người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quyQuốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợpđồng lao động cho một công việc đã thực hiệ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Tiền lương và tiền thưởng là một vấn đề quan trọng và phức tạp Tiềnlương có tác động qua lại với các yếu tố kinh tế- chính trị xã hội của mộtquốc gia Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, tất cả đều quan tâmđến chính sách tiền lương dưới nhiều góc độ khác nhau
Đối với người lao động, tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của
họ, nó giúp cho họ có thể trang trải các khoản chi tiêu, sinh hoạt hàng ngày.Tiền lương còn là động lực nâng cao năng suất lao động, nâng cao tính sángtạo của người lao đông Đối với doanh nghiệp, tiền lương là một phần quantrọng của chi phí sản xuất, là công cụ quản lý chiến lược nguồn nhân lực vàảnh hưởng tới các chức năng của quản lý nguồn nhân lực Đối với xã hội, tiềnlương cao sẽ giúp cho sức mua của người tiêu dùng cao hơn và điều đó làmtăng sự thịnh vượng của xã hội đó, nó còn đóng góp một phần đáng kể vàothu nhập quốc dân thông qua con đường thuế thu nhập và góp phần làm tăngthu nhập của Chính phủ cũng như giúp cho chính phủ điều tiết được thu nhậpgiữa các tầng lớp dân cư trong xã hội
Vì vậy để quản lý tốt tiền lương, đảm bảo cho người lao động có thu nhập
ổn định để đáp ứng cho cuộc sống của họ thì các nhà quản lý, các tổ chức cóthẩm quyền cần phải có những biện pháp, chính sách phù hợp giúp cho tiềnlương của người lao động không ngừng được cải thiện để họ có thể theo kịp
sự thay đổi của nền kinh tế- chính trị xã hội trong từng thời kỳ Để có thểthực hiện được điều này, cần có sự quan tâm của Nhà nước thông qua cácchính sách vĩ mô
Trong một doanh nghiệp, tùy vào đặc điểm từng ngành nghề, bộ máy quản
lý, cơ cấu tổ chức sản xuất khác nhau sẽ có những phương pháp cũng nhưcách thức trả lương khác nhau sao cho phù hợp nhất đối với doanh nghiệp
Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần tư vấn đường cao tốc Việt
Nam, em nhận thấy công tác trả lương của công ty đã được xây dựng một
cách hoàn chỉnh nhưng vẫn còn đó những thiều sót, những bất cập cần được
bổ sung và chỉnh sửa vì vậy em đã đi sâu nghiên cứu và chọn đề tài: Thực
Trang 2trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tiền lương và thưởng tại Công ty cổ phần tư vấn đường cao tốc Việt Nam
Mục đính nghiên cứu
Việc đi sâu nghiên cứu vấn đề tiền lương tại công ty sẽ cho ta cái nhìntổng quát về những mặt đã làm được, những mặt còn tồn tại cần được giảiquyết trong việc quản lý tiền lương, từ đó kiến nghị những giải pháp, cáchthức nhằm hoàn thiện công tác trả lương tại công ty tốt hơn, hoàn thiện hơn,phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh tế- xã hội
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mà em sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương phápduy vật biện chứng, quan sát, phân tích thống kê dựa trên các số liệu hiện tại
và trong quá khứ của công ty
Phạm vi nghiên cứu
Là việc áp dụng các hình thức trả lương, thưởng tại công ty cổ phần tư vấnđường cao tốc Việt Nam Số liệu nghiên cứu được lấy trong giai đoạn 2008 –2010
Kết cấu của bài báo cáo gồm 3 phần:
Phần 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý tiền lương và các khoản trích theo lương.
Phần 2: Thực trạng công tác quản lý tiền lương và các khoản trích theo lương ở công ty tư vấn đường cao tốc Việt Nam.
Phần 3: Các giả pháp nhằm hoàn thiện về công tác tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần tư vấn đường cao tốc Việt Nam.
Trang 3PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG VÀ TIỀN THƯỞNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG.
Đối với người lao động, tiền lương có vai trò quyết định trong việc ổnđịnh kinh tế gia đình Người lao động dùng tiền lương của mình để trang trảicác chi phí phát sinh hàng ngày như ăn, mặc, ở, giải trí … phần còn lại họdùng để tích lũy Nếu tiền lương được bảo đảm, sẽ tạo điều kiện cho ngườilao động yên tâm phấn khởi làm việc, đó chính là động lực thúc đẩy cho quátrình sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển Không những vậy, tiền lươngcòn ảnh hưởng tới tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Nếu tiền lương khôngđược đảm bảo, người lao động sẽ không thiết tha với công việc của mình, từ
đó họ sẽ nảy sinh tư tưởng chán nản, oán trách xã hội và thậm chí họ cònthiều niềm tin đối với chế độ xã hội đó
1 Khái niệm tiền lương và thưởng.
I.1 Tiền lương.
I.1.1 Khái niệm.
Trong thực tế, ở các nước trên Thế giới, khái niệm về tiền lương rất đadạng Tiền lương có thể có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao lao động, thunhập lao động
Ở Pháp sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bìnhthường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, các khoản thu nhập phụ khác, đượctrả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao độngtrả cho người lao động theo việc làm của người lao động
Ở Đài loan, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhậnđược do làm việc, bất luận là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùngmọi danh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, ngày, tháng, theo sản phẩm.Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO), tiền lương là sự trả công hoặc thunhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa
Trang 4người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quyQuốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợpđồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặcnhững dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Ở Việt Nam trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được hiểu làmột bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù đắp hao phí lao động tất yếu doNhà nước phân phối cho công nhân viên chức bằng hình thức tiền tệ, phù hợpvới quy luật phân phối theo lao động Hiện nay theo Điều 55 - Bộ Luật LaoĐộng Việt Nam hiện hành, tiền lương của người lao động là do hai bên thoảthuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chấtlượng và hiệu quả công việc Mức lương của người lao động không đượcthấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
Còn theo quản trị nhân lực, “tiền lương là số tiền trả cho người lao động tùy thuộc vào số lượng thời gian làm việc thực tế (giờ, ngày), hay số lượng sản phẩm được sản xuất ra, hay tùy thuộc vào khối lượng công việc đã hoàn thành”.
1.1.2 Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế.
Tiền lương danh nghĩa: Là khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sửdụng sức lao động căn cứ vào hợp đồng thoả thuận giữa hai bên trong việcthuê lao động Trên thực tế, mọi mức lương trả cho người lao động đều làlương danh nghĩa, song bản thân tiền lương danh nghĩa lại chưa thể hiệnchính xác những gì mà người lao động nhận được Lợi ích mà người lao độngnhận đựơc ngoài việc phụ thuộc vào mức lương danh nghĩa còn phụ thuộcvào giá cả hàng hoá, dịch vụ nữa
Tiền lương thực tế: Là số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người laođộng có thể mua được bằng tiền lương của mình, sau khi đã đóng các khoảnthuế theo quy định của Chính phủ Chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ nghịch vớichỉ số giá cả và tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa tại thời điểm xácđịnh, điều đó được thể hiện qua công thức:
ILTT = ILDN / IG
Trang 5Trong đó:
ILTT: Chỉ số tiền lương thực tế
ILDN: Chỉ số tiền lương danh nghĩa
IG : Chỉ số giá tiêu dung
Đối với người lao động, mục đích cuối cùng của việc cung ứng sức laođộng là tiền lương thực tế chứ không phải là tiền lương danh nghĩa, vì tiềnlương thực tế mới có khả năng quyết định các lợi ích trực tiếp của họ Về cơbản thì trong hợp đồng lao động, người chủ doanh nghiệp và người lao độngthường ngầm tính, so sánh giữa mức lương đưa ra (tiền lương danh nghĩa)với giá trị sức lao động mà người lao động bỏ ra để đôi bên có thể thống nhấtmột mức lương thích hợp Tuy nhiên, vẫn có sự không ăn khớp, thậm chí có
sự giãn cách khá lớn giữa tiền lương danh nghĩa với tiền lương thưc tế theochiều hướng không có lợi cho người lao động
Khi nền kinh tế đang có lạm phát cao, giá cả hàng hóa tăng, đồng tiền mấtgiá dẫn tới sự giảm sút tiền lương thực tế của người lao động Trong khi đó,những thỏa thuận về mức lương danh nghĩa lại trì trệ, không được điều chỉnhkịp thời, dẫn tới ảnh hưởng đến đời sống của người lao động Đây cũng làvấn đề phổ biến ở mọi nền kinh tế, đó là vấn đề điều chỉnh để có sự ăn khớpgiữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế Trong trường hợp này,Chính phủ cần đưa ra các chính sách phù hợp để mức lương thực tế củangười lao động được bảo đảm, chẳng hạn như khống chế giá cả các mặt hàngthiết yếu, yêu cầu doanh nghiệp phải có biện pháp trợ cấp lương cho côngnhân trong thời kỳ lạm phát cao, quy định mức lương tối thiểu để làm căn cứcho chính sách trả lương của doanh nghiệp Mức lương tối thiểu này có thểđược điều chỉnh khi xét thấy chỉ số giá tiêu dùng thay đổi để có thể đảm bảocho cuộc sống của người lao động
1.1.3 Mức lương tối thiểu
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về mức lương tối thiểu Từ trước đếnnay, mức lương tối thiểu được coi là cái ngưỡng cuối cùng tạo thành hệ thốngtiền lương của một ngành nào đó, hay một hệ thống tiền lương chung chomột quốc gia, là căn cứ để Chính phủ hoạch định các chính sách tiền lương
Trang 6Theo điều 56 bộ luật lao động nước ta, mức lương tối thiểu được ấn địnhtheo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhấttrong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và mộtphần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ đểtính các mức lương cho các loại lao động khác
Theo nghị định 108/2010/NĐ-CP mức lương mức lương tối thiểu trongnăm 2011 theo từng vùng như sau:
1 Mức 1.350.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trênđịa bàn thuộc vùng I
2 Mức 1.200.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trênđịa bàn thuộc vùng II
3 Mức 1050.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trênđịa bàn thuộc vùng III
4 Mức 830.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên cácđịa bàn thuộc vùng IV
Nhìn chung, với bất kỳ quan điển nào đi chăng nữa thì tiền lương khôngthuần túy là vấn đề kinh tế, lợi ích mà nó còn là vấn đề xã hội có liên quantrực tiếp đến các chính sách vĩ mô của nhà nước và mức lương tối thiểu phảiluôn đảm bảo:
- Là ranh giới cuối cùng để có thể bảo trợ cho người lao động trướcnhững sức ép từ doanh nghiệp, nền kinh tế thị trường và bảo đảm chohoạt động sản xuất kinh doanh được bình thường
- Bảo đảm mối liên hệ giữa tăng lương tối thiểu và lương danh nghĩa
- Tạo điều kiện cho người lao động biết được quyền lợi của họ bằng việccông khai mức lương tối thiểu và sự thay đổi của nó
1.2 Tiền thưởng.
Tiền thưởng là một loại kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối vớingười lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn Thưởng córất nhiều loại, trong thực tế các doanh nghiệp có thể áp dụng một số hoặc tất
cả các loại thưởng sau đây:
Trang 7- Thưởng năng suất chất lương: Áp dụng khi người lao động thực hiệntốt hơn mức độ trung bình về số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
- Thưởng tiết kiệm: Áp dụng khi người lao động có sáng kiến, cải tiến
kỹ thuật, tìm ra các phương pháp làm việc mới… có tác dụng nâng caonăng suất lao động, giảm gia thành, nâng cao chất lượng sản phẩm
- Thưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp:
Áp dụng khi doanh nghiệp làm ăn có lãi, người lao động trong doanhnghiệp sẽ được chia một phần tiền lãi dưới dạng tiền thưởng Hìnhthức này được áp dụng trả cho nhân viên vào cuối quý, sau nửa nămhoặc cuối năm tùy theo cách thức tổng kết hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
- Thưởng tìm được nơi cung ứng, tiêu thụ, ký kết được hợp đồng mới:
Áp dụng khi các nhân viên tìm được thêm các địa chỉ tiêu thụ, giớithiệu khách hàng, ký kết được các hợp đồng mới cho doanh nghiệp…hoặc có các hoạt động khác có tác dụng làm tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp
- Thưởng bảo đảm ngày công: Áp dụng khi người lao động làm việc với
số ngày công vượt mức quy định của doanh nghiệp
- Thưởng về lòng trung thành, tận tâm với doanh nghiệp: Áp dụng khingười lao động có thời gian phục vụ trong doanh nghiệp vượt quá mộtkhoảng thời gian nhất định, VD 25-30 năm, hoặc người lao động cónhững hoạt động rõ ràng và làm tăng uy tín cho doanh nghiệp
Cách tính tiền thưởng cũng rất đa dạng Thông thường, các loại tiềnthưởng năng suất, chất lượng, thưởng tiết kiệm, thưởng sáng kiến và thưởngcho nhân viên tìm được khách hàng mới được xác định bằng tỷ lệ phần trăm
so với phần lợi ích mà nhân viên mang lại cho doanh nghiệp Hình thứcthưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp thườngđược hội đồng quản trị doanh nghiệp và giám đốc điều hành ấn định trước,thông báo cho toàn thể nhân viên biết để kích thích mọi người cố gắng làmviệc tốt hơn Các hình thức thưởng bảo đảm ngày công, thưởng về lòng trungthành với doanh nghiệp thường được xác định theo tỷ lệ phần trăm so vớilương cơ bản hoặc quà tặng của doanh nghiệp, chế độ nghỉ phép khuyếnkhích…
Trang 82 Chức năng của tiền lương.
Trong mọi lĩnh vực cuộc sống, tiền lương có ý nghĩa hết sức quan trọng
Để có thể thực hiện tốt công tác quản lý tiền lương ta cần nắm rõ các chứcnăng của tiền lương Tiền lương có các chức năng sau:
Chức năng thứ nhất của tiền lương đó là thước đo giá trị sức lao động.Tiền lương là giá cả sức lao động, khoản tiền người lao động nhận được sauquá trình lao động, vì thế tiền lương phải là thước đo giá trị sức lao động,phản ánh giá trị sức lao động Đây là một chức năng hết sức quan trọng củatiền lương Do giá trị của sức lao động có xu hướng tăng theo từng thời kỳnên tiền lương cũng có xu hướng tăng theo từng thời kỳ
Chức năng thứ hai của tiền lương đó là duy trì và mở rộng sức lao động.Chức năng này của tiền lương được thể hiện qua việc khôi phục sức lao độngcủa người lao động trong quá trình sản xuất Nếu chức năng này không đượcthực hiện thì sức lao động sẽ không được hồi phục, khả năng làm việc củangười lao động bị giảm sút, sức khỏe của họ từ đây sẽ bị suy sụp, gây giảmnăng suất lao động, gây ảnh hưởng xấu tới quá trình sản xuất
Chức năng thứ ba của tiền lương là kích thích sản xuất, tạo động lực chongười lao động Chức năng này đòi hỏi nhà quản lý phải sử dụng tiền lươngnhư là đòn bẩy kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Mỗi đồng lương trả chocông nhân phải được tính toán, phải được gắn với kết quả lao động của họ,gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiền lương có haimặt đối lập nhau, mặt tích cực (kích thích sản xuất) và mặt tiêu cực (chi phísản xuất) Khi mặt tích cực của tiền lương bị hạn chế thì mặt tiêu cực của tiềnlương ngay lập tức nổi lên và trở thành yêu tố kìm hãm sản xuất phát triển.Chức năng thứ tư của tiền lương đó là chức năng điều tiết, phân phối laođộng Do số lượng cũng như chất lượng lao động ở từng vùng miền là khácnhau, vì vậy Nhà nước phải điều tiết lao động thông qua chế độ, chính sáchtiền lương Với tiền lương thỏa đáng, người lao động sẽ tự nguyện nhận côngviệc được giao ở dù ở đâu và làm gì
Chức năng thứ năm của tiền lương đó là chức năng quản lý Đối với cácnhà quản lý thì tiền lương là một công cụ giúp họ có thể quản lý tốt doanhnghiệp Thông qua việc trả lương cho người lao động, người sử dụng lao
Trang 9động có thể kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo kếhoạch tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem lại kết quả vàhiệu quả cao nhất Như vậy, người sử dụng lao động có thể quản lý chặt chẽ
số lượng cũng như chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng chongười lao động
3 Vai trò của tiền lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt phân phối của quan hệsản xuất xã hội Do đó tiền lương hợp lý sẽ góp phần làm cho quan hệ xã hộiphù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tiềnlương giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý, đời sống, chính trị xãhội, nó thể hiện ở ba vai trò cơ bản sau:
Tiền lương có vai trò khuyến khích vật chất đối với người lao động, nó cóvai trò như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động cống hiến nhiềuhơn cho doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng
Tiền lương có vai trò quan trọng trong quản lý người lao động Tiền lươngkhông chỉ bù đắp sức lao động đã hao phí mà còn thông qua đó nó còn giúpdoanh nghiệp kiểm tra giám sát người lao động làm việc theo các mục tiêu,
kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra
Tiền lương còn có vai trò điều phối lao động, đóng vai trò quyết địnhtrong việc ổn định và phát triển kinh tế Khi tiền lương được trả một cách hợp
lý sẽ thu hút người lao động thực hiện công việc ở bất kỳ đâu, ngành nghề gì
4 Quỹ tiền lương.
4.1Khái niệm về quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương là tổng số tiền mà doanh nghiệp dùng để trả lương cho người lao động sao cho phù hợp với số lượng, chất lượng lao động trong phạm vi doanh nghiệp phụ trách Nói cách khác, đó là toàn bộ khoản tiền lương và thưởng thường xuyên mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)
Quỹ lương bao gồm: Quỹ lương cơ bản và quỹ lương biến đổi
- Quỹ lương cơ bản dùng để chi trả tiền lương cấp bậc hay tiền lươngthang bảng của từng ngành, từng doanh nghiệp quy định Hệ thống
Trang 10thang bảng lương do nhà nước quy định hoặc do doanh nghiệp thamkhảo thang bẳng lương của nhà nước để thiết lập các mức lương và cácchế độ tiền lương.
- Quỹ lương biến đổi bao gồm các loại phụ cấp, tiền lương thưởng bêncạnh lương cơ bản
Bộ phận tiền lương cơ bản thương chiếm 70%- 75% quỹ tiền lương, còn lại
là bộ phận tiền lương biến đổi
4.2 Quản lý quỹ tiền lương.
Quản lý quỹ tiền lương là việc phân tích tình hình sử dụng quỹ tiền lươngtrong từng thời kỳ nhất định của quá trính sản xuất kinh doanh trong doanhnghiệp Mục đích của việc phân tích tình hình quỹ tiền lương trong doanhnghiệp nhằm:
- Thúc đẩy sử dụng hợp lý tiết kiệm quỹ tiền lương, phát hiện những mặtmất cân đối giữa các chỉ tiêu sản lượng và các chỉ tiêu lương để có cácbiện pháo khắc phụ khịp thời
- Góp phần củng cố chế độ hạch toán, thực hiện nguyên tắc phân phốitheo lao động, khuyến khích tăng năng suất lao động, hạ giá thành sảnphẩm
- Xác định mức tiết kiệm (hoặc vượt chi) tuyệt đối và tương đối của quỹ
từ đó đưa ra các chính sách kịp thời nhằm cân đối quỹ
II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TIỀN LƯƠNG.
1 Các yếu tố bên ngoài.
1.1 Thị trường lao động
Thị trường lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương, khi cung vềlao động lớn hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng giảm, ngược lạikhi cung về lao động nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lương lúc này có xuhướng tăng, còn khi cung về lao động bằng với cầu lao động thì thị trườnglao động đạt tới sự cân bằng, tiền lương lúc này là tiền lương cân bằng, mứctiền lương này bị phá vỡ khi các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu về lao độngthay đổi như (năng suất biên của lao động, giá cả của hàng hoá, dịch vụ …)
1.2 Sự khác biệt theo vùng địa lý, điều kiện sống.
Trang 11Các vùng khác nhau có điều kiện sống khác nhau dẫn tới chi phí khácnhau và người lao động không muốn đến những vùng không thuận lợi về đilại, khí hậu, giá cả đắt đỏ Vì vậy, để tái sản xuất sức lao động như nhau thìtiền lương ở các vùng khác nhau sẽ có sự khác nhau, sự khác nhau này đượcthể hiện thông qua các khoản phụ cấp như phụ cấp khu vực, phụ cấp đắt đỏ…
1.3 Tổ chức công đoàn.
Tổ chức công đoàn được thành lập với mục đích chính đó là đại diện vàbảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; có tráchnhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cảithiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động Trong nền kinh tế hiệnnay, khi chi phí sinh hoạt thay đổi, do giá cả hàng hoá, dịch vụ không ngừngtăng cao, kéo theo tiền lương thực tế của người lao động đang ngày cànggiảm sút Như vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động, đảmbảo tiền lương thực tế không bị giảm buộc các đơn vị, các doanh nghiệp phảităng tiền lương danh nghĩa cho công nhân Nhưng như ta đã biết tiền lươnggắn liền với chi phí sản xuất của doanh nghiệp vì vậy đã không ít các doanhnghiệp không chịu tăng lương, lúc này nếu như các tổ chức công đoàn thựchiện tốt vai trò của mình sẽ giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người laođộng, bảo đảm cho người lao động có được cuộc sống ổn định hơn
1.4 Luật pháp và các quy định của Chính phủ.
Khi doanh nghiệp hoạt động trong một quốc gia thì bắt buộc họ phải tuânthủ luật pháp và các quy định của quốc gia đó Tại Việt Nam, theo quy địnhcủa Nhà nước, tùy theo vị trí, công việc mà người lao động đảm nhiệm,doanh nghiệp trả lương trên nguyên tắc khung bảng lương theo nhà nước quyđịnh, cụ thể như sau:
Công nhân trực tiếp sản xuất (chia theo ngành nghề: cơ khí, dệt ) : hệ sốthấp nhất 1,35 Tùy theo ngành, mức độ công việc, tính chất nguy hiểm, hệ sốnày có thể cao hay thấp Có những trường hợp mà chỉ số khởi điểm có thể lênđến 4,0
Trong thang lương của doanh nghiệp Nhà nước có 9 bậc Bậc 1: hệ số 2,34; hệ số cao nhất là 4,51 Theo quy chế, cứ 2-3 năm người lao động sẽđược nâng một bậc lương Các doanh nghiệp khác khi xây dựng thang bảng
Trang 12lương phải dựa trên thang bảng lương chung để áp dụng bằng hoặc cao hơn,không thể thấp hơn.
1.5 Tình trạng của nền kinh tế.
Ta có thể khẳng định rằng tình trạng nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đếntiền lương Khi nền kinh tế đang phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanhphát triển, tiền lương của người lao động sẽ được tăng, đời sống của họ đượccải thiện Ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, các nhàmáy, xí nghiệp rơi vào tình trạng phải đóng cửa hoặc giảm khả năng sản xuất,lúc này người lao động sẽ lâm vào tình trạng thất nghiệp, nguồn cung laođộng trên thị trường do đó cũng tăng lên, vì vậy các doanh nghiêp có khuynhhướng cắt giảm hoặc không tăng lương để cắt giảm chi phí hoạt động
2 Yếu tố thuộc về tổ chức.
2.1 Vị trí của ngành trong nền kinh tế.
Vị trí quan trọng của từng ngành trong nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớntới tiền lương của người lao động Thông thường, những ngành có tầm quantrọng lớn trong nền kinh tế thì mức lương bình quân của người lao động sẽcao hơn so với mức lương bình quân của các ngành khác Ví dụ, nhữngngành công nghiệp nặng luôn được xếp vị trị hàng đầu trong nền kinh tế vìvậy lương bình quân của người lao động làm việc trong những ngành nàythường có hệ số lương khá cao Chẳng hạn, ngành luyện kim hóa chất có hệ
số lương bậc một là 1,40-1,62, trong khi ngành thương mại dịch vụ có hệ sốlương bậc một chỉ là 1,16-1,40 Mục đích trả lương cao là để thu hút lao độngvào các ngành đó Trong một số ngành được Nhà nước ưu tiên phát triển(quân đội, công an, y tế…) hệ số lương khởi điểm tốt nghiệp đại học cũngcao hơn các ngành khác
2.2 Lợi nhuận và khả năng chi trả của doanh nghiệp.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn tới tiềnlương.Với doanh nghiệp có khối lượng vốn lớn, lợi nhuận cao thì khả năngchi trả tiền lương cho người lao động sẽ thuận tiện dễ dàng Còn ngược lại,nếu khả năng tài chính của doanh nghiệp không vững, doanh nghiệp làm ănthua lỗ thì tiền lương của người lao động vì vậy cũng sẽ rất bấp bênh
Trang 132.3 Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ, cơ cấu tổ chức hợp lý hay bất hợp
lý cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tiền lương Những doanh nghiệp có quy môlớn, việc quản lý được thực hiện một cách bài bản và có hiệu quả, sắp xếp độingũ lao động hợp lý dễ dàng giám sát, nhà lãnh đạo đề ra được những biệnpháp kích thích sự sáng tạo trong sản xuất của người lao động sẽ khiến năngsuất lao động được tăng lên, doanh nghiệp tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh,điều đó sẽ giúp cho tiền lương của người lao động được tăng lên
2.4 Trình độ trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp đang sử dụng.
Trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ cũng ảnh hưởng rất lớn tới tiền lương.Với một doanh nghiệp sử dụng trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu thì không thể đemlại những sản phẩm có chất lượng cao và cũng không thể đem lại hiệu quảkinh doanh sản xuất như những trang thiết bị kỹ thuật công nghệ tiên tiếnhiện đại được Do vậy sẽ ảnh hưởng tới số lượng cũng như chất lượng củasản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp sẽ không có được lợi nhuận tốt nhất, từ
đó sẽ ảnh hưởng tới tiền lương của người lao động
2.5 Chính sách trả lương của doanh nghiệp.
Các chính sách của doanh nghiệp như chính sách về lương, phụ cấp…được áp dụng một cách triệt để và phù hợp sẽ thúc đẩy người lao động nângcao năng suất, chất lượng sản phẩm, điều đó sẽ trực tiếp tăng thu nhập chobản thân người lao động
3 Yếu tố thuộc về công việc.
3.1 Kỹ năng, trình độ.
Để làm được những công việc đòi hỏi phải có hàm lượng kiến thức, trình
độ cao mới thực hiện được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng lao động cótrình độ và kiến thức cao Với những lao động có trình độ cao, họ sẽ có đượcthu nhập cao hơn so với những lao động có trình độ thấp hơn bởi để đạt đượctrình độ đó người lao động phải bỏ ra một khoản chi phí tương đối cho việcđào tạo đó (có thể đào tạo dài hạn ở trường lớp cũng có thể đào tạo tại doanhnghiệp) Ví dụ: Trong các ngành khác nhau, trình độ lành nghề bình quân cóthể khác nhau, thông thường ngành công nghiệp nặng có trình độ lành nghề
Trang 14bình quân cao hơn so với trình độ lành nghề bình quân trong các ngành côngnghiệp nhẹ, vì thế tiền lương của người lao động trong ngành công nghiệpnặng thường cao hơn so với ngành công nghiệp nhẹ.
3.2 Điều kiện và môi trường làm việc.
Điều kiện làm việc của người lao động được đánh giá qua độ bụi, độ ồn,khí độc… của môi trường xung quanh hoạt động sản xuất của người laođộng Ví dụ như điều kiện làm việc cụ thể của mỗi nhà xưởng được thể hiện
ở nhiều tiêu chí khác nhau như thoáng mát hay nóng bức, chật chội hay rộngrãi, đủ ánh sáng hay tối tăm… tất cả các điều trên đều quyết định đến tiềnlương của người lao động Ở mỗi vùng miền, mỗi loại hình doanh nghiệp thìđiều kiện và môi trường làm việc của người lao động là khác nhau, với nhữngngười lao động làm việc trong điều kiện khó khăn, môi trường độc hại thìmức lương của họ cũng sẽ cao hơn
4 Yếu tố thuộc về người lao động.
4.1 Mức độ hoàn thành công việc.
Mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm, đảm bảo chất lượng haykhông đều ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương của người lao động Nếu ngườilao động có mức độ hoàn thành công việc nhanh, chất lượng đảm bảo nghĩa
là họ cho năng suất lao động cao, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanhnghiệp thì việc được hưởng lương cao là tất yếu
4.2 Thâm niên công tác và kinh nghiệm làm việc.
Thâm niên công tác và kinh nghiệm làm việc thường đi đôi với nhau Mộtngười qua nhiều năm công tác sẽ đúc rút được nhiều kinh nghiệm, hạn chếđược những rủi ro có thể xảy ra trong công việc, nâng cao bản lĩnh tráchnhiệm của mình trước công việc, đạt năng suất chất lượng cao vì thế mà thunhập của họ sẽ ngày càng tăng lên
4.3 Thành viên trung thành.
Thành viên trung thành có nghĩa là người đó làm việc lâu năm hơn so vớinhững người khác Các công ty tại Mỹ thường thưởng cho những người làmviệc lâu năm dưới hình thức tiền thưởng hoặc phúc lợi như họ được nghỉ hèlâu hơn, được thưởng nhiều hơn…
Trang 154.4 Tiềm năng.
Nhiều công ty tại Mỹ nhất là các công ty tại Nhật rất chú trọng tới cácnhân viên tiềm năng Họ là những người chưa có kinh nghiệm hoặc chưa cókhả năng làm được những công việc khó ngay nhưng trong tương lai họ cótiềm năng thực hiện được Những người trẻ tuổi được trả lương cao bởi vì họ
có tiềm năng trở thành các cấp quản trị giỏi trong tương lai
Các sinh viên tốt nghiệp đại học có thành tích học tập giỏi là điểm hìnhcho những người có tiềm năng Các công ty ở các nước phát triển, nhất là ởNhật rất chú trọng đến lớp người này
III CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG.
Việc tính lương và trả lương cho người lao động có thể thực hiện theonhiều hình thức khác nhau Tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tínhchất công việc và trình độ quản lý mà doanh nghiệp sẽ đưa ra những cáchthức trả lương phù hợp nhất với doanh nghiệp Trên thực tế, các doanhnghiệp thường áp dụng các hình thức trả lương theo thời gian, theo sản phẩm
1 Trả lương theo thời gian.
Trả lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động thườngđược căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, theo ngành nghề và trình độthành thạo nghiệp vụ chuyên môn của người lao động Hình thức trả lươngnày thường được áp dụng cho nhân viên văn phòng như nhân viên hànhchính sự nghiệp, quản lý tổ chức lao động, kế toán tài chính…
Trong hình thức trả lương theo thời gian, tiền lương của người lao độngđược tính toán dựa trên cơ sở mức tiền lương đã được xác định cho công việc
và số đơn vị thời gian (giờ hoặc ngày) thực tế làm việc, với điều kiện họ phảiđáp ứng các tiêu chuẩn thực hiện công việc tối thiểu đã được xây dựng trướcnếu muốn tiếp tục được nhận mức tiền công cho công việc đó
Ưu điểm của hệ thống trả lương theo thời gian đó là dễ hiểu, tạo điều kiệncho cả người quản lý và công nhân có thể tính toán tiền lương một cách dễdàng Các mức thời gian được sử dụng cũng như các ghi chép về số lượngsản phẩm sản xuất thực tế của các cá nhân chỉ là để nhằm mục đính kiểm trachứ không dùng để tính toán trực tiếp lương của công nhân Nhược điểm chủ
Trang 16yếu của hình thức trả lương theo thời gian là tiền lương mà người lao độngnhận được không liên quan trực tiếp đến sự đóng góp lao động của họ trongmột chu kỳ thời gian cụ thể Vì thế, sự khuyến khích thực hiện công việc dựatrên những đòi hỏi tối thiểu của công việc cần phải được thực hiện bởi nhữngbiện pháp tạo động lực khác ngoài các khuyến khích tài chính trực tiếp Tuynhiên, nhược điểm của hình thức trả lương theo thời gian có thể được khắcphục nhờ chế độ thưởng Do vậy, trả lương theo thời gian có thể được thựchiện theo hai cách:
1.1Trả lương theo thời gian giản đơn.
Theo chế độ này, tiền lương trả cho người lao động chỉ căn cứ vào bậclương và thời gian thực tế làm việc, không xét đến thái độ làm việc và kếtquả của công việc
Lương cơ bản =
* số ngày làm việc thực tếHình thức trả lương theo thời gian giản đơn có ưu điểm nổi bật là dẽ tính,
dễ trả cho người lao động, nhưng cách tính như vậy mang tính chất bìnhquân, chưa gắn tiền lương với kết quả lao động và chất lượng lao động, kémkích thích người lao động
1.2Trả lương theo thời gian có thưởng.
Theo hình thức này, người lao động ngoài tiền lương theo thời gian giảnđơn còn nhận được một khoản tiền thưởng do kết quả tăng năng suất laođộng, tiết kiệm nguyên vật liệu hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đượcgiao
Hình thức trả lương theo thời gian chưa bảo đảm đầy đủ các nguyên tắccủa tiền lương trong việc kích thích phát triển sản xuất, chưa phát huy hết khảnăng có sẵn của người lao động để tạo ra nhiều của cải vật chất cho người laođộng Vì vậy, khi áp dụng hình thức trả lương theo thời gian cần áp dụng một
Trang 17số biện pháp phù hợp như khuyến khích bằng vật chất, kiểm tra chấp hành kỷluật lao động nhằm tạo cho người lao động có ý thức tự giác trong công việc,làm việc có kỷ luật, trách nhiệm và không ngừng học hỏi, sáng tạo nhằmnâng cao năng suất lao động.
2 Trả lương theo sản phẩm.
Đây là hình thức trả lương mà số tiền người lao động nhận được căn cứvào đơn giá tiền lương, số lượng sản phẩm hoàn thành nhằm bảo đảm nguyêntắc phân phối theo lao động, động viên người lao động làm việc hăng say vàsáng tạo
Trong hình thức này, tiền lương của người lao động phụ thuộc trực tiếpvào số lượng đơn vị sản phẩm được sản xuất và đơn giá trả công cho một đơn
Lgiờ :Mức lương theo giờ
Qdmh :Mức sản lượng theo thời gian
Gđm :Mức thời gian
Các mức lao động này thể hiện khối lượng sản phẩm mà người lao độngcần sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (hay lượng thời gian được phéphao phí cho một đơn vị sản phẩm) với nhịp độ làm việc bình thường vàthường được xác định bằng các phương pháp nghiên cứu thời gian (chụp ảnhngày làm việc và bấm giờ thời gian làm việc) và nghiên cứu chuyển động
Ưu điểm của trả lương theo sản phẩm là có tác dụng khuyến khích tàichính đối với người lao động, thúc đẩy họ nâng cao năng suất lao động, đặc
Trang 18biệt đối với những người có mong muốn mạnh mẽ nâng cao thu nhập, vìlượng tiền lương mà họ nhận được phụ thuộc trực tiếp vào lượng sản phẩmcủa họ, việc tính toán tiền lương cũng đơn giản và có thể giải thích dễ dàngvới người lao động Tuy nhiên trả lương theo sản phẩm cũng có thể dẫn tớitình trạng người lao động ít quan tâm đến bảo đảm chất lượng sản phẩm, tiếtkiệm nguyên vật liệu và sử dụng hợp lý máy móc, thiết bị Do những nhượcđiểm đó nên tiền lương theo sản phẩm chỉ phù hợp với những công việc mà ở
đó dây chuyền sản xuất đảm bảo được liên tục, các công việc có thể địnhmức được, có tính lặp đi lặp lại và không đòi hỏi trình độ tay nghề cao, năngsuất lao động phụ thuộc chủ yếu vào sự nỗ lực của người lao động và việctăng năng suất không gây ảnh hưởng lớn tới chất lượng sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm có thể được thực hiện theo nhiều chế
độ khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng trả lương Dưới đây là một số chế độ
đã và đang được áp dụng trong sản xuất:
2.1Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Chế độ trả công này thường được áp dụng với những công nhân sản xuấtchính mà công việc của họ mang lại tính chất độc lập tương đối, có thể địnhmức và kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt Tùyvào điều kiện sản xuất và các quan điểm khuyến khích lao động của doanhnghiệp, người lao động có thể được trả công theo đơn giá cố định, lũy tiếnhay lũy thoái
Đơn giá cố định được xác định theo công thức sau:
ĐG = = L*TTrong đó:
L :Mức tiền lương (là tiền lương cấp bậc trả cho người lao động)
Q :Mức sản lượng (là số lượng sản phẩm quy định cho người lao độngphải hoàn thành ứng với số lượng mà họ được hưởng)
T :Mức thời gian (là số lượng đơn vị thời gian quy định để người côngnhân sản xuất ra một đơn vị sản phẩm ứng với cấp bậc tay nghề của họ)
Trang 19Ưu điểm của chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân là mối quan
hệ giữa tiền lương mà công nhân nhận được và kết quả lao động thể hiện rõràng, do đó kích thích công nhân cố gắng nâng cao năng suất lao động nhằmnâng cao thu nhập Việc tính toán tiền công đơn giản, công nhân có thể dễdàng tính được số tiền lương nhận được khi hoàn thành nhiệm vụ Tuy nhiên,chế độ tiền lương này có nhược điểm là làm cho công nhân ít quan tâm đếnviệc sử dụng tốt máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, ít chăm lo đến công việcchung của tập thể…
2.2Chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể.
Chế độ trả lương này thường được áp dụng với những công việc cần mộtnhóm công nhân, đòi hỏi sự phối hợp giữa các công nhân và năng suất laođộng chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp của cả nhóm như lắp ráp các thiết
bị, sản xuất ở các bộ phận làm việc theo dây chuyền, trông nom máy liênhợp
Công thức tính đơn giá:
ĐG = = Lc*TnTrong đó:
Lc :Tổng mức lương cấp bậc trả cho nhóm trong ngày
Qn :Số lượng sản phẩm nhóm làm được trong ngày
Sau khi ta xác định được tiền lương của cả đơn vị được lĩnh, ta sẽ tínhđược lương của từng công nhân trong đơn vị bằng hai phương pháp là chialương theo hệ số điều chỉnh và chia lương theo giờ hệ số
Chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể có ưu điểm là khuyến khích côngnhân trong tổ, nhóm nâng cao trách nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kếtquả cuối cùng của tổ Song nó có nhược điểm là sản lượng của mỗi côngnhân không trực tiếp quyêt định tiền công của họ Do đó, ít kích thích nângcao năng suất lao động cá nhân
2.3Chế độ lương khoán.
Chế độ lương khoán áp dụng cho những công việc nếu giao từng chi tiết,từng bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng cho công nhânhoàn thành trong một thời gian nhất định Chế độ trả công này được áp dụng
Trang 20chủ yếu trong xây dựng cơ bản và một số công việc trong nông nghiệp Trongcông nghiệp, thường dùng trong các công việc sửa chữa, lắp ráp các sảnphẩm, máy móc, thiết bị…
Đơn giá khoán có thể được tính theo đơn vị công việc hoặc cũng có thểđược tính cho cả khối lượng công việc hay cả công trình Tiền lương sẽ đượctrả theo khối lượng công việc mà công nhân hoàn thành ghi trong phiếu giaokhoán Chế độ trả lương này có thể áp dụng cho cá nhân hoặc tập thể
Nếu đối tượng nhận khoán là tập thể thì cách tính đơn giá và phân phốitiền lương cho công nhân trong tổ nhóm giống như chế độ tiền lương tínhtheo sản phẩm tổ
Chế độ tiền công khoán khuyến khích công nhân hoàn thành nhiệm vụtrước thời hạn mà vẫn đảm bảo chất lượng công việc thông qua hợp đồnggiao khoán chặt chẽ Tuy nhiên, trong chế độ trả công này, khi tính toán đơngiá phải hết sức chặt chẽ, tỷ mỷ để xây dựng đơn giá trả công chính xác chocông nhân làm khoán
IV CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG.
Quản lý tiền lương ở cấp độ vi mô (công ty, doanh nghiệp) chính là việcquản lý lương công nhân viên, là một bộ phận cấu thành quan trọng trongquản lý nguồn nhân lực, gồm một loạt những hoạt động quản lý nhằm hoànthành mục tiêu của tổ chức như lập kế hoạch, tổ chức, thực thi tiền lương(tổng ngạch tiền lương và tiền của từng công nhân…), chế độ tiền lương, tiềnlương đặc biệt… sau đó là kiểm tra kết quả của những việc làm trên, đồngthời lấy ý kiến của người lao động
1 Mục tiêu của công tác quản lý tiền lương.
1.1 Quản lý tiền lương giúp cho các doanh nghiệp trả lương một cách
có kế hoạch, có tổ chức.
Quản lý là một chuỗi các hoạt động gồm các bước: lập kế hoạch, tổ chứcthực hiện, điều hành, kiểm tra kiểm soát, do đó để quản lý tiền lương đạtđược mục tiêu cần phải thể hiện từng bước như trên, từ đó sẽ giúp cho doanhnghiệp dễ dàng hơn khi trả lương cho người lao động, cũng như tạo ra mộtphương thức trả lương có tổ chức
Trang 21Mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận, chính vì thế quản lýtiền lương một cách hợp lý sẽ giúp cho người lao động tăng năng suất, tăngchất lượng sản phẩm, từ đó giúp doanh nghiệp tăng doanh thu.
1.2 Quản lý tiền lương khiến cho các doanh nghiệp tìm được những sai sót trong quá trình trả lương, từ đó sẽ có các phương pháp điều chỉnh.
Bất kỳ làm một công tác quản lý nào cũng đều giúp cho doanh nghiệpphát hiện ra những sơ hở cũng như sai sót để kịp thời điều chỉnh Quản lý tiềnlương cũng không nằm ngoài mục tiêu đó bởi vì quản lý tiền lương bao gồmrất nhiều nội dung, mỗi nội dung lại gồm nhiều vấn đề nhỏ nên việc gặp saisót là không tránh khỏi, nhờ công tác quản lý mà mọi thứ được sắp xếp hợp
lý hơn từ đó sẽ dễ dàng phát hiện ra những sai sót
Ngoài ra, quản lý tiền lương hợp lý còn rút ngắn bớt thời gian, cũng nhưcông sức của người làm công tác tiền lương Từ đó giảm thiểu thời gian cũngnhư công sức cho những vấn đề không cần thiết
1.3 Quản lý tiền lương sẽ thúc đẩy hơn việc nâng cao trình độ của mỗi cán bộ tiền lương
Quản lý tiền lương là một công việc đòi hỏi một trình độ nhất định, vì thếnên cán bộ phụ trách tiền lương cũng phải có trình độ để đảm bảo làm đượcviệc một cách hiệu quả nhất Từ đó mỗi doanh nghiệp khi thực sự muốn làmtốt thì cần phải đào tạo một đội ngũ làm công tác tiền lương giỏi về chuyênmôn
2 Yêu cầu của công tác quản lý tiền lương.
Tiền lương là một yếu tố hết sức quan trọng đối với tổ chức, đối vớidoanh nghiệp vì vậy tổ chức, doanh nghiệp cần thực hiện và duy trì một cách
có hệ thống cơ cấu tiền công Cán bộ tiền lương cần xác định và nắm thậtchắc chính sách trả lương của doanh nghiệp và thực hiện các yêu cầu sauđây:
Điều chỉnh các mức tiền lương cũ của người lao động cho phù hợp với hệthống tiền lương mới (trong trường hợp doanh nghiệp xây dựng lại hệ thốngtiền lương) Phải luôn đảm bảo rằng tiền lương thực hiện được chức năng
Trang 22kích thích, lôi cuốn con người tham gia lao động Vì sực ép của đồng tiền,người lao động sẽ có trách nhiệm với công việc của mình hơn, họ sẽ khôngngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, chịu khó tìm tòi học hỏi kinh nghiệm,như vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được tăng cao.Khi thực hiện hệ thống tiền lương mới, sẽ có những người lao động hiệntại được trả công cao hơn hay thấp hơn mức tiền lương thiết kế mới Các mức
t tiền lương này phải được điều chỉnh cho hợp lý bằng biện pháp phù hợp.Tương tự như vậy, những bất hợp lý xảy ra trong tiến trình tiền lương cũngcần phải được điều chỉnh, có vậy mới tạo ra sự công bằng, tạo ra hoà khí cởi
mở giữa những người lao động, hình thành khối đoàn kết thống nhất, trêndưới một lòng, một ý chí vì sự nghiệp phát triển và vì lợi ích bản thân họ.Các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau sẽ có cáchình thức trả lương khác nhau Vì vậy, cán bộ quản lý tiền lương cần tínhtoán trả lương, trả công cho người lao động theo các dạng, các chế độ phùhợp với ngành hoạt động của doanh nghiệp
Cập nhật hệ thống tiền lương một cách thường xuyên và thực hiện cácđiều chỉnh nếu cần thiết Phải luôn bảo đảm rằng tiền lương trả cho người laođộng đủ để tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống vậtchất cũng như tinh thần cho người lao động
Trang 23PHẦN II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG VÀ THƯỞNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐƯỜNG CAO TỐC VIỆT NAM.
I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐƯỜNG
CAO TỐC VIỆT NAM
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần tư vấn đường cao tốc Việt Nam
Hệ thống đường cao tốc quốc gia được xem như một trong những biểutrưng của nền kinh tế phát triển Với đặc điểm ưu việt về tốc độ xe chạy, sốlượng xe thông qua và độ an toàn giao thông do được tổ chức và kiểm soátbằng các giải pháp công nghệ hiện đại Nhờ những ưu việt này, hệ thốngđường cao tốc đã được phát triển rất mạnh mẽ ở các quốc gia có nền kinh tếphát triển và đang phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… vàthực tế đường cao tốc đã đem lại những hiệu quả kinh tế xã hội vô cùng tolớn
Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) là đơn vị chủlực trong lĩnh vực đầu tư phát triển đường cao tốc tại Việt Nam, để thực hiệnthành công các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngoài việc VEC phảihuy động một lượng vốn đầu tư khổng lồ thì việc chuẩn bị về lực lượng Tưvấn kỹ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực đường cao tốc cũng không kém phầnquan trọng, trong đó có công tác Tư vấn đầu tư, Tư vấn lập dự án, Tư vấnquản lý dự án, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát, Tư vấn kiểm định đảm bảocác Dự án đường cao tốc thực hiện thành công với chất lượng cao, đáp ứngtiến độ và giá thành hợp lý
Qua tìm hiểu mô hình các Nhà đầu tư lớn về đường cao tốc trên thế giới,đặc biệt là tại các nước: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, … Công ty Đầu
tư phát triển đường cao tốc Việt Nam đã đề xuất và được Bộ Giao thông vậntải cho phép thành lập Công ty cổ phần Tư vấn Đường cao tốc Việt Nam(VEC Consultant.,JSC) Và đến ngày 24 tháng 12 năm 2007 công đã chínhthức được thành lập với tên giao dịch: Công ty cổ phần Tư vấn Đường caotốc Việt Nam (Viet Nam Expressway Consultant Joint Stock Company) với
Trang 24số vốn điều lệ lên tới năm tỷ đồng Trụ sở của công ty được đặt tại xóm 2,phường Lĩnh Nam, quận Hoành Mai, Hà Nội nay chuyển về phòng 911, Tòanhà CT5, khu đô thị mới Sông Đà Mỹ Đình, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, HàNội.
Công ty cổ phần tư vấn đường cao tốc Việt Nam ra đời trên cơ sở hội tụcủa bốn Cổ đông sáng lập, bao gồm:
1. Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) với tỷ lệ vốngóp lên đến 2,75 tỷ đồng chiếm 55% vốn điều lệ của công ty
2. Công ty Cổ phần phát triển đầu tư HaFICo Group góp 500 triệu đồng tương đương với 10% vốn điều lệ
3. Công ty Nippon Koei 1,25 tỷ đồng tương đương 25% vốn điều lệ
4. Viện nghiên cứu thiết kế, khảo sát và quy hoạch giao thông Khu tự trịQuảng Tây (GCDI) góp 500 triệu đồng tương đương với 10% vốn điềulệ
Qua 3 năm hình thành và phát triển, công ty luôn hoàn thành tốt cácnhiệm vụ mà cấp trên giao Hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh vớisản lượng năm nay cao hơn năm trước và là doanh nghiệp có uy tín trongngành tư vấn xây dựng cầu đường
2 Mục tiêu hoạt động, ngành nghề kinh doanh của Công ty.
2.1 Mục tiêu.
- Tham gia tư vấn các dự án do công ty Đầu tư phát triển đường cao tốcViệt Nam (VEC) làm chủ đầu tư
- Sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất cho các cổ đông
- Không ngừng phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huytối đa lợi nhuận
- Tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động
- Tuân thủ chính sách của Đảng và nhà nước trong việc phát triển kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ đối với ngân sách nhà nươc
2.2 Ngành, nghề kinh doanh.
- Tư vấn lập quy hoạch, lập báo cáo đầu tư, lập dự án đầu tư, lập hồ sơthiết kế kỹ thuật, lập hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công, lập dự toán, lậptổng dự toán các công trình đường cao tốc, các công trình phụ trợ,
Trang 25quản lý, khai thác đường cao tốc và các công trình kết cấu giao thôngvận tải khác.
- Tư vấn, lập hồ sơ mời thầu, xét thầu các dịch vụ về tư vấn, xây lắp,cung cấp vật tư thiết bị
- Tư vấn thẩm tra/ thẩm định dự án, thẩm tra/ thẩm định thiết kế, dựtoán
- Tư vấn quản lý các dự án, tư vấn giảm sát công trình
- Khảo sát điều tra: địa hình, địa chất, thủy văn, nền, mặt đường, giaothông, chiếu sáng
- Khảo sát, đánh giá tác động môi trường
- Cung cấp dịch vụ kiểm định chất lượng công trình xây dựng, thínghiệm vật liệu và địa chất công trình
- Xây dựng thử nghiệm và phát triển công nghệ mới, thực hiện dịch vụ
về chuyển giao công nghệ, chương trình đào tạo trong lĩnh vực xâydựng kết cấu hạ tầng giao thông vận tải
- Xúc tiến đầu tư, kinh doanh vật tư, vật liệu, thiết bị kỹ thuật xây dựng
3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn 2010.
2008-Từ khi được thành lập đến nay Công ty đã tham gia vào rất nhiều dự ánlớn mang tính chất trọng điểm của quốc gia, một số các công trình mà công
ty đã tham gia tư vấn giám- sát thiết kế: Cầu Trần Thị Lý- Nguyễn Văn Trỗi(Đà Nẵng), cầu Thủ Thiêm bắc qua sông Sài Gòn, cầu Thanh Trì bắc quasông Hồng nằm trên trục đường vành đai III TP Hà Nội, cầu Sekong bắc quasông Sekong thuộc địa phận tỉnh Atapư – Lào, cầu Đồng Nai nằm trên tuyếnQL1 bắc qua sông Đồng Nai, ngoài ra hiện nay công ty còn đang thi tuyếnđường cao tốc Cầu Rẽ- Ninh Bình, tuyến đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai…
Bảng 2.1: thu nhập của Công ty trong giai đoạn 2008- 2010
Đơn vị: Tỷ VNđồng
Doanh thu trước thuế Thu nhập Thu nhập sau thuế VCSH
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ
sở hữu
Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm 2010 tại Công ty cổ phần tư vấn đường
cao tốc Việt Nam
Trang 26Qua bảng trên ta thấy rằng doanh thu, lợi nhuận của công ty không ngừngtăng lên qua các năm cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của Công ty,Công ty ngày càng tạo được chỗ đứng vững chắc và khẳng định được chínhmình trên thị trường Để đạt được kết quả trên là do công ty đã có nhữngchiến lược kinh doanh đúng đắn và thể hiện được vai trò chủ đạo của mình,trở thành đơn vị có uy tín trong ngành tư vấn giám sát xây dựng cầu đường
4 Sơ đồ mô hình bộ máy Công ty.
Bản 2.2: Sơ đồ mô hình bộ máy Công ty:
Nguồn: Website http://VECC.com.vn (Website của Công ty)
Qua sơ đồ ta thấy, bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo cơ cấutrực tuyến chức năng Đây là mô hình đã và đang được áp dụng rộng rãi, phổ
Hội đồng quản trị
kế cầu
Phòng
tư vấn thiết kế đường
Phòng quản
lý dự án
Phòng kế hoạch
và đầu tư
Trang 27biến trong các doanh nghiệp cổ phần hiện nay Qua sơ đồ cơ cấu ta thấynhiệm vụ và chức năng của từng phòng ban trong công ty như sau:
4.1 Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, có quyền quyết định chiếnlược, kế hoạch phát triển chung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm củaCông ty
Hội đồng quản trị của công ty cổ phần tư vấn đường cao tốc Việt Nam baogồm 5 thành viên và có nhiệm kỳ 5 năm Trong đó:
- Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) cử ra 02thành viên
- Công ty Cổ phần phát triển đầu tư HaFICo Group cử ra 01 thành viên
- Công ty Nippon Koei cử ra 01 thành viên
- Viện nghiên cứu thiết kế, khảo sát và quy hoạch giao thông Khu tự trịQuảng Tây (GCDI) cử ra 01 thành viên
4.2 Ban giám đốc.
Ban giám đốc của Công ty được thành lập thông qua sự bổ nhiệm của Hộiđồng quản trị công ty Ban giám đốc công ty cổ phần tư vấn đường cao tốcViệt Nam bao gồm 1 giám đốc và 1 phó giám đốc với trách nhiệm và quyềnhạn như sau:
Giám Đốc công ty: do Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty bổ nhiệm, chịutrách nhiệm trước Hội đồng Quản trị Công ty trong việc điều hành các hoạtđông sản xuất kinh doanh và thực hiện kế hoạch được giao
Phó Giám Đốc phụ trách thi công: Giúp Giám Đốc Công ty tổ chức các biệnpháp thi công theo giõi kỹ thuật, chất lượng các công trình; theo giõi, quản lýtình trạng máy móc, vật tư thiết bị toàn công ty đề suất mua sắm kịp thời cácthiết bị vật tư
4.3 Ban kiểm soát.
Ban kiểm soát công ty bao gồm 3 thành viên có nhiệm vụ giám sát Hộiđồng quản trị, ban giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty, Bankiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội cổ đông trong việc thực hiện cácnhiệm vụ được giao
Trang 284.4 Hội đông chuyên gia.
Hội đồng chuyên gia được thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốccông ty, Hội đồng chuyên gia có nhiệm vụ tư vấn cho giám đốc về kỹ thuật,phương thức thực hiện các dự án và duyệt bản vẽ của công trình thi công
4.5 Các phòng ban.
Mỗi phòng ban có một nhiệm vụ riêng, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp củaBan giám đốc, các phòng ban có nhiệm vụ tham mưu cho ban giám đốc trongcông việc cần giải quyết để ban giam đốc có thể đưa ra các quyết định chínhxác và kịp thời
- Phòng tài chính kế toán: Phòng có chức năng quyết toán các chế độ,hạch toán kinh tế và tài chính Có nhiệm vụ công tác tài chính xâydựng kế hoạch đầu tư, khai thác sử dụng vốn đúng mục đích, kiểm trakiểm soát các chỉ tiêu thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
- Phòng tư vấn thiết kế cầu và phòng tư vấn thiết kế đường: Nhiệm vụchủ yếu của 2 phòng này là thiết kế các bản vẽ kỹ thuật, tham mưu choban giám đốc các giải pháp, kỹ thuật trên cơ sở các bản thiết kế
- Phòng quản lý dự án: Có nhiệm vụ trực tiếp giám sát thi công côngtrình, bàn giao, nghiệm thu công trình khi được hoàn thành, lập hồ sơhoàn công, đồng thời đề ra các biện pháp sáng kiến, thay đổi biện phápthi công
- Phòng kế hoạch và đầu tư: Nhiệm vụ chính của phòng là lập kế hoạchngắn và trung hạn, căn cứ vào kế hoạch năm, quý, tháng của công ty,thực hiện điều phối để hoàn thành kế hoạch mà công ty đã đặt ra, đồngthời làm nhiệm vụ marketing, tìm dự án đầu tư mới cho công ty
4.6 Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của cán bộ tổ chức lao động tiền lương.
Chức năng:
Chức năng chủ yếu của cán bộ lao động tiền lương là tham mưu cho giámđốc trong công tác tổ chức quản lý lao động thực hiện chế độ chính sách củaNhà nước đối với cán bộ công nhân viên trong toàn công ty Xây dựng và tổchức thực hiện các hình thức trả lương, tính lương cho cán bộ công nhân viên
Trang 29trong toàn công ty, trình báo cáo về quỹ lương hàng tháng, quý, năm lên bangiám đốc.
Nhiệm vụ:
Căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất được cấp trên giao cán bộ lao động tiềnlương sẽ lập kế hoạch lao động tiền lương theo quý, năm cho toàn công tysau đó gửi cho các cơ quan có liên quan
Tổ chức thống kê theo dõi lực lượng lao động trong toàn công ty bao gồm
cả số lượng lẫn chất lượng lao động, điều phối lực lượng lao động trong toàncông ty để hoàn thành kế hoạch chung Tuyển chọn hợp đồng lao động đảmbảo sản xuất thực hiện đúng chế độ chính sách của Nhà nước quy định
Kết hợp với các phòng ban liên quan làm các hợp đồng khoán cho các đơn
vị trên cơ sở tổ chức lao động hợp lý, đảm bảo mọi chính sách cho người laođộng
Chỉ đạo tôt công tác an toàn lao động, an toàn kỹ thuật trong toàn công ty,phấn đấu đạt mục tiêu an toàn tuyệt đối trong lao động sản xuất
Tham mưu cho ban giám đốc công ty công tác đào tạo, bồi dưỡng nângcao tay nghề cho công nhân trong toàn công ty
Căn cứ vào chế độ chính sách có liên quan đến người lao động tiến hànhhướng dẫn tôt chức cũng như kiểm tra thực hiện chế độ chính sách trong toàncông ty Tham mưu cho ban giám đôc công tác nâng lương, nâng bậc hàngnăm cho người lao động
Thực hiện tính lương cho các bộ phận, các phòng ban trong toàn công ty
II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐƯỜNG CAO TỐC VIỆT NAM.
Trong Công ty vấn đền tiền lương không những được cán bộ công nhânviên quan tâm mà ban lãnh đạo Công ty cũng hết sức chú trọng Hiện nay,trong điều kiện tự chủ sản xuất kinh doanh, tiền lương được Công ty mở rộngđường lối nhưng vẫn tuân thủ các nguyên tắc mà Đảng và Nhà nước banhành Các hình thức tiền lương đang được áp dụng trong Công ty bao gồm:
Trang 30Khu vực trực tiếp sản xuất: Bao gồm các phòng ban trực tiếp thiết kế sảnphẩm, quản lý dự án, kế hoạch đầu tư được áp dụng hình thức khoán sảnphẩm.
Khu vực gián tiếp sản xuất: Bao gồm các phòng ban của Công ty, các bộphận quản lý không trực tiếp sản xuất sản phẩm áp dụng hình thức trả lươngtheo thời gian
Cơ cấu lao động được áp dụng các hình thức trả lương của công ty:
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động trong Công ty:
1412,73%
1613,91%
Số người hưởng lương sản
phẩm
Chiếm tỷ trọng (%)
9587,96%
9687,27%
9986,09%
Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm 2010 tại Công ty cổ phần tư vấn đường
cao tốc Việt Nam
Qua bảng trên ta nhận thấy số người hưởng lương khoán sản phẩm chiếm
tỷ trọng tương đối cao trong tổng số cán bộ nhân viên trong công ty điều đócho thấy hình thức trả lương theo sản phẩm đang được áp dụng rộng rãi để trảlương cho người lao động trong Công ty Hình thức trả lương theo thời gianchỉ áp dụng cho số ít lao động là bộ phận quản lý và lao động gián tiếp, phụ
vụ
1 Nguyên tắc phân phối tiền lương tại Công ty.
Tiền lương khoán và các khoản thu nhập dưới dạng hình thức lương(khoán sản phẩm cho các đơn vị và khoán theo dự án) sau khi trừ đi chi phílương lao động thời vụ được phân phối cho người lao động phải đảm bảo cácnguyên tắc sau:
Lương và các khoản thu nhập dưới hình thức lương được chia làm hailoại: