1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) xây dựng danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán việt nam

115 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Như Trang
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Văn Năng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1: CÁC BẢNG SỐ LIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ HIỆN TẠI TẠI VIỆT NAM PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH CÁC CỔ P

Trang 1

-

NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG

XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh t ế tài chính – Ngân hàng

Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NG ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TP H Ồ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 2

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VÀ LÝ THUYẾT MARKOWITZ 4

1.1 Tổng quan về Thị trường chứng khoán và rủi ro trên thị trường chứng khoán 4

1.2 Tổng quan hoạt động của công ty Quản lý Quỹ 6

1.2.1 Khái niệm công ty QLQ 6

1.2.2 Chức năng của công ty QLQ 6

1.2.3 Cơ chế hoạt động và giám sát của Công ty QLQ 7

1.2.4 Chiến lược quản lý DMĐT của Công ty QLQ 10

1.3 Danh mục đầu tư và xây dựng Danh mục Đầu tư 11

1.3.1 Danh mục đầu tư 11

1.3.2 Xây dựng Danh mục Đầu tư 13

1.3.3 Sự cần thiêt phải xây dựng DMĐT của công ty QLQ 15

1.3.4 Quy trình xây dựng Danh mục đầu tư 16

1.4 Lý thuyết Markowitz về xây dựng Danh mục đầu tư 19

1.4.1 Các giả thuyết của mô hình Markowitz 20

1.4.2 Mô hình chỉ số đơn 21

1.4.3 Ứng dụng mô hình chỉ số đơn 22

Các nghiên cứu trước đây về xây dựng DMĐT 24

tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 3

1.5.1 Ứng dụng mô hình Markowitz và Shape vào thị trường chứng khoán Nephalese của Rajan

Bahadur Paudel và Sujan Koirala 24

1.5.2 Phân tích danh mục dựa trên mô hình Markowitz vào thị trường chứng khoán Malaysia của Anton Abdulbasah Kamil; Chin Yew Feit; Lee Kin Kokt 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 31

2.1 Thực trạng thị trường chứng khoán ViệtNam 31

2.1.1 Quy mô thị trường niêm yết tại Việt Nam 31

2.1.2 Quy mô thị trường cổ phiếu chưa niêm yết (OTC) 37

2.1.3 Quy mô thị trường trái phiếu 39

2.1.4 Hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt nam 43

2.2 Thực trạng hoạt động của các CTQLQ trên TTCK Việt Nam 47

2.2.1 Thực trạng xây dựng DMĐT theo quy định của Luật chứng khoán và các văn bản quy phạm pháp luật 47

2.2.2 Đánh giá cơ hội và khó khăn của việc triển khai hoạt động xây dựng DMĐT của các CTQLQ 52

2.3 Ứng dụng lý thuyết Markowitz để xây dựng DMĐT trên TTCK Việt Nam 54

2.3.1 Các phương pháp phân tích đầu tư đang áp dụng tại Việt Nam 54

2.3.2 Mẫu và phương pháp phân tích theo mô hình SIM 55

2.3.2.1 Tiêu chí lựa chọn 55

2.3.2.2 Danh mục lựa chọn 56

2.3.2.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 56

2.3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 57

2.3.2.5 Phân tích dữ liệu sơ bộ, kiểm định các giả thuyết của mô hình 57

2.3.2.6 Ước lượng mô hình SIM theo phương pháp OLS 58

2.3.2.7 Kết quả đo lường rủi ro của các chứng khoán trong mẫu 58

2.3.2.8 Phân tích kết quả 59

2.3.2.9 Kết luận về việc thiết lập mô hình SIM 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 65

3.1 Xu hướng phát triển các công ty QLQ tại Việt Nam 65

3.2 Giải pháp xây dựng DMĐT của các công ty QLQ trên TTCK Việt Nam 67

3.2.1 Xây dựng quy trình triển khai nghiệp vụ QLDM chuẩn mực và thống nhất 67

tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 4

3.2.2 Xây dựng mục tiêu đầu tư, lựa chọn chiến lược đầu tư 70

3.2.3 Xây dựng chiến lược đầu tư 71

3.2.4 Lựa chọn chứng khoán, xác định đầu tư theo mô hình SIM và hệ số β 73

3.2.4.1 Thu thập dữ liệu 74

3.2.4.2 Tính toán tỷ suất sinh lời 74

3.2.4.3 Ước lượng giá trị α, β 75

3.2.4.4 Đưa ra danh mục chi tiết theo hệ số β 75

3.2.4.5 Kiểm soát rủi ro bằng cách quản trị năng động 76

3.2.5 Đầu tư các công cụ tài chính mới để phong phú các sản phẩm trong DMĐT 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: CÁC BẢNG SỐ LIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ HIỆN TẠI TẠI VIỆT NAM

PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH CÁC CỔ PHIẾU LỰA CHỌN TRONG MẪU KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 4: TỶ SUẤT SINH LỜI QUÁ KHỨ CỦA CÁC CỔ PHIẾU ĐƯỢC CHỌN TRONG

MẪU

PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH VIỆC TUÂN THỦ THEO PHÂN PHỐI CHUẨN CỦA

CHỖI TSSL CỦA CÁC CHỨNG KHOÁN

PHỤ LỤC 6: KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG PHƯƠNG SAI SAI SỐ KHÔNG ĐỒNG NHẤT

PHỤ LỤC 7: GIÁ TRỊ ƯỚC LƯỢNG CÁC HỆ SỐ CỦA MÔ HÌNH SIM THEO PHƯƠNG

PHÁP OLS

PHỤ LỤC 8: KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG RỦI RO CÁC CHỨNG KHOÁN TRONG MẪU

PHỤ LỤC 9 NỘI DUNG KHOẢN 1 VÀ KHOẢN 2 ĐIỀU 91 NGHỊ ĐỊNH 58/2012/NĐ-CP

NGÀY 20/07/2012

tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTQLQ Công ty Quản lý Quỹ

TTCK Thị trường Chứng khoán UBCKNN Uỷ ban chứng khoán nhà nước VSD Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam

tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 Giá trị giao dịch cổ phiếu tại HOSE từ 2008 – tháng 12/2012

Bảng 2.2 Giá trị giao dịch cổ phiếu tại HNX từ 2008 – 12/2012

Bảng 2.3 Giá trị giao dịch cổ phiếu tại UPCOM từ 2009 – tháng 12/2012

Bảng 2.4 Số lượng tài khoản của nhà đầu tư trên TTCK

Bảng 2.5 Quy mô hoạt động quản lý tài sản của công ty QLQ

Bảng 2.6 Rủi ro của những cổ phiếu có TSSL cao

Bảng 2.7 Rủi ro của những cổ phiếu có TSSL thấp

Biều đồ 2.1 Biến động của Chỉ số Vn-Index trong giai đoạn 2008-2012

Biểu đồ 2.2 Biến động chỉ số HNX-Index trong giai đoạn 2008-2012

Biểu đồ 2.3 Biến động chỉ số HNX-Index trong giai đoạn 2009-2012

Biểu đồ 2.4 Quy mô phát hành trái phiếu chính phủ giai đoạn 2010-2013

Biều đồ 2.5 Quy mô niêm yết trái phiếu chính phủ

tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) từ khi chính thức đi vào hoạt động đã được gần 13 năm Tuy nhiên, Sau một thời gian hoạt động thì cho tới nay có thể thấy rằng

TTCKViệt Nam đang trong giai đoạn đầu phát triển và tiềm ẩn nhiều rủi ro Các nhà đầu tư

cá nhân chiếm tỉ lệ trên 90% các nhà đầu tư trên thị trường tuy nhiên bên cạnh một số nhà

đầu tư đã thành công, không ít người đã thất bại, chán nản và rời bỏ thị trường do không

lường hết được những rủi ro Trước tình hình ấy, việc phát triển lựa chọn đầu tư thông qua

các công ty Quản lý Quỹ được coi như một giải pháp nhằm hạn chế rủi ro của các nhà đầu

tư cá nhân cũng như tổ chức trong giai đoạn phát triển hiện tại của nền kinh tế

Việc nghiên cứu và khuyến nghị về danh mục cổ phiếu đầu tư giúp các CTQLQ xây dựng danh mục đầu tư tối ưu nhằm hạn chế rủi ro cho các khách hàng uỷ thác sẽ góp phần

vào sự phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như phát triển loại

hình CTQLQ - một kênh huy động vốn tối quan trọng cho nền kinh tế

Tại các TTCK phát triển nhà đầu tư trước khi đầu tư vào bất kỳ tài sản nào họ đều

có những phân tích kỹ lưỡng về rủi ro và tỷ suất sinh lợi Và công cụ thường được sử dụng

là các mô hình tài chính như mô hình Markowitz, SIM, CAPM, APT

Trong mỗi mô hình đều có những ưu, nhược điểm riêng nhưng mô hình SIM khá đơn giản và dễ vận dụng để tính toán cũng như mô tả mối quan hệ giữa lợi nhuận của một

chứng khoán cụ thể với lợi nhuận của toàn bộ thị trường và đo lường rủi ro hệ thống của

chứng khoán riêng lẻ

Chính vì thế tôi quyết định chọn đề tài: XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC

CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 8

Đối với công ty Quản lý Quỹ nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư là nghiệp vụ quản

lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư

nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng

Quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm

theo đầu tư, khách hàng uỷ thác tiền cho công ty quản lý quỹ thay mặt mình quyết định đầu

tư theo một chiến lược hay nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận hoặc yêu cầu

Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư là nghiệp vụ phổ biến bậc nhất ở hầu hết các thị trường

chứng khoán trên thế giới Đây là nghiệp vụ không thể thiếu của các quỹ đầu tư chứng

khoán, các công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính

khác Tuy nhiên, ở thị trường Việt Nam việc xây danh mục đầu tư tốt cho khách hàng của

các Công ty quản lý Quỹ chưa được đầu tư đúng hướng và chuyên nghiệp để thu hút vốn

của các Nhà đầu tư cá nhân

Việc đưa ra những dự đoán chính xác về khả năng sinh lời cũng như rủi ro trong tương lai của một chứng khoán không phải là một việc dễ dàng ngay cả với những nhà

phân tích chứng khoán chuyên nghiệp Do đó, mức sinh lời của chứng khoán trong quá khứ

là dữ liệu tham chiếu quan trọng để nhà đầu tư xem xét đầu tư chứng khoán

Mục đích của bài nghiên cứu này là tập trung vào phân tích để giúp các CTQLQ xây dựng Danh mục đầu tư tốt cho khách hàng uỷ thác đầu tư Bằng việc áp dụng mô hình lựa

chọn danh mục đầu tư của William Sharpe cho Cổ phiếu được lựa chọn tại Sở Giao dịch

Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), dưới một góc độ nào đó có thể đem lại một

cái nhìn tổng quan hơn về đầu tư chứng khoán cũng như việc xây dựng Danh mục đầu tư

hiệu quả

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của bài viết là cổ phiếu niêm yết đang được giao dịch trên TTCK Việt Nam Dựa trên cơ cấu vốn hoá và vốn điều lệ của các Công ty niêm yết lớn trên

HOSE với giả định không có rủi ro tài sản, thuế, chi phí giao dịch và danh mục đầu tư

Trang 9

chuẩn để lựa chọn ra các cổ phiếu đầu tư sao cho tối thiểu hoá rủi ro mà vẫn đáp ứng được

tỷ suất sinh lời kỳ vọng của khách hàng uỷ thác

Đối tượng của luận văn không đề cập tới giao dịch cổ phiếu trên thị trường phi tập trung (OTC) và Upcom

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào phân tích sự biến động TSSL của các cổ phiếu niêm yết tại HOSE Từ đó lựa chọn ra 30 cổ phiếu đầu tư để thiết lập DMĐT hiệu quả cho khách

hàng uỷ thác

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong đề tài là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích hồi qui, các phương pháp ước lượng như bình phương tối thiểu thông thường

(OLS) để đề xuất đầu tư nhằm hạn chế rủi ro cho các CTQLQ trên thị trường chứng khoán

Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Hệ thống hoá các lý thuyết liên quan tới mô hình chỉ số đơn (SIM), rủi ro và đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán, lý thuyết về chức năng của các CTQLQ

Thống kê các nghiên cứu trước đây về sử dụng các mô hình trên thị trường chứng khoán tại các nước

Hệ thống hoá các phương pháp ước lượng, kiểm định việc tuân thủ phân phối chuẩn của TSLT Từ đó đưa ra kết quả ước lượng mô hình chỉ số đơn và kết quả đo lường rủi ro đối

với các cổ phiếu được lựa chọn trên HOSE

Từ đó rút ra các khuyến nghị đầu tư cho các CTQLQ để nhằm đảm bảo kết quản đầu tư

có lợi cho các khách hàng uỷ thác

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY QUẢN

LÝ QUỸ VÀ LÝ THUYẾT MARKOWITZ 1.1 Tổng quan về Thị trường chứng khoán và rủi ro trên thị trường chứng khoán

 Định nghĩa

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chuyển nhượng các loại chứng khoán khác nhau Thị trường chứng khoán có chức năng: Huy động vốn đầu tư cho

nền kinh tế, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, tạo tính thanh khoản cho các

chứng khoán, đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp, tạo môi trường giúp chính phủ

quản lý và thực hiện các chính sách vĩ mô

 Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

Trong thị trường chứng khoán các chủ thể tham gia có thể chia thành bốn nhóm như sau:

Nhà phát hành, nhà đầu tư, các tổ chức kinh doanh chứng khoán và các tổ chức liên quan tới

quản lý nhà nước về chứng khoán

- Nhà phát hành Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ

- Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có

tổ chức

- Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán bao gồm: Công ty chứng khoán;

Trang 11

- Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán: Cơ quan quản lý Nhà nước; Sở giao dịch chứng khoán; Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán; Tổ chức lưu ký

và thanh toán bù trừ chứng khoán; Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán; Các tổ chức tài trợ chứng khoán; Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm

 Công cụ giao dịch

Các công cụ giao dịch chủ yếu trên thị trường chứng khoán bao gồm: Trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán phái sinh

 Rủi ro trên thị trường chứng khoán

Trong đầu tư chứng khoán rủi ro được quan niệm là hậu quả của sự thay đổi, biến động không lường trước được của giá trị tài sản và không chắn chắn về lợi tức mà nhà đầu tư có

thể nhận được từ việc đầu tư của mình Hay nói cách khác rủi ro trên thị trường chứng

khoán là khả năng mà theo đó lợi tức thu về của nhà đầu tư thực sự khác so với lợi tức kỳ

- Rủi ro phi hệ thống (rủi ro cá thể): là rủi ro khi xảy ra chỉ ảnh hưởng đến một hoặc một số tài sản hay chứng khoán riêng lẻ Đây chính là rủi ro có thể phân tán Loại rủi

ro này gây ra bởi chính doanh nghiệp như: năng lực quản lý yếu kém, quyết định cơ

Trang 12

cấu tài sản và nguồn vốn không phù hợp, thị hiếu tiêu dùng, cạnh tranh, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính…

Trong đầu tư tài chính, chỉ tiêu phương sai hoặc chỉ tiêu độ lệch chuẩn của phân phối tỷ suất lợi tức được sử dụng để đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán Phương sai của thu

nhập kỳ vọng của tài sản là tổng bình phương độ lệch của thu nhập kỳ vọng có nhân trọng

số Độ lệch chuẩn là căn bậc hai của phương sai

1.2 Tổng quan hoạt động của công ty Quản lý Quỹ

1.2.1 Khái niệm công ty QLQ

Theo khái niệm về công ty quản lý quỹ đầu tư (Fund Management) tại thị trường chứng khoán Mỹ, công ty quản lý quỹ là công ty chuyên trách thực hiện việc quản lý các quỹ đầu

tư Các quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty, phát hành cổ phần

Công ty đầu tư sử dụng nhà tư vấn đầu tư, hay người quản lý đầu tư để quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục đầu tư của quỹ Người quản lý quỹ được toàn quyền

quản lý danh mục đầu tư, mua bán chứng khoán phù hợp với các mục tiêu đầu tư của quỹ

Công ty quản lý quỹ được cấu trúc dưới hai dạng: quản lý quỹ đầu tư quỹ dạng đóng và quỹ

dạng mở

Ở Việt Nam, theo thông tư 212/2012/TT-BTC ban hành ngày 05/12/2012 về hướng dẫn thành lập, tổ chức và hoạt động Công ty QLQ thì Công ty QLQ được định nghĩa là doanh

nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng

khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán

1.2.2 Chức năng của công ty QLQ

CTQLQ có các chức năng hoạt động và cung cấp các sản phẩm sau:

 Quản lý quỹ đầu tư (Asset management)

Trang 13

- Huy động và quản lý vốn và tài sản

- Tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư

- Quản lý đầu tư chuyên nghiệp

- Sử dụng vốn của khách hàng uỷ thác đầu tư thông qua các công cụ tài chính

- Tối ưu hoá các nguồn vốn cho các nhà đầu tư

 Tư vấn đầu tư chứng khoán

- Thông qua việc phân tích đánh giá về thị trường, phân tích giá trị tài chính, giá trị đầu tư và hỗ trợ cho các hoạt động quản lý đầu tư và các tư vấn như đã nêu trên CTQLQ được phép tư vấn cho khách hàng về chính sách đầu tư và chiến thuật giao dịch

- Phát hành ra công chúng các ấn phẩm về đầu tư chứng khoán sau khi đã được cấp phép theo quy định của pháp luật về báo chí

Như vậy thực chất hoạt động của CTQLQ là thực hiện chức năng về quản lý vốn, tài sản thông qua việc đầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất nhằm gia tăng giá trị của quỹ đầu

1.2.3 Cơ chế hoạt động và giám sát của Công ty QLQ

Trang 14

 Cơ chế hoạt động của Công ty QLQ

Về cơ bản, mô hình hoạt động của CTQLQ trong thị trường tài chính được tổ chức nhằm tách bạch chức năng tư vấn quản lý và chức năng đại diện sở hữu

Về bản chất, tiền của nhà đầu tư uỷ thác cho Công ty QLQ đi đầu tư nên sở hữu khoản đầu tư này thuộc về nhà đầu tư Công ty QLQ giới thiệu khoản đầu tư đến nhà đầu tư,

chứ không trực tiếp đầu tư nên họ chỉ đại diện nhà đầu tư trong vấn đề sở hữu Do đó, việc

góp vốn và sử dụng vốn phải thông qua một ngân hàng lưu ký và giám sát theo quy định của

UBCK

Hình 1.1 Mô hình hoạt động công ty Quản lý Quỹ

Quy trình đầu tư cho khách hàng uỷ thác của Công ty QLQ thể hiện trên hình 1.1 được cụ thể hoá như sau:

(1): Các Công ty QLQ sẽ giới thiệu các cơ hội đầu tư này đến các nhà đầu tư, những

Đối tượng nhận thanh toán (Đơn vị phát hành CP, chứng chỉ quỹ; trung tâm lưu ký CK)

(1)Giới thiệu cơ hội đầu tư

(4)Chuyển tiền uỷ thác vào

TK lưu ký đã mở tại Ngân hàng

(3)Mở tài khoản uỷ thác cho khách hàng tại

NH lưu ký (5)Thực hiện đầu tư (có xác nhận của nhà uỷ thác) – Lưu ký tài sản đầu tư

(6)Chuyển tiền theo mục đích của khoản đầu tư (2)Ký hợp đồng QLDM

Trang 15

.(2) Xét thấy cơ hội đầu tư này có thể tham gia tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt các nhà đầu tư (sau này gọi chung là khách hàng uỷ thác) ký kết với công ty QLQ hợp đồng QLDM

đầu tư Theo đó, công ty QLQ sẽ có nhiệm vụ quản lý và đầu tư số tiền uỷ thác của khách

hàng theo đúng hợp đồng và mục đích đầu tư của nhà uỷ thác

(3) Sau khi ký hợp đồng quản lý DMĐT, Công ty QLQ sẽ đại diện khách hàng mở

TK lưu ký tại Ngân hàng lưu ký và giám sát theo chỉ định của khách hàng hoặc theo quy

định của UBCK

(4) Nhà đầu tư sẽ tiến hành đóng tiền vào TK đã mở ở ngân hàng lưu ký và giám sát

Tài khoản này được ngân hàng quản lý và chỉ chuyển tiền theo đúng những nội dung trong

hợp đồng QL DMĐT Khoản đầu tư này sẽ được lưu ký tại ngân hàng lưu ký

(5) Công ty QLQ sẽ thay mặt nhà đầu tư để quản lý khoản đầu tư này Công ty quản

lý quỹ được xem là người đại diện nhóm cổ đông là nhà uỷ thác, họ sẽ nhận phí quản lý từ

nhà uỷ thác và có nhiệm vụ cung cấp các thông tin liên quan đến khoản đầu tư cho nhà uỷ

Trang 16

Tiền chuyển nhượng được chuyển về tài khoản tại ngân hàng thanh toán lúc ban đầu Như

vậy, căn cứ vào những nội dung trên, ngân hàng để các nhà đầu tư đối chiếu với bảng chính

sách đầu tư và đánh giá thành quả hay năng lực của Công ty QLQ trong việc quản lý tiền

Đối với những hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng diễn ra tương tự

Nghĩa là tiền của các nhà đầu tư gián tiếp đưa cho một Công ty QLQ quản lý được mở tại

một ngân hàng và khoản đầu tư này được ghi nhận sở hữu phải được một ngân hàng lưu ký,

Công ty QLQ không được phép mang những khoản đầu tư này đi cầm cố thế chấp để vay

vốn

 Cơ chế giám sát của công ty QLQ và các cơ quan chức năng

- Cơ quan quản lý chủ quan của công ty quản lý quỹ là UBCKNN, Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam giám sát toàn bộ các hoạt động của công ty quản lý quỹ,

các quỹ đầu tư và các ngân hàng giám sát về mặt vĩ mô

- Ngân hàng lưu ký và giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu

tư chứng khoán và giám sát công ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư

- Công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý việc đầu tư theo danh mục đầu tư được nêu trong hợp đồng đã ký với khách hàng uỷ thác hoặc quản lý quỹ đầu tư theo bản cáo

bạch của quỹ

- Công ty kiểm toán thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác tình hình hoạt động của quỹ đầu tư, bảo đảm sự minh bạch

1.2.4 Chiến lược quản lý DMĐT của Công ty QLQ

Hai chiến lược được nhắc tới phổ biến nhất là chiến lược quản lý DMĐT chủ động (Active Strategy) và chiến lược quản lý DMĐT thụ động (Passive Strategy) hay sự phối

hợp giữa hai chiến lược này (Mix - Strategy)

Trang 17

Chiến lược quản lý DMĐT chủ động (Active Strategy):

Ngược lại với chiến lược thụ động, chiến lược chủ động luôn chú trọng sử dụng các chỉ số kinh tế, tài chính, cùng các công cụ khác nhau để đưa ra các dự báo về thị trường và

định giá chứng khoán, từ đó mua bán chứng khoán một cách chủ động để tìm kiếm lợi

nhuận cao hơn so với việc chỉ mua và nắm giữ chứng khoán

Chiến lược quản lý DMĐT thụ động (Passive Strategy):

Chiến lược này được hiểu một cách đơn giản nhất là chiến lược mua và nắm giữ (buy - and - hold), nhà đầu tư sẽ mua và nắm giữ chứng khoán trong một thời gian dài, trong

suốt thời gian đó, họ hầu như không điều chỉnh hoặc chỉ điều chỉnh một cách tối thiểu

DMĐT Chiến lược thụ động được cổ vũ bởi lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market

Hypothesis), họ cho rằng thị trường là hiệu quả, giá cả thị trường của các cổ phiếu luôn hợp

lý, nó phản ánh một cách nhanh chóng tất cả thông tin liên quan đến cổ phiếu đó, thị trường

là một cơ chế định giá hiệu quả và do đó không tồn tại các chứng khoán bị định giá sai

Do vậy, không cần phải bỏ công tìm kiếm các chứng khoán bị định giá sai và mua bán chứng khoán một cách chủ động Các nhà đầu tư theo đuổi chiến lược thụ động thường

đa dạng hoá DMĐT nhằm làm cho DMĐT của mình khớp với một chỉ số chứng khoán nào

đó Chiến lược thụ động thường được gọi là chiến lược khớp chỉ số (Match - Index -

Strategy) Chiến lược bị động thuần tuý nhất chính là chiến lược khớp chỉ số một cách hoàn

toàn

1.3 Danh mục đầu tư và xây dựng Danh mục Đầu tư

1.3.1 Danh mục đầu tư

DMĐT (Investment Portfolio): là sự kết hợp nắm giữ các loại chứng khoán, hàng hoá, bất động sản, các công cụ tương đương tiền mặt hoặc các tài sản khác bởi một cá nhân

hoặc một nhà đầu tư thuộc tổ chức Mục đích của DMĐT là làm giảm rủi ro bằng cách đa

Trang 18

dạng hoá đầu tư Như vậy một DMĐT đơn giản là tập hợp bao gồm một hoặc nhiều tài sản

đầu tư khác nhau

Sự phát triển của thị trường tài chính đã tạo ra nhiều loại tài sản tài chính khác nhau

Đồng thời các lý thuyết hiện đại và nhiều bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy hiệu ứng rõ

ràng của việc giảm thiểu rủi ro thông qua quá trình đa dạng hoá DMĐT Do vậy, các tổ

chức và các nhà đầu tư chuyên nghiệp không bao giờ đầu tư vào một tài sản riêng lẻ mà kết

hợp nhiều loại tài sản đầu tư khác nhau Đây chính là quan điểm đầu tư theo danh mục

Các loại tài sản trong DMĐT thường được các nhà đầu tư nắm giữ theo phân loại của CFA Institue chủ yếu bao gồm:

- Cổ phiếu (Equity Investment): cổ phiếu nội địa (Domestic Equities) và cổ phiếu quốc tế (International Equities)

- Các công cụ đầu tư có lợi suất cố định (Fix- Income Investment): cổ phiếu ưu đãi (Prefered Stock) và Trái phiếu (bonds); Các công cụ có nguồn gốc từ tài sản được chứng khoán hoá (Asset backed Securities) - phổ biến là các chứng khoán có nguồn gốc bất động sản, và các nghĩa vụ nợ có bảo đảm; Các công cụ của thị trường tiền tệ

- tín phiếu kho bạc, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ;

- Các công cụ tài chính phái sinh (Derivaties) như hợp đồng kỳ hạn (Forward contracts), hợp đồng tương lai (Future contracts), hợp đồng quyền chọn (Option contracts) và hợp đồng toán đổi (Swap Contracts)

- Các hình thức đầu tư khác (Alternative Investment): Bao gồm các hình thức như đầu

tư bất động sản (Real Estate); vốn quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital); Quỹ phòng hộ (Hedge Funds)…Các hình thức đầu tư này thường có đặc điểm là tính thanh khoản thấp, thời hạn đầu tư tương đối dài, khó xác định giá thị trường, thiếu các dữ liệu quá khứ về lợi nhuận và rủi ro

Trang 19

+ Quỹ đầu tư bất động sản: Quỹ đầu tư bất động sản là một loại hình quỹ đóng, thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng và không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư, với mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào bất động sản theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 91 Nghị định số

58/2012/NĐ-CP ( Thông tư 228/2012/TT-BTC ngày 27/12/2012, điều 2, mục

giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán.( Thông tư 229/2012/TT-BTC ngày

lý chứng khoán quản chế nghiêm ngặt (Trần Thị Thanh Thảo;2008; Quỹ

phòng hộ (Hedge Fund) tại Việt Nam; trang 1; Tạp chí chứng khoán tháng

6.2008)

1.3.2 Xây dựng Danh mục Đầu tư

Trang 20

Xây dựng danh mục đầu tư là điều quan trọng trong kinh doanh chứng khoán, là công

cụ hữu hiệu để hạn chế rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận Khi tham gia đầu tư chứng khoán và

các lĩnh vực đầu tư khác, nhà đầu tư luôn được khuyên là nên đa dạng hóa danh mục đầu tư

để tránh rủi ro và lời nhắc nhở mà các chuyên gia thường gửi tới nhà đầu tư là "không nên

bỏ trứng vào một rổ"

Đa dạng hóa danh mục đầu tư là việc bỏ vốn đầu tư vào các chứng khoán có độ rủi ro khác nhau dựa trên những tỷ lệ đầu tư không giống nhau trên thị trường, xây dựng lên một

cơ cấu tài sản hợp lý để có thể phân tán rủi ro hay hạn chế tối đa rủi ro đầu tư Đa dạng hoá

danh mục đầu tư chứng khoán tuy không hoàn toàn xoá bỏ hết rủi ro, nhưng nó có thể làm

giảm bớt mức rủi ro theo một nguyên tắc đầu tư "không nên để tất cả trứng vào cùng một

rổ" Việc đa dạng hoá DMĐT được thể hiện như sau:

- Đa dạng hoá chứng khoán: Nếu đầu tư tất cả vốn vào một loại cổ phiếu, mà tình hình kinh doanh của công ty đó không được tốt, thậm chí đi đến phá sản thì nhà đầu tư không những không thu được cổ tức, mà còn bị mất cả vốn

Vậy nên, đầu tư vào nhiều loại chứng khoán, cho dù có một vài loại chứng khoán trong số đó gặp rủi ro thì vẫn có thể thu được lợi từ những chứng khoán khác để bù đắp thiệt hại

- Đa dạng hóa tổ chức phát hành: Nếu danh mục đầu tư chỉ bao gồm toàn bộ trái phiếu chính phủ thì nhà đầu tư không cần phải đa dạng hoá chủ thể phát hành, bởi vì trái phiếu chính phủ gần như không có rủi ro Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư mua trái phiếu công ty, trái phiếu địa phương hoặc cổ phiếu thì việc đa dạng hoá chủ thể phát hành là một vấn đề cần được cân nhắc, bởi các loại chứng khoán này luôn tiềm ẩn một số rủi ro nhất định

Ngoài ra, có thể đa dạng hoá theo lĩnh vực kinh doanh, nguồn thu hoặc đa dạng hoá theo vị trí địa lý

Trang 21

Có nhiều lý do để giải thích tại sao cần phải xây dựng danh mục đầu tư Một cách đơn giản, việc mở rộng phạm vi đầu tư vào nhiều công ty, nhiều lĩnh vực không có nhiều sự

liên kết với nhau, nhà đầu tư có thể kiềm chế bớt sự biến động giá cả với danh mục của

mình do thực tế, rất hiếm khi xảy ra trường hợp: tất cả các ngành đi lên hay đi xuống với

cùng một tốc độ và trong cùng một thời kỳ Do đó, khi xây dựng được DMĐT tốt sẽ đảm

bảo sự hoạt động ổn định hơn, ít rủi ro hơn cho nhà đầu tư

Một danh mục đầu tư tốt nhất là danh mục tối ưu về mặt số lượng và chủng loại chứng khoán, tức là danh mục có kỳ vọng lợi nhuận cao nhất Nhà đầu tư cần nghiên cứu

các loại chứng khoán khác nhau, so sánh kỳ vọng lợi nhuận và chọn loại chứng khoán có kỳ

vọng lợi nhuận cao nhất Điều này phụ thuộc vào nhận định riêng của nhà đầu tư, đòi hỏi

nhà đầu tư phải luôn có khả năng tư duy, ý chí và bản lĩnh khi phân tích và đưa ra quyết

định

1.3.3 Sự cần thiêt phải xây dựng DMĐT của công ty QLQ

Ngày nay hoạt động xây dựng và quản lý DMĐT không đơn thuần là nghiệp vụ nội

bộ của các tổ chức tài chính mà nó đã trở thành một hoạt động dịch vụ được chuyên môn

hoá Dịch vụ quản lý DMĐT là một trong những nghiệp vụ được phép thực hiện của các tổ

chức tài chính, các công ty chứng khoán và các CTQLQ, ngân hàng đầu tư Dịch vụ này có

thể được biết tới bởi nhiều tên gọi khác nhau như: dịch vụ quản lý tài sản (Asset

Management); dịch vụ quản lý tài sản cá nhân (Private Wealth Management); dịch vụ uỷ

thác đầu tư (Investment Trust)…

Việc phân bổ tài sản là việc lựa chọn một tỷ lệ đầu tư trong danh mục phân bổ cho các loại tài sản chính nhằm đạt được mức lợi nhuận cao nhất(có thể trong dài hạn hoặc ngắn

hạn) với mức độ rủi ro thấp nhất có thể Tuy nhiên, trong quá trình đầu tư, người quản lý có

thể thay đổi các tỷ lệ đã định này nhằm tận dụng cơ lợi xuất hiện tại thời điểm đó nhằm đạt

Trang 22

được mức lợi tức cao hơn nữa Đồng thời, trong cùng một loại tài sản, người quản lý có thể

lựa chọn có lợi tức mong đợi lớn hơn mức lợi trung bình của các tài sản đó

Xây dựng DMĐT là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động của hệ thống công ty QLQ, nó là công cụ hữu hiệu cho các công ty QLQ hạn chế rủi ro và tối đa hoá lợi nhuận

cho khách hàng Ngày nay, các cá nhân đều có thể tự quản lý và đầu tư tài sản của mình trên

thị trường chứng khoán Tuy nhiên, mức độ chuyên nghiệp và sự hiểu biết về thị trường

chứng khoán cũng như cơ sở trang thiết bị để áp dụng phương pháp phân tích tài chính hiện

đại của những nhà đầu tư này chưa nhiều Do đó, việc uỷ thác cho công ty QLQ đầu tư trên

TTCK là một phương pháp vừa tiết kiệm chi phí, thời gian mà đem lại mức lợi nhuận theo

đúng kỳ vọng Để làm được điều này đòi hỏi các công ty QLQ phải xem việc xây dựng và

quản lý DMĐT là một hoạt động cốt lõi để từ đó vừa phát triển khách hàng vừa phát triển

hoạt động kinh doanh của công ty trong điều kiện TTCK biến động

Việc áp dụng các mô hình tài chính hiện đại vào xây dựng DMĐT là yêu cầu không thể thiếu trong sự phát triển của hoạt động quản lý DMĐT và quản lý Quỹ đầu tư của công

ty QLQ trong tương lai Việc xây dựng DMĐT hiệu quả vừa tăng lòng tin của khách hàng

uỷ thác, vừa làm cho doanh thu hoạt động của công ty QLQ tăng lên tương ứng với định

hướng phát triển của công ty cũng như của UBCK khi ban hành quy chế hoạt động của công

ty QLQ năm 2012

1.3.4 Quy trình xây dựng Danh mục đầu tư

Thị trường chứng khoán, đặc biệt là trong ngắn hạn luôn có những biến động bất thường, nằm ngoài dự báo của cả những chuyên gia hàng đầu trong ngành Tuy nhiên, thực

tế thị trường chứng khoán của các quốc gia phát triển cho thấy những nhà đầu tư có những

thành công nổi bật, ổn định và lâu dài thường là những nhà đầu tư chuyên nghiệp có chiến

lược đầu tư được hoạch định cẩn trọng, đúng đắn và kiên trì theo đuổi chiến lược đó Việc

Trang 23

xây dựng một quy trình quản lý DMĐT mang tính khoa học thường dược xây dựng theo các

quy tắc sau:

Thứ nhất, xây dựng mục tiêu đầu tư Xây dựng mục tiêu bao giờ cũng là khâu đầu tiên

của một quá trình quản trị Và quy trình xây dựng DMĐT cũng bắt đầu bằng việc xây dựng

mục tiêu đầu tư Mục tiêu đầu tư thường phải đề cập đến 3 yếu tố cơ bản như: yêu cầu về lợi

nhuận, mức độ chấp nhận rủi ro và thời hạn thu hồi vốn Ngoài ra, mục tiêu đầu tư còn có

thể đề cập đến những hạn chế hay những ưu tiên trong hoạt động đầu tư Mỗi nhà đầu tư dù

là tổ chức hay cá nhân tùy theo những đặc thù, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mình có thể

có những mục tiêu đầu tư rất khác nhau Việc xây dựng mục tiêu đầu tư đóng vai trò rất

quan trọng bởi vì: mục tiêu là cơ sở để xây dựng DMĐT, là cơ sở để điều chỉnh DMĐT và

là căn cứ để đánh giá hiệu quả hoạt động của DMĐT

Thứ hai, chính sách phân bổ tài sản (Asset Allocation) hợp lý: Là quyết định tỉ lệ phân

bổ ngân qũy đầu tư của nhà đầu tư tổ chức hay cá nhân vào các loại tài sản đầu tư chính

như : tiền mặt và các công cụ tương đương tiền mặt, các công cụ thị trường tiền tệ, trái

phiếu, cổ phiếu, bất động sản…) để đạt được các mục tiêu đầu tư đã đặt ra Quyết định

phân bổ tài sản là đặc biệt quan trọng, vì nó chi phối việc thực hiện của hầu hết toàn bộ

DMĐT Thậm chí có nhiều quan điểm cho rằng việc phân bổ tài sản quyết định đến hơn

50% sự thành công hay thất bại của DMĐT

Thứ ba, lựa chọn chứng khoán (Security Selection) đầu tư: Đây là công đoạn, trong đó

nhà quản trị đầu tư phải sử dụng nhiều kỹ thuật, phương pháp và chiến lược khác nhau để

lựa chọn các chứng khoán cụ thể vào DMĐT Có thể nói đây là công đoạn cuối cùng trong

quy trình xây dựng DMĐT Nhưng đây là một công việc mang tính chất liên tục, nhà đầu tư

không chỉ thực hiện lựa chọn chứng khoán 1 lần duy nhất trong tòan bộ quá trình đầu tư mà

còn phải thường xuyên điều chỉnh DMĐT khi thị trường có những biến động hay đưa ra

quyết định mua bán kịp thời khi phát hiện có những chứng khoán bị định giá sai

Trang 24

 Các phương pháp lựa chọn cổ phiếu:

- Phân tích cơ bản: là phương pháp phân tích trong đó nhà phân tích sẽ sử dụng quy trình phân tích từ trên xuống dưới hoặc quy trình phân tích từ dưới lên trên để phân tích đánh giá các yếu tố của nền kinh tế, ngành, điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp để đưa ra nhận định về giá trị nội tại của cổ phiếu Các nhà phân tích thường tin rằng trong ngắn hạn giá trị thị trường có thể biến động lớn so với giá trị nội tại của cổ phiếu nhưng trong dài hạn dưới sự tác động cuả thị trường thì giá trị của cổ phiếu có xu hướng tiệm cận và phản ánh gần đúng giá trị nội tại của nó Từ đó nhà đầu tư sẽ so sánh giá trị nội tại với giá trị thị trường để đưa ra quyết định nắm giữ dài hạn hay ngắn hạn một cổ phiếu

- Phân tích kỹ thuật: đây là phương pháp khoa học dựa trên sự ghi chép biểu đồ dưới dạng đồ thị giao dịch của các cổ phiếu, hoặc nhóm cổ phiếu trong quá khứ để từ đó

vẽ ra bức tranh về xu hướng biến động trong tương lai Phân tích kỹ thuật tập trung vào xem xét giá và khối lượng giao dịch quá khứ để phán đoán xu thế của tương lai

Phương pháp này dựa trên giả định cơ bản là hầu hết các thông tin về cổ phiếu được phản ánh qua giá, không tồn tại chứng khoán bị định giá sai

Trong phân tích đầu tư nhà đầu tư có thể sử dụng từng loại phân tích riêng biệt nhưng

cũng có thể kết hợp cả phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật để đưa ra quyết định đầu tư

Phân tích cơ bản trả lời đầu tư cổ phiếu nào và phân tích kỹ thuật thì xác định thời điểm nên

mua và bán

 Các phương pháp lựa chọn trái phiếu:

Về nguyên tắc cũng giống như các tài sản tài chính khác, việc phân tích đầu tư trái phiếu

có thể dựa vào 2 phương pháp như lựa chọn đầu tư cổ phiếu Tuy nhiên, do đặc thù riêng

của trái phiếu như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suât, rủi ro tái đầu tư… nên nhà đầu tư phải

đánh giá và phân tích để lựa chọn đầu tư vào trái phiếu có cùng mức độ rủi ro nhưng lợi tức

Trang 25

thu được cao hơn Đề đưa ra quyết định đầu tư vào trái phiếu thì nhà đầu tư phải phân tích,

dự báo xu hướng biến động của lãi suất, dự báo tình hình hoạt động của công ty cũng như

mức độ tin nhiệm trong tương lai của công ty đó

 Lựa chọn các loại tài sản khác:

Ngoài trái phiếu và cổ phiếu thì DMĐT có thể bao gồm tài sản khác như: công cụ trên thị

trường tiền tệ, bất động sản…Mỗi loại hình đầu tư đều có phương pháp phân tích đặc thù

Do đó, để quyết định đầu tư vào bất kỳ tài sản nào cũng phải đánh giá dựa trên các tư vấn

của chuyên gia trên lĩnh vực đó

Thứ tư, lựa chọn chiến lược quản lý DMĐT hiệu quả Trong mô hình này, việc lựa chọn

chiến lược đầu tư xuất hiện với tư cách là một công đoạn độc lập trong quy trình xây dựng

và quản lý DMĐT Có quan điểm cho rằng nó thuộc công đoạn phân bổ tài sản, cũng có

quan điểm cho rằng nó thuộc công đoạn lựa chọn chứng khoán Tuy nhiên, dù là một công

đoạn độc lập hay thuộc công đoạn nào thì việc lựa chọn chiến lược đầu tư vẫn là một khâu

quan trọng, nó là cầu nối truyền dẫn mục tiêu đầu tư và chính sách phân bổ tài sản đến công

đoạn thực hiện cụ thể là lựa chọn chứng khoán Nó là kim chỉ nam hướng dẫn quan trọng

khi tiến hành xây dựng DMĐT và toàn bộ quá trình điều chỉnh DMĐT sau đó

1.4 Lý thuyết Markowitz về xây dựng Danh mục đầu tư

Đa dạng hoá DMĐT có thể làm giảm thiểu rủi ro phi hệ thống, Harry Markowitz đã chỉ

ra một cách chính xác bằng sự lựa chọn những cổ phần không di chuyển cùng chiều cùng

với nhau thì nhà đầu tư có thể làm giảm độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi nhuận sinh lời như

thế nào Trong đầu tư tài chính nhà đầu tư luôn tìm cách đạt lợi nhuận cao nhất, Harry

Markowitz đã đưa ra mô hình phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thị trường các tài sản tài

chính và cho phép giải bài toán trong trường hợp đầu tư các tài phẩm như một cặp đầu tư

Mô hình xem xét quan hệ giữa lợi nhuận tối ưu trung bình và độ rủi ro được đo bằng

phương sai của lợi tức vì vậy có thể gọi mô hình này là mô hình mean-variance

Trang 26

1.4.1 Các giả thuyết của mô hình Markowitz

 Giả thuyết đặt ra với mô hình Markowitz là:

- Các nhà đầu tư luôn e ngại rủi ro Với một mức rủi ro cho trước nhà đầu tư sẽ ưa thích phương án đầu tư nào có lợi nhuận kỳ vọng cao hơn Tương tự với cùng mức

kỳ vọng về lợi nhuận đạt được nhà đầu tư sẽ lựa chọn phương án đầu tư ít rủi ro hơn

- Các nhà đầu tư đánh giả rủi ro danh mục dựa vào phương sai của danh mục

- Các nhà đầu tư đưa ra quyết định dựa trên đường biên hữu dụng, đường thể hiện mối tương quan giữa lợi suất kỳ vọng và phương sai của tỷ suất lợi nhuận

- Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc trong khoảng thời gian nhất định Tất

cả các nhà đầu tư có cùng thời hạn đầu tư như nhau

 Những yếu tố liên quan đến mô hình

- Rủi ro và lợi nhuận (Risk and return): Mô hình này giả thuyết rằng các nhà đầu tư

đều có một mức ngại rủi ro nhất định, điều này có nghĩa là với 2 tài sản cho cùng một mức độ lợi nhuận thì nhà đầu tư sẽ lựa chọn tài sản có rủi ro thấp hơn Do đó, một nhà đầu tư chỉ chấp nhận mức rủi ro cao hơn khi họ thu về một tỷ suất sinh lợi cao hơn và ngược lại

- Trung bình và phương sai (mean and Variance): Giả thiết rằng các nhà đầu tư chỉ

bị ảnh hưởng bởi trung bình lợi nhuận trong tương lai hay còn gọi là lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn của DMĐT Trong đó, phương sai là bình phương của độ lệch chuẩn Mức chấp nhận rủi ro và thu nhập kỳ vọng của các nhà đầu tư khác nhau là khác nhau Ở đây độ lệch chuẩn được coi là tham số đặc trưng cho rủi ro, còn bình quân lợi nhuận trong tương lai chính là lợi nhuận kỳ vọng Tập hợp những điểm cho

Trang 27

rủi ro tối thiểu và lợi nhuận tối đa tạo nên đường thị trường hiệu quản theo đó giá cả của hôm nay được dùng để dự báo sát nhất cho ngày mai

- Sự đa dạng hoá danh mục: Một nhà đầu tư có thể giảm bớt rủi ro bằng cách kết

hợp nhiều lựa chọn khác nhau sao cho hệ số tương quan của chúng nhỏ hơn 1 Việc

đa dạng hoá danh mục giúp nhà đầu tư có thể lựa chọn cho mình một danh mục đầu

tư ít rủi ro hơn mà vẫn đem lại mức lợi nhuận theo dự tính

1.4.2 Mô hình chỉ số đơn

Mô hình của Markowitz đã là một mô hình tốt về lý thuyết và vững chắc về khái niệm Tuy nhiên, do hạn chế lớn là khối lượng công việc vượt quá khả năng của các nhà

phân tích Để giải quyết vấn đề này William Shape đã phát triển một biến thể đơn giản từ

mô hình về DMĐT hiệu quả của Markowitz để làm giảm một cách đang kể khối lượng công

việc cũng như dữ liệu tính toán (Sharpe 1963)

William Shape đã đưa ra mô hình chỉ số đơn đề cập đến mối quan hệ tuyến tính giữa

tỷ suất lợi tức tài sản và tỷ suất lợi tức chỉ số thị trường làm cơ sở tính toán DMĐT có hiệu

quả

Mô hình chỉ số đơn (Single Index Model – SIM) của một thị trường phân loại các nguồn gốc rủi ro thành các nhân tố hệ thống (vĩ mô), các nhân tố riêng (vi mô) Mô hình

đơn chỉ số giả thiết là các nhân tố vĩ mô có thể được đại diện bằng chỉ số thị trường Mô

hình này giảm được công việc tính toán đầu vào trong quy trình lựa chọn chứng khoán vào

DMĐT theo mô hình Markowitz SIM là một mô hình đơn giản hoá và chỉ định nghĩa một

nhân tố duy nhất là căn nguyên của giá trị hiệp phương sai giữa các mức lợi suất của một

loại chứng khoán và giả thuyết các mức lợi suất của chứng khoán i là một phương trình

tuyến tính của nhân tố đó, hoặc là chỉ số It

Trang 28

Theo mô hình này, việc xây dựng danh mục tối ưu được đơn giản hóa, việc đầu tư vào cổ phiếu nào đó đều dựa vào tỷ suất sinh lợi vượt trội so với chỉ số bêta Nếu các cổ

phiếu được xếp hạng từ thấp tới cao theo tỷ suất sinh lời vượt trội trên beta thì số lượng cổ

phiếu được chọn phụ thuộc vào việc chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư

Các giả thuyết của mô hình Sim như sau:

- Quan hệ tuyến tính giữa tỷ suất lợi tức tài sản và tỷ suất lợi tức chỉ số thị trường có dạng:

Ri = αi + βiRm + εi

- Kỳ vọng của yếu tố ngẫu nhiên bằng O, tức là E(εi) = 0

- Tỷ suất lợi tức chỉ số thị trường và yếu tố ngẫu nhiên không tương quan với nhau, tức là Cov(εi,ri) = 0

- Không có tương quan giữa các yếu tố ngẫu nhiên, tức là Cov(εi,εj) = 0 (i ≠ j)

Trong phương trình hàm số mô tả SIM, số hạng α i thể hiện một bộ phận lợi suất cố định

gắn liền của chứng khoán i Theo nghĩa đó, α i là hằng số, không có quan hệ phụ thuộc gì

vào chỉ số It

βi là hệ số đo mức độ nhạy cảm của lợi suất chứng khoán i đối với hành vi của chỉ số It Nếu βi >1 thì tài sản i tương ứng được gọi là năng động (Aggressive Asset) Nếu βi <1 thì

tài sản i là tài sản thụ động (Defensive Asset)

Cuối cùng, εi đại diện cho phần lợi suất đặc thù của chứng khoán i đang xét, không có tương quan với chỉ số It cũng như mức lợi suất của các loại chứng khoán khác đang tồn tại

trên thị trường

1.4.3 Ứng dụng mô hình chỉ số đơn

Trang 29

Mô hình chỉ số đơn biểu diễn mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lời của cổ phiếu i và tỷ suất sinh lời của danh mục thị trường dưới dạng một mô hình hồi quy tuyến tính như sau:

rit = αi + βi rMt + εi

Trong đó:

rit:là tỷ suất sinh lời của cổ phiếu i tại thời điểm t

βi: là hệ số góc của đường hồi quy

αi :là hằng số chênh lệch

εi: là thành phần ngẫu nhiên (Σεi= 0)

Hệ số βi được tính theo công thức

Một điều khác biệt so với các mô hình khác là mô hình chỉ số đơn có thể đo lường tách biệt từng loại rủi ro như rủi ro hệ thống, rủi ro phi hệ thống của từng loại cổ phiếu

Khi lấy phương sai hai vế của phương trình của mô hình SIM ta có:

Var(rit) = βi2Var(rMt)+Var( εi)

Từ đó có thể thấy rủi ro toàn bộ của cổ phiếu i bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời

của cổ phiếu:

Trang 30

Rủi ro hệ thống của cổ phiếu i bằng hệ số beta của cổ phiếu i nhân với rủi ro hệ thống

của thị trường:

Rủi ro phi hệ thống của cổ phiếu i được đo bằng độ lệch chuẩn của thành phần ngẫu

Với ý nghĩa thực tiễn trên, các SIM có những tác dụng tích cực: Giảm bớt các thông số

và tính toán đầu vào cho việc phân tích DMĐT Mô hình SIM rất hữu ích trong dự báo lợi

suất và rủi ro danh mục hay chứng khoán đơn lẻ

1.5 Các nghiên cứu trước đây về xây dựng DMĐT

1.5.1 Ứng dụng mô hình Markowitz và Shape vào thị trường chứng khoán

Nephalese của Rajan Bahadur Paudel và Sujan Koirala

 Mục đích nghiên cứu

Mặc dù thị trường chứng khoán của Nepal đang trong giai đoạn khởi đầu, tất cả các kiểu nhà đầu tư có thể được hưởng lợi từ nguồn tin và kiến thức chuyên sâu về phân

tích danh mục đầu tư mà giúp họ đa dạng hoá rủi ro đầu tư Phân tích hệ thống danh mục

có sẵn và do vậy lựa chọn danh mục đầu tư hợp lý giúp đa dạng hoá rủi ro mà không ảnh

hưởng đến suất sinh lợi một cách đối nghịch Nó cũng tạo điều kiện cho việc huy động

nguồn lực trong tất cả các lĩnh vực kinh tế bằng cách đưa nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào

cổ phiếu ở các loại hình công nghiệp khác nhau và do đó làm thúc đẩy tăng trưởng nền

kinh tế của đất nước

Nghiên cứu này được thực hiện với một quan điểm để áp dụng các mô hình danh mục đầu tư được đề xuất bởi Markowitz và Sharpe ở thị trường chứng khoán Nepal và do

đó hỗ trợ lựa chọn các danh mục đầu tư tối ưu của các cổ phiếu được niêm yết trên

Trang 31

NEPSE Nói cách khác, nghiên cứu này trả lời câu hỏi: liệu mô hình Markowitz và

Sharpe có cải thiện được hiệu năng đầu tư của một nhà đầu tư ở thị trường chứng

khoán Nepal hay không?

Nghiên cứu đã xem xét chỉ các cổ phiếu phổ thông trong việc định hình các danh mục và

đã tạo nên một số lượng có hạn các danh mục gồm có 2 tài sản theo mô hình Markowitz

Hơn nữa, nó đã hình thành một danh mục đầu tư tối ưu kết hợp nhiều loại cổ phiếu khác

nhau theo mô hình Sharpe Rõ ràng, nghiên cứu này đã cung cấp một số lựa chọn để ra

quyết định trong việc chọn lựa danh mục đầu tư tối ưu theo nhu cầu và sở thích của các nhà

đầu tư

 Mẫu và phương pháp phân tích

Nghiên cứu này được dựa trên dữ liệu rủi ro và lợi nhuận của một mẫu gồm 30 cổ phiếu được niêm yết trên NEPSE Việc lựa chọn mẫu được dựa trên các tiêu chí sau:

• Vì nghiên cứu bao gồm một giai đoạn của năm tài chính 1997-1998 đến giữa tháng

5 năm 2006, chỉ những công ty có cổ phiếu thông thường được liệt kê trước năm tài chính

1996/97 được chọn là công ty mẫu

• Chỉ những cổ phiếu cung cấp lợi nhuận trung bình cao hơn lãi suất phi rủi ro được lựa chọn làm mẫu Những chứng khoán cung cấp lợi nhuận thấp hơn so với tỷ lệ lợi nhuận

phi rủi ro bị loại trừ bởi vì những cổ phiếu bao hàm một vài rủi ro đầu tư, nhưng lợi nhuận

không bù đắp được rủi ro đầu tư (Sharpe 1956)

Mẫu lựa chọn dựa trên tiêu chí bao hàm sáu trong tám ngành công nghiệp và chiếm 23,25% tổng số cổ phiếu được niêm yết trên NEPSE vào cuối năm tài chính 1996/97 Số

lượng tổng các công ty niêm yết và số lượng cổ phiếu mẫu trong mỗi ngành công nghiệp

được thể hiện trong Bảng 1

Bảng 1: Đại diện cổ phiếu mẫu

Trang 32

Dữ liệu cho nghiên cứu này đã được thu thập từ các công bố và trang chủ của NEPSE, Ban Chứng khoán Nepal và Ngân hàng Nepal Rastra Những quy trình sau đây

được tuân theo để áp dụng mô hình danh mục đầu tư hai cổ phiếu của Markowitz:

• Lợi nhuận bình quân, độ lệch chuẩn, giá trị beta của mỗi cổ phiếu và thị trường được tính toán dựa trên lợi nhuận 10 năm qua (1997/98 đến giữa tháng 5 năm 2006)

• 435 danh mục đầu tư hai cổ phiếu được hình thành từ 30 cổ phiếu mẫu và mối tương quan của 435 bộ đã được tính toán

• Trong số 435 bộ, 50 bộ danh mục đầu tư hai cổ phiếu có tương quan ít nhất đã được lựa chọn để xem xét

• Tỷ trọng tối thiểu hoá rủi ro, lợi nhuận danh mục đầu tư và độ lệch chuẩn danh mục đầu tư đã được tính cho 50 bộ danh mục đầu tư hai cổ phiếu

• Một đường biên hiệu quả đã được phát triển dựa trên cơ sở trung bình và tiêu chuẩn của mỗi danh mục đầu tư

Các quy trình sau đây đã được tuân theo để áp dụng mô hình của Sharpe

Trang 33

• Tỷ lệ lợi nhuận vượt trội trên beta đã được tính toán cho mỗi cổ phiếu được xem xét và chúng được xếp hạng từ cao nhất đến thấp nhất

• Một điểm ngưỡng giới hạn đã được xác định

• Danh mục đầu tư tối ưu đã được hình thành từ những cổ phiếu có tỷ lệ lợi nhuận vượt trội trên beta cao hơn điểm giới hạn

 Kết luận của nghiên cứu:

Những sự tính toán thực tế cho thấy nhà đầu tư ở thị trường chứng khoán Nepal có thể giảm rủi ro của việc đầu tư bằng cách áp dụng mô hình đo lường rủi ro đã được phát

triển năm thập niên trước của Markowitz và Sharpe

 Sự tương đồng của TTCK Nepal và TTCK Việt Nam

Việc thành lập và vận hành thị trường chứng khoán Nepal (NEPSE) vào năm 1994

đã mở ra cánh cửa cho các nhà đầu tư Mặc dù nó phát triển chậm xong nó vẫn được đặc

điểm hoá bởi số lượng nhỏ các chứng khoán (150 chứng khoán của 142 công ty) vào cuối

năm 2006, thực hiện giao dịch truyền thống (hệ thống đấu giá công khai open-out-cry)

Thị trường chứng khoán Nepal được thành lập vào năm 1994 nhưng sự phát triển của TTCK Nepal có một số điểm tương đồng so với thị trường Việt Nam như sau:

- Các cổ phiếu ngành tài chính ngân hàng thống trị thị trường trong thời gian dài

- Khối lượng giao dịch trái phiếu chỉnh phủ khá thấp

- Vắng mặt các nhà đầu tư chuyên nghiệp, chủ yếu những nhà đầu tư theo kinh nghiệm của bản thân và xu hướng đầu tư theo đám đông

- Thị trường bị dẫn dắt bởi tin đồn nhiều hơn phân tích có tính hệ thống, mức độ công khai minh bạch trong thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết chưa cao

- Hầu như chưa áp dụng bất kỳ lý thuyết tài chính hiện đại nào vào việc thiết lập và quản lý DMĐT hiệu quả

Trang 34

1.5.2 Phân tích danh mục dựa trên mô hình Markowitz vào thị trường chứng

khoán Malaysia của Anton Abdulbasah Kamil; Chin Yew Feit; Lee Kin Kokt

 Mục tiêu nghiên cứu

Tập trung vào việc đầu tư chứng khoán thông qua việc thiết lập một DMĐT dựa trên mô hình markowitz nhằm đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và tối thiểu hoá rủi ro

Đưa vào mô hình một số yếu tố trong xây dựng danh mục tối ưu: tài sản phi rủi ro, thuế, chi phí giao dịch, danh mục tiêu chuẩn có thể cung cấp tối đa hoá lợi nhuận từ 15 mã chứng

khoán được lựa chọn từ KLSE

Xác định khoản tiền đầu tư vào từng loại cổ phiếu được lựa chọn theo mô hình Markowitz

 Mẫu và phương pháp phân tích

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng dữ liệu của giá đóng cửa hàng ngày của 15

cổ phiếu được lựa chọn, được thu thập theo các ngày giao dịch của KLSE từ ngày 1/6/2003

đến ngày 30/6/2004 Có 246 dữ liệu thu thập từ mỗi cổ phiếu được lựa chọn từ 3 lĩnh vực

chính, đó là Tài chính, Dịch vụ và Thương mại, và Sản phẩm tiêu dùng cho quá trình phân

tích Mô hình thể hiện sự tương đương trong cách thiết lập công thức theo những kịch bản

khác nhau thể hiện như dưới đây;

Danh mục tổng quát được xây dựng bởi 2 cổ phiếu đối nghịch là AFFIN (98.27%) và AMMB (1.7%) với suất sinh lợi đầu tư mong muốn là 5% với mức rủi ro 1.95% Quá trình

nghiên cứu được thực hiện với việc đưa vào tài sản phi rủi ro (trái phiếu kho bạc), có 3 cổ

phiếu đối nghịch và 1 tài sản phi rủi ro định hình nên danh mục tối ưu bằng cách đầu tư

0.034% vào AMMB, 0.075% NESTLE, 0.036% CARLSBERG và 99.854% vào tài sản phi

rủi ro với mức rủi ro hầu như zero (0.00002) Bên cạnh đó, kết quả này cũng đã chỉ ra rằng

Trang 35

với suất sinh lợi tài sản phi rủi ro cao hơn, phần tiền nhiều hơn của nhà đầu tư sẽ được dùng

để đầu tư vào danh mục này Danh mục với chi phí giao dịch gợi ý rằng có cùng một số cổ

phiếu đối nghịch loại trừ tài sản phi rủi ro xây dựng nên danh mục tối ưu nhưng ở mức rủi

ro cao hơn, 0.0538 Phần vốn đầu tư tương ứng là 1.741%, 3.592% và 1.829% vào mã

AMMB, NESTLE và CARLSBERG

Hơn thế nữa, chỉ có 2 cổ phiếu đối nghịch cho thấy tiềm năng đầu tư để xây dựng danh mục tối ưu bằng cách xem xét danh mục có tính đến thuế Nhưng cổ phiếu đối nghịch

này là AMMB và NESTLE mà được thay đổi từ danh mục tổng quát với sự kết hợp của

AFFIN (2.183%) và AMMB (98.27%) tương ứng thành 98.27% và 1.7%

Trong khi đó, xem xét danh mục tiêu chuẩn, bao gồm danh mục matching và danh mục hedging Các kết quả từ danh mục matching biểu lộ điều hiển nhiên rằng tất cả cổ

phiếu được chọn đều cho thấy tiềm năng đầu tư ngoại trừ PUBLIC khi KLSE được chọn

làm tài sản tiêu chuẩn Tuy vậy, trong danh mục hedging, mỗi một cổ phiếu lần lượt được

chọn được dùng làm tài sản tiêu chuẩn để xây dựng danh mục tối ưu Như là kết quả, có các

cổ phiếu đối nghịch khác nhau định hình danh mục tối ưu dựa trên các tài sản tiêu chuẩn

khác nhau Nói chung, chỉ AMMB, AFFIN, SAT, TANJONG và PUBLIC là các cổ phiếu

khả thi được đưa vào danh mục tối ưu

 Kết luận của nghiên cứu:

Trong nghiên cứu này, tác giả đã tập trung vào danh mục tối ưu khả thi dựa trên mô hình danh mục Markowitz giới hạn trong việc xem xét các loại kịch bản khác nhau, như là

sự tồn tại của tài sản phi rủi ro, chi phí giao dịch, thuế và danh mục tiêu chuẩn với 15 cổ

phiếu được lựa chọn trên TTCK Kuala Lumpur từ đó khẳng định ý nghĩa của mô hình

Markowitz trên thị trường có quy mô lớn như KLSE

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CTQLQ và nghiệp vụ Quản lý DMĐT cũng như các lý thuyết về đầu tư hiện đại không phải vấn đề mới trong các nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam đó là vấn

đề tương đối mới đặc biệt trong điều kiện thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển

và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cũng như biến động lớn Chương 1 đã trình bày các vấn đề liên

quan tới rủi ro, phương pháp đo lường rủi ro và các nội dung cơ bản liên quan tới hoạt động

quản lý DMĐT của CTQLQ Các nội dung chính bao gồm:

Trình bày khái niệm về rủi ro TTCK Giới thiệu về DMĐT và quy trình xây dựng DMĐT

Trình bày về đặc điểm hoạt động của CTQLQ

Giới thiệu lý thuyết Markowitz và mô hình SIM Kinh nghiệm ứng dụng mô hình tại một số nước Đây chính là lý luận nền tảng để xác định hiệu quả trong việc đa dạng hoá DMĐT cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động quản lý DMĐT của các CTQLQ

Những lý luận này có tính ứng dụng cao trong việc xây dựng và quản lý DMĐT cho khách

hàng trong điều hiện TTCK Việt Nam hiện tại

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG

TY QUẢN LÝ QUỸ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1 Thực trạng thị trường chứng khoán ViệtNam

2.1.1 Quy mô thị trường niêm yết tại Việt Nam

(Tham khảo Số liệu thu thập được về quy mô giao dịch tại HOSE, HNX được trình bày

trong bảng 2.1; 2.2 của Phụ lục 1)

Ngày 11/07/1998, với Nghị định số 48/CP về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh vào ngày 28/07/2000,

phiên giao dịch đầu tiên với 2 mã cổ phiêu niêm yết đã chính thức được tổ chức tại Trung

tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM

Sau 7 năm hoạt động, đến thời điểm tháng 08/2007 đã có 111 doanh nghiệp niêm yết

và 55 công ty chứng khoán thành viên, 18 CTQLQ, 61 tổ chức lưu ký Cấu trúc thị trường

đã được rõ ràng và chuyên biệt hơn với sự tách ra hoạt động độc lập của Trung tâm Lưu ký

Chứng khoán Việt Nam trong năm 2005

Nhằm đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của thị trường, đáp ứng quá trình đổi mới nền kinh tế, tái cơ cấu các doanh nghiệp, ngày 11/05/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký

quyết định số 599/QĐ chuyển Trung Tâm thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ

Chí Minh (HOSE), hoạt động theo mô hình Công ty TNHH Một Thành viên (100% vốn chủ

sở hữu thuộc Bộ Tài chính) Việc chuyển đổi mô hình đã giúp HOSE có một vị trí tương

xứng với các Sở Giao dịch khác trên thế giới trong mối quan hệ và hợp tác quốc tế, từ đó,

nâng cao vị trí và tầm ảnh hưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam

Trong năm 2011, HOSE đã nghiên cứu và xây dựng chỉ số VN30 bao gồm 30 cổ phiếu hàng đầu về giá trị vốn hóa, chiếm khoảng 80% giá trị vốn hóa toàn thị trường, 60%

Trang 38

về giá trị giao dịch Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thị trường, HOSE cũng đã triển khai lệnh

MP và đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng sản phẩm ETF (Exchange Traded Fund)

để đưa vào giao dịch Và những biến động được ghi nhận như sau:

- Thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những thị trường sụt giảm mạnh nhất trên thế giới TTCK Việt Nam chịu ảnh hưởng và phản ánh những khó khăn, bất ổn

vĩ mô như lạm phát cao, hệ thống ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, phần lớn doanh nghiệp không đạt được kế hoạch doanh thu và lợi nhuận đặt ra Xu hướng suy giảm chiếm ưu thế rõ rệt với HNX-Index giảm 48,6%, VN Index giảm 27,5% 62%

số cổ phiếu trên cả 2 sàn có thị giá dưới mệnh giá

- Có 699 mã cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên hai sàn HSX và HNX (301 mã

cổ phiếu, 5 chứng chỉ quỹ trên HSX; 393 mã cổ phiếu trên HNX) Thị trường mất cân đối lớn khi có ít công ty có quy mô lớn (chỉ có 58 công ty có vốn hóa thị trường trên 1.000 tỷ đồng), trong khi có có quá nhiều công ty có quy mô nhỏ (50% số công

ty niêm yết có vốn điều lệ và vốn hóa < 100 tỷ đồng), tổng vốn hóa thị trường của 20 doanh nghiệp hàng đầu chiếm hơn 69% vốn hóa thị trường của mỗi sàn giao dịch

Ngoài ra còn có khoảng 500 mã trái phiếu niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch và 130 mã

cổ phiếu trên thị trường UpCom

Trong năm 2012 TTCK đối mặt với những khó khăn lớn nhất sau hơn 12 năm phát triển, nhưng đây cũng là năm lượng vốn huy động qua TTCK đạt lớn nhất từ trước tới nay, với

170.000 tỷ đồng Với việc tăng tới 40% trong 5 tháng đầu năm sau đó giảm mạnh trong 7

tháng còn lại, thị trường chứng khoán Việt Nam đã khép lại năm giao dịch 2012 với nhiều

thăng trầm và biến động:

- VN Index chốt năm ở 413,73 điểm, tăng 3,76 điểm (tương đương 0,92%), tổng khối lượng giao dịch phiên này đạt 84.321.540 đơn vị, tương ứng giá trị 1.157,572 tỷ

Trang 39

đồng; tính chung năm 2012 VN Index tăng tổng cộng 62,18 điểm, HNX Index giảm 1,65 điểm so với cuối năm 2011

- HNX Index chốt năm ở 57,09 điểm, tăng 0,94 điểm (tương đương 1,67%), tổng khối lượng giao dịch đạt 74.725.130 đơn vị, tương ứng giá trị 473.465 tỷ đồng

- So với mức đỉnh mà thị trường đạt được trong tháng 5/2012, VN-Index và Index đã để mất lần lượt 74,34 điểm (so với ngày 8/5/2012) và 26,70 điểm (so với ngày 7/5/2012) Quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên trong năm 2012 đạt 1.316 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2011 nhờ kéo dài thời gian giao dịch buổi chiều

HNX Hai sàn có 702 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là 338.300 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2011 được thống kê lại như sau:

 Hose: giá trị giao dịch bình quân trên ngày đạt 881,5 tỷ đồng/phiên, cao hơn 36% so với năm 2011 Tuy nhiên, so với năm 2010 giá trị giao dịch chỉ bằng 58% Trong khi

đó khối lượng giao dịch bình quân/ngày chỉ đạt 56,4 triệu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ

 HNX: giá trị giao dịch bình quân trên ngày đạt 440 tỷ đồng/phiên, cao hơn 14% so với năm 2011 Trong khi đó khối lượng giao dịch bình quân/ngày chỉ đạt 48,4 triệu

cổ phiếu và chứng chỉ quỹ, tăng 51% so với năm 2011

 Huy động vốn đình trệ, 21 cổ phiếu bị hủy niêm yết

 UBCK ban hành 146 quyết định xử phạt trong năm 2012 liên quan tới các hành vi vi phạm quy định về giao dịch và thị trường

 Về giá, 50% số mã niêm yết sàn HoSE (157 mã) và 70% mã niêm yết sàn Hà Nội (281 mã) giao dịch dưới mệnh giá, trong đó 75 mã sàn HoSe và 131 mã sàn Hà Nội

có giá dưới 5.000 đồng/cp, con số này đã giảm đáng kể so với tháng 11, thậm chí SME trước khi hủy niêm yết đã có lúc giao dịch ở mức giá 3.000 đồng

Trang 40

Nhìn lại năm 2012, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn khá nhiều bất ổn do cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan Mặc dù đã có những tác động tích cực từ

những chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước như lạm phát khá thấp, tỷ giá ổn định, lãi suất

giảm, xuất khẩu tăng mạnh và thặng dư cán cân thương mại, song xu thế thoái vốn của các

tập đoàn, tổng công ty cộng với vấn đề tái cơ cấu ở không chỉ các tổ chức tín dụng mà cả ở

các DNNN khiến thị trường khó có thể có được những cải thiện đáng kể trong trung hạn

Trong 6 tháng đầu năm 2013, Khối lượng giao dịch toàn thị trường đã tăng khoảng hơn 30% so với cùng kỳ năm trước, trong đó riêng khối lượng giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ

quỹ ước tăng 12% Tính đến ngày 16/6/2013, chỉ số VN-Index đã đạt mức tăng 216,6% so

với ngày 24/2/2009 và tăng 26,8% so với thời điểm 6/1/2012 Chỉ số HNX-Index tăng 35%

so với ngày 9/1/2012 Tính từ đầu năm đến nay, mức cao nhất chỉ số VN-Index đạt được là

524,56 điểm, xác lập vào ngày 10/6/2013 (khối lượng giao dịch lên tới hơn 94 triệu cổ

phiếu, tương đương gần 1.661 tỷ đồng)

Trong 6 tháng đầu năm 2013, dòng vốn ngoại chảy vào TTCK có diễn biến tích cực

Tổng lượng vốn đầu tư gián tiếp ước đạt 160 triệu USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm

ngoái Nhiều NĐT tổ chức lớn đang xúc tiến các hoạt động để giải ngân vào TTCK Việt

Nam Bởi vậy, triển vọng thu hút thêm dòng vốn ngoại của thị trường còn lớn

 Diễn biến chỉ số giá VN – Index

(Tham khảo Biến động của Chỉ số Vn-Index trong giai đoạn 2008-2012 được trình bày trong biểu đồ 2.1 của Phụ lục 1)

Năm 2008: chỉ số Vn-Index từng xác lập mức cao nhất là 921,07 điểm sau những sự phát triển của cả nền kinh tế, doanh nghiệp và giới đầu tư Rất chuyên gia còn kỳ vọng chỉ

số còn lên tới hơn 1.000 điểm Sàn Giao dịch chứng khoán TP HCM (HOSE) chưa nhiều

doanh nghiệp niêm yết, khối lượng giao dịch chỉ đạt hơn 6,4 triệu đơn vị nhưng trị giá lên

Ngày đăng: 31/07/2023, 09:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11.574.364.850 Khác
162.223,585 Khác
2.406.195.145 Khác
54.657,496 Khác
13.980.559.995 Khác
216.881,0822011 Khác
6.540.499.520 Khác
118.184,066 Khác
1.741.062.889 Khác
40.970,788 Khác
8.281.562.409 Khác
159.154,8552010 Khác
10.486.614.950 Khác
335.525,483 Khác
1.156.532.678 Khác
40.984,883 Khác
11.643.147.628 Khác
376.510,3662009 Khác
9.919.374.710 Khác
401.158,461 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Mô hình hoạt động công ty Quản lý Quỹ - (Luận văn) xây dựng danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 1.1 Mô hình hoạt động công ty Quản lý Quỹ (Trang 14)
Bảng 2.4 Số lượng tài khoản của nhà đầu tư trên TTCK - (Luận văn) xây dựng danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.4 Số lượng tài khoản của nhà đầu tư trên TTCK (Trang 50)
Bảng 2.5. Quy mô hoạt động quản lý tài sản của công ty QLQ - (Luận văn) xây dựng danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.5. Quy mô hoạt động quản lý tài sản của công ty QLQ (Trang 57)
Bảng 2.6 Rủi ro của những cổ phiếu có TSSL cao - (Luận văn) xây dựng danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.6 Rủi ro của những cổ phiếu có TSSL cao (Trang 66)
Bảng 2.7 Rủi ro của những cổ phiếu có TSSL thấp - (Luận văn) xây dựng danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.7 Rủi ro của những cổ phiếu có TSSL thấp (Trang 67)
Bảng 2.2 Giá trị giao dịch cổ phiếu tại HNX từ 2008 – 12/2012 - (Luận văn) xây dựng danh mục đầu tư của các công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.2 Giá trị giao dịch cổ phiếu tại HNX từ 2008 – 12/2012 (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w