CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Bối cảnh
Theo báo cáo của IPCC (2007), Việt Nam là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu Từ năm 1995 đến 2007, thiệt hại do thiên tai đối với ngành nông nghiệp Việt Nam chiếm 0,67% GDP, trong khi tổng thiệt hại trên tất cả các lĩnh vực là 1,24%.
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu tại Việt Nam, với nhiệt độ tăng từ 0,5 đến 0,7 độ C trong 50 năm qua và mực nước biển dâng 20 cm Dự báo, khi mực nước biển dâng lên 0,75 m, 19% diện tích ĐBSCL sẽ bị ngập lụt, và khi đạt 1 m, con số này sẽ tăng lên 37,8%, ảnh hưởng đến 22 triệu người ĐBSCL được coi là vựa lúa của cả nước, mặc dù chỉ chiếm chưa tới 30% diện tích canh tác nông nghiệp, nhưng lại đóng góp hơn 50% sản lượng lúa và trên 90% lượng gạo xuất khẩu, chủ yếu từ các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang.
Lúa gạo là một ngành quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia Biến đổi khí hậu (BĐKH) có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa, từ đó tác động đến chiến lược xuất khẩu gạo và đe dọa an ninh lương thực quốc gia Theo báo cáo của OCCA (2009), đến năm
2030, sản lượng lúa của Việt Nam có thể giảm 2031,87 ngàn tấn tương đương 8,37%
Giảm sản lượng do thiên tai chiếm 0,18%, trong khi giảm năng suất lên tới 8,10% Điều này dẫn đến mối lo ngại lớn về biến đổi khí hậu (BĐKH) tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Khu vực này không chỉ có mức độ tổn thương cao trước BĐKH mà còn có khả năng thích ứng rất thấp, với tỷ lệ bộc lộ cao và nhạy cảm với các biến đổi thời tiết.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) có tác động lớn đến ngành sản xuất lúa gạo, đặc biệt là từ hiện tượng nước biển dâng (NBD) Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra ảnh hưởng của NBD đối với nông nghiệp và sản xuất lúa Tại Trung Quốc, nghiên cứu của Yang và cộng sự (2004) cho thấy tốc độ NBD đạt 2,5 mm/năm trong suốt 50 năm qua Nếu mực nước biển dâng lên 30 cm, diện tích bị ngập ở Thượng Hải và Giang Tô sẽ tăng gấp 6 lần so với hiện tại.
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2000) chỉ ra rằng, độ mặn tăng lên khi mực nước biển dâng 0,3m sẽ dẫn đến việc giảm 0,5 triệu tấn lúa gạo tại Bangladesh BARC (1999) cũng kết luận rằng, xâm nhập mặn sẽ làm giảm sản lượng lúa mì tương đương 586,75 triệu USD Theo dự báo của Miller (2004), nếu mực nước biển tăng khoảng 88 cm, nông nghiệp ở vùng đồng bằng ven biển và một phần đồng bằng châu thổ của Bangladesh sẽ bị ngập lụt.
Theo Báo cáo Phát triển con người của UNDP, nếu nước biển dâng (NBD) cao như dự báo vào năm 2030, khoảng 45% đất của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ đối mặt với nguy cơ nhiễm mặn cục bộ và thiệt hại mùa màng do lũ lụt Dự báo năng suất lúa sẽ giảm 9% nếu mực NBD tăng 1m, và phần lớn đồng bằng này sẽ bị ngập trắng trong một thời gian dài trong năm.
Nghiên cứu của Tô Văn Trường (2010) chỉ ra rằng, NBD sẽ làm gia tăng mức độ ngập lụt ở các vùng ngập lũ và ngập triều ven biển Cụ thể, nếu NBD đạt 0,69 m, sẽ có đến 91% diện tích ĐBSCL bị ngập, và nếu dâng cao 1 m, con số này sẽ lên tới 93%, gây ra thách thức nghiêm trọng cho an ninh lương thực của khu vực Tại tỉnh Sóc Trăng, tình trạng xâm nhập mặn đã làm giảm hiệu quả sản xuất, với năng suất lúa có thể giảm từ 20-25%, thậm chí lên tới 50% (CEE, 2011).
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) lên ngành nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá thiệt hại của ngành trồng lúa do mất đất trồng lúa khi xảy ra ngập biển dâng (NBD) Do đó, đề tài “Tác động của BĐKH lên ngành trồng lúa vùng ĐBSCL và các giải pháp thích ứng” là rất cần thiết để đánh giá thiệt hại thông qua diện tích lúa bị mất Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích năng lực thích ứng với BĐKH của ngành trồng lúa ĐBSCL và đề xuất các giải pháp cho nhà nước nhằm ứng phó với BĐKH Vấn đề BĐKH và NBD được đặt ở tầm cao nhất - cấp quốc gia, thể hiện qua Nghị quyết của Bộ Chính trị về chủ động ứng phó với BĐKH, thể hiện quyết tâm chính trị cao nhất của Đảng và Nhà nước Văn kiện này sẽ mở ra những ưu tiên lớn cho vấn đề BĐKH trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu
1 Bao nhiêu diện tích đất lúa ĐBSCL sẽ bị mất theo các kịch bản NBD?
2 Giải pháp nào để ngành trồng lúa ĐBSCL ứng phó hiệu quả với tác động NBD?
Mục tiêu nghiên cứu
1 Đánh giá thiệt hại của ngành trồng lúa thông qua diện tích đất lúa bị mất do NBD với giả định đơn giản rằng, đất lúa bị ngập dưới mực nước biển sẽ không thể trồng lúa được cả năm
2 Phân tích năng lực thích ứng của ngành trồng lúa với BĐKH – NBD thông qua hiện trạng và tiềm năng các nguồn lực của vùng
3 Đề xuất các giải pháp chính sách cho các nhà hoạch định nhằm chủ động ứng phó với NBD, bảo vệ ngành trồng lúa.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong phạm vi vùng ĐBSCL và ngành trồng lúa của khu vực này
Thời gian xem xét của báo cáo là tính đến năm 2110
1.5 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của BĐKH – NBD đến ngành trồng lúa và các hành động ứng phó Các biểu hiện chủ yếu của BĐKH là nhiệt độ tăng, NBD, bão, lũ, hạn hán nhưng trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ phân tích tác động của NBD lên ngành trồng lúa Tác động của BĐKH đến ngành trồng lúa rất đa dạng nhưng hệ quả của nó chỉ có (i) làm suy giảm năng suất lúa, (ii) mất đất trồng lúa và (iii) mất mùa do lũ lụt, mưa bão, hạn hán Đề tài này chỉ tập trung vào hậu quả thứ hai là mất đất trồng lúa do NBD
Luận văn được chia thành 4 chương, trong đó Chương 1 giới thiệu bối cảnh, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Chương 2 xây dựng khung phân tích cho đề tài Chương 3 tập trung vào việc đánh giá thiệt hại của ngành trồng lúa do biến đổi khí hậu (BĐKH) và năng lực thích ứng của ngành Cuối cùng, Chương 4 đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng với BĐKH – NBD cho ngành trồng lúa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Kết cấu luận văn
Luận văn được chia thành 4 chương, trong đó Chương 1 giới thiệu bối cảnh, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Chương 2 xây dựng khung phân tích cho đề tài Chương 3 tập trung vào việc đánh giá thiệt hại của ngành trồng lúa do biến đổi khí hậu (BĐKH) và năng lực thích ứng của ngành Cuối cùng, Chương 4 đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng với BĐKH – NBD cho ngành trồng lúa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
KHUNG PHÂN TÍCH
Khung phân tích về tính dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu
Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu (BĐKH) là mức độ mà một hệ thống tự nhiên, xã hội hoặc kinh tế có thể chịu ảnh hưởng tiêu cực từ BĐKH, hoặc khả năng thích ứng của hệ thống đó với các tác động bất lợi.
Ba hợp phần cấu thành tính dễ bị tổn thương là Biểu hiện (Exposure – E), Độ nhạy
(Sensitivity – S) và Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity – AC)
Hệ thống dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu (BĐKH) có độ nhạy cao và năng lực thích ứng thấp Đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH có thể thực hiện trên nhiều quy mô, nhưng theo Allison (2009), đánh giá ở quy mô quốc gia cung cấp cái nhìn tổng quát về các mô hình dễ bị tổn thương Điều này là do các chính sách BĐKH thường được xây dựng và thực hiện hiệu quả hơn ở quy mô quốc gia, nơi nhiều chỉ số toàn cầu chỉ có sẵn Đánh giá cũng có giá trị ở quy mô vùng hoặc tiểu vùng, nơi chịu tác động nặng nề của BĐKH hơn các khu vực khác (Perry và Sumaila, 2007; McGoodwin 2007, trích trong Allison 2009, tr.3).
Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu (BĐKH) được sử dụng để đánh giá các ngành như sản xuất lúa, cá và thủy sản, vì đây là những lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ BĐKH Ngoài ra, việc đánh giá tính dễ bị tổn thương cũng có thể áp dụng cho sinh kế của cá nhân hoặc hộ gia đình, đặc biệt là những người sống ở vùng ven biển và các khu vực chịu tác động trực tiếp của BĐKH.
Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability – V) là một chỉ số tổng hợp được tính toán dựa vào ba cấu phần E, S, và AC
V = f( E, S, AC) tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
E: Biểu hiện S: Độ nhạy AC: Năng lực thích ứng
Nguồn: Gerald Jurasinski và cộng sự, 2003, tr.6
Việc tính toán chỉ số V liên quan đến tính dễ bị tổn thương của các nền kinh tế do tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) là rất phức tạp Nghiên cứu của Allison và cộng sự (2009) cho thấy Angola là nước có mức độ tổn thương cao nhất (0,77), trong khi Việt Nam đứng thứ 27 với chỉ số 0,64 Amy và cộng sự (2003) đã chỉ ra rằng, trong ngành nông nghiệp ở thung lũng Yaqui, Mexico, nếu nhiệt độ tăng 1°C, mức độ tổn thương trung bình của nông dân sẽ tăng 10% Nghiên cứu của Yoo và Kim (2007) về sản xuất lúa ở khu vực Tây Nam, Hàn Quốc, đã mô phỏng các cấp độ tổn thương và cho thấy rằng việc cải thiện các lựa chọn thích ứng có thể giảm thiểu tổn thương, mang lại lợi ích kinh tế khoảng 259 tỷ won (tương đương 233 triệu USD) vào năm 2030.
Tính dễ bị tổn thương có thể được đánh giá định tính thông qua thống kê mô tả và phân tích số liệu Jurasinski và cộng sự (2003) đã nghiên cứu tính dễ bị tổn thương trong hoạt động trồng lúa do ảnh hưởng của thời tiết cực đoan ở Đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, và kết luận rằng hoạt động này có khả năng thích ứng trung bình với các hiện tượng thời tiết cực đoan Các nhà chính sách nên chú trọng vào sự tổn thương của ngành trồng lúa hơn là vấn đề biến đổi khí hậu Nhiều nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện trong lĩnh vực này.
(2012) nghiên cứu tác động của BĐKH và tính dễ bị tổn thương trong nghề cá của Uganda;
Nghiên cứu của Tao và cộng sự (2011) đã chỉ ra tổn thương của ngành nông nghiệp do biến đổi khí hậu tại Trung Quốc Để đánh giá tính dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu, khung phân tích tập trung vào ba yếu tố chính: biểu hiện, độ nhạy và năng lực thích ứng.
2.1.1 Biểu hiện của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) được thể hiện qua sự gia tăng nhiệt độ và mực nước biển, dẫn đến nhiều tác động nghiêm trọng như tăng nhiệt độ trong khí quyển và nước, xuất hiện các hiện tượng như bão, lũ lụt, hạn hán và các hiện tượng cực đoan khác.
Trong phân tích tính dễ bị tổn thương của một ngành, biểu hiện của biến đổi khí hậu (BĐKH) là những tác động rõ rệt mà ngành đó phải đối mặt Do đó, biểu hiện của BĐKH không chỉ liên quan đến ngành nghiên cứu mà còn gắn liền với vùng nghiên cứu cụ thể.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) ảnh hưởng đến ngành trồng lúa qua việc mực nước biển dâng cao, dẫn đến đất nhiễm mặn Nhiệt độ tăng có thể làm năng suất lúa tăng hoặc giảm, trong khi bão, lũ lụt và hạn hán gây ra mất mùa.
2.1.2 Độ nhạy với biến đổi khí hậu Độ nhạy với BĐKH là sự phản ứng lại của đối tượng bị tác động trước mối đe dọa của
BĐKH Nó chính là khả năng mà một kết quả sẽ xảy ra nếu BĐKH xảy ra trên thực tế
Mối đe dọa của biến đổi khí hậu (BĐKH) thể hiện qua sự phản ứng của các đối tượng bị ảnh hưởng Sự thay đổi của các đối tượng này cho thấy mức độ nhạy cảm với BĐKH, với mức độ thay đổi nhiều hay ít phản ánh độ nhạy cao hay thấp Khi mức độ tác động của BĐKH tăng lên, nếu đối tượng có sự thay đổi rõ rệt, điều này chứng tỏ rằng chúng rất nhạy cảm với những biến động do BĐKH gây ra.
Độ nhạy của ngành trồng lúa với biến đổi khí hậu (BĐKH) được thể hiện qua sự thay đổi trong sản lượng lúa, như đã chỉ ra bởi Theo Yoo và Kim (2007, tr.21) Jurasinski và cộng sự (2003, tr.6) cũng nhấn mạnh rằng các yếu tố như diện tích đất bị mất do nước biển dâng, năng suất cây trồng và vật nuôi giảm do nhiệt độ tăng, cũng như sản lượng giảm do bão lũ, đều góp phần vào sự nhạy cảm này.
2.1.3 Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu
Theo định nghĩa của IPCC (2007), năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) là khả năng của một hệ thống để điều chỉnh thành công với BĐKH nhằm (i) giảm thiểu các tác động tiềm tàng, (ii) tận dụng các cơ hội, và (iii) đối phó với những hậu quả của BĐKH.
Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) là khả năng của hệ thống hoặc xã hội trong việc điều chỉnh và ứng phó với BĐKH Mục tiêu chính của năng lực này là giảm thiểu tổn thương, hạn chế thiệt hại có thể xảy ra và tận dụng các cơ hội mới mà BĐKH mang lại.
Năng lực thích ứng bao gồm các điều chỉnh về hành vi, nguồn lực và công nghệ, với các yếu tố kinh tế - xã hội đóng vai trò quan trọng trong khả năng thích ứng của hệ thống Các tổ chức, quản trị và quản lý cũng là những yếu tố không thể thiếu trong việc xác định khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu Một số yếu tố kinh tế - xã hội cơ bản của năng lực thích ứng bao gồm giáo dục, thu nhập và sức khỏe, trong khi các yếu tố cụ thể hơn liên quan đến từng loại tác động của biến đổi khí hậu như thể chế, kiến thức và công nghệ Đánh giá năng lực thích ứng dựa trên cách tiếp cận nguồn lực, phân tích năm loại nguồn lực: nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính.
Nguồn lực con người được đánh giá qua kiến thức và nhận thức về rủi ro cũng như thảm họa do biến đổi khí hậu gây ra Ngoài ra, các kỹ năng và kỹ thuật sản xuất có thể áp dụng để đối phó với những thảm họa này cũng rất quan trọng Cuối cùng, sức khỏe của người lao động là một yếu tố không thể thiếu trong việc đánh giá nguồn lực con người.
Phương pháp GIS
GIS là công cụ hỗ trợ phân tích tính dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu (BĐKH) bằng cách đánh giá độ nhạy của ngành thông qua các kết quả tính toán và mô hình hóa trên bản đồ.
Dữ liệu đầu vào của GIS bao gồm mô hình số độ cao và bản đồ hiện trạng sử dụng đất
2.2.1 Mô hình số độ cao
Mô hình số độ cao (DEM) là một biểu diễn số cho sự biến đổi liên tục của độ cao địa hình trong một khu vực không gian, bao gồm độ cao của các điểm trên bề mặt trái đất, các tầng đất và tầng nước ngầm DEM có thể được lưu trữ dưới dạng Raster hoặc Vector, tùy thuộc vào loại dữ liệu.
Mô hình số độ cao (DEM) được sử dụng trong luận văn này được thu thập từ ảnh vệ tinh Landsat cho lưu vực sông Mekong, với dữ liệu ở dạng Raster và độ phân giải 200x200m Độ cao địa hình trong khu vực này dao động từ -14,9668m đến 298,677m.
2.2.2 Bản đồ số về hiện trạng sử dụng đất
Bản đồ số về Hiện trạng sử dụng đất năm 2009 (HTSDĐ) cung cấp dữ liệu thống kê đất đai, được xây dựng dựa trên bản đồ nền thống nhất trên toàn quốc.
Bản đồ chứa đựng thông tin quan trọng về ranh giới các loại đất, ranh giới hành chính ở các cấp, lãnh thổ sử dụng, đường bờ biển, mạng lưới thủy văn, mạng lưới giao thông và hình dáng địa hình.
Bản đồ HTSDĐ cung cấp thông tin về mục đích sử dụng của các loại đất tại từng địa điểm, bao gồm đất nông nghiệp, đất công nghiệp, đất rừng, và đất mặt nước, cùng với các chi tiết liên quan đến từng loại đất.
Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích
Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích là công cụ quan trọng trong việc đánh giá tính dễ bị tổn thương, hỗ trợ lựa chọn các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.
Phân tích chi phí – lợi ích (CBA) là một phương pháp quan trọng trong quá trình ra quyết định, được sử dụng chủ yếu bởi các chính phủ và cơ quan quốc tế để đánh giá xem một dự án hay chính sách có thể nâng cao phúc lợi cộng đồng hay không Theo Frances Perkins (1994), CBA là một phân tích mở rộng của phân tích tài chính, giúp quyết định chấp nhận hay loại bỏ một chính sách kinh tế xã hội dựa trên tính hiệu quả của nó, hoặc lựa chọn giữa các chính sách có tính chất loại trừ lẫn nhau (Nguyễn Thị Xuân Lan, 2009).
Khi tiến hành CBA, người ta sẽ phải tính toán hết tất cả chi phí, lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra của chính sách
Một yếu tố quan trọng trong phân tích chi phí-lợi ích (CBA) là việc sử dụng đơn vị đo Để so sánh chi phí và lợi ích, cần phải áp dụng cùng một thước đo cho các giá trị này, thường là tiền tệ Do đó, người ta thường quy đổi tất cả các giá trị liên quan thành tiền để thực hiện so sánh hiệu quả.
Nhiều lợi ích và chi phí không được thể hiện bằng tiền tệ vì chúng không giao dịch trên thị trường, hoặc mang ý nghĩa văn hóa, xã hội, chính trị và an ninh.
Phương pháp CBA yêu cầu tính toán tổng chi phí và lợi ích của một chính sách Nếu lợi ích vượt trội hơn chi phí, giải pháp đó nên được thực hiện Ngược lại, nếu lợi ích thấp hơn chi phí, cần xem xét các giải pháp khác.
Phương pháp CBA sử dụng trong luận văn nhằm lựa chọn giải pháp chính sách cho việc thích ứng với BĐKH.
Khung phân tích tổng hợp của luận văn
Tổng hợp các khung phân tích và các công cụ phân tích trên ta được khung phân tích tổng hợp cho đề tài
Hình 2.3: Khung phân tích tổng hợp
Nguồn: Tác giả xây dựng
Ngành trồng lúa ĐB Sông Cửu Long
- Tăng mực nước biển Độ nhạy
Tính dễ bị tổn thương của ngành trồng lúa với
GIS tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI NGÀNH TRỒNG LÚA DO NƯỚC BIỂN DÂNG VÀ NĂNG LỰC THÍCH ỨNG
Bằng chứng về biểu hiện nước biển dâng ở Đồng bằng sông Cửu Long
Các quan sát khí hậu trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong hai đến ba thập kỷ qua cho thấy rõ rệt tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là hiện tượng nước biển dâng Phân tích khí hậu tại bốn khu vực đại diện, bao gồm Bến Tre (ven biển phía Đông), Cà Mau, Kiên Giang (ven biển phía Tây) và Cần Thơ (vùng đồng bằng) từ năm 1984 đến 2009, cho thấy mực nước biển đang có xu hướng gia tăng (Vũ Thị Xuân Lan, 2010).
Quan sát dữ liệu từ năm 1988 đến 2008 tại Cần Thơ và Sông Đốc cho thấy mực nước biển đang có xu hướng tăng rõ rệt Cụ thể, tại Cần Thơ, mực nước trung bình trong giai đoạn này đã gia tăng đáng kể.
1999 là 30,1cm, giai đoạn 2000 – 2008 là 43,6cm Như vậy, mực nước đã tăng lên 13,5cm
Mực nước lớn nhất trong giai đoạn 1988 – 1999 đạt 184cm, trong khi giai đoạn 2000 – 2008 tăng lên 203cm, tức là tăng 19cm Tại Sông Đốc, mực nước trung bình giai đoạn 1996 – 1999 là -5cm, nhưng giai đoạn 2000 – 2008 đã tăng lên 1cm, tức là tăng 6cm Mực nước lớn nhất trong giai đoạn 1996 – 1999 ghi nhận là 91cm.
2000 – 2008 là 96cm, tăng 5cm (Vũ Thị Xuân Lan, 2010)
Từ năm 2006 đến 2009, TP.HCM và các tỉnh ven biển phía Nam như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ và Kiên Giang đã trải qua triều cường cao kỷ lục và tình trạng ngập lụt gia tăng ở các vùng thấp trũng Mực nước biển tại Bến Tre đã tăng 20cm so với 10 năm trước, trong khi Cà Mau và Bạc Liêu ghi nhận hiện tượng mực nước biển dâng cao bất thường, gây ngập lụt ở nhiều khu vực và ảnh hưởng đến sản xuất lúa của người dân (Vũ Thị Xuân Lan, 2010).
Tại các tỉnh như Sóc Trăng và Bến Tre, nước mặn đã xâm nhập vào đất liền từ 40 đến 45 km, với độ nhiễm mặn từ 5 đến 7% Nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho thấy, từ giữa đến cuối tháng 3/2012, nước mặn có độ mặn 0,1‰ đã xâm nhập sâu tới 70 km tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Để dự báo tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã xây dựng 3 kịch bản ứng phó.
Kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) của Việt Nam được xây dựng dựa trên ba yếu tố chính: nhiệt độ, lượng mưa và nước bề mặt (NBD) Các kịch bản này được phát triển bằng phương pháp tổ hợp MAGIC/SCENGEN và phương pháp chi tiết hóa thống kê, tương tự như các kịch bản BĐKH của các quốc gia khác.
Các kịch bản được xây dựng theo nguyên tắc nghiêm ngặt và nằm trong khuôn khổ các giả định về hiện tượng nóng lên toàn cầu Chúng bao gồm giả định về nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi và nhiệt độ tăng từ 1,5 đến 3,5 độ C hoặc từ 1,5 đến 4,4 độ C (Houghton, 1996; IPCC).
Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam đã xây dựng các kịch bản vào năm 2009 để dự báo ba biểu hiện chính của biến đổi khí hậu (BĐKH), bao gồm nhiệt độ, lượng mưa và nước bề mặt (NBD) Thời kỳ so sánh được chọn là từ 1980 đến 1999, với các mốc thời gian quan trọng là 2020, 2050, 2070 và 2100 Đặc biệt, kịch bản NBD cho Việt Nam được thể hiện rõ trong Bảng 3.1.
Bảng 3.1: Mực NBD trung bình so với thời kỳ 1980 – 1999 trong các kịch bản Đơn vị: centimet
Thiệt hại ngành trồng lúa do tác động nước biển dâng
Những minh chứng khoa học về sự hiện hữu của BĐKH – NDB ở ĐBSCL đã rất rõ ràng
Ngành trồng lúa sẽ chịu ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu Dựa vào kịch bản biến đổi khí hậu, phương pháp GIS được sử dụng để xác định diện tích lúa bị ngập do biến đổi khí hậu thông qua các bước cụ thể.
Dữ liệu bản đồ HTSDĐ được xây dựng theo các ký hiệu và quy ước chuẩn quốc gia, trong đó quy định rõ về đất lúa.
Bảng 3.2: Ký hiệu và quy ƣớc màu đất trồng lúa trong bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Mã Số màu Màu Đất trồng lúa LUA 3 Đất chuyên trồng lúa nước LUC 5 Đất trồng lúa nước còn lại LUK 6 Đất trồng lúa nương LUN 7
Sử dụng phần mềm ArcGIS, diện tích đất trồng lúa được tính qua bảng thuộc tính với công thức: LUA = LUC + LUK + LUN Kết quả giải đoán được trình bày trong Bảng 3.3.
Bảng 3.3: Diện tích đất lúa vùng ĐBSCL theo kết quả kiểm kê và giải đoán năm 2009 Đơn vị: hecta (ha)
Loại đất Giải đoán Kiểm kê * Đất toàn khu vực 3.971.232 4.051.900 Đất nông nghiệp 2.970.334 2.550.700 Đất trồng lúa 1.857.721 1.900.000
(*) Nguồn Tổng cục Thống kê
Bản đồ đất trồng lúa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long được thể hiện trong Hình 3.1, trong đó màu xanh biểu thị cho diện tích đất lúa.
Hình 3.1: Bản đồ phân bố đất trồng lúa ĐBSCL
Sử dụng chức năng chồng ghép bản đồ trong ArcGIS để kết hợp bản đồ đất trồng lúa với mô hình số độ cao DEM 200m, nhằm tạo ra bản đồ thể hiện độ cao của đất trồng lúa.
Sử dụng kịch bản NBD của MONRE năm 2009 kết hợp với bản đồ độ cao đất trồng lúa để xác định diện tích đất lúa bị ngập Cụ thể, từ bản đồ độ cao với độ cao biến thiên từ -3,03907m đến 69,4438m, chỉ những khu vực có độ cao dưới 0,11m được xem xét Do đó, vào năm 2020, khi NBD đạt 11cm, diện tích đất lúa bị ngập ước tính là 35.001,2 ha.
Tính toán với các giả định NBD qua các năm khác nhau cho kết quả như trong Bảng 3.4.
Bảng 3.4: Diện tích đất trồng lúa bị ngập theo các kịch bản nước biển dâng
Kịch bản Năm/Nội dung 2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Theo kịch bản phát thải thấp, năm 2020 NBD 11cm, NBD lên cao nhất 65cm vào năm
Đến năm 2100, diện tích đất lúa ngập sẽ tăng gấp đôi từ 35 nghìn ha lên 70 nghìn ha Sự khác biệt giữa kịch bản phát thải trung bình và thấp không đáng kể, trong khi kịch bản phát thải cao cho thấy sự gia tăng rõ rệt Cụ thể, vào năm 2020, mực nước biển dâng (NBD) đạt 12cm, khiến 37 nghìn ha đất lúa bị ngập Tuy nhiên, đến năm 2100, NBD dự kiến sẽ đạt kỷ lục 100cm, dẫn đến 1,2 triệu ha đất lúa bị ngập, gấp 33 lần so với năm 2020.
Từ năm 2060, diện tích đất lúa ngập sẽ tăng nhanh chóng, chủ yếu do biến đổi khí hậu diễn ra với tốc độ nhanh hơn trước, cùng với việc có một lượng lớn đất lúa nằm ở độ cao trên 35cm.
Hình 3.2: Biểu đồ diện tích đất lúa ngập theo các kịch bản
Bản đồ mô phỏng phân bố diện tích đất lúa bị ngập được trình bày theo các mức nước biển dâng (NBD) 11cm, 30cm, 57cm và 100cm, như thể hiện trong các hình ảnh dưới đây.
Diện tích đất lúa ngập theo các kịch bản
Kịch bản thấp tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Bản đồ vùng đất lúa bị ngập khi NBD 11cm vào năm 2020:
Hình 3.3: Diện tích đất lúa bị ngập theo kịch bản nước biển dâng 11cm
Nguồn: Tác giả vẽ dựa trên dữ liệu của Tổng cục Đất đai
Khi mực nước biển dâng lên 11cm, khoảng 35 nghìn ha đất lúa sẽ bị ngập, tương đương với 2% diện tích đất lúa Mặc dù mức thiệt hại này chưa phải là vấn đề nghiêm trọng cho ngành trồng lúa, nhưng điều đáng lo ngại là khu vực đất lúa bị ngập chủ yếu tập trung ở tỉnh Kiên Giang, tỉnh có năng suất lúa lớn thứ ba tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Bản đồ vùng đất lúa bị ngập khi NBD 30cm vào năm 2050:
Hình 3.4: Diện tích đất lúa bị ngập theo kịch bản nước biển dâng 30cm
Nguồn: Tác giả vẽ dựa trên dữ liệu của Tổng cục Đất đai
Hình 3.4 cho thấy, 30cm mực nước biển dâng sẽ khiến hơn 134 nghìn ha đất lúa, tương đương 7,2% diện tích, bị ngập, tạo ra mối lo ngại lớn cho ngành sản xuất lúa gạo, vốn là ngành chủ lực của vùng Sự sụt giảm này sẽ ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của khu vực và làm giảm giá trị xuất khẩu Hai tỉnh Kiên Giang và Sóc Trăng, với năng suất lúa cao nhất ĐBSCL, sẽ chịu tác động nặng nề nhất, dẫn đến giảm sản lượng lúa của vùng và ngành.
Bản đồ vùng đất lúa bị ngập khi NBD 57 cm vào năm 2070:
Hình 3.5: Diện tích đất lúa bị ngập theo kịch bản nước biển dâng 57cm
Nguồn: Tác giả vẽ dựa trên dữ liệu của Tổng cục Đất đai
Hình 3.5 cho thấy, với NBD 57cm, khoảng 588 nghìn ha đất lúa sẽ bị ngập, tương đương 31,6% diện tích đất lúa bị mất Ngành trồng lúa trong khu vực sẽ chịu thiệt hại nặng nề do mất đi một phần ba diện tích Hầu hết các tỉnh đều có diện tích đất lúa bị ngập ở các mức độ khác nhau, trong đó nghiêm trọng nhất là tỉnh Kiên Giang, Sóc Trăng và Hậu Giang Tình hình đã trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng đến lợi thế ngành trồng lúa và chiến lược xuất khẩu gạo, đồng thời đe dọa an ninh lương thực quốc gia.
Bản đồ vùng đất lúa bị ngập khi NBD 100cm vào năm 2100:
Hình 3.6: Diện tích đất lúa bị ngập theo kịch bản nước biển dâng 100cm
Nguồn: Tác giả vẽ dựa trên dữ liệu của Tổng cục Đất đai
Khi mực nước biển dâng lên 1m, hơn 1,2 triệu ha đất lúa sẽ bị ngập, tương đương với 65% diện tích đất lúa Điều này sẽ dẫn đến việc sản lượng lúa gạo không còn đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Tính toán đơn giản với giả định năm 2100 nhu cầu tiêu dùng lương thực vẫn bằng năm
Năm 2009, Việt Nam sản xuất 34 triệu tấn lúa, tiêu dùng 26 triệu tấn và xuất khẩu 8 triệu tấn Nếu Đồng bằng sông Cửu Long mất 65% diện tích đất lúa, sản lượng lúa sẽ giảm xuống còn 6 triệu tấn, tổng sản lượng cả nước chỉ còn 23 triệu tấn Điều này sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt lương thực và buộc Việt Nam phải nhập khẩu Thiệt hại do biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến ngành trồng lúa mà còn đe dọa cuộc sống của hàng triệu người, tác động đến kinh tế, xã hội và an ninh quốc gia.
Năng lực thích ứng của ngành trồng lúa với tác động nước biển dâng
Để đánh giá khả năng thích ứng của một ngành trước tác động của biến đổi khí hậu, cần phân tích năm yếu tố chính: con người, xã hội, tự nhiên, vật chất và tài chính.
Vốn con người là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của ngành trồng lúa trước tác động của NBD Ngành trồng lúa không chỉ quan trọng đối với khu vực ĐBSCL mà còn là nguồn sinh kế cho 70% dân số trong vùng Tuy nhiên, trình độ giáo dục và dân trí tại đây vẫn còn thấp, với tỷ lệ biết chữ của trẻ em chưa đạt yêu cầu (Võ Hùng Dũng, 2012).
Tỷ lệ người 10 tuổi có trình độ học vấn thấp hơn mức trung bình cả nước, chỉ đạt 87,9% so với 89,5% Các tỷ lệ tốt nghiệp từ THCS đến trên đại học đều ở mức thấp nhất trong cả nước, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thông tin và điều chỉnh hành vi để thích ứng với biến đổi khí hậu (Phạm Khánh Nam, 2011).
Nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu (BĐKH) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với BĐKH Tuy nhiên, nhìn chung, người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về vấn đề này.
Chỉ có 71% người dân trồng lúa nhận thức về biến đổi khí hậu (BĐKH), và tần suất tiếp cận thông tin của họ rất thấp Người nghèo có hiểu biết về BĐKH ít hơn so với người giàu, trong khi nhiều người vẫn chưa nhận thức được nguyên nhân gây ra BĐKH Ngược lại, hầu hết cán bộ chính quyền (98%) đều biết về BĐKH và có thông tin sâu sắc hơn, nhưng vẫn cần cải thiện thêm.
Phạm Khánh Nam đã sử dụng mô hình Probit để chỉ ra rằng trình độ học vấn của chủ hộ có mối tương quan dương và ý nghĩa thống kê (90%) với hành vi thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo kết quả phỏng vấn của anh Huy Ngọc từ Viện Khoa học Xã hội trong dự án GIZ năm 2010, chỉ có 41% người được hỏi nghe về biến đổi khí hậu (BĐKH) 4 lần trong một tháng, trong khi khoảng 30% chỉ nghe 1 lần trong tháng Số còn lại nghe 2 lần hoặc 1 lần trong một năm.
Sản xuất lúa là thế mạnh của vùng ĐBSCL, nhưng năng suất lao động trong ngành này vẫn còn thấp Chỉ số chuyên môn hóa trong sản xuất nông nghiệp thậm chí còn thấp hơn cả ngành dịch vụ.
Yếu tố này làm trầm trọng hơn tác động của BĐKH đến thu nhập người dân trồng lúa
Các kỹ thuật trồng lúa tại ĐBSCL chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và chỉ dẫn của cán bộ địa phương về gieo trồng, giống lúa, phân bón và tưới tiêu Tuy nhiên, nông dân vẫn chậm áp dụng công nghệ mới Đặc biệt, khu vực này có tỷ lệ lao động trẻ cao, với nhiều người trong độ tuổi từ 20 đến 29, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thích ứng với biến đổi khí hậu Để đánh giá ảnh hưởng của nguồn lực con người đến khả năng thích ứng, cần xem xét trình độ học vấn, nhận thức về BĐKH, chuyên môn và sức khỏe của lao động Thái độ của nhà nước qua chính sách và hỗ trợ tài chính cũng đóng vai trò quan trọng Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho giáo dục, với tỷ trọng chi cho giáo dục tăng từ 42,6% năm 2000 lên 50,5% năm 2009, cho thấy sự ưu tiên cho giáo dục tại ĐBSCL Để nâng cao nhận thức về BĐKH, nhà nước đã đưa nội dung ứng phó vào chương trình giáo dục và các hoạt động truyền thông.
Vốn xã hội có thể tăng cường trao đổi thông tin về công nghệ mới và cung cấp tài chính khi các kênh chính thức bị hạn chế Nó cũng hỗ trợ hoạt động hợp tác để vượt qua các nghịch lý xã hội Tuy nhiên, tại ĐBSCL, vai trò của vốn xã hội trong việc hỗ trợ nông dân trồng lúa thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn còn mờ nhạt.
Nữ giới đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nhưng cũng dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu (BĐKH) Hội Phụ nữ có thể chia sẻ kinh nghiệm và thông tin hữu ích, tuy nhiên, vai trò của họ ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn chưa được phát huy Các hiệp hội khác cũng chỉ có ảnh hưởng tối thiểu đến việc thích ứng với BĐKH của nông dân trồng lúa trong khu vực Điều này cho thấy rằng, việc đầu tư cá nhân vào các biện pháp thích ứng như thay đổi thời điểm canh tác hay giống cây trồng không nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ mạng lưới thông tin và tài chính.
Liên kết trong cộng đồng sản xuất lúa gạo còn yếu, với quy mô sản xuất nhỏ lẻ và thiếu sự thống nhất về giống lúa cũng như phương thức canh tác Chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo gặp nhiều mắt xích yếu, dẫn đến lợi ích chưa cao Mạng lưới từ sản xuất đến thu mua, xay sát, phân phối và xuất khẩu chưa hình thành liên kết chặt chẽ, gây ra các vấn đề như phá bỏ hợp đồng và kiện tụng Điều này càng làm gia tăng khó khăn cho ngành trồng lúa, đặc biệt khi biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng hạt lúa và phương pháp canh tác.
Các hệ thống cảnh báo sớm, trước đây chưa được chú trọng, hiện cần được tăng cường để nâng cao khả năng phản ứng trước các diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu.
3 Đề án chủ trương và giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) cùng với công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường là những nội dung quan trọng cần được triển khai Các đề án này nhằm nâng cao nhận thức và hành động của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững.
Nhà nước đã triển khai một số chương trình nhằm phát triển các tổ chức và hiệp hội tại ĐBSCL, đồng thời thúc đẩy sự liên kết trong cộng đồng Tuy nhiên, mức độ quan tâm và hỗ trợ hiện tại vẫn còn hạn chế, chưa đủ để phát triển nguồn lực xã hội tại khu vực này.
Tổn thương của ngành trồng lúa với tác động nước biển dâng
Mức độ tổn thương của ngành trồng lúa trước biến đổi khí hậu (BĐKH) được xác định bởi độ nhạy và năng lực thích ứng của ngành Phân tích cho thấy năng lực thích ứng của ngành với tác động của BĐKH – NBD là thấp, trong khi độ nhạy lại rất cao Do đó, ngành trồng lúa sẽ chịu mức độ tổn thương lớn trước BĐKH – NBD.
Khung phân tích về tính dễ bị tổn thương chỉ ra ba giải pháp cho ngành trồng lúa ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) và giảm thiểu tổn thương Đầu tiên, cần giảm độ nhạy của ngành với BĐKH; thứ hai, nâng cao năng lực thích ứng; và thứ ba, kết hợp cả hai giải pháp Việc giảm độ nhạy là thách thức lớn, vì không thể di chuyển vùng trồng lúa ở ĐBSCL hay ngăn chặn BĐKH Tuy nhiên, có thể thực hiện các biện pháp để nâng cao năng lực thích ứng cho ngành Dựa vào phân tích năm nguồn lực, các giải pháp nâng cao năng lực thích ứng cho ngành trồng lúa trước tác động của BĐKH bao gồm (i) giải pháp công trình và (ii) giải pháp phi công trình.
Chương 4 KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BĐKH CHO NGÀNH TRỒNG LÚA VÙNG ĐBSCL
Giải pháp công trình
Để ứng phó với sự xâm nhập của nước biển, các tỉnh ven biển ĐBSCL đã xây dựng đê biển nhằm ngăn mặn, sóng và thủy triều Tuy nhiên, các công trình này đã được xây dựng từ lâu và không đủ khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu Nhiều nghiên cứu đã đề xuất xây dựng đê biển kiên cố bao quanh khu vực ĐBSCL Ngô Thế Vinh và cộng sự (2011) đã thiết kế kế hoạch cho một con đê biển đa dụng nhằm ngăn mặn, kết hợp với hai hồ chứa nước ngọt từ Đồng Tháp Mười và Đồng Cà Mau, đồng thời biến con đê thành hệ thống xa lộ vòng đai cho ĐBSCL.
Hình 4.1: Đê biển ngăn mặn bao quanh ĐBSCL
Nguồn: Ngô Thế Vinh và cộng sự, 2011
Nghiên cứu của Vo Thanh Danh (2012) khẳng định rằng việc xây dựng đê biển xung quanh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là cần thiết, vì lợi ích mang lại vượt xa chi phí xây dựng.
Nghiên cứu của Vo Thanh Danh sử dụng phân tích chi phí – lợi ích (CBA) để đánh giá hiệu quả của đê biển tại tỉnh Trà Vinh, từ đó mở rộng suy luận cho toàn khu vực ĐBSCL Một trong những lợi ích quan trọng của đê biển được ông chỉ ra là khả năng ngăn chặn sự suy giảm năng suất lúa do ảnh hưởng của đất nhiễm mặn.
Diện tích lúa bị nhiễm mặn hiện nay chủ yếu dựa trên phỏng đoán, và quan điểm cho rằng nếu NBD (1m vào năm 2100) thì lúa chỉ giảm năng suất là sai lầm, thực tế lúa sẽ chết và không thể canh tác trên vùng ngập Hơn nữa, không có cơ sở vững chắc để khẳng định rằng đê biển có thể ngăn chặn bão và lũ.
Do hạn chế trong nghiên cứu của Vo Thanh Danh, tác giả đã tiến hành phân tích chi phí - lợi ích (CBA) cho việc xây dựng đê biển ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Mặc dù chi phí xây dựng đê biển được báo cáo là không đổi, nhưng lợi ích lại được tính theo quan điểm của tác giả Cần lưu ý rằng, do giới hạn của đề tài chỉ tập trung vào ngành trồng lúa, nên những lợi ích khác đối với xã hội và cư dân chưa được xem xét.
4.1.1 Mô tả về dự án xây dựng đê biển
Đê biển được thiết kế với tổng chiều dài 1469 km bao quanh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), trong đó có 438 km đê biển và 1031 km đê cửa sông Đê biển sẽ đi qua 7 tỉnh thuộc ĐBSCL, như được trình bày trong Bảng 4.1.
Bảng 4.1: Thống kê chiều dài đê biển qua các tỉnh của ĐBSCL
Nội dung Đơn vị Tổng Tiền
Khu vực tự nhiên được bảo vệ Nghìn ha 494 23 64 29 152 53 124 49 Tổng dân số được bảo vệ
The content is sourced from Vo Thanh Danh, 2012, specifically from table 3 on page 6 It discusses the latest updates regarding the thesis and provides contact information for further inquiries.
Phương án xây dựng đê biển có quy mô vừa với chiều cao 3m sẽ được thực hiện qua nhiều giai đoạn Đê biển này không có kế hoạch nâng cấp trong tương lai và có vòng đời dự kiến là 100 năm.
Các giai đoạn xây dựng đê biển được xác định dựa trên dự báo NBD, ưu tiên xây dựng cho những khu vực bị tác động trước Phương pháp mô phỏng bằng bản đồ trong ArcGIS giúp xác định thời điểm cụ thể các khu vực sẽ bị ảnh hưởng, từ đó thiết kế lộ trình xây dựng đê biển được trình bày trong Bảng 4.2.
Bảng 4.2: Lộ trình xây dựng đê biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Tỉnh Kiên Giang Cà Mau Sóc Trăng Bạc Liêu Tiền Giang Trà Vinh Bến Tre
Nguồn: Tác giả tự tính toán
4.1.2 Chi phí xây dựng đê biển Chi phí xây dựng
Vo Thanh Danh ước tính chi phí xây dựng đê biển cho ĐBSCL dựa trên dự báo của Hillen và cộng sự (2008) cùng với Mai và cộng sự (2008) Chi phí này bao gồm nhiều yếu tố như chi phí xây dựng thân đê, chi phí sử dụng đất, cơ đê, và chi phí bảo vệ đê bên ngoài và bên trong Mức chi phí có thể thay đổi tùy thuộc vào loại vật liệu xây dựng và các yếu tố liên quan khác Mặc dù chi phí lao động là quan trọng, nhưng do chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí, ông đã quyết định không tính đến yếu tố này.
Chi phí bảo trì đê
Chi phí bảo trì hàng năm cho đê biển chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí Theo ước tính của Hillen, chi phí bảo trì cho mỗi km đê biển là khoảng 20.000 USD.
Chiều cao đê biển được lựa chọn là 3m, dựa trên ghi nhận đỉnh triều cao nhất hiện nay là 1,5m Dự báo đến năm 2100, nếu nước biển dâng 1m, đỉnh triều cao nhất sẽ đạt 2,5m.
Chi tiết về chi phí xây dựng và bảo trì đê biển như Bảng 4.3:
Bảng 4.3: Cấu phần chi phí xây dựng và chi phí bảo trì trên 1km đê biển Đơn vị: triệu USD
Bảo vệ đê bên trong/bên ngoài - 0,58
Nguồn: Lấy từ Vo Thanh Danh, 2012, bảng 11, tr.29
Ước lượng chi phí xây dựng của Mai cao hơn so với Hillen, điều này phản ánh sự khác biệt trong vật liệu và công nghệ sử dụng Hillen và Mai đã dựa vào nhiều giả định về tiêu chuẩn an toàn và tần suất xảy ra các thảm họa tự nhiên như bão và lũ để tính toán chi phí Những giả định này được thực hiện dưới các điều kiện không chắc chắn khác nhau Vo Thanh Danh (2012) đã áp dụng mô phỏng Monte Carlo để xác định chi phí xây dựng và chi phí bảo trì.
Bảng 4.4: Các loại chi phí trên 1km đê biển theo mô phỏng Monte Carlo Đơn vị: triệu USD
Cấu phần chi phí Phân phối xác suất Giá trị cao nhất Giá trị thấp nhất Giá trị mô phỏng
Chi phí xây dựng Đê cao 3m Phân phối chuẩn 1,93 2,7 2,31
Chi phí bảo trì Phân phối chuẩn 0,02 0,02 0,02
The content is sourced from Vo Thanh Danh, 2012, specifically from table 13 on page 31 It discusses the latest updates regarding the master's thesis, including download options and contact information for further inquiries.
Chi phí xây dựng đê biển cao 3m theo Bảng 4.4 là 2,31 triệu USD/km, trong khi chi phí bảo trì là 0,02 triệu USD/km Kết hợp với thông tin từ Bảng 4.2, chúng ta có thể tính toán chi phí xây dựng đê biển như được trình bày trong Bảng 4.5.
Bảng 4.5: Chi phí theo lộ trình xây dựng đê biển Đơn vị: triệu USD
Chi phí xây dựng 0 378,84 642,18 1427,58 187,11 48,51 339,57 369,6 0 Chi phí bảo trì 0,00 0,00 16,40 22.96 364 63.6 139.44 116.2 1057.68
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa vào Vo Thanh Danh, 2012
4.1.3 Lợi ích từ việc xây dựng đê biển
Giải pháp phi công trình
Thứ nhất, tập trung phát triển con người
Trong bối cảnh hiện nay, nông dân cần nâng cao kiến thức và kỹ năng để tiếp cận thông tin và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho giáo dục ở cấp THCS, THPT và các trường dạy nghề nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho người dân Đồng thời, cần lồng ghép các vấn đề biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy cho học sinh ở các cấp học này.
Để nâng cao năng suất lao động trong ngành trồng lúa, cần thực hiện cơ giới hóa sản xuất và giảm bớt lao động Việc triển khai các mô hình cánh đồng mẫu lớn sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả kinh tế theo quy mô và mang lại nhiều lợi ích khác Đồng thời, cần phát huy vai trò của các viện nghiên cứu về lúa và biến đổi khí hậu để nâng cao năng suất, chất lượng lúa, đảm bảo giá trị dinh dưỡng và vệ sinh cho xuất khẩu.
Huy động và quản lý nguồn vốn tài chính tại ĐBSCL là cần thiết, mặc dù khu vực này xuất siêu nhưng mức sống vẫn thấp hơn trung bình cả nước Lợi ích từ xuất khẩu chủ yếu tập trung vào một số đối tượng trong chuỗi giá trị lúa gạo Do đó, nhà nước cần có chính sách định hướng nguồn tiền từ xuất khẩu quay trở lại sản xuất, đặc biệt là đầu tư vào khoa học và công nghệ trồng lúa Điều này sẽ nâng cao hiệu quả ngành lúa gạo, tăng thu nhập cho người trồng lúa và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến thu nhập của họ.
Với ngân sách hạn hẹp, chính quyền địa phương cần quản lý chi tiêu hiệu quả và tập trung vào phát triển thế mạnh, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, để đối phó với tác động của biến đổi khí hậu Không phải tỉnh nào cũng có khả năng phát triển công nghiệp, do đó, việc phát huy lợi thế sản xuất nông nghiệp là rất quan trọng.
Để hỗ trợ người trồng lúa, cần tạo điều kiện thuận lợi cho họ tiếp cận các nguồn tài chính, đặc biệt là tài chính trung và dài hạn Các kênh cung cấp tài chính như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, cùng với các tổ chức tài chính như ngân hàng và tổ chức tín dụng, đóng vai trò quan trọng trong việc này.
Huy động nguồn tài trợ từ bên ngoài cho các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu là rất quan trọng, đồng thời cần sử dụng hiệu quả các nguồn lực này để tránh tình trạng tham nhũng và thất thoát.
Thứ ba, tăng cường vai trò của các tổ chức, mạng lưới xã hội
Cần tăng cường đầu tư cho các tổ chức xã hội để họ có đủ nguồn lực tài chính, kiến thức và kỹ năng Điều này sẽ giúp họ chia sẻ thông tin và kiến thức với nông dân trồng lúa, từ đó phát triển sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đầu tư tài chính cho các hội đoàn không chỉ tạo ra kênh truyền thông hiệu quả mà còn xây dựng mạng lưới tài chính vi mô, hỗ trợ các hộ dân phát triển sản xuất bên cạnh nghề trồng lúa, từ đó hình thành các nghề nghiệp khác và đa dạng hóa thu nhập cho người dân.
Cần bảo vệ nghiêm ngặt các khu rừng ngập mặn (RNM) hiện có và trồng mới ở những khu vực đã mất hoặc chưa có RNM Việc gắn lợi ích của RNM với lợi ích của người dân không chỉ giúp bảo vệ các khu RNM mà còn tăng thu nhập cho cộng đồng.