1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng vận dụng quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian qua và một số giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở việt nam trong thời gian tới 1

29 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng vận dụng quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian qua và một số giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở Việt Nam trong thời gian tới 1
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 25,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2.Yêu cầu của quy luật giá trị: Yêu cầu chung của quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.Hao phí lao động xã hội cần

Trang 1

Lời mở đầu

Đất nước ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ,nhân dân ta bướcvào thời kì xây dựng CNXH trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn Chiếntranh ,tàn dư của chế độ phong kiến ,những tư tưởng quan liêu bao cấp,… đã kìmhãm sự phát triển nền kinh tế trong thời gian dài Trước tình hình đó ,công cuộc đổimới đất nước đã được khởi động vào đầu những năm 80 và thực sự bắt đầu vào năm

1986 Cho đến nay nền kinh tế đã đạt được một số thành tựu, chuyển từ nền kinh tếbao cấp sang nền kinh tế thị trường Trong hoàn cảnh mới, những nhận thức về kinh

tế thị trường cần được xem xét lại một cách đúng đắn

Quy luật giá trị là quy luật căn bản của nền kinh tế hàng hóa Quy luật giá trịđóng vai trò quan trọng trong mọi giai đoạn của sản xuất hàng hóa Kinh tế thịtrường là giai đoạn phát triển cao của sản xuất hàng hóa Khi chuyển sang kinh tế thịtrường, quy luật giá trị cần phải được nhận thức và vận dụng

Trang 2

Nội Dung Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quy luật giá trị trong nền KTTT.

1.1.Nội dung quy luật giá trị:

1.1.1.Sự phát triển các quan điển về giá trị:

Giá trị là một phạm trù cơ bản cùa kinh tế chính trị học.Sự khác nhau về quanđiểm giá trị thể hiện sự phát triển của nền kinh tế và kinh tế chính trị học Đó là mộttrục xuyên suốt trong các học thuyết của các nhà kinh tế từ xưa đến nay.Nó khôngchỉ phản ánh mặt chất mà còn phản ánh cả mặt lượng của hàng hóa

Trường phái trọng nông trong "lý thuyết về sản phẩm thuần túy" cho rằng: giá trịđược tạo ra trong sản xuất nghưng chỉ có sản xuất nông nghiệp mới tạo ra sản phẩmthuần túy vì nông nghiệp được sự giúp đỡ của tự nhiên

William Petty là người đầu tiên đưa ra cơ sở của giá trị là lao động Ông viết:"Mộtngườinào đó trongthời gian lao động khai thác được1 ounce bạc và cùng thời gian đósản xuất được một barel lúa mì,thì một ounce là giá cả tự nhiên của barel lúa mì." Đến Adam Smith, ông cho rằng mọi sản xuất đều tạo ra giá trị ông đo giá trị bằnghao phí lao động trung bình.Nhưng ông nhầm lẫn giữa giá trị và sự phân chia giá trị.Ông viết:"Tiền lương,lợi nhuận, địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập vàcũng la 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị trao đổi"

Ricardo là người đưa kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh lên đến đỉnh cao nhưngkhông thể đến cùng được ông đã giải quyết các vấn đề kinh tế theo quan điểm giátrị-lao động Ông đua ra công thức giá trị:c1+v+m nhưng chưa giải thích đượctại saoc1 chuyển vào sản phẩm

Trang 3

Bộ "Tư Bản" của Mác ra đời đánh dấu sự phát triển vượt bậc của lí luận kinh tếchính trị học.Trong lí thuyết của Mác, Mácđã khám phá ra tính hai mặt của sản xuấthàng hóa.Từ đó Mác phân biệt giá trị và giá trị sử dụng, đưa ra công thức tính giá trị:

c + v + m

Các nhà kinh tế học sau Mác chủ yếu nghiên cứu biểu hiện của giá trị trên thịtrường, không đi sâu vào bản chất giá trị.Nội dung nghiên cứu là: Ích lợi chủ quan,giá cả và quy luật cung cầu,tăng trưởng kinh tế,…

Qua nghiên cứu quan điểm của các nhà kinh tế về giá trị,ta thấy được ý nghĩa củaphạm trù giá trị với nền kinh tế Mác đã khái quát thành quy luật giá trị Đây là quyluật cơ bản của nền kinh tế thị trường

1.1.2.Yêu cầu của quy luật giá trị:

Yêu cầu chung của quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên

cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.Hao phí lao động xã hội cần thiết là hao phílao động cá biệt nhưng được xã hội thừa nhận.Trong nền kinh tế hàng hóa,mỗi ngườisản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình nhưng giá trị hàng hóakhông được quyết định bởi lao động cá biệt của từng người sản xuất mà là hao phílao động xã hội.Người sản xuất muốn bán được hàng hóa thì phải có hao phí laođộng cá biệt nhỏ hơng hao phí lao động xã hội cần thiết thì mới có lãi

Trong trao đổi hàng hóa cũng phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết,nghĩa là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá

Quy luật giá trị là trừu tượng nên nó chỉ đượcbiểu hiện thông qua sự vận động củagiá cả hàng hóa.Giá cả hàng hóa trước hết phụ thuộc vào giá trị.Hàng hóa có giá trịcao thì giá cả cao và ngược lại.Tuy nhiên trong nền KTTT,giá cả không chỉ phụthuộc vào giá trị mà còn phụ thuộc vào cung cầu, cạnh tranh, sức mua của đồng tiền,

…Vì thế giá cả không hoàn toàn bàng giá trị mà nó dao động lên xuống xung quanh

Trang 4

trục giá trị.Như vậy giá cả thị trường không chỉ chịu sự điều tiết của quy luật giá trị

mà còn phụ thuộc vào các quy luật thị trường.Nhờ có giá cả thị trường mà quy luậtgiá trị phat huy tác dụng

Qua nghiên cứu yêu cầu của quy luật giá trị ta cần lưu ý một số vấn đề:

Quy luật giá trị của Mác nghiên cứu nhằm tìm ra quy luật sản xuất giá trị thặng dưtức quy luật căn bản của Chủ Nghĩa Tư Bản, nhăm chỉ ra bản chất bóc lột của ChủNghĩa Tư Bản.Vì vậy quy luật giá trị chỉ là xuất phát điểm khi nghiên cứu giá cả.Nókhông thể làm cơ sở để phân tích tăng trưởng kinh tế theo thời gian.Nó cũng khôngphải là yếu tố quyết định duy nhất của giá cả thị trường ngoài ra còn có cungcầu,tâm lý người tiêu dùng… ảnh hưởng đến giá cả.Mặt khác do thời điểm Mácnghiên cứu quy luật giá trị là cuối thế kỉ XVIII,đầu thế kỉ XIX nên tình hình kinh tế

xã hội khác xa so với bây giờ.Vì thế,khi vận dụng nó phải gắn với hoàn cảnh kinh tế

xã hội để có những điều chỉnh đúng

Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong các giai đoạn khác nhau và vai tròđối với mỗi phương thức sản xuất khác nhau thì khác nhau mặc dù nó là quy luật cơbản của mọi giai đoạn của nền sản xuất hàng hóa.Chúng ta hãy nghiên cứu để thấy

sự khác biệt đó trongcác giai đoạn của KTTT

1.2.Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong nền KTTT:

1.2.1.Biểu hiện trong nền kinh tế tự do cạnh tranh:

 Sự chuyển hóa giá trị thặng dư thành lợi nhuận:

Để tiến hành sản xuất thì người sản xuất phải bỏ ra Tư Bản để mua tư liệu sảnxuất (c) và thuê sức lao động (v) Người ta gọi tổng của chúng là chi phí sản xuất

Trang 5

(k = c + v).Khi phạm trù chi phí sản xuất được hình thành thì trong công thức giá trịphần dôi ra ngoài chi phí sản xuất gọi là lợi nhuận của người sản xuất.Như vậy giátrị thặng dư chuyển hóa thành lợi nhuận (p)

 Sự hình thành lợi nhuận bình quân:

Trong nền KTTT cơ chế cạnh tranh giữ vai trò quan trọng.Cạnh tranh chính lànguyên nhân chuyển hóa lợi nhuận thành lợi nhuận bình quân.Cạnh tranh bao gồm:Cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành

Cạnh tranh nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành,cùng sản xuất ra một loại hàng hóa nhằm đạt mục đích tìm nơi tiêu thụ và tiêu thụnhiều hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch Để làm được điều này các nhà sản xuất phảithường xuyên cải tiến kĩ thuật công nghệ nâng cao trình độ quản lý để nâng cao năngsuất lao động nhằm có được chi phí lao động cá biệt nhỏ hơn chi phí lao động xãhội Khi đó ngoài lợi nhuận thông thường còn thu được một khoản lợi nhuận khác dochênh lệch giá trị gọi là lợi nhuận siêu ngạch.Kết quả của cạnh tranh nội bộ ngành làlàm cho tỷ suất lợi nhuận giảm xuống.Khi đó các nhà sản xuất lại phải tiếp tục cảitiến kĩ thuật để giảm giá trị cá biệt.Quá trình cạnh tranh sẽ diễn ra liên tục

Không chỉ cạnh tranh nội bộ ngành,các nhà đầu tư còn cạnh tranh giữa các ngành.Trong nền sản xuất có nhiều ngành kinh tế Mỗi ngành sản xuất do điều kiện sảnxuất, cấu tạo Tư Bản khác nhau nên tỷ suất lợi nhuận cũng khác nhau Vì thế các nhàđầu tư phải lựa chọn lĩnh vực đầu tư sao cho cùng một số vốn ban đầu thu được lợinhuận cao nhất.Cạnh tranh giữa các ngành thự chất là cạnh tranh giữa các nhà TưBản ở các ngành sản xuất khác nhau,giữa các lĩnh vực kinh doanh khác nhau Mụcđích cạnh tranh giữa các ngành là nhằm tìm nơi đầu tư có lợi tức là có tỷ suất lợinhuận cao Phương thức để đạt được mục đích này là tự do di chuyển Tư Bản từngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao Vì vậy nền sảnxuất phải có những điều kiện sau: Nền sản xuất phát triển với nhiều ngành khác

Trang 6

nhau, có sự liên hệ rộng rãi giữa các ngành sản xuất, quan hệ tín dụng phát triển giúpcho các nhà Tư Bản tự do điều chỉnh vốn.

Kết quả của cạnh tranh giữa các ngành là bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận hìnhthành lên tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân Đó là vì khi di chuyển

Tư Bản từ ngành này sang ngành khác làm cho lượng cung hàng hóa trở lên lớn hơnlượng cầu hàng hóa và giá cả giảm xuống,lợi nhuận giảm xuống Còn ngành kia thìlượng cầu hàng hóa lớn hơn so với lượng cung hàng hóa, giá cả tăng,lợi nhuận tănglên Vì vậy lợi nhuận cũng như lợi nhuận bình quân thay đỏi theo hướng bình quânhóa Tỷ suất lợi nhuận bình quân được hình thành và chính bằng tỷ số tính theo phầntrăm giữa tổng giá trị thặng dư xã hội với tổng Tư Bản xã hội đầu tư vào tất cả cácngành,lĩnh vực của nền sản xuất

 Sự chuyển hóa giá trị thành giá cả sản xuất:

Khi xuất hiện lợi nhuận bình quân thì phạm trù giá trị hàng hóa chuyển hóathành giá cả sản xuất Giá cả sản xuất của hàng hóa được tính bằng chi phí sản xuấthàng hóa cộng với lợi nhuận bình quân Ta có công thức: W=k+p

Khi phạm trù giá cả sản xuất được hình thành,giá cả hàng hóa không còn xoayquanh giá trị hàng hóa mà giá cả hàng hóa xoay quanh giá cả sản xuất Xét về mặtlượng, ở mỗi ngành,giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau nhưng xét trêntoàn xã hội thì tổng giá cả sản xuất luôn bằng tổng giá trị hàng hóa Như vậy trongđiều kiện tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện hoạt động thông qua quy luật giá

cả sản xuất

1.2.2.Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện độc quyền:

Độc quyền là hiện tượng có một hoặc một số công ty hay tập đoàn công ty lớn sảnxuất hàng hóa và hàng hóa đó chiếm thị phần lớn trên thị trường Do vậy các công

Trang 7

ty, tập đoàn này có sức mạnh thị trường nên có thể áp đặt giá cả độc quyền để thuđược lợi nhuận độc quyền cao.

Giá cả độc quyền bao gồm chi phí sản xuất, lợi nhuận bình quân, lợi nhuận do độcquyền mà có Xét về thực chất lợi nhuận độc quyền bao gồm: Lao động không côngcủa công nhân ở các xí nghiệp, một phần giá trị thặng dư của các nhà Tư Bản vừa vànhỏ bị mất do thua thiệt trong cuộc cạnh tranh, lao động thặng dư và đôi khi cả mộtphần lao động tất yếu của những người sản xuất nhỏ

Như vậy các tổ chức độc quyền thi hành chính sách giá cả độc quyền thực chất làchiếm đoạt một phần giá trị và giá trị thặng dư của người khác Xét về mặt lượng giá

cả độc quyền có thể cao hơn giá trị ,nhưng xét trên toàn xã hội thì tổng giá cả vẫnbằng tổng giá trị Vậy trong giai đoạn độc quyền quy luật giá trị biểu hiện hoạt độngthông qua quy luật giá cả độc quyền

1.3.Vai trò của quy luật giá trị trong nền KTTT:

1.3.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông:

Điều tiết sản xuất và lưu thông tức là điều hòa ,phân bổ các yếu tố sản xuấtgiữa các ngành ,các lĩnh vực kinh tế Các nguồn lực của một nền sản xuất là khanhiếm so với nhu cầu của xã hội Vì vậy , cần phải phân bổ các nguồn lưc đó mộtcách đúng đắn sao cho đáp ứng được một cách tốt nhất nhu cầu của toàn xã hội trongđiều kiện khan hiếm nguồn lực Thông qua quy luật giá trị ,KTTT làm được điều đómột cách tự giác.Nếu ngành sản xuất nào mà lượng cung nhỏ hơn lượng cầu thìhàng hóa sẽ bán chạy,giá cả sẽ được đẩy lên cao hơn giá trị Người sản xuất sẽ có lãinên sẽ đổ xô vào sản xuất loại hàng hóa đó Như vậy tư liệu sản xuất ,lao động sẽdịch chuyển sang ngành đó Ngược lại ,khi lượng cung vượt lượng cầu thì giá cả

Trang 8

hàng hóa sẽ giảm xuống thấp hơn giá trị ,hàng hóa sẽ bán không chạy và người sảnxuất sẽ bị thua lỗ Khi đó người sản xuất phải thu hẹp quy mô ,chuyên hứơng đầu tưsang ngành khác.

Quá trình điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả,hình thưcbiểu hiện của giá trị Hàng hóa sẽ được điều tiết từ nơi giá thấp đến nơi giá cao.Tức

là mua ở nơi giá thấp, bán ở nơi giá cao Kết quả là làm cho giá cả hàng hóa đươcđiều chỉnh tiến tới cân bằng và quá trình lưuthông diễn ra thong suốt

Không chỉ điều tiết lưu thông và sản xuất ,quy luât giá trị còn có vai trò quantrọng trong viêc phát triển lực lượng sản xuấtxã hội

1.3.2.Kích thích cải tiến kĩ thuật nâng cao hiệu quả quản lý ,nâng cao năng xuất ,phát triển lực lượng sản xuất :

Trong nền sản xuất ,mỗi người sản xuất hoạt động dưa trên một phương thức sảnxuất và điều kiện sản xuất khác nhau nên có một chi phí cá biệt khác nhau Ngườisản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ sẽ có lợi vì thu được lãi cao Vì vậy họluôn tìm mọi cách để cải tiến kĩ thuật cải tiến tổ chức quản lý, mua dây chuyền thiết

bị mới để nâng cao năng suất lao động ngoài ra còn phải thực hiện tiết kiệm chặt chẽ

để giảm chi phí cá biệt Sự cạnh tranh này rất khốc liệt và diễn ra ngày càng mạnhmẽ,mang tính xã hội Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội sẽ được thúc đẩy và ngàycàng phát triển

1.3.3.Tự phát phân hóa người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo:

Quá trình cạnh tranh do quy luật giá trị sẽ dẫn đến một tất yếu là một số ngườisản xuất có kĩ thuật tiên tiến, công nghệ quản lý hiện đại,lợi thế về nguồn nhân lựchay nguyên nhiên liệu sẽ có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội thu được lợi nhuận

và lợi nhuận siêu ngạch nên sẽ trở lên giàu có Đó là phần thưởng dành cho những

Trang 9

người kinh doanh giỏi Ngược lại, những người có kĩ thuật lạc hậu, công nghệ quản

lý kém, gặp rủi ro trong kinh doanh, … có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội sẽ bịthua lỗ và dẫn đến phá sản, trở lên nghèo đi Như thế xã hội có sự phân hóa giàunghèo và dẫn đến bất bình đẳng xã hội Đây cũng là mặt trái của cơ chế thị trường

1.4.Một số vấn đề về sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam:

Hoàn cảnh kinh tế xã hội ở Việt Nam có nhiều điểm khác các nước trên thế giới.Chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp sang kinh tế hàng hóa là yêu cầu tất yếu của đấtnước vì khoảng cách giữa nước ta và các nước trên thế giới là rất lớn mặt khác sựnghiệp xây dựng CNXH chỉ có thể thành công khi nền kinh tế đạt được điều kiệnphát triển nhất định.Vấn đề đặt ra trong việc vận dụng quy luật giá trị ở nước ta làlàm sao phát huy tác dụng của quy luật giá trị đảm bảo định hướng XHCN ,han chế những tác động tiêu cực của quy luật giá trị theo hướng phi XHCN Một mặt nữa làphải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa ba lợi ích :lợi ich cá nhân lơi ích tập thể ,lợi ích

xã hội.Trong giai đoạn trước lợi ích tâp thể và lợi ích xã hội đươc coi trọng quá mứctrong khi đó coi thường lợi ích cá nhân ,vì vậy không tạo động lực cho nền sản xuấtphát triển Bên cạnh đó một vấn đê cân chú ý là việc sử dụng công cụ kế hoạch.Trước đây công cụ kế hoạch đươc sử dụng môt cách không đúng mức.Kế hoạchmang tính tập trung,trên phân cho dưới chỉ tiêu buộc phải hoàn thành Nó đã làm chotăng tính ỷ lại của cáp dưới ,giảm tính năng động Hơn nữa , kế hoạch còn mangtính chủ quan ,duy ý chí không tuân thủ các quy luật của thị trường Khi chuyểnsang giai đoạn KTTT hiện nay phải vận dụng đúng công cụ kế hoạch, kết hợp nó vớicác công cụ thị trường để đạt hiệu quả cao Như vậy trong giai quá độ lên CNXH

Trang 10

hiện nay vấn đề đặt ra là phải giải quyết cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng: ổnđịnh và rối loạn ,có kế hoạch và vô chính phủ ,XHCN và Tư Bản chủ nghĩa

Trong CNXH,quy luật giá trị không phải là sự tái hiện nguyên vẹn của quy luậtgiá trị dưới chủ nghĩa Tư Bản mà nó có những biểu hiên riêng Đối với sản xuấthàng hóa trong thời kì quá độ lên CNXH, quy luật giá trị có những tác dụng sau: -Giúp tính toán để bố trí các nguồn lực trong cả nước,trên cơ sở đó xây dựng hệthống các kế hoạch định hướng phát triển nền kinh tế theo yêu cầu của quy luật giátrị

-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống đòn bẩy kinh tế để khuyến khích các chủ thểhoạt đọng có hiệu quả

-Xây dựng và lựa chọn các phương án có hiệu quả

-Quy luật giá trị là cơ sở để tiến hành phân phối có hiệu quả,là phương thức cơbản để kết hợp các lợi ích trong xã hội

Cũng giống như những quy luật khác ,quy luật giá trị có tác dụng đều tùy thuộcvào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ,trình độ nhận thưc của xã hội,khảnăng vân dụng của mỗi nhà nước Vì vậy, đối với nước ta việc nhận thức và vậndụng cần phải đươc xem xét để vận dụng đúng

Chương 2:Thực trạng vận dụng quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian qua và một số giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở Việt Nam trong thời gian tới:

Trang 11

2.1:Tính tất yếu khách quan của việc vận dụng quy luật giá trị trong nền KTTT ở nước ta:

Trước đây có quan điểm cho rằng quy luật giá trị là quy luật riêng của chủ nghĩa

Tư Bản, không phải là quy luật của chủ nghĩa Xã Hội Một số quan điểm khác chorằng, quy luật giá trị "đã thay đổi" hay đã được "căn bản thay đổi" đối với nền kinh

tế xã hội chủ nghĩa Sta-Lin đã phê phán những quan điểm này:" Người ta không thể

"thay đổi" được các quy luật huống hồ lại nói là thay đổi "căn bản" Nếu có thể thayđỏi quy luật thì cũng có thể xóa bỏ được các quy luật và thay bằng quy luật mới" Như vậy một quy luật kinh tế tồn tại là khách quan, không phụ thuộc vào chế độ

xã hội Quy luật giá trị tác động đến mọi giai đoạn của sản xuất hàng hóa Nước tađang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy nềnkinh tế tất yếu chịu sự tác động của quy luật giá trị

Trong thời kì bao cấp, việc vận dụng quy luật giá trị bị coi nhẹ, giá cả không dựatrên giá trị mà do nhà nước tự định ra Quan hệ hàng hóa-tiền tệ không được chútrọng Nhà nước tiến hành bao cấp sản xuất về vật tư kĩ thuật, đầu ra Nhà nước dặt

ra chỉ tiêu cho các doanh nghiệp buộc họ phải sản xuất với số lượng xác định Giá cảcũng được Nhà nước định giá và việc phân phối thông qua các tem phiếu Vì thế, nó

đã kìm hãm nền kinh tế, tạo sự khan hiếm về hàng hóa, sản xuất không phát triểnmất cân đối trong cơ cấu sản xuất Cuộc khủng hoảng kinh tếcuối những năm 80 làminh chứng rõ ràng về việc thất bại của cơ chế này Trong giai đoạn đổi mới kinh tếhiện nay, chúng ta cần phải nhận thức được các quy luật kinh tế của thị trường, trong

đó có quy luật giá trị để vận dụng tốt chúng

Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường ở nước ta khác các nước xã hội chủ nghĩa ở tínhđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Ở các nước Tư Bản chủ nghĩa lợi ích cá nhân được đặtlên hàng đầu còn trong điều kiện nước ta phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích xã hội, lợi

Trang 12

ích tập thể và lợi ích cá nhân, mặt khác điều kiện kinh tế xã hội nước ta cũng kháccác nước Nước ta đi lên từ một nền sản xuất nhỏ, một nền nông nghiệp lạc hậu, tựcấp, tự túc, lại bỏ qua giai đoạn Tư Bản chủ nghĩa Mục tiêu của chúng ta là một nềnsản xuấtlớn hiện đại làm cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Do vậy những khókhăn gặp phải sẽ rất lớn Nó đòi hỏi trong việc vân dụng quy luật giá trị cần phải có

sự linh hoạt Đó là sự kết hợp giữa quy luật giá trị, các quy luật thị trường và các kếhoạch định hướng của Nhà nước để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững

2.2.Thực trạng vận dụng quy luật giá trị ở nước ta từ giai đoạn đổi mới đến nay:

2.2.1.Tổng quan về nền kinh tế nước ta từ giai đoạn đổi mới đến nay:

 Khảo sát thực trạng nền kinh tế:

Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiêp lạc hậu lại bỏ qua giai đoạnchủ nghĩa Tư Bản nên nền kinh tế bộc lộ nhiều yếu kém Cơ sở vật chất hạ tầng thấpkém, trình độ sản xuất lạc hậu, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nhưng năng suất laođộng trong sản xuất nông nghiệp cũng không cao Công nghiệp và dịch vụ chưa pháttriển Kĩ thuật mang tính thủ công Sản xuất mang tính phân tán nhỏ lẻ Phân cônglao động xã hội chưa sâu sắc, tác phong công nghiệp chưa được hình thành Lựclượng lao động đông nhưng chủ yếu là trong lĩnh vực nông nghiệp Các mối quan hệ

về kinh tế, hàng hóa tiền tệ, thị trường bị thui chột trong giai đoạn nền kinh tế tậptrung bao cấp Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế kém

Quá trình đỏi mới kinh tế thực sự diễn ra vào những năm 80 Trong khoảng haimươi năm này,các quy luật kinh tế nói chung và quy luật giá trị nói riêng đã và đangđược vận dụng vào nền kinh tế Vì vậy nó đã đem lại những hiệu quả bước đầu.Những kết quả đó được biểu hiện thông qua một số mặt sau:

Trang 13

Thứ nhất, nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần.

Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế đối với nước ta là tất yếu khách quan.Thành phần kinh tế tực chất là một kiểu quan hệ sản xuất, Vì vậy nó phải phù hợpvới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất nước ta chưaphát triển nên thành phần kinh tế có tính đa dạng Nó bao gồm cả những thành phầnkinh tế của xã hội cũ để lại chưa kịp cải biến, những thành phần kinh tế mới mangtính xã hội chủ nghĩa và những thành phần kinh tế của giai đoạn quá độ

Việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế sẽ giúp nước ta huy động được tối đa cácnguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế Đó là các nguồn lực về vốn, kĩ thuật, laođộng,…Hơn nữa việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế sẽ dẫn đến có nhiều mối quan

hệ kinh tế, thúc đẩy cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế và các chủ thể trong nội

bộ các ngành kinh tế Do đó cơ chế kinh tế nhiều thành phần sẽ khắc phục tình trạngđộc quyền, tạo ra quan hệ cạnh tranh thúc đẩy cải tiến kĩ thuật và phát triển lựclượng sản xuất Văn kiện đại hội Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:"Chính sáchkinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đilên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mại nhiềuđược tự do làm ăn theo pháp luật"

Nước ta hiện nay có sáu thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể,kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế Tư Bản tư nhân, kinh tế Tư Bản Nhà nước, kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài Mỗi thành phần kinh tế có một vai trò nhất định trong nềnsản xuất, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước được xem là giữ vai trò chủ đạotrong nền kinh tế

Thứ hai, KTTT nước ta đang ở giai đoạn sơ khai nnhưng hệ thống thị trường đãhình thành

Trang 14

Hiện nay chúng ta khó có thể xác định nước ta đang ở hình thái kinh tế nào: kinh

tế tự nhiên , kinh tế hàng hóa hay kinh tế thị trường Ở nông thôn và vùng sâu vùng

xa vẫn còn tồn tại nền kinh tế tự cung tự cấp và du canh Nhưng kinh tế hàng hóa ,kinh tế thị trường cũng đã có.Hàng hóa đươc sản xuất ra và đã đươc trao đổi trên thịtrường Như vậy ,nền kinh tế nươc ta là sự pha trộn của cả ba hình thức.Tuy nhiên,

nó chỉ đang ở giai đoạn sơ khai Nó thể hiện ở cơ sơ vật chất kĩ thuật còn thấp ,phâncông lao động kém phát triển ,sức cạnh tranh của thị trường còn thấp

Măc dầu vậy, hệ thống thị trường nước ta đã hình thành và đang đươc hoàn thiện

Đó là thị trường sức lao động , thị trường tư liệu sản xuất , thị trường tài chính ,thị trường khoa học kĩ thuật, thị trường hàng hóa và dịch vụ,…Nhiệm vụ của các thịtrường này là cung cấp vốn ,kĩ thuật ,các sản phẩm đầu vào cho sản xuất , đồng thờicung cấp hàng hóa ,dịch vụ tới người tiêu dùng

Thứ ba, nền kinh tế nước ta đang hội nhập theo hướng đa phưong hóa đa dạnghóa

Trước đây ,nền kinh tế nước ta là nền kinh tế khép kín Nhưng hiên nay xu thế hộinhập và toàn cầu hóa đã trở thành phổ biến Các nước đèunhan thưc được vai trò củakinh tế đối ngoại Kinh tế đối ngoại một mặt phát huy được lợi thế của nền kinh tế,một mặt huy động được nguồn ngoại lực nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước.Do vậy ,viêc mở rộng quan hệ kinh tế thế giới là một tất yếu trong sựphát triển,khi mà trình độ khoa học kĩ thuật của nước ta còn thấp và trình độ khoahọc kĩ thuật của thế giới cho phép đáp ứng nhu cầu cả về sản xuất lẫn tiêu dùng Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII khẳng định:"Việt Nam mong muốnlàm bạn của các nước " Đến Đại hội Đảng IX ,chủ trương của nước ta là :" ViệtNam sẵn sàng là đối tác tin cậy của các nước" Khuynh hướng hội nhập của nước ta

là gác lại quá khứ ,hướng tới tương lai , đa phương hóa các quan hệ hợp tác quốctế,đa dạng hóa các hình thức hợp tác Tuy nhiên việc mở cửa nền kinh tế phải tuân

Ngày đăng: 31/07/2023, 10:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w