1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lap ke hoach kiem toan bao cao tai chinh tai cong 197854

41 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán Độc lập Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Đề cương luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 53,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2. Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát (3)
    • 1.2.1. Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán (3)
    • 1.2.2. Thu thập thông tin cơ sở (7)
    • 1.2.3. Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng (10)
    • 1.2.4. Thực hiện thủ tục phân tích (11)
    • 1.2.5. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro (12)
    • 1.2.6. Nghiên cứu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát (19)
  • 1.3. thiết kế chơng trình kiểm toán (20)
    • 1.3.1. chơng trình kiểm toán (20)
    • 1.3.2. Qui Trình Thiết kế chơng trình kiểm toán (23)
  • Chơng II: Thực trạng công tác lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các Công (0)
    • 2.1. Lập kế hoạch phân tích (26)
      • 2.1.1. Thực trạng về việc chấp nhận kiểm toán (26)
      • 2.1.2. Lựa chọn nhóm kiểm toán (27)
      • 2.1.3. Thiết lập và ký kết các điều khoản trong hợp đồng kiểm toán (27)
    • 2.2. Thực hiện thủ tục phân tích (28)
      • 2.2.1. Thu thập và phân tích sơ bộ báo cáo tài chính (28)
    • 2.3. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro (30)
      • 2.3.1. Ước tính mức độ trọng yếu và chọn mẫu kiểm toán (30)
    • 2.4. Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng (32)
    • 3.1. Một số nhận xét về việc lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán việt nam (33)
      • 3.1.1. Những u điểm trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán ở Công ty Kiểm toán Việt Nam (33)
      • 3.1.2. Những nhợc điểm rút ra từ việc nghiên cứu giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán Việt Nam (34)
        • 3.1.2.1. Xem xét chấp nhận khách hàng (34)
        • 3.1.2.2. Đánh giá rủi ro và xác định Mức độ trọng yếu (35)
        • 3.1.2.3. Nhân lực và vật lực (35)
    • 3.2. một số kiến nghị nhằm hoàn thiện giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính của công ty kiểm toán việt nam (36)
      • 3.2.1. Xem xét chấp nhận khách hàng (36)
      • 3.2.2. Đánh giá rủi ro và xác định Mức độ trọng yếu (36)
      • 3.2.3. Nhân lực và vật lực (36)

Nội dung

Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát

Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán

Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên (KTV) tiếp nhận khách hàng, bao gồm hai bước chính Đầu tiên, KTV cần liên hệ với khách hàng tiềm năng để nhận yêu cầu kiểm toán và đánh giá khả năng chấp nhận yêu cầu đó Đối với khách hàng hiện tại, KTV phải quyết định có tiếp tục kiểm toán hay không Sau khi xác định được đối tượng khách hàng có thể phục vụ trong tương lai, KTV sẽ tiến hành các công việc cần thiết để lập kế hoạch, bao gồm đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện lý do kiểm toán và đạt được hợp đồng.

- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán

KTV cần đánh giá xem việc chấp nhận khách hàng mới hoặc tiếp tục kiểm toán khách hàng cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động của mình hay ảnh hưởng đến uy tín của Công ty kiểm toán hay không Để thực hiện điều này, KTV phải tiến hành các bước cần thiết.

+ Xem xét hệ thống kiểm soát chất lợng: Văn bản CMKT quốc tế số 2

Hệ thống kiểm soát chất lượng trong thực hành kế toán và kiểm toán yêu cầu kiểm toán viên (KTV) phải xem xét khi đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán Một trong năm bộ phận quan trọng của hệ thống này là việc thiết lập các chính sách và thủ tục liên quan đến khả năng chấp nhận và tiếp tục khách hàng, cũng như hợp đồng kiểm toán Các chính sách và thủ tục này cần đảm bảo rằng khả năng chấp nhận một khách hàng có ban quản lý thiếu liêm chính là tối thiểu.

+ Tính liêm chính của Ban quản trị

Theo CMKT VN số 400, tính liêm chính của Ban giám đốc là yếu tố then chốt trong hệ thống kiểm soát nội bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình kiểm toán Ban giám đốc có thể phản ánh sai các nghiệp vụ hoặc giấu diếm thông tin, dẫn đến sai sót trọng yếu trên BCTC CMKT VN số 240 nhấn mạnh rằng nếu Ban giám đốc thiếu liêm chính, KTV không thể tin tưởng vào các giải trình và sổ sách kế toán Hơn nữa, Ban giám đốc có trách nhiệm tạo ra môi trường kiểm soát vững mạnh, và nghi ngờ về tính liêm chính của họ có thể khiến KTV kết luận rằng cuộc kiểm toán không thể tiến hành được.

Liên lạc với kiểm toán viên tiềm nhiệm là bước quan trọng đối với khách hàng tiềm năng Nếu khách hàng đã từng được kiểm toán bởi một công ty khác, kiểm toán viên kế nhiệm cần chủ động liên hệ với kiểm toán viên cũ để thu thập thông tin đánh giá Theo CMKT quốc tế số 84, việc này giúp kiểm toán viên kế nhiệm quyết định có chấp nhận hợp đồng kiểm toán hay không Thông tin cần thu thập bao gồm tính liêm chính của ban giám đốc, những bất đồng giữa kiểm toán viên tiềm nhiệm và ban giám đốc về nguyên tắc kế toán, thủ tục kiểm toán, cũng như lý do khách hàng thay đổi kiểm toán viên.

Ngoài ra KTV có thể xem xét hồ sơ kiểm toán của KTV tiềm nhiệm để hỗ trợ cho KTV kế tục trong việc lập kế hoạch kiểm toán

Theo quy định của nhiều nước, việc thiết lập mối quan hệ giữa KTV tiềm nhiệm và KTV kế tục cần có sự chấp thuận của đơn vị khách hàng Dù khách hàng đã đồng ý, KTV tiềm nhiệm vẫn có quyền hạn chế hoặc từ chối mối quan hệ này Để thu thập thông tin về khách hàng chưa từng được kiểm toán, KTV có thể nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, và thẩm tra các bên liên quan như ngân hàng và cố vấn pháp lý, hoặc thuê các nhà điều tra chuyên nghiệp Đối với khách hàng cũ, việc cập nhật thông tin hàng năm và đánh giá rủi ro là cần thiết để quyết định có tiếp tục cung cấp dịch vụ kiểm toán hay không.

- Nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng

Việc nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng chủ yếu là xác định người sử dụng báo cáo tài chính và mục đích của họ Kiểm toán viên có thể phỏng vấn ban giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh nghiệm từ các cuộc kiểm toán trước đó Theo Thông tư số 22 của Bộ Tài chính, chỉ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh với nước ngoài là bắt buộc kiểm toán trước khi công khai báo cáo tài chính Tuy nhiên, với sự phát triển của nền kinh tế và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, số lượng khách hàng tìm đến công ty kiểm toán ngày càng đa dạng với nhiều mục đích khác nhau, làm tăng đáng kể số lượng sử dụng báo cáo tài chính.

- Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán

Lựa chọn đội ngũ KTV phù hợp cho hợp đồng không chỉ đảm bảo hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn giúp tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán CMKT đầu tiên trong 10 chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận rộng rãi (GAAS) nhấn mạnh rằng "Quá trình kiểm tra sẽ được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo nghiệp vụ đầy đủ và thành thạo như một KTV." Trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán, công ty kiểm toán cần chú ý đến ba vấn đề quan trọng.

 Trong đoàn (nhóm) kiểm toán phải có những ngời có khả năng giám sát cuộc kiểm toán.

Tránh thay đổi kiểm toán viên (KTV) trong các cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm là quan trọng, vì việc tham gia liên tục giúp KTV tích lũy kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc hơn về ngành nghề cũng như hoạt động kinh doanh của khách hàng.

 Lựa chọn những KTV có kiến thức và có nhiều kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh của khách hàng.

- Lập hợp đồng kiểm toán

Khi quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng, công ty kiểm toán cần lập hợp đồng để tránh bất đồng trong và sau cuộc kiểm toán Hợp đồng này là sự thoả thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và khách hàng về việc thực hiện kiểm toán theo CMKT Việt Nam Theo CMKT VN số 210, hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký gửi trước khi tiến hành công việc nhằm bảo vệ quyền lợi của cả hai bên Trong một số trường hợp đặc biệt, nếu sử dụng cam kết thay cho hợp đồng, văn bản phải đảm bảo các điều kiện cơ bản của hợp đồng kiểm toán CMKT VN 210 cũng quy định việc ký kết hợp đồng phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng kinh tế, cụ thể là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và Nghị định số 17/HĐBT Điều này phù hợp với thực tiễn Việt Nam, nơi hoạt động kiểm toán chưa được hiểu biết rộng rãi và môi trường pháp lý còn chưa ổn định Để tạo điều kiện cho các hãng kiểm toán quốc tế hoạt động tại Việt Nam, CMKT VN 210 cho phép sử dụng cam kết khác thay vì hợp đồng kiểm toán, phù hợp với thói quen của các hãng và khách hàng.

Tơng tự th hẹn kiểm toán, hợp đồng kiểm toán bao gồm các nội dung:

Mục đích của kiểm toán là xác định tính trung thực và hợp lý của thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC), trong khi phạm vi kiểm toán xác định giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng kiểm toán.

BGĐ công ty khách hàng có trách nhiệm lập và trình bày trung thực thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC), đồng thời cung cấp tài liệu và thông tin liên quan đến công việc kiểm toán KTV cần đưa ra ý kiến độc lập về BCTC dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán.

Kết quả kiểm toán thường được công bố dưới dạng báo cáo kiểm toán, kèm theo một thư quản lý Trong báo cáo này, các khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) sẽ được nêu rõ, cùng với những gợi ý để khắc phục các vấn đề này.

Thời gian thực hiện kiểm toán cần được xác định rõ ràng, bao gồm thời gian cho kiểm toán sơ bộ, kiểm toán chính thức, và thời điểm kết thúc kiểm toán cũng như phát hành báo cáo kiểm toán.

Lệ phí kiểm toán thường được xác định dựa trên thời gian làm việc của các cấp bậc kiểm toán viên khác nhau trong quá trình kiểm toán Hình thức thanh toán cũng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố này.

Thu thập thông tin cơ sở

Sau khi ký hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên (KTV) tiến hành lập kế hoạch kiểm toán tổng quát Trong giai đoạn này, KTV đã xác định các yếu tố quan trọng trong văn bản CMKT 22 (SAS).

Kế hoạch và giám sát (AU 311) là bước quan trọng trong quy trình kiểm toán, trong đó KTV thu thập thông tin về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng Họ sẽ tìm hiểu hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và các bên liên quan để đánh giá rủi ro Trong giai đoạn này, KTV cũng đánh giá khả năng xảy ra sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích nhằm xác định thời gian cần thiết cho việc thực hiện kiểm toán và mở rộng các thủ tục kiểm toán khác.

Để thực hiện kiểm toán hiệu quả, KTV cần tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng Theo quy định trong giai đoạn 2 của CMKT quốc tế (ISA 310), việc thu thập thông tin đầy đủ về hoạt động kinh doanh là cần thiết để KTV có thể nhận thức và xác định các sự kiện, nghiệp vụ có thể ảnh hưởng đến báo cáo tài chính Điều này giúp KTV thực hiện kiểm toán với tính thận trọng nghề nghiệp Các phương pháp phổ biến để tìm hiểu về ngành nghề của khách hàng bao gồm trao đổi với các KTV tiềm nhiệm, KTV đã kiểm toán cho khách hàng khác trong cùng ngành, hoặc giao tiếp với nhân viên và ban giám đốc của khách hàng.

- Xem xét lại kết quả kiểm toán trớc và hồ sơ kiểm toán chung

Hồ sơ kiểm toán năm trước chứa nhiều thông tin quan trọng về khách hàng, bao gồm công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác Các công ty kiểm toán thường duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên cho mỗi khách hàng, bao gồm bản sao của các tài liệu như sơ đồ tổ chức, điều lệ công ty, bảng kê, chính sách tín dụng và chính sách kế toán Những thông tin này giúp kiểm toán viên tìm ra những dữ liệu hữu ích về hoạt động kinh doanh của khách hàng.

Việc cập nhật và xem xét sổ sách công ty là rất quan trọng, giúp kiểm toán viên xác định tính hợp pháp của các quyết định quản lý và sự phù hợp với chính sách công ty Điều này cũng giúp kiểm toán viên hiểu rõ bản chất và sự biến động của các số liệu trên báo cáo tài chính được kiểm toán.

Tham quan nhà xưởng và quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng giúp KTV hiểu rõ quy trình và gặp gỡ các nhân vật chủ chốt, từ đó có cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh, đặc biệt là trong công tác bảo vệ tài sản.

- Nhận diện các bên liên quan

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần xác định tất cả các bên hữu quan với khách hàng, bao gồm các tổ chức và cá nhân có ảnh hưởng đến khách hàng Các bên liên quan có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc ảnh hưởng đến chính sách kinh doanh của công ty khách hàng Theo nguyên tắc kế toán, mối quan hệ giữa các bên hữu quan phải được tiết lộ trong sổ sách và báo cáo Việc nhận diện các bên liên quan cần được thực hiện ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thông qua phỏng vấn ban giám đốc và xem xét các sổ theo dõi cổ đông, khách hàng Điều này giúp dự đoán các vấn đề có thể phát sinh và hoạch định kế hoạch kiểm toán phù hợp.

- Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài

Thuật ngữ “chuyên gia” đề cập đến một cá nhân hoặc văn phòng có kiến thức, năng lực và kinh nghiệm chuyên sâu trong một lĩnh vực cụ thể, không thuộc về kế toán và kiểm toán Trong quá trình kiểm toán, nếu nhóm kiểm toán không có chuyên môn cần thiết để thực hiện các thủ tục, KTV có thể lựa chọn sử dụng chuyên gia bên ngoài để nhận được tư vấn và ý kiến chuyên môn.

Theo CMKT quốc tế (ISA 620), kiểm toán viên (KTV) cần xác định thời điểm sử dụng tài liệu từ chuyên gia bên ngoài Khi quyết định sử dụng chuyên gia, KTV phải đánh giá khả năng chuyên môn của họ, hiểu rõ mục đích và phạm vi công việc, cũng như tính phù hợp của tài liệu với các mục tiêu cụ thể Ngoài ra, KTV cũng cần xem xét mối quan hệ giữa chuyên gia và khách hàng, cùng những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của chuyên gia.

Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

Việc thu thập thông tin pháp lý của khách hàng là cần thiết để KTV hiểu rõ các quy trình pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ Những thông tin này bao gồm các nghĩa vụ pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ.

- Giấy phép thành lập và điều lệ công ty.

Nghiên cứu tài liệu giúp KTV hiểu rõ quá trình hình thành mục tiêu hoạt động và các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị, đồng thời nắm bắt các vấn đề nội bộ như cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, cũng như thủ tục phát hành cổ phiếu và trái phiếu.

- Các BCTC, BCKT, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành hoặc trong vài năm trớc.

Các BCTC cung cấp thông tin về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của đơn vị, giúp KTV có cái nhìn tổng quát để áp dụng các kỹ thuật phân tích Điều này cho phép KTV nhận diện xu hướng phát triển của khách hàng Đây là tài liệu quan trọng nhất trong kiểm toán BCTC Bên cạnh đó, việc xem xét các BCKT và biên bản kiểm tra sẽ giúp KTV hiểu rõ hơn về hoạt động của đơn vị và dự kiến các phương hướng kiểm tra.

Biên bản các cuộc họp cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc là tài liệu chính thức tóm lược những vấn đề quan trọng đã được thảo luận và quyết định Những biên bản này thường chứa thông tin quan trọng như công bố về tổ chức, phê chuẩn việc hợp nhất hoặc giải thể các đơn vị trực thuộc, và xét duyệt mua bán, chuyển nhượng các tài liệu quan trọng.

Qua việc nghiên cứu các biên bản, KTV sẽ xác định những dự kiện quan trọng ảnh hưởng đến việc hình thành và trình bày trung thực thông tin trên BCTC.

- Các hợp đồng và cam kết quan trọng.

Các hợp đồng và cam kết, cùng với các khế ước quan trọng, luôn là mối quan tâm hàng đầu của kiểm toán viên (KTV) trong các chu trình kiểm toán, đặc biệt là trong các quy trình tiếp nhận hoàn trả, mua hàng thanh toán và bán hàng thu tiền.

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, việc xem xét sơ bộ các hợp đồng là rất quan trọng, giúp kiểm toán viên hiểu rõ các hoạt động chính của khách hàng và nhận diện những khía cạnh pháp lý có thể ảnh hưởng đến tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của đơn vị.

Thực hiện thủ tục phân tích

Theo CMKT quốc tế 520 “Các thủ tục phân tích”, chuyên gia kiểm toán cần thực hiện các thủ tục phân tích trong quá trình lập kế hoạch và kiểm tra tính hợp lý của toàn bộ báo cáo tài chính (BCTC) Định nghĩa của SAS 56 (AU 329) cho thấy phân tích là quá trình đánh giá thông tin tài chính thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa dữ liệu tài chính và dữ liệu phi tài chính.

Thủ tục phân tích là quá trình xem xét các số liệu và thông tin quan trọng để xác định xu hướng biến động và phát hiện mối quan hệ mâu thuẫn với thông tin liên quan hoặc sự chênh lệch lớn so với giá trị dự kiến Những thủ tục này được áp dụng trong tất cả các cuộc kiểm toán và thường được thực hiện ở mọi giai đoạn của quá trình kiểm toán Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, các thủ tục phân tích hướng đến việc đạt được các mục tiêu cụ thể.

Thu thập thông tin về nội dung báo cáo và những thay đổi quan trọng trong kế toán cũng như hoạt động kinh doanh của khách hàng từ lần kiểm toán trước.

Tăng cường hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của khách hàng là rất quan trọng, giúp KTV nhận diện và xác định các vấn đề nghi ngờ liên quan đến khả năng hoạt động liên tục của khách hàng.

Các thủ tục phân tích đợc KTV sử dụng bao gồm hai loại cơ bản.

 Phân tích ngang (phân tích xu hớng) là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC.

Các chỉ tiêu phân tích đợc sử dụng trong phân tích ngang bao gồm:

So sánh số liệu giữa các kỳ giúp KTV nhận diện những biến động bất thường và xác định các vấn đề cần chú ý.

 So sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ớc tính của KTV

 So sánh dữ kiện của Công ty khách hàng với dữ liệu chung của ngành.

Phân tích dọc, hay còn gọi là phân tích tỷ suất, là phương pháp phân tích dựa trên việc so sánh các tỷ lệ tương quan giữa các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trong báo cáo tài chính (BCTC) Các tỷ suất tài chính thường được sử dụng trong phân tích dọc bao gồm tỷ suất khả năng thanh toán và tỷ suất khả năng sinh lời.

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro

Việc đánh giá trọng yếu và rủi ro là rất cần thiết trong quá trình lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán Kế toán viên sẽ dựa vào các thông tin đã thu thập để thực hiện đánh giá và nhận xét, từ đó xác định rủi ro nhằm xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp.

- Đánh giá tính trọng yếu

Trọng yếu là khái niệm phản ánh mức độ và bản chất của sai phạm trong thông tin tài chính, có thể là đơn lẻ hoặc theo nhóm Trong bối cảnh cụ thể, việc dựa vào những thông tin này để đưa ra quyết định có thể dẫn đến những kết luận không chính xác.

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên (KTV) cần đánh giá mức độ trọng yếu để ước tính sai sót có thể chấp nhận trong báo cáo tài chính (BCTC) Việc này bao gồm xác định phạm vi kiểm toán và nội dung, trình tự thực hiện các thử nghiệm kiểm toán KTV cũng phải tính toán ước tính ban đầu về tính trọng yếu và phân bổ ước tính này cho các khoản mục trên BCTC.

Mức trọng yếu ban đầu được ước tính là giá trị tối đa mà kiểm toán viên (KTV) tin rằng các báo cáo tài chính (BCTC) có thể sai sót mà không ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin tài chính Nói cách khác, đây là mức sai sót có thể chấp nhận được đối với BCTC.

Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là yếu tố quan trọng giúp kiểm toán viên (KTV) lập kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp Nếu ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thấp, điều này cho thấy độ chính xác của các số liệu trên báo cáo tài chính (BCTC) cao, dẫn đến việc KTV cần thu thập nhiều bằng chứng hơn Ngược lại, ước lượng này có thể thay đổi trong quá trình kiểm toán nếu KTV nhận thấy mức ước lượng ban đầu không còn phù hợp.

Khi xác định mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu, KTV cần quan tâm tới những ảnh hởng sau:

Tính trọng yếu là khái niệm tương đối, phụ thuộc vào quy mô của công ty khách hàng Một sai sót có thể được coi là trọng yếu đối với công ty nhỏ nhưng không đáng kể với công ty lớn hơn Do đó, việc xác định một giá trị cụ thể "bằng tiền" để ước lượng tính trọng yếu cho mọi khách hàng là điều không khả thi.

Quy mô sai sót là yếu tố quan trọng trong việc xác định tính trọng yếu của các sai sót Do tính chất tương đối của trọng yếu, cần có cơ sở để quyết định xem quy mô của một sản phẩm có được coi là trọng yếu hay không Các chỉ tiêu như thu nhập thuần trước thuế, tài sản lưu động, tổng tài sản và nợ ngắn hạn thường được xem là những chỉ tiêu gốc trong quá trình đánh giá này.

Yếu tố định tính của trọng yếu trong đánh giá sai sót yêu cầu KTV xem xét cả giá trị và bản chất của sai sót Một số sai sót luôn được coi là trọng yếu, bất kể quy mô của chúng.

Những yếu tố chất lợng cần phải đợc xem xét trớc khi tiến hành ớc l- ợng ban đầu về tính trọng yếu là:

Các gian lận thường được coi là nghiêm trọng hơn các sai sót có cùng quy mô tài chính, vì chúng ảnh hưởng đến lòng tin và sự trung thực của ban giám đốc cũng như những người liên quan.

Các sai sót nhỏ nhưng gây ra tác động dây chuyền nghiêm trọng đến thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) được coi là sai sót trọng yếu, thể hiện tính chất hệ thống của vấn đề này.

 Các sai sót mà ảnh hởng đến xu hớng về thu nhập thì luôn là sai phạm trọng yếu

Mặc dù ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một xét đoán chủ quan của kiểm toán viên (KTV), nhưng các công ty kiểm toán thường thiết lập các hướng dẫn để hỗ trợ KTV trong việc ước lượng này Chẳng hạn, có thể quy định mức trọng yếu theo các giới hạn cụ thể.

Bảng 1: Bảng quy định về mức trọng yếu.

Vị trí của khoản mục Không trọng yÕu

Có thể trọng yếu Chắc chắn trọng yếu

Báo cáo kết quả kinh doanh

Trên 10% lãi tr- íc thuÕ Bảng cân đối kế toán Dới 10% giá trị tài sản

Từ 10-15% giá trị tài sản

Trên 15% giá trị tài sản

Sau khi KTV xác định được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, việc phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục trên BCTC là cần thiết Đây là một sai sót có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục.

Mục đích của việc phân bổ là giúp kiểm toán viên xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập cho từng khoản mục với chi phí thấp nhất, đồng thời đảm bảo tổng hợp các sai sót trên báo cáo tài chính không vượt quá ước lượng ban đầu về tính trọng yếu Khi mức trọng yếu của các khoản mục được phân bổ thấp, số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ tăng lên và ngược lại.

Trong thực tế, khả năng xảy ra sai sót và chi phí kiểm toán cho từng khoản mục thường khó dự đoán, dẫn đến việc phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu mang tính chủ quan và cần sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên Do đó, các công ty kiểm toán thường giao nhiệm vụ này cho những kiểm toán viên có trình độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm.

Đánh giá rủi ro kiểm toán là quá trình xác định mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính (BCTC) cũng như cho từng tài khoản, nhằm thiết kế các thủ tục kiểm toán và xác định chương trình kiểm toán phù hợp.

Nghiên cứu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát

Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát là công việc bắt buộc trong lập kế hoạch kiểm toán, được quy định trong chuẩn mực GAAS Theo đó, kiểm toán viên (KTV) cần hiểu rõ hệ thống KSNB để xác định bản chất, thời hạn và phạm vi các cuộc khảo sát Điều này cũng được nhấn mạnh trong chuẩn mực quốc tế ISA 400 về đánh giá rủi ro KSNB.

“KTV phải có đủ hiểu biết về hệ thống KSNB và hệ thống kế toán có ảnh h- ởng đến cơ sở dẫn liệu cho việc lập BCTC”

- Quá trình nghiên cứu, đánh giá hệ thống KSNB và rủi ro kiểm soát

Sơ đồ dưới đây tóm tắt các bước tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) cũng như đánh giá rủi ro kiểm soát, đồng thời liên hệ các kết quả với các cuộc khảo sát số liệu trên báo cáo tài chính (BCTC) Mục tiêu là đạt được sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống KSNB của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán BCTC và đánh giá khả năng kiểm toán của các BCTC này.

Quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát ý kiÕn tõ chèi hoặc rút ra khỏi hợp đồng

Mức tối đa Mức đ ợc chứng minh bằng sù hiÓu biÕt

Mức thấp hơn khả dĩ có thể chứng minh đ ợc

Mở rộng sự hiểu biết nÕu thÊy cÇn thiÕt

Lập kế hoach và thực hiện các khảo sát kiểm soát

Xác định liệu mức đánh giá về rủi ro kiểm toán có đ ợc giảm hơn từ kết quả của các khảo sát kiểm soát hay không

Rủi ro kiểm soát tăng hơn so với đánh giá ban đầu ở mức tối đa

Rủi ro phát hiện giảm xuống và phải lập kế hoạch các khảo sát chính thức để thoả mãn mức rủi ro phát hiện thấp hơn này

Rủi ro giảm xuống hoặc sự gia tăng trong phát hiện yêu cầu lập kế hoạch cho các khảo sát chính thức nhằm đáp ứng mức rủi ro phát hiện tăng lên này.

Sơ đồ 4- Khái quát về việc nghiên cứu cơ cấu KSNB của khách hàng và qúa trình đánh giá rủi ro kiểm soát.

thiết kế chơng trình kiểm toán

chơng trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán bao gồm các kế hoạch chi tiết về công việc kiểm toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và phân công nhiệm vụ giữa các kiểm toán viên Nó cũng dự kiến các tài liệu và thông tin liên quan cần thu thập.

Chương trình kiểm toán, khi được tổ chức một cách có kế hoạch và kết hợp với các thủ tục kiểm toán phù hợp, sẽ đảm bảo hiệu quả trong mối quan hệ với đội ngũ nhân lực kiểm toán.

Chương trình kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự phối hợp giữa các kiểm toán viên (KTV) và hướng dẫn những KTV chưa có kinh nghiệm Nó cũng giúp chủ nhiệm kiểm toán quản lý và giám sát quá trình thực hiện cuộc kiểm toán Hơn nữa, chương trình này là bằng chứng cho thấy các thủ tục kiểm toán đã được thực hiện Sau khi hoàn thành, KTV sẽ ký tên hoặc ký tắt lên chương trình kiểm toán để xác nhận các thủ tục đã hoàn tất.

Trong thiết kế chương trình kiểm toán, việc đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu cho từng cơ sở tiêu chí trên báo cáo tài chính (BCTC) là rất quan trọng Sau đó, cần kết hợp hợp lý các cơ sở tiêu chí và mục tiêu kiểm toán với các thủ tục kiểm toán cụ thể đã được xác định trong chương trình kiểm toán.

Chơng trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán đợc thiết kế thành

Bài viết được chia thành ba phần chính: kiểm soát nghiệp vụ, thủ tục phân tích và kiểm soát chi tiết các số liệu Mỗi phần này được phân chia thành các chu kỳ nghiệp vụ và các khoản mục trên báo cáo tài chính (BCTC).

Các hình thức khảo sát kiểm toán bao gồm năm phương pháp mà KTV thường áp dụng để xác định tính trung thực và hợp lý của thông tin trên BCTC.

Để hiểu rõ về hệ thống Kiểm soát Nội bộ (KSNB), KTV sử dụng hình thức khảo sát kiểm toán nhằm thu thập thông tin về thiết kế và hoạt động của các yếu tố trong hệ thống này, phục vụ cho việc đánh giá rủi ro kiểm soát Có năm loại thủ tục kiểm toán bao gồm: phân tích dữ liệu lịch sử của KTV, phỏng vấn, xem xét sổ tay chế độ và thủ tục của công ty khách hàng, kiểm tra chứng từ và sổ sách, cùng với việc quan sát hoạt động của công ty khách hàng Nội dung chi tiết của các thủ tục này đã được trình bày ở phần trước.

Thử nghiệm kiểm soát là phương pháp khảo sát kiểm toán mà kiểm toán viên (KTV) áp dụng để thu thập bằng chứng về hiệu quả thiết kế và hoạt động của các yếu tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) KTV sử dụng bốn thủ tục kiểm toán chính, bao gồm phỏng vấn, quan sát, kiểm tra chứng từ và sổ sách, cũng như thực hiện lại các thủ tục kiểm soát để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của hệ thống.

Khảo sát chính thức về nghiệp vụ là quá trình kiểm tra một phần hoặc toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm đánh giá tính chính xác của các số liệu liên quan.

BCTC và những sai số tiền tệ này là một dấu hiệu rõ ràng của các sai phạm đối với các tài khoản và các khoản mục trên BCTC.

Mục đích của các hình thức khảo sát là xác định tính chính xác trong việc phê chuẩn nghiệp vụ kinh tế, ghi sổ tổng hợp và sổ nhật ký Điều này bao gồm việc kiểm tra xem các nghiệp vụ có được chuyển vào sổ cái chi tiết và sổ tổng hợp một cách chính xác hay không Nếu kiểm toán viên (KTV) xác nhận rằng các nghiệp vụ đã được ghi sổ và chuyển sổ đúng cách, họ có thể kết luận rằng số tổng cộng trên sổ cái và sổ tổng hợp là chính xác.

Trong quá trình kiểm toán, để nâng cao hiệu quả công việc, các khảo sát kiểm soát và khảo sát chính thức thường được thực hiện đồng thời trên cùng một chứng từ hoặc tài khoản Hành động này cung cấp bằng chứng cho cả quy trình kiểm soát và tính chính xác về mặt tiền tệ Việc thực hiện đồng thời hai loại khảo sát này được gọi là khảo sát về mặt nghiệp vụ.

Các thủ tục phân tích được thiết kế nhằm so sánh thông tin và nghiên cứu mối quan hệ thông qua các tỷ lệ và chỉ số, với bốn mục đích chính.

 Hiểu biết về hoạt động kinh doanh của khách hàng.

 Đánh giá khả năng phát triển của khách hàng trong thời gian tới.

 Phát hiện ra các sai sót có thể có trên BCTC của khách hàng

 Giảm bớt việc kiểm tra chi tiết các số d và các giao dịch.

Các thủ tục phân tích đợc tiến hành thông qua các phép phân tích ngang và phân tích dọc (các thủ tục phân tích đã đợc đề cập ở trớc).

KTV thực hiện phép phân tích chéo (đối chiếu logic) để xem xét mức biến động tương ứng của các chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp, mặc dù chúng có thể biến động khác nhau và theo hướng khác nhau Chẳng hạn, mối quan hệ giữa hàng tồn kho (HTK) với vốn bằng tiền hoặc các khoản phải thu thường có xu hướng ngược chiều và không cùng một giá trị, vì HTK đối ứng với giá vốn, nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Kiểm tra chi tiết các số dư và nghiệp vụ là giai đoạn tốn kém nhất trong kiểm toán, tập trung vào các tài khoản điển hình của chu trình nghiệp vụ, thường là những tài khoản có số dư lớn Thủ tục này nhằm đánh giá độ chính xác của số dư tài khoản với nhiều nghiệp vụ phát sinh.

Khảo sát chi tiết số d tập trung vào số d tài khoản trên sổ cái tổng hợp, bao gồm các tài khoản trong báo cáo tài chính và báo cáo kết quả kinh doanh, nhưng chủ yếu là trên bảng cân đối tài sản.

Qui Trình Thiết kế chơng trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán thường được chia thành ba phần chính: khảo sát nghiệp vụ, thực hiện các thủ tục phân tích và tiến hành khảo sát chi tiết số liệu.

Dựa trên các mục tiêu kiểm toán tổng quát, KTV sẽ xác định các mục tiêu kiểm toán riêng biệt và thiết kế chương trình kiểm toán cho từng khoản mục Kết quả từ các khảo sát kiểm toán sẽ giúp điều chỉnh phạm vi áp dụng các hình thức khảo sát cơ bản như khảo sát nghiệp vụ, thủ tục phân tích và khảo sát chi tiết số d.

Việc thiết kế khảo sát kiểm toán bao gồm bốn nội dung chính: xác định thủ tục kiểm toán, quy mô mẫu chọn, khoản mục được chọn và thời gian thực hiện.

Các thủ tục kiểm toán là hướng dẫn chi tiết về cách thu thập bằng chứng kiểm toán cụ thể tại một thời điểm trong quá trình thực hiện kiểm toán.

Quy mô chọn mẫu trong kiểm toán là cần thiết do sự đa dạng và khối lượng lớn các nghiệp vụ phát sinh, khiến KTV không thể kiểm tra 100% các nghiệp vụ Tuy nhiên, người sử dụng thông tin yêu cầu KTV đưa ra kết luận chính xác Do đó, KTV phải áp dụng phương pháp chọn mẫu có kế hoạch để đảm bảo mẫu được chọn có tính đại diện và phản ánh đúng đặc trưng cơ bản của tổng thể.

Khi quyết định số lượng mẫu, cần chọn mẫu đại diện, vì vậy phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thường được sử dụng, chẳng hạn như sử dụng bảng số ngẫu nhiên Ngoài ra, các nghiệp vụ bất thường hoặc có số tiền lớn cũng cần được xem xét, mặc dù không nằm trong mẫu.

 Thời gian thực hiện: Xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc các thủ tục kiểm toán đã đề ra.

Thiết kế các thủ tục khảo sát nghiệp vụ.

 Các thủ tục kiểm soát: Việc thiết kế các thủ tục kiểm toán của khảo sát nghiệp vụ thờng tuân theo phơng pháp luận, gồm 4 bớc nh sau:

 Cụ thể hoá các mục tiêu KSNB cho từng khoản mục đang đợc khảo sát.

 Nhận diện các qúa trình kiểm toán đặc thù mà có tác dụng làm giản rủi ro kiểm soát của từng mục tiêu KSNB.

 Thiết kế các thủ tục kiểm soát đối với từng quá trình kiểm soát đặc thù

Thiết kế các thủ tục khảo sát chính thức nghiệp vụ cần được thực hiện theo từng mục tiêu cụ thể, đồng thời xem xét nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và kết quả ước tính từ các khảo sát kiểm soát.

Trong khảo sát nghiệp vụ, quy mô chọn mẫu thường được xác định bằng phương pháp chọn mẫu thống kê, nhằm ước tính tỷ lệ các phần tử trong tổng thể có chứa đặc điểm hoặc thuộc tính quan trọng.

 Khoản mục đợc chọn: Sau khi xác định quy mô mẫu chọn, KTV phải xác định các phần tử cá biệt mang tính đại diện cao cho tổng thể.

Các cuộc khảo sát nghiệp vụ thường được tiến hành vào giữa năm hoặc cuối năm Khảo sát giữa năm giúp hoàn tất kiểm toán ngay sau khi lập bảng cân đối kế toán, đáp ứng mong muốn của khách hàng và phân bổ công việc cho hãng kiểm toán trong suốt năm Sau các khảo sát giữa năm, sẽ có các khảo sát bổ sung cho các nghiệp vụ từ giữa năm đến cuối năm.

Thiết kế các thủ tục phân tích.

Các thủ tục phân tích được thiết kế nhằm đánh giá tính hợp lý chung của các số liệu đang được kiểm toán Dựa trên kết quả từ các thủ tục này, kiểm toán viên sẽ quyết định việc mở rộng hoặc thu hẹp các khảo sát chi tiết về số liệu.

Thiết kế các khảo sát chi tiết số d.

Việc thiết kế các khảo sát chi tiết số d cho từng khoản mục trên BCTC đợc tiến hành theo phơng pháp luận nh sau:

Sơ đồ 6 trình bày phương pháp luận thiết kế các khảo sát chi tiết số d, bao gồm việc đánh giá tính trọng yếu và rủi ro cố hữu đối với các khoản mục khảo sát Đồng thời, cần thực hiện đánh giá rủi ro kiểm soát trong suốt chu kỳ kiểm toán đang được tiến hành.

Thiết kế các cuộc khảo sát, khảo sát chính thức nghiệp vụ và các thủ tục phân tích, dự đoán kết quả.

Thiết kế các khảo sát chi tiết số d của khoản mục đang đợc xét để thoả mãn các mục tiêu kiểm toán đặc thù.

- Các thủ tục kiểm toán.

- Khoản mục đợc chọn Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro cố hữu đối với khoản mục đang khảo sát:

Khi ước lượng ban đầu về tính trọng yếu và phân bổ mức ước lượng cho từng khoản mục trên BCTC, KTV sẽ xác định mức kế toán chấp nhận được cho từng khoản mục Mức sai số chấp nhận được càng thấp, yêu cầu về số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập càng nhiều, dẫn đến việc mở rộng các khảo sát chi tiết nghiệp vụ và khảo sát chi tiết số dư.

Rủi ro cố hữu cao hơn yêu cầu thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán hơn, dẫn đến việc mở rộng các khảo sát chi tiết Ngược lại, đánh giá rủi ro kiểm soát hiệu quả sẽ giảm thiểu rủi ro này, từ đó giảm số lượng bằng chứng cần thu thập trong các cuộc khảo sát chính thức và khảo sát chi tiết, giúp giảm chi phí kiểm toán.

Thiết kế và dự đoán kết quả của các khảo sát kiểm soát, khảo sát nghiệp vụ và thủ tục phân tích là rất quan trọng, vì chúng được xây dựng nhằm đạt được những kết quả nhất định Những kết quả dự kiến này sẽ ảnh hưởng đến việc thiết kế các khảo sát chi tiết số tiếp theo.

Thiết kế các khảo sát chi tiết số d nhằm đáp ứng các mục tiêu kiểm toán cụ thể của khoản mục đang xem xét Các khảo sát này được xây dựng dựa trên kết quả ước tính từ các khảo sát kiểm toán trước đó và bao gồm các phần như thủ tục kiểm toán, quy mô chọn mẫu và thời gian thực hiện.

Thực trạng công tác lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các Công

Ngày đăng: 31/07/2023, 09:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng quy định về mức trọng yếu. - Lap ke hoach kiem toan bao cao tai chinh tai cong 197854
Bảng 1 Bảng quy định về mức trọng yếu (Trang 14)
5 Bảng 1: Bảng quy định về mức trọng yếu - Lap ke hoach kiem toan bao cao tai chinh tai cong 197854
5 Bảng 1: Bảng quy định về mức trọng yếu (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w