Việt Nam và Hàn Quốc-20 năm hợp tác và phát triển
Trang 1VIỆT NAM – HÀN QUỐC
20 NĂM HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN
TS BÙI NỮ HOÀNG ANH
Trang 2NỘI DUNG CHÍNH
1 Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Những dấu mốc quan trọng
2 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
3 Triển vọng trong tương lai
Trang 31 Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Những dấu mốc quan trọng
Vào khoảng thế kỷ thứ 12-13, khi nhà Trần lên thay nhà Lý, một hoàng tử
của Triều Lý là Lý Long Tường đã sang Hàn Quốc và định cư tại đây
Từ 1975-1982, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và
Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian
Từ 1983 Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ
buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi chính phủ
Ngày 20/4/1992, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận trao đổi
Văn phòng liên lạc giữa hai nước
Ngày 22/12/1992, Bộ trưởng Ngoại giao hai nước ký Tuyên bố chung thiết lập
quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (BT Lee Sang Ok cùng BT Nguyễn Mạnh Cầm)
Ngày 22-25/8/2001, Chủ tịch nước Trần Đức Lương cùng Tổng thống Hàn Quốc
Kim Te Chung ra Tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ "Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21".
Ngày 22/10/2009, quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc được nâng lên tầm
“Đối tác chiến lược”
Trang 4Thời gian Việt Nam thăm Hàn Quốc Hàn Quốc thăm Việt Nam
02/1993 - Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm
5/1993 - Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt
4/1995 - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười
3/1998 - Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh
7/1998 - Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Park Chung Soo
7/1999 - Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Hong Soon Young
Bảng 01 Trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước
1 Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Những dấu mốc quan trọng
Trang 5Bảng 01 Trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước (tiếp)
8/2000 - Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên
8/2001 - Chủ tịch nước Trần Đức Lương
9/2002 - Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn
Dũng
9/2003 - Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải
12/2003 - Nguyên Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt
mại Yun Yêng Quan 6/2004 - Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa
7/2004 - Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An
11/2005 - Chủ tịch nước Trần Đức Lương dự Hội nghị
APEC-13 tại Hàn Quốc
1 Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Những dấu mốc quan trọng
Trang 6Thời
APEC-14 tại Hà Nội 5/2007 - Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh
Hùng
…
8/2013 - Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân
9/2013
- Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye
1 Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Những dấu mốc quan trọng
Bảng 01 Trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước (tiếp)
Trang 71 Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Những dấu mốc quan trọng
Nhiều Hiệp định quan trọng đã được ký kết
Hiệp định hợp tác kinh tế - khoa học kỹ thuật (02/1993)
Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư-sửa đổi (9/2003)
Hiệp định Hàng không, Hiệp định Thương mại (5/1993)
Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần (5/1994)
Hiệp định Văn hoá (8/1994)
Hiệp định Hải quan (3/1995)
Hiệp định Vận tải biển (4/1995)
Hiệp định về hợp tác du lịch (8/2002)
Hiệp định về viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật (4/2005)
Trang 82 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.1 Viện trợ phát triển của Hàn Quốc dành cho Việt Nam
Trở thành nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới, kể từ những năm 1970, Hàn Quốc đã thành lập các Quỹ hỗ trợ PT với mục đích hỗ trợ, giúp đỡ các nền KT kém phát triển và đang phát triển
Hàn Quốc là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực hợp tác phát triển
và hiện là nhà tài trợ ODA song phương lớn thứ hai của Việt Nam
Theo Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Ha Chan-ho, trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2010, Hàn Quốc đã hỗ trợ Việt Nam 1,255 tỷ USD với mức vay ưu đãi để thực hiện 36 dự án
Từ 1991 - 2010, tổng số tiền viện trợ không hoàn lại là 129 triệu USD, số tiền viện trợ
ODA và viện trợ không hoàn lại cho VN sẽ còn tiếp tục tăng trong 5 năm tiếp theo
Việt Nam vẫn là một trong số ít các quốc gia nhận được nhiều viện trợ ODA của
Hàn Quốc nhất, cho dù Việt Nam đã thuộc vào nhóm nước có thu nhập trung bình
Chính phủ Hàn Quốc quyết định sẽ tiếp tục tăng viện trợ cho Việt Nam với mục đích
giúp VN trong thời gian ngắn nhất trở thành một quốc gia phát triển trong khu vực
Những lĩnh vực ưu tiên viện trợ của Hàn Quốc dành cho Việt Nam bao gồm:
(1) Phát triển nguồn nhân lực và những nhu cầu cơ bản của con người như: GD,
đào tạo và y tế; (2) Hỗ trợ nhân đạo cho các vùng sâu vùng xa và vùng nghèo đói; (3) Xây dựng thể chế cho các khu vực đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường; (4) Phát triển nông nghiệp và nông thôn
Trang 92 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại
2.2.1 Xuất khẩu
Hàn Quốc cũng là thị trường lớn thứ 4 trên thế giới nhập khẩu hàng hoá của
VN từ năm 2010 với tỷ trọng hơn 4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Các mặt hàng xuất khẩu chính của VN sang Hàn Quốc trong những năm qua là: Dầu thô, hải sản, dệt may, than đá, gỗ & sản phẩm gỗ, giày dép các loại, cà phê, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện,…
Trang 102 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại
2.2.1 Xuất khẩu
Trang 112 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại
2.2.1 Xuất khẩu
Trang 122 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại
2.2.1 Xuất khẩu
Trang 132 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại
2.2.1 Xuất khẩu
Trang 142 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại
2.2.2 Nhập khẩu
Từ năm 2010, Hàn Quốc đã chính thức vượt qua Nhật Bản và trở thành
thị trường lớn thứ 2 trên thế giới cung cấp hàng hoá sang thị trường Việt Nam (chỉ xếp sau Trung Quốc)
Các mặt hàng nhập khẩu chính của VN từ Hàn Quốc trong những năm qua gồm:
Nhóm hàng nguyên phụ liệu dệt may da giày, máy móc thiết bị dụng cụ
phụ tùng, xăng dầu các loại, sắt thép các loại, ôtô nguyên chiếc các loại,
linh kiện & phụ tùng ôtô, chất dẻo nguyên liệu,
Trang 152 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại
4 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 2027 202,1
Bảng 02 Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chính từ Hàn Quốc năm 2012
(Nguồn: Tổng Cục Hải quan)
Trang 162 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại 2.2.3 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Tổng giá trị mậu dịch hai chiều của Việt Nam với Hàn Quốc tăng hàng năm
Số liệu thống kê hải quan cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2012
giữa VN và Hàn Quốc đạt khoảng 20 tỷ USD, tăng gấp 36 lần so với năm 1992;
Trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt 4,20 tỷ USD, tăng 49,8%
và nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc là 15,80 tỷ USD, tăng 40,6%
Với tốc độ tăng đó, ước tính kim ngạch thương mại song phương lên 70 tỷ USD vào năm 2020.
Từ tháng 8/2012, hai nước khởi động đàm phán Hiệp định thương mại tự do
song phương Nếu được ký kết, Hiệp định này này sẽ tạo động lực mới thúc đẩy quan hệ hợp tác KT giữa hai nước phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới
Xét về tổng kim ngạch XNK, Hàn Quốc luôn nằm trong danh sách 6 bạn hàng
lớn nhất của Việt Nam, sau Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Singapore và Đài Loan
Trang 172 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại 2.2.3 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Bảng 03 Chỉ tiêu thương mại hàng hóa chính giữa Việt Nam và Hàn Quốc giai đoạn 2005 – 2012
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Tổng Cục hải quan)
Trang 182 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.2 Quan hệ thương mại 2.2.3 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Một đặc trưng nổi bật trong quan hệ thương mại của Việt Nam với Hàn Quốc
là Việt Nam luôn ở trong tình trạng nhập siêu và mức độ nhập siêu ngày càng lớn Nguyên nhân sự thâm hụt mậu dịch của Việt Nam với Hàn Quốc là do:
(1) Cơ cấu xuất nhập khẩu của hai nước có sự khác biệt rất lớn
(2) Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam gia tăng đã làm gia tăng việc nhập khẩu
máy móc thiết bị và nguyên liệu trung gian phục vụ cho việc sản xuất của các công
ty Hàn Quốc tại Việt Nam, trong khi đó các sản phẩm được tạo ra chủ yếu phục vụ tiêu dùng nội địa hoặc xuất khẩu sang các nước thứ ba làm cho nhập khẩu tăng mà xuất khẩu không tăng;
(3) Theo đánh giá của nhiều nhà kinh tế, đồng tiền Việt Nam được định giá cao so với các đồng tiền khác Điều này làm hạn chế khả năng cạnh tranh và xuất khẩu của các mặt hàng của Việt Nam, và tạo điều kiện cho hàng nhập khẩu thâm nhập mạnh vào thị trường trong nước
Trang 192 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.3 Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam
Tính đến ngày 20/10/2012 Hàn Quốc có 3.134 dự án còn hiệu lực với tổng vốn
đầu tư đăng ký đạt 24,480 tỷ USD, tăng gấp hàng trăm lần so với thời điểm hai
nước thiết lập quan hệ ngoại giao
Hầu hết các tập đoàn lớn của Hàn Quốc như Samsung, Hyundai, LG, POSCO, SK, Lotte, Kumho-Asiana đã có mặt tại Việt Nam
Trong 11 tháng đầu năm 2013 đã có 54 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,129 tỷ USD, chiếm 19,8% tổng vốn đầu tư đăng ký
FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam được chia thành 2 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1 (1992 - 2001) - từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến khi ký “Hiệp định quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI” Trong giai đoạn này, FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam chiếm 3,5% tổng số FDI vào VN và tương đương với 3,4% tổng số FDI của Hàn Quốc ra nước ngoài
Giai đoạn 2 (2002 đến nay) - từ khi hai nước chính thức nâng tầm “Quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI” Vốn FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam tăng mạnh, chiếm tới 10,8% tổng số FDI vào Việt Nam, tương đương 6,5% tổng số FDI của
Hàn Quốc ra nước ngoài giai đoạn (2002 - 2010)
Trang 202 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.3 Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam
đột phá mạnh
Nếu thời kỳ đầu, các dự án FDI của Hàn Quốc vào VN chủ yếu là nhỏ và vừa, Đến nay, đã xuất hiện những dự án quy mô đầu tư siêu lớn với kim ngạch lên đến hàng tỉ USD, điều mà trước đây chưa từng có
Trong giai đoạn đầu, Hàn Quốc chú trọng nhiều tới lĩnh vực công nghiệp nhẹ, như may mặc, giầy dép, ba lô, túi sách… và công nghiệp chế biến lâm, hải sản, bởi các lĩnh vực này cần vốn ĐT ít nhưng lại tận dụng được nhiều nhân công rẻ Đến giai đoạn 2, các DN Hàn Quốc có xu hướng chuyển sang đầu tư trong các lĩnh vực công nghiệp nặng, điện tử, vận tải, bất động sản, khách sạn, nhà hàng với quy mô vốn lớn và công nghệ cao
Hiện nay FDI của Hàn Quốc đang được triển khai sang một số lĩnh vực như:
công nghệ thông tin, chế biến hải sản và sản phẩm nông nghiệp, máy móc
xây dựng và các lĩnh vực cần nhiều vốn đầu tư
Trang 212 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.3 Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam
liên doanh (335 dự án); 100% vốn đầu tư nước ngoài (2.237 dự án); công ty
cổ phần (36 dự án); hợp đồng hợp tác kinh doanh: BOT, BT, BTO (2 dự án)
và hợp đồng hợp tác kinh doanh (29 dự án)
Rất nhiều các dự án liên doanh sau một thời gian hoạt động đã chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài
vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, với chính sách
ĐT thông thoáng và môi trường đầu tư, KD luôn được cải thiện, kết cấu hạ tầng tốt
và nguồn lao động dồi dào như TP Hồ Chí Minh (762 dự án), Hà Nội (538 dự án), Bình Dương (447 dự án), Đồng Nai (252 dự án)…
Các tỉnh nhỏ, lẻ tiếp nhận số dự án của Hàn Quốc rất ít Tính đến năm 2011,
có khoảng 47 tỉnh, thành của VN tiếp nhận đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc Hiện
có hơn 2.500 DN Hàn Quốc đang hoạt động tại VN, trong đó khu vực phía Nam
có 1.600 doanh nghiệp và tạo ra gần 500.000 việc làm
Triển vọng đến năm 2015, vốn FDI của các DN Hàn Quốc tại VN còn hiệu lực
sẽ vượt 30 tỉ USD
Trang 222 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.4 Hợp tác lao động
Các dự án đầu tư của Hàn Quốc phần lớn là các dự án với quy mô vừa và nhỏ
đòi hỏi sử dụng nhiều lao động Vì vậy, các nhà đầu tư của Hàn Quốc ở Việt Nam
đã có những đóng góp đáng kể vào việc ĐT lao động và giải quyết việc làm ở VN.
của Việt Nam và Việt Nam là nước xuất khẩu lao động lớn thứ hai sang Hàn Quốc
Từ năm 1993 đến nay có khoảng trên 120 ngàn lượt người lao động Việt Nam
sang HQ làm việc, trong đó có khoảng 52 ngàn lượt người theo chương trình tu nghiệp sinh và 70 ngàn lượt người theo chương trình cấp phép LĐ áp dụng
từ năm 2004
Hiện có khoảng 75 ngàn người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc Hàn Quốc cũng tích cực hỗ trợ Việt Nam trong việc đào tạo nghề, bảo hộ lao động
Trang 232 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.5 Phát triển văn hóa, du lịch
Cùng với sự gia tăng hợp tác về chính trị, kinh tế, quan hệ giao lưu nhân dân, giao lưu văn hóa giữa hai nước cũng phát triển rất nhanh chóng, qua đó góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau tạo nền tảng vững chắc để xây dựng quan hệ lâu dài giữa hai nước
Theo thống kê sơ bộ, hiện có hơn 130 ngàn người Hàn Quốc đang làm việc và sinh sống
tại Việt Nam và hơn 120 ngàn người Việt Nam đang sinh sống, làm việc và học tập tại HQ, trong đó có 46 ngàn cặp vợ chồng Việt Nam-Hàn Quốc
Hàng năm, nhiều hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao được tổ chức tại
hai nước Theo thống kê sơ bộ, tại Hàn Quốc hiện có hơn 100 nhà hàng ẩm thực Việt Nam
và tại Việt Nam cũng có hàng trăm nhà hàng Hàn Quốc
Những nhà hàng này không đơn thuần chỉ là hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận
mà còn đang góp phần giúp nhân dân hai nước hiểu thêm về nền văn hóa của nhau thông qua văn hóa ẩm thực.
Trong lĩnh vực du lịch, năm 2012, hơn 600 ngàn lượt công dân hai nước đã qua lại thăm lẫn nhau Số lượng khách du lịch Hàn Quốc đến VN ngày càng tăng, đặc biệt
là trong những năm gần đây
Hàn Quốc hiện đứng thứ hai về số lượng khách du lịch đến VN với hơn 536 ngàn
lượt người năm 2012, tăng 12 lần so với năm 1999 (43 ngàn lượt)
Trang 242 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc
2.5 Phát triển văn hóa, du lịch
Bảng 04 Các thị trường khách du lịch chính của Việt
Nam
(ĐVT: 1.000 lượt người)
(Nguồn: Tổng Cục Thể thao và Du lịch)
Trang 253 Triển vọng trong tương lai
tiếp tục được khẳng định trên trường quốc tế và khu vực châu Á - TBD
Cùng với việc tích cực huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
trong nước, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút các
nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến từ bên ngoài, trong đó
Hàn Quốc là đối tác chiến lược
Chính phủ Việt Nam đã khẳng định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các DN
Hàn Quốc làm ăn lâu dài và thành công tại VN, mang lại lợi ích cho cả hai bên
Việt Nam cũng mong muốn các DN Hàn Quốc tiếp tục mở rộng đầu tư KD,
nhất là trong các lĩnh vực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH; SX vật liệu,
năng lượng mới, SX sản phẩm công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ; phát triển
nguồn nhân lực, y tế, phát triển nông, lâm, thuỷ sản; tăng cường quan hệ
thương mại, xuất khẩu lao động, mở rộng giao lưu văn hoá, hợp tác KHCN
về vốn, KH-CN, thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá do VN sản xuất
Với quan hệ chính trị tốt đẹp, nguồn lực dồi dào, Hàn Quốc có đủ các điều kiện để cung cấp viện trợ phát triển cho VN ở mức cao hơn; tăng cường đầu tư vào các
dự án trọng điểm tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho việc XK hàng hóa VN vào Hàn Quốc.