữa bệnh thông thường
+ Trên 80% số hộ thường xuyên được hưởng thụ và tiếp cận với hệthống thông tin đại chúng
Trang 21+ Từ 30% cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở chưa có trình độ từ sơcấp trở lên.
- Điều kiện sản xuất: Đã bắt đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hoá,hầu hết đồng bào đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đã có
hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đến thôn
- Địa bàn cư trú: các xã liền kề hoặc thuộc các thành phố, thị xã, thịtrấn, các khu công nghiệp, các trung tâm huyện lỵ, cửa khẩu phát triển, các xã
có điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội thuận lợi cho phát triển sản xuất và đờisống
- Các yếu tố xã hội: có ít nhất 3 trong 4 yếu tố sau:
+ Đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
+ 100% số thôn đã có y tế thôn và đảm bảo các điều kiện khám chữabệnh thông thường
+ 100% số hộ thường xuyên được hưởng thụ và tiếp cận với hệ thốngthông tin đại chúng
+ Trên 70% số cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở có trình độ từ sơcấp trở lên
- Điều kiện sản xuất: Đã hình thành các vùng sản xuất hàng hoá, tiếpcận với nền kinh tế thị trường
- Địa bàn cư trú: là các xã liền kề hoặc thuộc địa bàn của thành phố, thị
xã, thị trấn, các khu công nghiệp, các trung tâm huyện lỵ, các cửa khẩu pháttriển, các xã có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triểnsản xuất và đời sống
Trang 221.3 Trường THPT và vấn đề khắc phục tình trạng học sinh bỏ học.
1.3.1 Những nguy cơ từ việc học sinh bỏ học.
Những hệ quả nảy sinh từ tình trạng bỏ học sớm hôm nay là việc hệ trọngcho bản thân các em và cho tương lai của xã hội
Trước hết tình trạng bỏ học liên thế hệ sẽ diễn ra trong xã hội Hàng trămngàn học sinh bỏ học hôm nay, thì trong tương lai xã hội sẽ có thêm số giađình tương ứng có ông bố hoặc bà mẹ thất học hoặc có học vấn thấp Như vậycon cái của những gia đình này sẽ như thế nào ? Khả năng thất học liên thế hệ
sẽ xảy ra với một xác suất rất lớn, bởi các nghiên cứu xã hội học giáo dục trênthế giới đã chứng minh mối quan hệ tương quan thuận giữa học vấn của bố mẹ
và học vấn của con cái, tức là nếu bố mẹ có học vấn cao thì con cái cũng cóhọc vấn cao và ngược lại
Chẳng hạn nghiên cứu của A.Chevalier vào 2003 cho thấy trình độ họcvấn của bố mẹ có tác động, có ý nghĩa đến quyết định tham gia vào việc họctập của con cái sau này, và nếu học vấn của người mẹ tăng lên một lớp thì sẽlàm tăng thêm 20% xác suất đi học của con cái, cha mẹ có học vấn cao thìcàng dành nhiều thời gian cho con cái hơn và đóng vai trò là “hình mẫu” chocon cái nhiều hơn
Hậu quả kế tiếp mà xã hội phải đối diện trong tương lai đó là tình trạngtội phạm hoặc các hành vi lệch lạc sẽ gia tăng trong xã hội Trong ngành xãhội học thường bàn đến khái niệm “xã hội hóa”, đây là khái niệm chỉ quá trình
cá nhân được đào luyện để trở thành các thành viên có nhân cách hợp chuẩntrong tương lai, trong đó hai thiết chế đóng vai trò thiết yếu trong việc xã hộihóa cá nhân đó là gia đình và học đường Như vậy hàng trăm nghìn học sinh
bỏ học mỗi năm đã bị xã hội hóa một cách đứt đoạn, và vì vậy nhân cách củacác em sẽ phát triển không hoàn chỉnh Đây chính là điềm báo trước về khảnăng xảy ra những hành vi phi chuẩn mực nơi các em trong tương lai Bêncạnh đó trong lý thuyết căng thẳng của nhà xã hội học người Mỹ RobertMerton, tình trạng tội phạm(lệch lạc) xảy ra khi cá nhân rơi vào tình trạng
Trang 23căng thẳng giữa mục tiêu và phương tiện, tức là cá nhân muốn đạt được nhữngmục tiêu mà ai trong xã hội cũng muốn đạt tới như có nghề nghiệp, có cơm ăn,
áo mặc, nhà cửa, địa vị, uy tín xã hội… nhưng lại không tiếp cận được nhữngphương tiện hợp thức để đạt được những mục tiêu đó nên họ phải sử dụngnhững phương tiện bất hợp thức khác và vì thế tình trạng tội phạm sẽ xảy ra.Học vấn là phương tiện hợp thức mà bất cứ cá nhân nào cũng muốn cóđược trước hết, bởi nó là chìa khóa quan trọng để đạt được các mục tiêu trongcuộc sống của mỗi cá nhân, có học vấn tốt thì mới có nhận thức tốt, kỹ năngtốt và do đó mới có thể có những công việc với thu nhập đảm bảo cho cuộcsống Đồng thời xét trong bối cảnh nền kinh tế tri thức hiện nay và trongtương lai thì học vấn lại sẽ càng là một yếu tố cần thiết đối với mọi thành viêntrong xã hội
Những học sinh bỏ học hôm nay thì tương lai sẽ sống như thế nào? Làmthế nào để các em có được một công việc trong xã hội, một thị trường laođộng ngày càng đòi hỏi phải có tri thức và tay nghề cao trong tương lai? Các
em chắc chắn sẽ bị loại ra bên lề xã hội và khi không thể tiếp cận được với cácphương tiện hợp thức để kiếm sống thì chắc chắn các em sẽ dùng đến cácphương tiện phi hợp thức và phi pháp để tồn tại
Quan điểm của PGS.TS Trần Xuân Nhĩ Chủ tịch Hội khuyến học ViệtNam hiện tượng HS bỏ học dù ít cũng phải chống Hội Khuyến học Việt Nam
đã có chương trình khá hiệu quả để chống bỏ học và hạn chế lưu ban Sở dĩHội Khuyến học coi đây là chương trình trọng điểm vì đối tượng bỏ học, lưuban là đội quân trù bị của ma tuý và tệ nạn xã hội Chống tệ nạn xã hội theocách hiện tại là chống trên ngọn Do đó, muốn hiệu quả phải chống từ gốc và
là trách nhiệm chung của toàn xã hội (Nguồn báo Hà Nội mới 19/3/2008)
Theo GS.VS Phạm Minh Hạc: cần phải hiểu, học sinh là trung tâm của sự
nghiệp giáo dục và đào tạo, cho dù chúng ta có xây nhiều trường lớp, tuyểnnhiều thầy cô giáo nhưng không có học sinh tới trường thì đó là điều hết sứckhông bình thường Trên thế giới, tiêu chí đầu tiên để đánh giá ngành giáo dục
Trang 24chính là số lượng học sinh tới trường Vì vậy, nếu có ai đó công tác trongngành GD- ĐT cho rằng học sinh bỏ học không phải chuyện mới, có thể coi
đó là sự vô trách nhiệm, muộn cũng còn hơn không Ngay lập tức phải coi tìnhtrạng học sinh bỏ học chẳng khác nào tín hiệu SOS, ngang với thiên tai, hoả
hoạn, lũ lụt (Nguồn Báo Lao động & Xã hội, số 35, ngày 20/3/2008)
1.3.2 Vị trí, chức năng quản lý của hiệu trưởng trường THPT
1.3.2.1 Vị trí trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục THPT là cấp cuối cùng của bậc giáo dục phổ thông, giáo dụcTHPT được thực hiện trong 3 năm từ lớp 10 đến lớp 12 Là cấp học nối tiếp cấpTHCS và có trách nhiệm hoàn thành việc đào tạo tiếp thế hệ học sinh đã quacác cấp, bậc học trước đó của nhà trường phổ thông Đây là cấp học vừa trựctiếp tạo nguồn cho bậc Cao đẳng, Đại học nói riêng vừa góp phần quan trọngvào việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đạihóa nước nhà
Giáo dục THPT có tầm quan trọng đặc biệt Nó là nền tảng văn hóa củamột nước, sức mạnh tương lai của một dân tộc Một dân tộc có phát triển đượchay không là nhờ ở tiền đề và cơ sở của giáo dục phổ thông có vững chắc haykhông Sự vững chắc đó bao gồm tính phổ thông, tính hiện đại, tính ứng dụngthực tiễn, tính dân tộc Nền tảng giáo dục phổ thông càng quan trọng đối vớimột con người, một nhân cách Nó là cơ sở đi suốt cuộc đời của một conngười, là tiền đồ cơ bản nhất cho việc học tập liên tục thường xuyên và suốtđời Giáo dục phổ thông là cốt lõi của sự phát triển của mỗi con người
Luật giáo dục ghi rõ “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh pháttriển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỷ năng cơ bảnnhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách vàtrách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộcsống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Giáo dục phổ thông càng quan trọng thì giáo dục THPT càng trở nên quantrọng hơn vì nó phải hoàn thành mọi mục tiêu của giáo dục phổ thông Sự hoàn
Trang 25thành này bao gồm việc bổ sung, củng cố và hoàn thiện những gì đã được học,
đã được hình thành ở những cấp dưới, lớp dưới, tạo cơ sở cho việc phát triểnđầy đủ và chuẩn bị cho cuộc sống, con đường học tập, lao động…mãi mãi vềsau này tạo nền tảng cho quá trình xã hội hóa và cá thể hóa đã, đang và sẽ diễn
ra suốt cuộc đời
Giáo dục THPT diễn ra ở giai đoạn quan trọng nhất của lứa tuổi trưởngthành Ở tuổi sắp trưởng thành này, các em đã có một sự phát triển khá ổnđịnh cả về mặt sinh học và xã hội Cùng với sự phát triển của cơ thể là sự pháttriển của nhân cách qua các bước định hình ở Tiểu học, Trung học cơ sở Sứctrẻ cường tráng tạo nên sự tự tin sự tự khẳng định trong các mối quan hệ xãhội ngày càng mở rộng, trước hết là bước ra vòng ngoài của sự bó hẹp, bébỏng che chở, bảo hộ của gia đình Họ bước vào tuổi thanh niên và sắp bướcvào những bước ngoặt lớn của cuộc đời Trước mắt họ là những dự cảm vềtương lai, với những kế hoạch sống, những bước đi mới với những ước mơhoài bão lớn, những mộng tưởng tươi sáng đầy sức hấp dẫn Khi ngồi trên ghếnhà trường THPT họ ý thức rằng, mình đang chuẩn bị cho sự cất cánh vớinhững hy vọng lớn lao, nhưng khi trở về với miếng đất hiện thực, họ khôngkhỏi lo lắng trước những khó khăn trở ngại mà trước mặt là những thử tháchcủa các kỳ thi, những tường rào mà họ phải vượt qua để tiếp con đường họctập hoặc bước vào cuộc đời mà họ chưa thể hình dung rõ nét Những năm cuốicủa trường phổ thông thực sự lý thú, sẽ hết mực nuối tiếc nếu phải đi qua,nhưng lại vô cùng quyết định trong suốt những bước đường đời Quả là nhiềutâm trạng vui và buồn, phấn khởi và lo toan Trừ một số nhỏ vô tâm hoặc quenthói ỷ lại, sống nhờ vào gia đình hoặc buông trôi cho dòng đời thì hầu hết các
em THPT tâm niệm một ý chí “quyết thắng” trong trận đánh đầu đời này Giáodục giáo dục THPT mang tính quyết định thực sự với bước trưởng thành củamột con người.Vì vậy mà không chỉ cá nhân họ, cả gia đình, người thân và cả
xã hội trong đợi ở họ, đặt niềm tin và hy vọng Họ sẽ là yếu tố quyết địnhtương lai, là tiềm năng là nguồn lực, là sức sống của tương lai Sự thành đạt
Trang 26của họ trên bước đường lập thân, lập nghiệp, trước hết là vấn đề của bản thân
họ, nhưng đồng thời gắn bó với quyền lợi, tương lai của gia đình, cộng đồng
và xã hội
1.3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của trường THPT.
Điều 3 điều lệ trường trung học “ Tổ chức giảng dạy và các hoạt độnggiáo dục khác theo chương trình giáo dục Trung học do bộ Giáo dục & Đàotạo ban hành Tiếp nhận học sinh, vận động học sinh bỏ học đến trường, thựchiện kế hoạch giáo dục cơ sở trên phạm vi cộng đồng theo quy định của nhànước Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh Quản lý sử dụng đất đai,trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật Phối hợp vớigia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt độnggiáo dục Tổ chức giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xãhội trong phạm vi cộng đồng Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theoquy định của pháp luật” (Điều lệ trường THPT)
Giáo dục THPT tạo nguồn cho việc đào tạo nhân lực, nhiều năm trướckhi đổi mới, chúng ta đã lo lắng về nguồn nhân lực cho công cuộc kiến thiếtđất nước, trước hết là phát triển kinh tế ngay từ thời đó đã thấy tầm quantrọng của lực lượng học sinh THPT Họ có thể bổ sung ngay vào lực lượng laođộng xã hội Đi vào đổi mới, rồi đi vào kinh tế nhiều thành phần theo cơ chếthị trường theo định hướng XHCN, sự ra đời của thị trường lao động, nhất là
đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước… vấn đề nhân lực nổi lên hàngđầu Giáo dục nói chung, giáo dục THPT nói riêng phải coi việc đào tạo nhânlực là mục tiêu chính yếu, cấp bách Đó là sức mạnh nội sinh để phát triển
1.3.2.3 Nội dung cơ bản của quản lý trường THPT.
Tổ chức một cách khoa học quá trình sư phạm trong nhà trường THPT đạtchất lượng đào tạo tốt và hiệu quả đào tạo cao là nhiệm vụ cơ bản và chủ yếu,thường xuyên và trung tâm của công tác quản lý trường THPT Tổ chức cáchoạt động giáo dục được quy định tại điều 24 điều lệ trường Trung học Côngtác quản lý trường THPT phải kết hợp chặt chẽ các hoạt động giáo dục, phát
Trang 27huy tính tích cực chủ động và tính sáng tạo của giáo viên, học sinh, đồng thờicòn phải tạo được hệ thống các mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò Trongcông tác quản lý nhà trường nhất thiết phải quan tâm đến việc nắm vững, xâydựng bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả các thành tố trong sự thống nhất và tươngứng giữa chúng Đặc biệt là những điều kiện, những nguồn lực để cho các quátrình sư phạm được tồn tại và vận hành, tạo nên chất lượng, hiệu quả giáo dục
và quản lý Trong tình hình kinh tế hiện nay đòi hỏi quá trình sư phạm ở trườngTHPT phải mang tính chất xã hội rộng rãi với sự tham gia tích cực, đầy đủ củatất cả các lực lượng xã hội, các quá trình xã hội, các phương tiện xã hội, thì việcxây dựng các lực lượng vật chất và tinh thần của xã hội, của địa phương đểphục vụ và hình thành một xã hội học tập là một nội dung đặc biệt quan trọngtrong công tác quản lý trường THPT
1.3.2.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc bỏ học của học sinh THPT.
Vấn đề quan trọng và cấp bách hiện nay là tìm cho được giải pháp tối
ưu, có tính khả thi để khắc phục, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng học sinh
bỏ học Đây là việc hoàn toàn xã hội, chứ không của riêng ai Nguyên nhâncủa tình trạng học sinh bỏ học và yêu cầu khắc phục trong mối liên hệ giađình, nhà trường và xã hội
Trách nhiệm của gia đình:
Đây là vấn đề mấu chốt của mối quan hệ Rõ ràng, việc theo dõi, quản lýcủa gia đình đối với con đang đi học cần phải được quan tâm thường xuyên
Sự buông lỏng của gia đình đối với việc này là nguyên nhân chủ yếu làm chohọc sinh lơ là học tập khi có tác động xấu, như bị bạn xấu lôi kéo, bị cuốn hútvào những hoạt động không nằm trong chương trình học tập, rèn luyện Sựlười biếng học tập kéo dài tất nhiên sẽ dẫn đến hậu quả là, học lực nhanhchóng sút kém, không theo kịp bạn học, đâm ra xấu hổ nên bỏ học Để tránhchuyện con mình bỏ học từ lý do trên, từng gia đình phải có trách nhiệm quản
lý, nhắc nhở và thường xuyên giám sát việc học tập, nếu không làm tốt yêu
Trang 28cầu này thì sớm hoặc muộn cũng xảy ra điều đáng tiếc là con, em mình bỏ họcgiữa chừng Đã có rất nhiều gia đình do tập trung làm ăn, phó mặc cho conviệc học và hệ quả là con mình “chơi nhiều, ít học” Đến khi gia đình pháthiện thì đã quá muộn Do đó nhất thiết phải thường xuyên duy trì mới liên hệvới nhà trường, để nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của con, em mình, làm
cơ sở động viên uốn nắn khi cần thiết
Trách nhiệm của nhà trường:
Đây là một mắt xích quan trọng trong mối quan hệ giữa Nhà trường - Giađình – Xã hội, bởi dưới con mắt của học trò, người thầy luôn là mẫu mực vềđạo đức, trình độ, kinh nghiệm sống, học tập và làm việc Ai cũng biết từ baođời nay, người thầy luôn được xã hội tôn vinh và kính trọng, truyền thống tôn
sư trọng đạo luôn là nghĩa cử tốt đẹp của cả cộng đồng dành cho người thầy.Đảng và nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, theo đó đã cónhiều chủ trương, chính sách đầu tư thỏa đáng cho các yêu cầu bảo đảm cho
sự nghiệp trồng người phát triển cả trước mắt và lâu dài Vì vậy trách nhiệmcủa mỗi nhà trường cần phải làm gì để đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân, sựchăm lo của Đảng và nhà nước ? Thiết nghĩ đây là câu hỏi lớn luôn đặt ra đốivới những người làm công tác quản lý hoặc giảng dạy trong các nhà trường.Nhà trường phải không ngừng nghiên cứu, nâng cao chất lượng dạy học, thuhút cho được học sinh vào từng tiết học, môn học, làm sao để cho học sinhcảm thấy “ thèm khát” được đến trường, đựơc nghe thầy giảng dạy Sự tận tụycủa người thầy khi truyền thụ kiến thức cho học sinh là một trong nhữngchuẩn mực đạo đức của người thầy trực tiếp giảng dạy Mặt khác sự chăm lo
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, cùng các thiết bị khác đảm bảo cho họctập, giảng dạy… của người làm công tác quản lý ở mỗi trường chắc chắn tạo
ra một môi trường giáo dục lành mạnh, đạt các tiêu chuẩn quy định, cũng làcách làm cho học sinh, gắn bó yêu mến thầy cô giáo, trường lớp trong suốtthời gian học tập ở trường Thời gian gần đây, dư luận đặc biệt quan tâm đếnnhững vụ việc quan tâm đến những vụ việc phản giáo dục, mà trách nhiệm
Trang 29thuộc về nhà trường như đánh đập, nhục hình học sinh, tiêu cực trong dạythêm, học thêm, trong thi cử gây sự phản ứng và lo ngại cho học sinh, phụhuynh và xã hội Điều đó thật đáng trách thậm chí phải lên án Bên cạnhnhững vấn đề về trách nhiệm của nhà trường như đã đề cập ở trên, việc giữmối liên hệ với gia đình học sinh và các tổ chức xã hội cần phải được đặt rathường xuyên để trao đổi thông tin liên quan đến học sinh.
Theo bà Nguyễn Thị Bình nguyên phó Chủ tịch nước việc bỏ học cónguyên nhân hàng đầu của ngành giáo dục là môi trường giáo dục đã khôngcòn hấp dẫn để cho học sinh ham học, phấn khởi học tập Theo GS DonalB.Holsinger (Đại học Brigham Young, Mỹ- chuyên gia tư vấn cho dự án pháttriển giáo dục, Bộ GDĐT) thì gần một thập kỷ qua UNICEF đã xây dựngkhung lý luận cho hệ thống giáo dục và trường học thân thiện với trẻ, xuấtphát từ các quyền lợi của trẻ em và ông cho đó là mô hình thích hợp cũng làmột trong những giải pháp quan trọng để khắc phục tình trạng bỏ học hiệnnay Đó là:
Đối với các em học sinh, trường học là một môi trường cá nhân và xã hộihết sức quan trọng vậy khi nào trường học được xem là trường học thân thiện ?
Có 5 điều kiện để mỗi trường học trở thành trường học thân thiện Đó là:
Khi tất cả các em được học tập trong môi trường an toàn về thể chất,vững chắc về tinh thần và được phát triển lành mạnh về tâm lý, được giáo dục
về tính trung thực trong học tập và thi cử
Giáo viên là yếu tố quan trọng nhất trong việc đem đến hiệu quả và sựtham gia của học sinh trong học tập
Khi khả năng riêng biệt của từng học sinh được phát hiện, khuyến khích
và hỗ trợ cùng với việc xây dựng văn hóa nhà trường, văn hóa giảng dạy vàphương pháp lấy việc học, người học làm trung tâm
Khi trường học tự vận động một cách chủ động, sáng tạo để có được sựủng hộ, tham gia và cộng tác của gia đình học sinh và cộng đồng, khi nhà
Trang 30trường tham gia tích cực vào việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa,
xã hội của mỗi quốc gia
Khi trường học lấy học sinh làm trung tâm, hoạt động vì lợi ích của họcsinh và quan tâm tới học sinh toàn diện (Bao gồm sức khỏe, tình trạng dinhdưỡng, tình cảm) và những điều đó có thể xảy ra đối với các em trong gia đình
và ngoài xã hội.(Nguồn báo dân trí 15/5/2008)
Trách nhiệm của xã hội.
Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng Địa phương, sự chỉ đạo, quản lýđiều hành của chính quyền cơ sở đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo Rà soát, bổsung hoàn thiện các cơ chế chính sách bảo đảm ngang tầm với yêu cầu của sựnghiệp Giáo dục – Đào tạo trong điều kiện mới.Tổ chức Đoàn thanh niên tăngcường công tác quản lý, giáo dục thanh, thiếu niên, tạo nên nhiều sân chơilành mạnh, thật sự bổ ích thu hút học sinh sau những giờ học ở trường, nhất làtrong dịp hè Đưa các em vào khuôn khổ hoạt động “ Chơi mà học, học màchơi”, giúp các em tránh xa sự quyến rũ của các tệ nạn xã hôi Hội khuyến học
cơ sở phối hợp chặt chẽ với Đoàn thanh niên, trường học… và gia đình họcsinh để thực hiện việc khuyến học, khuyến tài, bàn cách ngăn chặn tình trạnghọc sinh bỏ học, sớm đưa các em trở lại trường, từng trường hợp bỏ học cầntìm hiểu nguyên nhân để giúp đỡ
1.3.2.5 Công tác quản lý của Hiệu trưởng trường THPT
Người đứng đầu trong công tác quản lý trường THPT là Hiệu trưởng.Điều 17 Điều lệ trường Trung học: “Tổ chức bộ máy nhà trường, xây dựng kếhoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học Quản lý giáo viên, nhân viên,học sinh, quản lý chuyên môn, phân công công tác, kiểm tra đánh giá việcthực hiện nhiệm vụ của giáo viên Quản lý và tổ chức giáo dục học sinh”
Vì vậy, để nâng cao công tác quản lý khắc phục tình trạng học sinh bỏhọc, người Hiệu trưởng phải làm tốt các công việc sau:
Xây dựng kế hoạch năm học là cương lĩnh của nhà trường, Xác định mặtmạnh, yếu, thuận lợi, khó khăn về chủ quan, khách quan Xác định mục tiêu
Trang 31cần đạt được về chất lượng giáo dục, duy trì sĩ số học sinh… Nắm chắc cácnguồn lực về giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.
Đề ra các biện pháp cụ thể chỉ đạo thực hiện kế hoạch, nâng cao chấtlượng dạy học là những biện pháp quan trọng để khắc phục tình trạng học sinh
bỏ học
Chỉ đạo hoạt động giảng dạy- giáo dục của giáo viên Nâng cao chấtlượng nhận thức của tập thể về đổi mới phương pháp dạy học, thiết lập mốiquan hệ đúng đắn giữa dạy và học
Tổ chức tốt các hoạt động của tập thể sư phạm Cung cấp cho học sinhhọc vấn toàn diện, kỹ năng và kinh nghiệm sống, giáo dục các em niềm tin,thái độ và những thói quen tích cực đối với cuộc sống, trở thành những côngdân có trình độ văn hóa cao trong hành vi, phù hợp với yêu cầu của sự pháttriển kinh tế - xã hội thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa, kinh tế thị trườngtoàn cầu hóa và hội nhập
Quá trình giảng dạy và giáo dục ở nhà trường được thực hiện nhờ hoạtđộng tự giác và hướng đích của giáo viên Các quan điểm về giáo dục và quản
lý giáo dục trong và ngoài nước, các kinh nghiệm tiên tiến là khởi điểm để xácđịnh phong cách, đặc trưng và nội dung lãnh đạo công tác giảng dạy - giáo dụctrong nhà trường,việc thực hiện nhiệm vụ phức tạp này được đảm bảo bằng sựhiệp đồng hòa hợp của tập thể giáo viên thể hiện trong việc tổ chức hoạt độngcủa tập thể sư phạm nhà trường
Chỉ đạo cụ thể hoạt động giảng dạy của giáo viên.Tìm hiểu khảo sát tìnhhình thực tế về trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáoviên, có kế hoạch bồi dưỡng để không ngừng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ,quan tâm việc đổi mới phương pháp giảng dạy và bồi dưỡng phẩm chất chocán bộ giáo viên
Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
Trang 32Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả những hoạtđộng giáo dục khác trong nhà trường Đó là con đường trực tiếp và thuận lợinhất để giúp học sinh lĩnh hội được tri thức của xã hội loài người
Quản lý hoạt động dạy học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ hoạtđộng dạy và học ở trên lớp, tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ sau đây:
Thầy dạy và trò học nghiêm túc, đầy đủ theo chương trình và kế hoạchđào tạo ở tất cả các lớp, không được coi nhẹ và bỏ học bớt môn học nào, ở bất
cứ lớp nào, chú trọng cả việc dạy lý thuyết và thực hành, đào tạo được thế hệhọc sinh phát triển toàn diện
Xây dựng nề nếp giảng dạy, nâng cao chất lượng ở tất cả các khâu củaquá trình giảng dạy của giáo viên
Xây dựng được phương pháp học tập cho học sinh để học sinh có động
cơ, tinh thần, thái độ học tập đúng đắn,có phương pháp, nề nếp và kỷ luật họctập ở lớp cũng như ở nhà
Để thực hiện nhiệm vụ đó thì điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện, thiết
bị, nguồn kinh phí… đóng vai trò rất quan trọng Vì vậy quản lý hoạt độngdạy và học không chỉ quản lý hoạt động dạy của thầy và hoạt động học củatrò mà còn phải quản lý những điều kiện vật chất- kĩ thuật, nguồn lực kinh phí
để phục vụ cho quá trình dạy và học ở nhà trường
Quản lý hoạt động dạy của thầy
Hoạt động dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học.Quản lý hoạt động này bao gồm: Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên, quản lý việc thực hiện chương trình dạy học, quản lý việc soạn bài
và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên, quản lý việc dự giờ và phân tích bài học
sư phạm, quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh,quản lý việc bồi dưỡng và phụ đạo học sinh…
Quản lý hoạt động dạy của thầy là quản lý một quá trình chủ đạo của thầytrong quá trình dạy học, đòi hỏi hiệu trưởng nhà trường phải hiểu hết nộidung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết định quản lý vừa mang tính
Trang 33nghiêm túc, chính xác, nhưng lại vừa mềm dẽo linh hoạt để đưa hoạt động dạycủa thầy vào nề nếp kỷ cương vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa họccủa giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
Quản lý hoạt động học của học sinh.
Việc quản lý hoạt động học tập của học sinh phải được thực hiện đầy đủtoàn diện và mang tính giáo dục cao Nội dung cơ bản của nó bao gồm:
- Quản lý việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh
Phương pháp học tập là hệ thống các cách sử dụng hết sức quan trọngtrong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh Vì vậy, quản lý việc giáodục phương pháp học tập cho học sinh cần phải đạt được những yêu cầu chủyếu sau đây:
Làm cho học sinh nắm được kỹ năng chung của hoạt động học tập
Làm cho học sinh có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn
Giúp học sinh có phương pháp học tập ở lớp, ở nhà
Để đạt được những yêu cầu trên hiệu trưởng phải tổ chức học tập nghiêncứu, bồi dưỡng để toàn thể giáo viên trong nhà trường nắm vững và thốngnhất các phương pháp học tập và trách nhiệm của các thành viên trong nhàtrường với việc hướng dẫn phương pháp học tập cho học sinh Từ đó hiệutrưởng vạch ra kế hoạch chỉ đạo thực hiện và thường xuyên kiểm tra đôn đốc,điều chỉnh, uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai lệch nhằm thực hiện có hiệuquả việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh
- Quản lý nề nếp, thái độ học tập của học sinh.
Nề nếp học tập, kỷ luật học tập của học sinh là những điều quy định cụ thể
về tinh thần, thái độ, hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được hoạtđộng nhịp nhàng và có hiệu quả Nề nếp học tập sẽ quyết định nhiều kết quả họctập Vì vậy cần xây dựng và hình thành được những nề nếp học tập sau đây:
Phải xây dựng cho học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyêncần, chăm chỉ, có nề nếp học bài và làm bài đầy đủ
Trang 34 Giúp học sinh có nề nếp tổ chức hoạt động ở trường cũng như ở nhà
và những nơi sinh hoạt văn hóa…
Nề nếp sử dụng, bảo quản và chuẩn bị đồ dùng học tập
Xây dựng được nề nếp về khen thưởng và kỷ luật, nề nếp chấp hànhnội quy nhà trường
Nề nếp học tập tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Vì vậy hiệutrưởng nhà trường cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra nhận xét tình hình thựchiện nề nếp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên để phối hợpthực hiện, tạo bầu không khí thuận lợi cho sự giáo dục của nhà trường
- Quản lý các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí.
Đây là yêu cầu quan trọg đối với hiệu trưởng trong việc quản lý việc họctập của học sinh Các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí phải được tổ chứcmột các hợp lý, phù hợp với tâm lý, sức khỏe của học sinh Đòi hỏi hiệutrưởng phải cân nhắc, tính toán, điều chỉnh để có sự cân đối các hoạt độnghàng tháng, học kỳ, tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt độnggiáo dục hướng nghiệp
Tránh tình trạng lôi kéo học sinh vào những hoạt động, những phong tràobất thường làm gián đoạn việc học tập của học sinh, xáo trộn chương trình và
kế hoạch hoạt động của nhà trường
Tại hội nghị tổng kết năm học 2007-2008, triển khai nhiệm vụ năm học2008-2009 tại Hải Phòng PTT-BT Nguyễn Thiện Nhân nhận định: Xây dựngtrường học thân thiện, học sinh tích cực là một trong những giải pháp tích cực
để khắc phục tình trạng bỏ học, ông nói “Vấn đề là môi trường đi học Họcphải thấy vui mới không bỏ học Trong trường học thân thiện có môi trườngxanh, sạch, đặc biệt có nhà vệ sinh Phấn đấu tất cả các trường học dứt điểmtrong năm học 2008 – 2009 đều có nhà vệ sinh Một điểm nữa là thầy cô giáokhi giảng dạy phải đổi mới phương pháp dạy học, chăm lo cả hai đầu: HS khágiỏi và đặc biệt bồi dưỡng HS yếu kém để các em có thể vươn lên và khôngchán nản sau này Bên cạnh đó tăng cường vui chơi chủ động lành mạnh hơn
Vídụ như miền núi rất phù hợp với việc đưa trò chơi dân gian vào trong nhà
Trang 35trường Đồng thời, tổ chức các hoạt động ra ngoài phạm vi nhà trường, gắnvới chăm sóc di tích văn hóa lịch sử Chương trình này ngành giáo dục khônglàm một mình mà đã bàn với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Đoàn, Đội có kinhnghiệm tổ chức thu hút các em Thông qua hoạt động tổng hợp này, chúng tôi
tin rằng trong năm học tới HS bỏ học sẽ giảm hơn”(Báo Dân trí 1/8/2008)
- Quản lý việc phân tích đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Phân tích, đánh giá kết quả học tập của học sinh là yêu cầu cần thiết trongquản lý của hiệu trưởng Điểm số của học sinh phải được cập nhật, các bàikiểm tra 15 phút, 1 tiết trở lên phải được trả cho học sinh đúng thời gian quyđịnh của ngành giáo dục, Giáo viên phải chấm kĩ, có nhận xét, phát hiệnnhững lỗi thường gặp, chữa tại lớp để rút kinh nghiệm
Căn cứ vào điểm số, dự giờ thăm lớp để phân tích đánh giá kết quả họctập của học sinh thường xuyên hàng tháng Nội dung cần tập trung vào nhữngvấn đề chủ yếu là:
Tình hình thực hiện nề nếp học tập, tinh thần thái độ học tập, sựchuyên cần và kỷ luật học tập của học sinh
Kết quả học tập các môn học, về điểm số, tình hình kiểm tra, nhậnxét đánh giá của giáo viên về tình hình học tập của học sinh
Chất lượng học tập của học sinh ở các môn học, các yêu cầu kỹ năngđạt được của học sinh qua các môn học
Những kết luận sau khi phân tích sẽ giúp cho Hiệu trưởng có nhữngthông tin phản hồi Đánh giá đúng chất lượng dạy học hiện tại của nhà trường.Trên cơ sở đó để có những quyết định quản lý chính xác, kịp thời
- Phối hợp các lực lượng giáo dục quản lý hoạt động học
tập của học sinh.
Phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường (cha mẹ học sinh, chínhquyền, đoàn thể xã hội, các tổ chức cá nhân,… ở địa phương) trong quá trìnhgiáo dục học sinh nhằm khép kín, đảm bảo tính thống nhất liên tục và toàn vẹncủa quá trình dạy học Thực hiện việc phối hợp với các lực lượng giáo dụcngoài nhà trường là việc làm cần thiết để đảm bảo hiệu quả giáo dục
Trang 36Hiện nay, công cuộc đổi mới đất nước bắt đầu đạt được những kết quảđáng phấn khởi, làm thay đổi bộ mặt xã hội Song mặt trái của nền kinh tế thịtrường cũng làm cho môi trường xã hội nảy sinh những quan hệ phức tạp, ảnhhưởng không nhỏ đến giá trị, tư tưởng tình cảm và hành vi của thế hệ trẻ Bởivậy hơn lúc nào hết, nhà trường nói chung, phải thực hiện tốt nhiệm vụ phốihợp với các lực lượng ngoài nhà trường nhằm thống nhất tác động giáo dụccủa toàn xã hội đến học sinh
Quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là sự kết hợp tácđộng qua lại một cách biện chứng giữa ba lực lượng giáo dục Một mặt nhàtrường đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục học sinh mặt khác nhà trườngcần giúp đỡ,hỗ trợ cụ thể cho các bậc phụ huynh trong việc giáo dục con cái.Với tư cách là chủ thể giáo dục, gia đình tiêu biểu là các bậc cha mẹ có tráchnhiệm chủ động hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục con em mình tránh
tư tưởng khoán trắng cho nhà trường hoặc tự đề ra những yêu cầu đi ngược lạimục tiêu giáo dục của nhà trường quy định
Bên cạnh sự quản lý phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường gia đình khôngthể không nói tới giáo dục của xã hội, trách nhiệm của xã hội đối với sựnghiệp giáo dục thế hệ trẻ để cùng nhau góp phần xây dựng, bảo vệ trật tự, anninh địa phương, tổ chức cho học sinh học tập, rèn luyện, vui chơi lành mạnh,phòng chống các tệ nạn xã hội nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhâncách học sinh, xây dựng cơ sở vật chất tạo điều kiện thuận tiện cho các hoạtđộng giảng dạy, giáo dục của học sinh
Biết tập hợp mọi lực lượng xã hội trong giáo dục học sinh, hỗ trợ họcsinh, chắc chắn mỗi nhà trường sẽ hạn chế được tình trạng học sinh bỏ họcđang nóng lên trong giai đoạn hiện nay đặc biệt là những vùng miền khó khănnơi mà tỷ lệ học sinh bỏ học đã đến lúc báo động
GS Nguyễn Mậu Bành, Hội Khuyến học, Hội Cựu Giáo chức Việt Namcũng đã thay mặt những người đã từng gắn bó và hiện vẫn quan tâm đến sựnghiệp giáo dục khẳng định: các nhà giáo về hưu, các hội viên Hội Khuyến
học, Hội Cựu giáo chức sẵn sàng tham gia hỗ trợ học sinh khó khăn như vận
Trang 37động các em ra lớp, dạy phụ đạo học sinh yếu kém Vấn đề là ngành giáo dụcchưa gõ cửa các tổ chức này và vẫn đang loay hoay về vấn đề chuyên môn,trong khi đây là vấn đề xã hội
(Báo Hà Nội Mới 14/4/2008)
Tiểu kết chương 1:
Thời gian gần đây dư luận đang nóng lên vì những thông tin học sinh bỏhọc Tình trạng học sinh bỏ học hàng loạt đang gia tăng trên các địa phươngkhiến những ai có tâm huyết với giáo dục không khỏi trăn trở, nhức nhối
Bộ Giáo dục & Đào tạo đã thừa nhận nguyên nhân của tình trạng bỏ học tăngđột biến là do siết chặt kỷ cương trong thi cử, đánh giá, nhất là đối với học sinh cóhọc lực yếu Ngoài ra còn có một số nguyên nhân cố hữu khác như hoàn cảnh khókhăn, nhà quá xa trường, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng cao…Từ nămhọc trước, ngành giáo dục và các cấp chính quyền, đoàn thể đã có những giải pháp
để ngăn chặn tình trạng này song hiệu quả chưa như mong muốn
Thực tế đó, đòi hỏi ngành giáo dục và các cấp chính quyền phải đẩymạnh hơn nữa những giải pháp đã mang lại hiệu quả, mặt khác nghiên cứunhững giải pháp mới phù hợp với thực tiễn địa phương
Có nghịch lý nào chăng khi mà việc đến trường không còn là quyền lợichính đáng, là điều tự giác, là niềm vui, niềm hạnh phúc của con em chúng ta?Nền giáo dục phổ cập, đại chúng là một biểu hiện của tính ưu việt của chế độchúng ta mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh gian khổ, hy sinh xươngmáu mới dành được, nhà nước và nhân dân phải đầu tư biết bao nhiêu côngsức, tiền của mới có được hàng triệu giáo viên và hệ thống nhà trường phổthông trên cả nước
Vấn đề học sinh bỏ học là vấn đề lớn đòi hỏi cả gia đình, nhà trường, ngànhgiáo dục, chính quyền các địa phương và toàn thể xã hội quan tâm giải quyết
Là cán bộ quản lý THPT vùng khó, nơi mà tình trạng bỏ học ngày càngnhiều đang là nỗi lo cho ngành giáo dục và các đơn vị trường học Nghiên cứu
lý luận, tìm nguyên nhân và các giải pháp hữu hiệu và phù hợp với thực tiễn
Trang 3838địa phương nhằm hạn chế tình trạng bỏ học là một nhiệm vụ cấp thiết trongtình hình hiện nay.
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG NHẰM KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT VÙNG KHÓ HUYỆN DI LINH,
Do đặc điểm của địa hình, địa chất và khí hậu, vùng đất Di Linh phùhợp với việc phát triển cây công nghiệp như cà phê, chè, dâu tằm Ngoài ra DiLinh còn có tiềm năng để phát triển du lịch và xây dựng hệ thống thủy điện
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa- xã hội
Về hành chính huyện Di Linh gồm 17 xã và 1 thị trấn
Về dân cư, năm 1975 dân số toàn huyện có trên 36.000 người, đến nay
có hơn 160.000 người với trên 20 dân tộc, trong đó các dân tộc thiểu số gốcTây Nguyên chiếm 36% dân số
Nhân dân các dân tộc huyện Di Linh hầu hết từ các nơi khác đến lậpnghiệp, nhưng đều có tinh thần yêu nước cùng nhau đoàn kết chống giặc ngoạixâm và xây dựng quê hương Đời sống nhân dân nhất là những vùng khángchiến gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, phong tục tập quán và trình độ canh táccòn lạc hậu, thiếu vật tư, giống, phân bón và vốn
Trang 40Trên lĩnh vực văn hóa-xã hội, tỷ lệ người mù chữ còn cao, cơ sở vậtchất, trường lớp, đội ngũ giáo viên còn thiếu Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ
sở còn nghèo nàn, đội ngũ cán bộ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữabệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân Tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn
xã hội còn nhiều phức tạp
Chính sách xóa đói giảm nghèo và chăm lo phát triển toàn diện vùngđồng bào dân tộc đã và đang thực hiện một cách có hiệu quả tuy nhiên tỷ lệ hộnghèo vẫn còn cao (15%)
Chất lượng và hiệu quả giáo dục THPT ngày càng được nâng cao Độingũ giáo viên THPT từng bước đáp ứng các yêu cầu đủ về số lượng, hợp lý,
có phẩm chất đạo đức và phẩm chất chính trị tốt, một bộ phận đạt năng lựcchuyên môn khá tốt
Cơ sở vật chất, trường lớp, trang thiết bị phục vụ dạy học được chútrọng đầu tư bước đầu đảm bảo nhu cầu học tập của học sinh
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, giáo dục THPT huyện
Di Linh vẫn còn một số hạn chế sau:
Chất lượng giáo dục học sinh bậc THPT có nhiều chuyển biến tốt songchưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội Khả năng thực hành của họcsinh còn yếu, Giáo viên còn nặng về lý thuyết với mục đích khoa cử mà ít gắnvới thực hành, việc giáo dục đạo đức, chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng