1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) giải pháp xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển tại công ty cho thuê tài chính ii ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

112 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển tại Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Tác giả Trần Huy Hiếu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Phong
Trường học Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ XỬ LÝ (12)
    • 1.1. Cơ sở lý luận về cho thuê tài chính (12)
      • 1.1.1. Khái ni ệm (12)
      • 1.1.2. Đặc điểm của cho thuê tài chính (14)
      • 1.1.3. Vai trò c ủa cho thuê tài chính (18)
      • 1.1.4. Các hình th ức cho thuê tài chính (20)
    • 1.2. C ơ sở lý luận về nợ xấu (23)
      • 1.2.1. Khái ni ệm nợ xấu (23)
      • 1.2.2. Nguyên nhân d ẫn đến nợ xấu (26)
      • 1.2.3. Phân lo ại nợ xấu (27)
      • 1.2.4. Ảnh hưởng của nợ xấu (28)
    • 1.3. Cơ sở lý luận về xử lý nợ xấu (29)
      • 1.3.1 Khái ni ệm về xử lý nợ xấu (29)
      • 1.3.2 Tiêu chí đánh giá kết quả xử lý nợ xấu (29)
    • 1.4. N ợ xấu trong cho thuê tài chính (29)
      • 1.4.1 Quy định về nợ xấu trong cho thuê tài chính (29)
      • 1.4.2 Ảnh hưởng của nợ xấu đối với công ty cho thuê tài chính (30)
      • 1.4.3 Các bi ện pháp xử lý nợ xấu tại công ty cho thuê tài chính (30)
      • 1.5.1. Kinh nghi ệm xử lý nợ xấu cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACBL) (31)
      • 1.5.2. Bài h ọc cho Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát tri ển nông thôn Việt Nam (34)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH V ẬN TẢI BIỂN TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHI ỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT (36)
    • 2.1. Khái quát v ề hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam (36)
    • 2.2. T ổng quan về Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát tri ển nông thôn Vi ệt Nam và ngành vận tải biển của Việt Nam (40)
      • 2.2.1. T ổng quan về Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát tri ển nông thôn Việt Nam (40)
      • 2.2.2. T ổng quan về ngành vận tải biển của Việt Nam (44)
    • 2.3. Th ực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghi ệp và phát triển nông thôn Vi ệt Nam (47)
      • 2.3.1. Chính sách cho thuê tài chính (47)
      • 2.3.2. Ngu ồn vốn và các sản phẩm cho thuê tài chính (49)
      • 2.3.3. K ết quả kinh doanh (56)
      • 2.3.4. Th ực trạng nợ xấu cho thuê tài chính (58)
    • 2.4. Th ực trạng xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển (60)
      • 2.4.1. Th ực trạng nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển (60)
      • 2.4.2. Nguyên nhân (69)
      • 2.4.4. K ết quả đạt được (81)
      • 2.4.5. Nh ận xét đánh giá (84)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH V ẬN TẢI BIỂN TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHI ỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT (90)
    • 3.1. Định hướng phát triển của Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghi ệp và phát triển nông thôn Việt Nam (90)
    • 3.2. Các bi ện pháp xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển tại Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghi ệp và phát triển nông thôn Vi ệt Nam (90)
      • 3.2.1. Các bi ện pháp trước mắt, cấp bách để xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành v ận tải biển (91)
      • 3.2.2. Các bi ện pháp mang tính chiến lược, lâu dài (94)
      • 3.2.3. Các bi ện pháp mang tính phòng ngừa (97)
    • 3.3. M ột số kiến nghị (98)
      • 3.3.2. Ki ến nghị với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt (99)
      • 3.3.3. Ki ến nghị với Ngân hàng nhà nước Việt Nam (101)
      • 3.3.4. Ki ến nghị với Chính phủ, các ban ngành (102)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ XỬ LÝ

Cơ sở lý luận về cho thuê tài chính

Khái ni ệm cho thuê

Cho thuê là thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê, trong đó bên cho thuê chuyển quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện bên thuê sẽ thanh toán tiền thuê một lần hoặc nhiều lần.

Hoạt động cho thuê đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử kinh tế, chủ yếu thông qua các giao dịch cho thuê tài sản Theo thời gian, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, các giao dịch này đã tiến hóa thành tín dụng thuê mua và hiện nay đã phát triển thành cho thuê tài chính (CTTC).

Khái ni ệm cho thuê tài chính

CTTC là kết quả của sự phát triển tín dụng thuê mua, ngày nay ngày càng hoàn thiện với sự ra đời của nhiều công ty CTTC độc lập Hình thức này đã trở thành một phương thức tài trợ vốn trung và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về CTTC, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu và quy định pháp luật của từng quốc gia Định nghĩa đơn giản nhất về CTTC là hình thức thuê tài sản, trong đó bên cho thuê chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích liên quan đến quyền sở hữu tài sản cho bên thuê Quyền sở hữu tài sản có thể được chuyển giao cho bên thuê khi kết thúc thời hạn thuê.

Theo đó, một giao dịch cho thuê tài sản được coi là CTTC nếu thỏa một trong các trường hợp sau:

- Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn thuê

Tại thời điểm bắt đầu hợp đồng thuê, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời gian thuê.

- Thời hạn thuê tài sản chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu

Tại thời điểm bắt đầu hợp đồng thuê, giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu thường chiếm tỷ lệ lớn trong giá trị thanh lý của tài sản thuê.

Hợp đồng thuê tài sản cũng được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu hợp đồng thoả mãn ít nhất một trong ba trường hợp sau:

- Nếu bên thuê huỷ hợp đồng và đền bù tổn thất phát sinh liên quan đến việc huỷ hợp đồng cho bên cho thuê

- Thu nhập hoặc tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của giá trị còn lại của tài sản thuê gắn với bên thuê

- Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sản sau khi hết hạn hợp đồng thuê với tiền thuê thấp hơn giá thuê thị trường

Theo định nghĩa, CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác Bên cho thuê cam kết mua các tài sản theo yêu cầu của bên thuê và giữ quyền sở hữu Bên thuê sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê trong thời gian đã thỏa thuận Khi kết thúc hợp đồng, bên thuê có quyền mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê theo điều kiện đã thỏa thuận Tổng số tiền thuê phải tương đương với giá trị tài sản tại thời điểm ký hợp đồng.

Bản chất của CTTC trong các khái niệm trên đều được hiểu như nhau, đó là:

CTTC là hình thức tín dụng trung và dài hạn thông qua hợp đồng cho thuê giữa bên thuê và bên cho thuê Trong đó, bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong suốt thời gian thuê, trong khi vẫn giữ quyền sở hữu tài sản Bên thuê có trách nhiệm sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận Việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản vào cuối thời hạn thuê phụ thuộc vào điều khoản trong hợp đồng cho thuê.

CTTC là hình thức cấp tín dụng trung dài hạn, trong đó bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một khoảng thời gian xác định Bên thuê sẽ sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê có quyền mua lại tài sản, tiếp tục thuê hoặc hoàn trả tài sản cho bên cho thuê, tùy theo các điều kiện trong hợp đồng.

1.1.2 Đặc điểm của cho thuê tài chính

Ngoài những đặc điểm chung của nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng, CTTC còn có những điểm đặc thù sau:

CTTC là hình thức cấp tín dụng thông qua tài sản, trong đó bên cho thuê mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và chuyển giao cho bên thuê sử dụng Hình thức tài trợ này không thay thế tín dụng trung dài hạn mà còn giúp đa dạng hóa và chuyên nghiệp hóa nghiệp vụ tín dụng Thời hạn của CTTC thường chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản, và tài sản trong CTTC thường có giá trị lớn cùng thời gian sử dụng dài.

Bản chất của tín dụng là hoàn trả khoản tiền đã được tài trợ, do đó, CTTC cũng thể hiện đầy đủ đặc điểm của tín dụng trung dài hạn.

Trong hợp đồng cho thuê tài chính (CTTC), bên thuê không cần sử dụng tài sản của mình để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ Tài sản cho thuê chính là tài sản bảo đảm, vì trong suốt thời gian cho thuê, quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc về bên cho thuê.

Bên thuê không cần phải có vốn tự có để tham gia vào việc hình thành tài sản cho thuê Bên cho thuê sẽ trực tiếp ký hợp đồng mua toàn bộ tài sản và chịu trách nhiệm thanh toán tất cả các chi phí liên quan đến việc hình thành tài sản cho thuê.

CTTC là hình thức tín dụng hỗ trợ sản xuất và kinh doanh, trong đó tài sản cho thuê bao gồm máy móc và thiết bị cần thiết cho hoạt động sản xuất của bên thuê.

- Trong nghiệp vụ CTTC có sự tham gia của ba chủ thể: bên cho thuê, bên thuê, nhà cung ứng

Bên cho thuê trong lĩnh vực cho thuê tài chính là các công ty cho thuê tài chính (CTTC), bao gồm cả các công ty độc lập và các công ty trực thuộc ngân hàng thương mại (NHTM), được thành lập nhằm thực hiện các nghiệp vụ cho thuê tài chính.

+ Bên thuê là các tổ chức và cá nhân có nhu cầu sử dụng tài sản thuê cho hoạt động sản xuất kinh doanh

+ Nhà cung ứng là đơn vị cung cấp tài sản cho thuê cho bên cho thuê

- Hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng không hủy ngang

C ơ sở lý luận về nợ xấu

Theo Hi ệp ước Basel

Vào năm 1988, Ủy ban Basel đã công bố hiệp ước Basel I, quy định các yêu cầu về vốn tối thiểu cho ngân hàng Tuy nhiên, Basel I hiện nay đã trở nên lỗi thời do sự phát triển của các tập đoàn tài chính và quản lý rủi ro Để đáp ứng những thay đổi này, Basel II đã được triển khai tại một số quốc gia Hiệp ước mới nhất, Basel III, được phát triển nhằm ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính.

Theo yêu cầu của Basel II, các ngân hàng cần áp dụng mô hình dựa trên dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng Các yếu tố quan trọng bao gồm PD (xác suất khách hàng không trả được nợ), LGD (tỷ trọng tổn thất ước tính) và EAD (tổng dư nợ của khách hàng khi không trả được nợ).

Ngân hàng sẽ xác định tổn thất có thể ước tính (EL) thông qua các biến số đã nêu Tổn thất này được tính toán cho mỗi kỳ hạn xác định dựa trên một công thức cụ thể.

EL = PD x EAD x LGD Trong đó, biến số PD (xác suất không trả được nợ) đóng vai trò quyết định trong việc phân loại khoản nợ của khách hàng Xác suất này được xác định dựa trên dữ liệu lịch sử về các khoản nợ của khách hàng, bao gồm các khoản đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được.

Theo quy định của Basel II, ngân hàng cần sử dụng dữ liệu dư nợ của khách hàng trong ít nhất 5 năm trước để tính toán nợ trong vòng một năm.

Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau:

- Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng

Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính bao gồm thông tin về trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, cùng với các dữ liệu liên quan đến tiềm năng tăng trưởng của ngành.

Nhóm dữ liệu cảnh báo liên quan đến khả năng không trả nợ cho ngân hàng bao gồm các yếu tố như số dư tiền gửi và hạn mức thấu chi.

Ngân hàng sử dụng dữ liệu để nhập vào mô hình định sẵn nhằm tính toán xác suất khách hàng không trả được nợ Các mô hình này có thể là mô hình tuyến tính hoặc mô hình probit, thường được phát triển bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp.

Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB)

- Những khoản nợ không thể thu hồi được : + Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ để đòi bồi thường từ nợ

+ Người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ

+ Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ

Khách nợ đã ngừng hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc gặp thua lỗ, dẫn đến việc tài sản còn lại không đủ để thanh toán các khoản nợ.

Nợ có thể thu nhưng không được thanh toán đầy đủ là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ để trả nợ Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thực hiện việc trả nợ, dẫn đến việc lãi hoặc gốc không được thanh toán đúng hạn Ngoài ra, hoàn cảnh cũng cho thấy rằng khoản nợ này sẽ không thể thu hồi được đầy đủ.

Những khoản nợ mà người mắc nợ đã đồng ý thanh toán trước đây, nhưng không thể hoàn trả toàn bộ, hoặc những khoản nợ mà tài sản đã được chuyển giao để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ để trang trải toàn bộ nợ cho ngân hàng.

+ Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu được gia hạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thoả thuận

Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hoặc không được ngân hàng chấp thuận về mặt pháp lý sẽ khiến người mắc nợ không thể trả nợ đầy đủ.

+ Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ

Theo Phòng Th ống kê của Liên Hiệp Quốc

Theo định nghĩa của Phòng Thống kê của Liên Hiệp Quốc, nợ xấu được xác định khi khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận Ngoài ra, các khoản phải thanh toán quá hạn dưới 90 ngày cũng có thể được coi là nợ xấu nếu có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng thanh toán đầy đủ của khoản vay.

Nợ xấu được xác định dựa trên hai yếu tố chính: quá hạn thanh toán trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ Đây là định nghĩa theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS), hiện đang được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu.

Vào đầu năm 2005, định nghĩa về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) được quy định trong IAS 39, do Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế phát triển và khuyến cáo áp dụng tại một số nước phát triển IAS 39 tập trung vào khả năng hoàn trả của khoản vay, bất kể thời gian quá hạn Để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, thường sử dụng phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay Mặc dù hệ thống này lý thuyết được coi là chính xác, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế đang tiến hành chỉnh sửa.

Tóm lại, nợ xấu là những khoản nợ mà khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị nghi ngờ hoặc đã được xác định chắc chắn

1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu

Cơ sở lý luận về xử lý nợ xấu

1.3.1 Khái niệm về xử lý nợ xấu

Xử lý nợ xấu là các hoạt động của ngân hàng nhằm giảm thiểu tổn thất từ nợ xấu đã phát sinh Các công cụ phổ biến được sử dụng bao gồm đòi nợ, tái cấu trúc khoản nợ, bán nợ, phong tỏa tài sản của người vay, thanh lý tài sản thế chấp, gán nợ, xiết nợ, yêu cầu bồi thường từ những người có trách nhiệm liên đới, và sử dụng quỹ dự phòng tài chính Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể xử lý nợ xấu thông qua dự phòng rủi ro tín dụng và các biện pháp tài trợ rủi ro tín dụng khác.

1.3.2 Tiêu chí đánh giá kết quả xử lý nợ xấu Đối với quá trình xử lý nợ xấu, có thể đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

- Mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng/tổng nợ xấu

- Tỷ lệ các khoản nợ xấu đã thu hồi được

- Tỷ lệ các khoản nợ xấu đã tái cấu trúc.

N ợ xấu trong cho thuê tài chính

1.4.1 Quy định về nợ xấu trong cho thuê tài chính

CTTC là nghiệp vụ cấp tín dụng, và các công ty CTTC là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, do đó cũng phải tuân thủ các quy định về phân loại nợ Việc phân loại nợ trong CTTC tương tự như trong ngân hàng, trong đó nợ xấu được xác định là các khoản cho vay thuộc 3 nhóm cuối cùng trong hệ thống phân loại 5 nhóm của BIS.

Nợ dưới chuẩn là các khoản nợ mà tiền trả lãi và gốc đã quá hạn trên 3 tháng Các công ty cho vay tiêu dùng (CTTC) cần trích lập dự phòng 10% trên phần vốn CTTC không được bảo đảm và được xác định là dưới chuẩn.

Nhóm 4: Nợ nghi ngờ thể hiện khả năng hoàn trả toàn bộ khoản nợ là không chắc chắn, cho thấy có nguy cơ mất vốn, mặc dù mức độ thiệt hại vẫn chưa xác định Các công ty CTTC cần phải trích lập dự phòng 50% cho các khoản vay thuộc nhóm này.

Nhóm 5 bao gồm các khoản nợ mất vốn thực sự và không có khả năng thu hồi, được xem là không thể thu hồi Các công ty CTTC sẽ trích lập dự phòng 100% cho những khoản nợ này.

1.4.2 Ảnh hưởng của nợ xấu đối với công ty cho thuê tài chính

Nợ xấu trong cho vay tiêu dùng (CTTC) gây khó khăn cho các công ty trong việc thu hồi vốn gốc và lãi suất, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng tín dụng của khoản đầu tư Hệ quả là hoạt động, thu nhập và lợi nhuận của các công ty CTTC cũng bị ảnh hưởng.

Nợ xấu trong hình thức cấp tín dụng bằng tài sản làm tăng rủi ro cho các công ty CTTC, do tài sản hao mòn theo thời gian và không được bảo quản đúng cách Sự gia tăng nợ xấu không chỉ làm giảm uy tín và khả năng thanh khoản của các công ty CTTC, mà còn có thể dẫn đến phá sản, gây thiệt hại cho các tổ chức kinh tế khác và ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống tài chính – ngân hàng của quốc gia.

1.4.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu tại công ty cho thuê tài chính

Xử lý nợ xấu CTTC được xem như một nghệ thuật, không có quy trình chung hay hướng dẫn cụ thể nào Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh và khả năng, các phương pháp xử lý sẽ khác nhau Để quản lý và hạn chế sự gia tăng nợ xấu, có thể áp dụng 10 giải pháp cơ bản.

- Đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ CTTC để có biện pháp xử lý

- Tăng cường trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu CTTC

- Tiếp tục cơ cấu lại nợ

- Tiếp tục hỗ trợ vốn để khách hàng khắc phục khó khăn và phục hồi

- Bổ sung, hoàn thiện hồ sơ pháp lý tài sản đảm bảo

- Thu nợ và xử lý tài sản đảm bảo

- Hoán đổi nợ thành vốn

- Bán nợ xấu CTTC cho Công ty Mua bán nợ, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng…

- Kiểm soát chặt chẽ dư nợ CTTC và giảm thiểu tối đa chi phí hoạt động

- Hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai

1.5 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu và bài học đối với Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL)

ACBL, công ty 100% vốn thuộc Ngân hàng TMCP Á Châu, được thành lập vào ngày 29/10/2007, có trụ sở chính tại 131 Châu Văn Liêm, Phường 14, Quận 5, TP Hồ Chí Minh, với vốn điều lệ ban đầu là 200 tỷ đồng ACBL hoạt động trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau.

- Mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính

- Thực hiện dịch vụ ủy thác, quản lý tài sản & bảo lãnh liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính

- Tư vấn những dịch vụ liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính

Thị trường cho vay tiêu dùng (CTTC) năm 2012 tiếp tục tăng trưởng chậm do ảnh hưởng từ nợ xấu Mặc dù hiệu quả hoạt động của các công ty CTTC thấp, ACBL vẫn duy trì sự tăng trưởng ổn định và an toàn Trong khi dư nợ CTTC toàn ngành giảm khoảng 10%, ACBL đạt mức tăng trưởng tín dụng dương nhờ vào chính sách bán hàng linh hoạt và phù hợp.

Thị phần của ACBL liên tục tăng trưởng trong 5 năm qua Đến 31/12/2012, dư nợ cho thuê tài chính của ACB Leasing là 925,2 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2011

Như vậy, ACBL đã nâng thị phần của mình thêm 1,23%, chiếm 5,95% tổng dư nợ CTTC toàn ngành (theo thống kê của Hiệp hội CTTC Việt Nam)

Biểu đồ 1.1: Mức tăng trưởng thị phần của ACBL

[Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2012 của Ngân hàng TMCP Á Châu]

Biểu đồ 1.2: Tốc độ tăng trưởng dư nợ và lợi nhuận của ACBL

ACBL nổi bật với việc quản lý và giám sát rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu gia tăng và chất lượng tín dụng giảm sút trong ngành Ngân hàng đã chú trọng kiểm soát rủi ro tín dụng, thường xuyên rà soát và thực hiện quyết liệt công tác đôn đốc, thu hồi nợ Tỷ lệ nợ quá hạn của ACBL trong năm 2012 chỉ ở mức thấp, cho thấy hiệu quả trong công tác quản lý rủi ro.

ACBL thường xuyên rà soát danh mục ngành nghề và tài sản cho thuê tài chính để đánh giá tác động và biến động thị trường, từ đó điều chỉnh cơ cấu tài sản cho phù hợp Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 39% tổng dư nợ tài trợ, bên cạnh các lĩnh vực khác như y tế, khí đốt và xây dựng ACBL cũng hướng đến việc đa dạng hóa loại tài sản tài trợ, chủ yếu tập trung vào máy móc thiết bị và dây chuyền sản xuất, phù hợp với định hướng của Nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư cho doanh nghiệp sản xuất.

Biểu đồ 1.3: Danh mục tài sản CTTC năm 2012 của ACBL

ACBL đặt ra định hướng phát triển với ba mục tiêu chính: quản lý hiệu quả, tăng trưởng hợp lý và đảm bảo an toàn Ngân hàng cũng chú trọng mở rộng mạng lưới chi nhánh để nâng cao chất lượng dịch vụ.

CTTC mở rộng dịch vụ đến khách hàng trên toàn quốc nhằm phát triển thị phần ACBL chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ và cung cấp giải pháp tư vấn đầu tư vốn đổi mới công nghệ toàn diện Công ty phấn đấu trở thành một trong ba công ty CTTC lớn nhất và an toàn nhất.

1.5.2 Bài học cho Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Từ thực tiễn quá trình hoạt động CTTC và kinh nghiệm của các công ty CTTC, bản thân ALCII rút ra được một số điều cần lưu ý như sau:

Luôn tuân thủ các quy tắc an toàn trong hoạt động, bám sát các quy định và hướng dẫn của cơ quan chủ quản, cũng như các quy định pháp luật liên quan.

THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH V ẬN TẢI BIỂN TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHI ỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT

Khái quát v ề hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam

Hoạt động CTTC tại Việt Nam tuy chỉ mới ra đời vào thập niên cuối của thế kỷ

CTTC đã hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn để đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đồng thời, CTTC cũng thu hút vốn đầu tư và công nghệ từ nước ngoài, đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh thiếu hụt nguồn vốn hiện nay.

Tính đến tháng 6/2012, Việt Nam đã có 12 công ty CTTC được cấp giấy phép hoạt động, bao gồm 4 công ty 100% vốn nước ngoài, 2 công ty 100% vốn trong nước thuộc NHNo&PTNT VN, 5 công ty 100% vốn trong nước thuộc 5 Ngân hàng TMCP, và 1 công ty thuộc tập đoàn Vinashin Các công ty này có mạng lưới hoạt động rộng khắp các tỉnh và thành phố lớn Vốn điều lệ tối thiểu khi thành lập là 100 tỷ đồng, và hiện tại tất cả các công ty đều có vốn điều lệ cao hơn mức tối thiểu Đến tháng 3/2013, ANZ/V-TRAC đã bị thu hồi giấy phép hoạt động, trong khi Kexim gần như ngừng hoạt động Hai công ty 100% vốn nước ngoài còn lại là Công ty CTTC Quốc tế Việt Nam và Công ty CTTC Quốc tế Chailease cũng hoạt động không hiệu quả.

Bảng 2.1: Vốn điều lệ của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam Đơn vị: tỷ đồng

STT Tên Công ty cho thuê tài chính Vốn điều lệ

1 BLC – Công ty CTTC Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (hợp nhất từ BLC1 và BLC2) 448 2012

VCBL – Công ty CTTC Ngân hàng TMCP

3 ICBL – Công ty CTTC Ngân hàng TMCP Công

ALCI – Công ty CTTC I NHNo&PTNT Việt

5 ALCII – Công ty CTTC II NHNo&PTNT Việt

6 SBL – Công ty CTTC Ngân hàng TMCP Sài Gòn

ACBL – Công ty CTTC Ngân hàng TMCP Á

8 VFL – Công ty Tài chính TNHH một thành viên

9 ANZ/VTRAC – Công ty CTTC ANZ/VTRAC 103 1999

10 VILC - Công ty CTTC Quốc tế Việt Nam 350 1996

11 KVLC - Công ty CTTC TNHH một thành viên Kexim Việt Nam

12 CILC - Công ty CTTC Quốc tế Chailease 200 2006

[Nguồn: NHNN VN và website của các công ty CTTC]

Hoạt động của các công ty tài chính tiêu dùng (CTTC) đã tạo ra một kênh tín dụng mới, giúp cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như những doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn bằng tài sản thế chấp Tuy nhiên, tổng vốn điều lệ của các công ty CTTC tại Việt Nam và tổng mức dư nợ vẫn còn khiêm tốn, chỉ đạt hơn 3.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 1% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế.

Bảng 2.2: Thị phần cho thuê của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam Đơn vị: tỷ đồng, %

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

[Nguồn: Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam]

Dư nợ tại các công ty CTTC từ năm 2008 đến 2012 có sự biến động không lớn, mặc dù có những thời điểm tăng và giảm Đặc biệt, Công ty CTTC 1 - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (hiện nay là BLC) ghi nhận sự biến động dư nợ lớn trong năm 2011.

CTTC 2 - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam sáp nhập vào Công ty CTTC 1 - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm dư nợ tại Công ty CTTC 1 - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tăng hơn 90% Ngoài ra từ năm 2009, ALCII tăng dư nợ một cách đột biến đến 85,5% nguyên nhân là do trong giai đoạn này ALCII đã định hướng chiến lược kinh doanh sai, dẫn đến việc ồ ạt mở rộng dư nợ cho thuê đặc biệt là cho thuê tài sản là tàu biển Đây là nguyên nhân chính dẫn đến nợ xấu tại ALCII tăng rất cao tại thời điểm hiện nay

Từ năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ suy thoái kinh tế toàn cầu, dẫn đến nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực cho thuê tài chính (CTTC) Theo thống kê năm 2009 của Hiệp hội CTTC Việt Nam, nợ xấu của một số công ty CTTC đã vượt quá 10%, với ALCII ghi nhận tỷ lệ nợ xấu lên tới 57,93% Điều này cho thấy hoạt động CTTC tại Việt Nam trong 5 năm qua không hiệu quả Nguyên nhân chính của tình trạng nợ xấu gia tăng bao gồm khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đánh giá thị trường không chính xác, và sự thiếu quan tâm từ các cơ quan quản lý nhà nước về cơ chế và chính sách Đến cuối năm 2012, hầu hết các công ty CTTC đều có tỷ lệ nợ xấu cao, ngoại trừ Công ty CTTC Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và Công ty CTTC Ngân hàng TMCP Á Châu, trong khi ALCII gần như toàn bộ là nợ xấu, đặc biệt là nợ liên quan đến tàu thuyền.

Trong bối cảnh nợ xấu liên quan đến các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam, việc xử lý nợ xấu của các công ty CTTC trở thành một yêu cầu cấp thiết Sự đồng thuận về phương án giải quyết là điều cần thiết để đạt được giải pháp triệt để và nhanh chóng Mặc dù sẽ có những đánh đổi và mất mát lớn, nhưng giai đoạn này sẽ dẫn đến những tiến bộ rõ rệt cho thị trường.

Bảng 2.3: Dư nợ và tỷ lệ nợ xấu tại một số công ty cho thuê tài chính năm 2012 Đơn vị: tỷ đồng, %.

[Nguồn: Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam]

T ổng quan về Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát tri ển nông thôn Vi ệt Nam và ngành vận tải biển của Việt Nam

2.2.1 Tổng quan về Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

L ịch sử thành lập và phát triển

ALCII được thành lập theo Quyết định số 239/1998/QĐ-NHNN ngày 14/7/1998 và chính thức hoạt động từ ngày 16/10/1998 Hiện tại, vốn điều lệ của ALCII là 350 tỷ đồng, với trụ sở chính đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh ALCII là doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập và là đơn vị thành viên của NHNo&PTNT VN.

Phân loại theo tài sản Nợ xấu Tên công ty

Dư nợ CTTC Ôtô các loại

Máy xây dựng khai khoáng

ALCII có điều lệ tổ chức hoạt động riêng do Hội đồng quản trị NHNo&PTNT VN ban hành, được Thống đốc NHNN VN chuẩn y

Mô hình t ổ chức hoạt động

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi sang mô hình Công ty cổ phần hoặc Công ty TNHH một thành viên trước ngày 01/7/2010.

Theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT VN) đã giao ALCII thực hiện tiến trình cổ phần hóa.

Vào ngày 30/6/2007, giá trị doanh nghiệp của ALCII được xác định là 422 tỷ đồng để xây dựng phương án cổ phần hóa.

Phương án cổ phần hóa ALCII có tổng số vốn điều lệ là 500 tỷ đồng, trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT VN) tham gia 63% Đặc biệt, một phần vốn sẽ được bán ưu đãi cho cán bộ nhân viên.

Vào ngày 09/3/2009, ALC2 đã thực hiện IPO thành công, với 1,5% cổ phần dành cho cổ đông chiến lược và 10% cho các nhà đầu tư bên ngoài Tổng cộng có 90 nhà đầu tư trúng giá, bao gồm 27 tổ chức và 63 cá nhân, với giá đấu bình quân đạt 10.632 đồng/cổ phần.

Bảng 2.4: Kết quả bán cổ phần cho các nhà đầu tư Đơn vị: triệu đồng

STT Diễn giải Số cổ phần Tổng mệnh giá Tổng giá trị

1 Bán cho nhà đầu tư thông thường 13.354.100 133.541 142.836

2 Bán cho nhà đầu tư chiến lược

Bán ưu đãi cho cán bộ nhân viên 145.900 1.459 0,930

[Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp – ALCII]

Mặc dù ALCII đã thực hiện IPO thành công, nhưng từ đầu năm 2008, công ty đã gặp khó khăn về thanh khoản và bất ổn trong hoạt động, đặc biệt là từ gần cuối năm.

Năm 2008, tình trạng nợ xấu gia tăng rõ rệt, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư tàu biển, dẫn đến nguy cơ mất thanh khoản Tỷ lệ đầu tư vào tàu biển cao, trong khi nợ tồn đọng lớn và khả năng thu hồi nợ ngày càng kém, cùng với việc phân loại nhóm nợ không chính xác.

Trong tổng số 185 tỷ đồng bán cổ phần qua IPO, khoảng 80% nhà đầu tư là khách hàng của ALCII Đến tháng 7/2009, ALCII đã thể hiện rõ tình trạng mất thanh khoản, với dư nợ cao và nợ quá hạn lớn vượt tầm kiểm soát Trước tình hình này, NHNo&PTNT VN đã chỉ đạo ALCII tạm hoãn đại hội cổ đông để tập trung chấn chỉnh và củng cố chất lượng dư nợ cho thuê, đồng thời xử lý vấn đề thanh khoản.

Đến tháng 8/2010, ALC2 có trụ sở chính tại 422 đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, cùng với các chi nhánh tại Thành phố Đà Nẵng, Tỉnh Khánh Hòa, Tỉnh Bình Dương và Thành phố Cần Thơ.

Hồ Chí Minh có các chi nhánh Tây Bắc, Nam Sài Gòn và Phòng giao dịch Đông Sài Gòn Tuy nhiên, từ tháng 9/2010 đến tháng 6/2013, ALCII đã thực hiện đề án tái cấu trúc bằng cách chấm dứt và sáp nhập hoạt động của Phòng giao dịch Đông Sài Gòn cùng các chi nhánh Tây Bắc, Nam Sài Gòn, Bình Dương, Khánh Hòa về hội sở chính Hiện tại, chi nhánh Đà Nẵng và Cần Thơ vẫn đang trong quá trình bàn giao và sáp nhập.

Hội đồng quản trị của ALCII gồm có: Chủ tịch Hội đồng quản trị và 02 Ủy viên, trong đó có 01 Ủy viên kiêm Tổng Giám đốc

Ban kiểm soát gồm có: Trưởng Ban và hai thành viên chuyên trách

Ban điều hành gồm: Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc giúp việc

ALCII hiện có 07 phòng nghiệp vụ, bao gồm: Phòng Kinh doanh 1, Phòng Kinh doanh 2, Phòng Tài chính Kế toán, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Hành chính nhân sự, Phòng Công nghệ thông tin và Phòng Kiểm toán nội bộ, trực thuộc Ban kiểm soát.

Tại ALCII, Tổng Giám đốc là người đứng đầu, điều hành công ty với sự hỗ trợ của 03 Phó Tổng Giám đốc, những người có quyền thay mặt Tổng Giám đốc khi cần Mỗi phòng ban có Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng, chịu trách nhiệm thực hiện các công việc cụ thể và báo cáo trực tiếp cho Ban Tổng Giám đốc Cơ cấu tổ chức của các phòng ban sẽ được điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu quản lý, quy mô và tình hình phát triển của công ty.

♦ Công tác quản trị điều hành

Mô hình quản trị điều hành của ALCII đã trải qua ba giai đoạn: giai đoạn đầu không có Hội đồng quản trị, giai đoạn tiếp theo có Hội đồng quản trị do Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNT VN kiêm nhiệm, và giai đoạn hiện tại ALCII đã thành lập Hội đồng quản trị riêng.

- Giai đoạn đầu (Từ khi thành lập năm 1998 đến tháng 6/2003): ALCII hoạt động theo mô hình không có Hội đồng quản trị

Giám đốc ALCII là người đại diện theo pháp luật, có trách nhiệm quản lý và điều hành toàn bộ hoạt động của ALCII theo điều lệ và cơ chế quản lý được ban hành hoặc hướng dẫn bởi NHNo&PTNT VN, và đã được NHNN VN phê duyệt.

- Giai đoạn tiếp theo (Từ tháng 6/2003 đến tháng 4/2006): ALCII có Hội đồng quản trị nhưng do Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNT VN kiêm nhiệm

Theo quyết định 516/2003/QĐ-NHNN ngày 26/5/2003 của Thống đốc NHNN

Th ực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghi ệp và phát triển nông thôn Vi ệt Nam

2.3.1 Chính sách cho thuê tài chính

Để đạt được mục tiêu đa dạng hóa nghiệp vụ tín dụng và tăng cường thu nhập cũng như lợi nhuận cho NHNo&PTNT VN, ngân hàng tập trung vào chức năng cho thuê tài chính.

ALCII được thành lập nhằm hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp ở mọi lĩnh vực và thành phần kinh tế, giúp họ đầu tư vào việc trang bị, đổi mới máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các tài sản động sản khác.

ALCII cung cấp các loại tài sản đa dạng với điều kiện thuê thấp nhất nhờ vào việc nhập khẩu trực tiếp và đầu tư mua sắm theo yêu cầu của bên thuê Với mối quan hệ vững chắc và nguồn thông tin phong phú từ gần 200 nhà cung ứng uy tín, ALCII giúp các thành phần kinh tế dễ dàng tiếp cận tài sản mà không cần thủ tục phức tạp như vay vốn ngân hàng Khách hàng có uy tín và năng lực tài chính tốt chỉ cần chiếm 5% giá trị tài sản thuê để thực hiện giao dịch CTTC một cách thuận lợi.

Từ năm 2008, ALCII đã xác định sai lầm trong chiến lược kinh doanh, không dự báo chính xác thị trường và đầu tư ồ ạt vào nhiều lĩnh vực, đặc biệt là cho thuê tàu biển Việc này vi phạm nguyên tắc “Không bỏ trứng vào cùng một rổ”, dẫn đến nợ xấu tăng cao và ALCII mất thanh khoản nghiêm trọng Hệ quả là tình trạng này ảnh hưởng đến thanh khoản toàn hệ thống ngân hàng, làm giảm uy tín của NHNo&PTNT VN và tác động tiêu cực đến an ninh tiền tệ của đất nước.

Ch ủ trương về hoạt động cho thuê tài chính ngành vận tải biển

Kể từ năm 2008, ALCII đã chỉ ra rằng để đối phó với áp lực hội nhập toàn cầu và mở cửa nền kinh tế, các doanh nghiệp vận tải Việt Nam cần đầu tư vào tàu biển nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong thương mại quốc tế và giảm giá thành sản phẩm Dựa trên nhận định này, Ban lãnh đạo ALCII đã định hướng đầu tư và cho thuê tài chính vào ngành vận tải biển, tập trung vào việc đóng mới, mua mới hoặc sử dụng tàu biển đã qua sử dụng.

Theo Hướng dẫn tạm thời số 87/08/ALCII-CT của Tổng Giám đốc ALCII, tài sản cho thuê trong ngành vận tải biển bao gồm các tàu biển mới, đang đóng, tàu đã qua sử dụng được mua trong nước hoặc nước ngoài Tất cả các tàu này phải được đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam và mang cờ quốc tịch.

Việt Nam, được cơ quan chức năng có thẩm quyền của Việt Nam hoặc quốc tế cấp phép hoạt động

Theo định hướng như vậy nên trong giai đoạn cuối năm 2007 đến đầu năm

Năm 2009, ALCII đã tập trung vào cho thuê tài chính trong ngành vận tải biển, chủ yếu thông qua việc mua lại các tàu cũ đã qua sử dụng từ quốc tế và đóng mới tại Việt Nam Số tiền cho thuê mà ALCII được phép giải ngân bao gồm chi phí đóng tàu (hoặc mua tàu) có thuế giá trị gia tăng, tiền lãi trong giai đoạn đầu tư, chi phí mua sắm trang thiết bị vật tư để hoàn thiện tàu, phí bảo hiểm thân tàu, lệ phí trước bạ, và đặc biệt là cả chi phí nhiên liệu trong quá trình chạy thử nếu cần thiết.

Chủ trương này giúp khách hàng thuê không cần nguồn vốn đối ứng lớn khi thuê tài chính tàu biển Chi phí cao và lãi suất đầu tư lớn khiến số tiền thuê vượt khả năng trả nợ của bên thuê, dẫn đến nợ xấu trong ngành cho thuê tài chính vận tải biển tại ALCII từ năm 2008.

2.3.2 Nguồn vốn và các sản phẩm cho thuê tài chính

Ngu ồn vốn cho thuê tài chính

Về cơ cấu, nguồn vốn của ALCII được hình thành từ bốn nguồn chính như sau:

ALCII đã nhận được vốn điều lệ từ NHNo&PTNT VN ngay khi đăng ký kinh doanh, bắt đầu với 55 tỷ đồng, sau đó được cấp thêm 45 tỷ đồng vào tháng 7/2002, 50 tỷ đồng vào tháng 1/2004, và 200 tỷ đồng vào tháng 8/2007, nâng tổng vốn điều lệ lên 350 tỷ đồng Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn vẫn thấp và có xu hướng tăng do tổng nguồn vốn giảm dần, với tỷ trọng lần lượt là 4,41% vào năm 2008, 3,96% vào năm 2009, 6,3% vào năm 2010, 12,52% vào năm 2011 và 16,72% vào năm 2012.

♦ Nguồn thứ hai: Vốn vay NHNo&PTNT VN và bán các khoản phải thu

Từ năm 2000, nguồn vốn hoạt động chính của ALCII luôn chiếm tỷ trọng cao, với mức trung bình trên 75% trong tổng nguồn vốn từ năm 2008 đến 2012 ALCII nhận nguồn vốn này từ NHNo&PTNT VN với lãi suất bằng lãi suất điều vốn nội bộ, thường cao hơn lãi suất huy động Nguồn vốn có thời hạn dài 5 năm, thủ tục nhận vốn đơn giản và sử dụng linh hoạt.

Từ cuối năm 2007, nguồn vốn vay của NHNo&PTNT VN không tăng do bị khống chế theo Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN và Quyết định số 34/2008/QĐ-NHNN của NHNN VN, liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung các quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

Năm 2010, ALCII đã thực hiện cân đối vốn để trả nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Tuy nhiên, do kết quả thu nợ không hiệu quả, số tiền trả nợ không đáng kể Mặc dù số dư tuyệt đối giảm, nhưng tỷ trọng nợ lại tăng dần qua các năm.

2009 (chiếm 33,62%) đến năm 2010 (chiếm 54,73%), năm 2011 (chiếm 104%) và năm

2012 chiếm 128%, do tổng nguồn giảm

♦ Nguồn thứ ba: Vốn huy động

Hoạt động chính của các tổ chức tín dụng là vay mượn để cho vay, điều này càng trở nên rõ ràng trong nền kinh tế thị trường Vì vậy, khả năng huy động vốn trở thành một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức mạnh và khả năng cạnh tranh của tổ chức tín dụng.

Từ khi thành lập, ALCII đã tập trung vào việc huy động vốn để chủ động về nguồn tài chính và giảm chi phí đầu vào, dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của nguồn vốn qua các năm Tuy nhiên, hình thức huy động vốn vẫn chưa đa dạng, một phần do ALCII không cung cấp dịch vụ thanh toán và phần khác do thói quen của khách hàng trong việc gửi tiền vào các ngân hàng truyền thống, gây khó khăn cho việc huy động vốn từ dân cư Nguồn vốn chủ yếu đến từ các khách hàng có mối quan hệ thân thiết với ALCII.

Từ cuối năm 2009, ALCII gặp khó khăn về thanh khoản, dẫn đến việc không thể huy động vốn và chủ yếu phải thương thảo gia hạn, giãn nợ với các đơn vị gửi tiền và cho vay Kể từ năm 2009, mặc dù số tuyệt đối của nguồn vốn huy động từ các tổ chức tín dụng giảm dần, nhưng tỷ trọng của nó lại tăng lên do tổng nguồn vốn giảm.

Th ực trạng xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển

2.4.1 Thực trạng nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển

N ợ xấu trong hoạt động cho thuê ngành vận tải biển

Dư nợ tín dụng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động của các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế Tại ALCII, dư nợ cho thuê được phân loại theo thành phần kinh tế và loại hình tài sản Để phân tích tình trạng nợ xấu trong cho thuê tài chính ngành vận tải biển của ALCII giai đoạn 2008-2012, việc phân loại theo tài sản là điều cần chú ý nhất.

Bảng 2.8: Tổng hợp cơ cấu cho thuê qua các năm Đơn vị: tỷ đồng, %

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Khác 593 9,56 468 6,77 586 7,91 244 3,8 138 2,54 Tài sản là tàu biển

[Nguồn: ALCII-Báo cáo tổng kết qua các năm]

Dựa trên bảng dữ liệu, dư nợ cho thuê tại ALCII đã đạt đỉnh vào năm 2010 với 7.413 tỷ đồng, trong đó 64,45% là dư nợ từ tài sản cho thuê là tàu biển, cho thấy sự mất cân bằng nghiêm trọng trong cơ cấu Sau nhiều đợt thanh kiểm tra và chỉ đạo từ NHNo&PTNT, tình hình cần được cải thiện.

Đến ngày 31/12/2012, nhờ vào các biện pháp kịp thời và nỗ lực không ngừng của ALCII, dư nợ đối với tài sản là tàu biển đã giảm còn 4.057 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 45%.

Tính đến ngày 31/12/2012, ALCII có tổng cộng 755 hợp đồng cho thuê tài chính và đầu tư, với dư nợ cho thuê và đầu tư tàu biển đạt 5.445 tỷ đồng, chiếm 76% tổng dư nợ cho thuê và cam kết cho thuê Trong thời điểm này, ALCII đang nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 3.302 tỷ đồng.

ALCII đã giảm áp lực thanh khoản đáng kể nhờ vào vốn tự có, với tổng vốn của NHNo&PTNT VN đạt 2.997 tỷ đồng Trong năm 2008, ALCII đã ký kết nhiều hợp đồng cho thuê tài chính, tăng thêm 6.755 tỷ đồng, vượt qua dư nợ cho thuê tài chính và đầu tư trước đó.

Trong 9 năm qua, tổng số tiền giải ngân cho CTTC các tài sản tàu biển đạt 6.078 tỷ đồng, chiếm 90% tổng số ALCII đã nhận bàn giao tài sản và hạch toán dư nợ 1.452 tỷ đồng, trong khi ứng đầu tư là 1.376 tỷ đồng Tuy nhiên, ALCII vẫn còn nợ nhà cung ứng 4.435 tỷ đồng, số tiền này sẽ được thanh toán khi nhận bàn giao tài sản.

Trong khoảng thời gian 18 tháng từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2009, ALCII đã ký kết hợp đồng cho thuê tài chính trị giá 10.773 tỷ đồng, với hơn 85% số tiền dành cho tàu biển Hầu hết các hợp đồng này có thời hạn 180 tháng (15 năm) và lãi suất điều chỉnh không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định (12%/năm).

Tính đến ngày 30/6/2013, tổng dư nợ cho thuê tài chính và đầu tư ứng trước trong ngành vận tải biển tại ALCII đạt 4.144 tỷ đồng, với nợ xấu chiếm 99,73% tổng dư nợ, chủ yếu tập trung ở các Công ty TNHH và Công ty Cổ phần Trước đó, vào ngày 31/12/2011, nợ xấu tại ALCII đã lên tới 5.990 tỷ đồng, chiếm 93% Đến 31/12/2012, chất lượng dư nợ cho thuê tài chính giảm mạnh, với tổng nợ xấu là 5.219 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu đạt 96%, trong đó nợ nhóm 5 chiếm trên 95% tổng số nợ xấu, và nợ xấu cho thuê tài chính đối với các hợp đồng có tài sản tàu biển đạt 100%.

Nợ xấu gia tăng và chất lượng dư nợ cho thuê tài chính giảm sút đã dẫn đến giá trị thực tế của tàu biển giảm mạnh so với dư nợ còn lại Tàu biển cho thuê không thể khai thác do nâng cấp hoán cải tốn kém, trong khi giám sát nghiệm thu lỏng lẻo gây ra sự cố kỹ thuật Khách hàng thuê tài chính thường chây ỳ, không hợp tác trong việc thanh toán nợ và bảo hiểm, đặc biệt là trong việc duy tu, bảo dưỡng tàu biển Hậu quả là nhiều tranh chấp phát sinh, và quá trình neo đậu lâu ngày khiến tàu biển xuống cấp nhanh chóng với mức hao mòn gia tăng Nếu không có giải pháp kịp thời, tổn thất sẽ ngày càng lớn.

Nguy cơ mất mát tài sản cho thuê của ALCII rất cao do một phần tài sản không được bảo hiểm đầy đủ theo quy định pháp luật, dẫn đến việc không được bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố Thêm vào đó, khách hàng thuê không đóng tiền bảo hiểm theo hợp đồng, khiến bảo hiểm không có hiệu lực Nhiều khách hàng còn nợ phí bảo hiểm lớn và chuyển sang mua bảo hiểm tại đơn vị khác mà không có sự đồng ý của ALCII Dù ALCII đã nhiều lần phối hợp với các công ty bảo hiểm, khách hàng vẫn tiếp tục né tránh việc nộp phí và khai thác tài sản thuê mà không có bảo hiểm.

Theo thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP ngày 10/12/2007

Theo hướng dẫn của NHNN VN, Bộ Công an và Bộ Tư pháp, khi khách hàng vi phạm hợp đồng cho thuê tài chính và không trả nợ, ALCII cần ngay lập tức thu hồi và xử lý tài sản thuê Tuy nhiên, từ đầu năm 2008, hầu hết các bên thuê đã vi phạm hợp đồng, buộc ALCII phải chấm dứt hợp đồng trước hạn và thu hồi tài sản Thực tế cho thấy, việc thu hồi tài sản gặp nhiều khó khăn do ALCII thiếu nhân lực và chi phí để thực hiện thu hồi đồng loạt.

Nhiều khách hàng thuê tài chính không hợp tác, dẫn đến tình trạng tài sản thuê bị tẩu tán và chiếm giữ do nợ nần với bên thứ ba Đặc biệt, các tàu biển thường bị bắt giữ vì vi phạm pháp luật, tranh chấp hàng hóa, nợ nhiên liệu, hoặc nợ lương thuyền viên và đại lý nước ngoài Hệ quả là nhiều tàu biển bị bỏ rơi, để lại số nợ lớn cả trong và ngoài nước.

Chi phí thu hồi và bảo quản tàu biển tại ALCII ngày càng gia tăng do nhiều tàu bị hư hỏng, hết thời hạn bảo hiểm và không còn hiệu lực đăng kiểm, dẫn đến việc phải lai dắt và cứu hộ với chi phí lớn Việc tìm kiếm địa điểm neo đậu phù hợp với quy định về an ninh và an toàn hàng hải cũng gặp nhiều khó khăn Mặc dù các tàu biển sau khi thu hồi được tổ chức bán đấu giá công khai nhiều lần, nhưng không có người mua, khiến chi phí neo đậu, trông giữ và bảo hiểm tiếp tục tăng lên.

ALCII là một tổ chức tín dụng với đội ngũ cán bộ chuyên môn về kinh tế, chủ yếu trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, nhưng thiếu kinh nghiệm trong việc khai thác tài sản máy móc, đặc biệt là tàu biển Điều này dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình thu hồi và xử lý tàu biển, thường phải thuê các đơn vị dịch vụ, gây tốn kém chi phí và thời gian, đồng thời hiệu quả không cao Hơn nữa, ALCII không có cơ chế thanh toán chi phí cho bên thứ ba trong trường hợp bên thuê nợ nần, làm cho việc thu hồi tài sản ngày càng phức tạp và khó khăn, trong khi tài sản ngày càng xuống cấp và giảm giá trị.

Việc bán các tàu biển thu hồi từ sau năm 2010 gặp nhiều khó khăn do tình hình kinh doanh vận tải biển không thuận lợi, kinh tế toàn cầu vẫn chưa phục hồi sau khủng hoảng, và ngành vận tải biển là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng đầu tiên Ngân hàng thắt chặt tín dụng, lãi suất cho vay cao, và chính sách vĩ mô thường xuyên bị xáo trộn Điều này khiến cho các tàu biển của ALCII khó tìm được người mua trong các phiên đấu giá công khai, trong khi ALCII phải gánh chịu chi phí bến bãi, cầu cảng và tiền công trông giữ lớn Theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, ALCII phải tự định giá tài sản và quyết định mức giảm giá, nhưng trong nhiều năm qua, ALCII vẫn áp dụng mức giảm giá tối đa 10% cho mỗi lần bán đấu giá tài sản không thành.

GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH V ẬN TẢI BIỂN TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHI ỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT

Ngày đăng: 31/07/2023, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ALCII, 2008. Quy ết định số 07/QĐ-HĐQT-CTTCII “V/v Ban hành quy định nghiệp vụ cho thuê tài chính của Công ty Cho thuê tài chính II - NHNo&PTNT Vi ệt Nam đối với khách hàng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy ết định số 07/QĐ-HĐQT-CTTCII “V/v Ban hành quy định nghiệp vụ cho thuê tài chính của Công ty Cho thuê tài chính II - NHNo&PTNT Vi ệt Nam đối với khách hàng”
Tác giả: ALCII
Năm: 2008
2. ALCII, 2008. Hướng dẫn tạm thời số 87/08/ALCII-CT “V/v Cho thuê tài chính đối với tài sản cho thuê là tàu biển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tạm thời số 87/08/ALCII-CT “V/v Cho thuê tài chính đối với tài sản cho thuê là tàu biển”
Tác giả: ALCII
Năm: 2008
3. ALCII, 2009. Báo cáo tham lu ận về việc xác định tài sản cho thuê tài chính ch ủ yếu của Công ty Cho thuê tài chính II - NHNo&PTNT Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham lu ận về việc xác định tài sản cho thuê tài chính ch ủ yếu của Công ty Cho thuê tài chính II - NHNo&PTNT Việt Nam
Tác giả: ALCII
Năm: 2009
5. ALCII, 2010. M ột số quy định và hướng dẫn nghiệp vụ cho thuê tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: M ột số quy định và hướng dẫn nghiệp vụ cho thuê tài chính
Tác giả: ALCII
Năm: 2010
6. ALCII, 2011. Hướng dẫn số 1657/2011/ALCII-QL&XLTSCT “V/v Thu h ồi và xử lý tài sản cho thuê tài chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 1657/2011/ALCII-QL&XLTSCT “V/v Thu hồi và xử lý tài sản cho thuê tài chính”
Tác giả: ALCII
Năm: 2011
7. ALCII, 2011. Quy ết định số 126/2011/QĐ-HĐQT-KHTH “V/v Ban hành quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính của ALCII” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy ết định số 126/2011/QĐ-HĐQT-KHTH “V/v Ban hành quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính của ALCII”
Tác giả: ALCII
Năm: 2011
8. ALCII. Báo cáo t ổng hợp kết quả, tình hình hoạt động kinh doanh và Báo cáo sơ kết hoạt động 6 tháng qua các năm 2008, 2009, 2010,2011, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t ổng hợp kết quả, tình hình hoạt động kinh doanh và Báo cáo sơ kết hoạt động 6 tháng qua các năm 2008, 2009, 2010,2011, 2012
Tác giả: ALCII
9. Chính ph ủ , 1995. Ngh ị định 64/CP “V/v Ban hành Quy ch ế tạm thời về t ổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 64/CP “V/v Ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1995
10. Chính ph ủ, 2001. Ngh ị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 “V/v Tổ ch ức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 “V/v Tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
11. Chính ph ủ, 2005. Ngh ị định số 65/2005/NĐ-CP “V/v Sửa đổi, bổ sung m ột số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ về Tổ ch ức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 65/2005/NĐ-CP “V/v Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
12. Chính ph ủ, 2006. Ngh ị định số 163/2006/NĐ-CP “V/v Giao dịch bảo đảm”.tot nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh ị định số 163/2006/NĐ-CP “V/v Giao dịch bảo đảm”
Tác giả: Chính ph ủ
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w