Mặt khác,thực tế giảng dạy môn Triết học ở Trường CĐSP Lạng Sơn cho thấy giáoviên sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu, chưa tận dụng được ưuthế của công nghệ thông tin trong giản
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đã từ lâu, việc ứng dụng CNTT vào dạy học và quản lý giáo dục đãtrở nên phổ biến ở các nước có trình độ khoa học phát triển Điều đó đã làmthay đổi toàn bộ diện mạo của nền giáo dục thế giới trên mọi phương diệnnhư: phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò, hình thức vàphương pháp kiểm tra đánh giá, phương pháp quản lý giáo dục… Hiệu quả
to lớn mà CNTT mang lại cho nền giáo dục đã đủ cơ sở để chúng ta khẳngđịnh vai trò, vị trí và xu thế tất yếu của nó trong tương lai Chính vì thế màUNESCO đã đưa ra chủ đề về đổi mới phương pháp dạy học bằng CNTTvào chương trình trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Bối cảnh đó cùng với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
đã là yếu tố làm nảy sinh và thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy và họctrong tất cả các cấp ngành giáo dục và đào tạo ở nước ta thời gian qua Cụthể, trong Nghị quyết Trung ương II khoá VIII Đảng ta đã khẳng định: “Đổimới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng cácphương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học” [24, tr41] Chỉ thị 58 CT/TW của Bộ chính trị, Quyết định 81/2001/QĐ - TTG củathủ tướng chính phủ và chỉ thị 29/2001/CT – BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ giáodục và đào tạo với mục tiêu tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng côngnghệ thông tin trong ngành Giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 góp phần nâng caonhận thức về vai trò của Công nghệ thông tin trong tiến trình CNH – HĐH Sựxác định rõ vai trò của CNTT trong giáo dục và đào tạo tất yếu sẽ lập ra mộtbước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung chương trình, phươngpháp, hình thức giảng dạy và quản lý giáo dục trong nhà trường Việt Nam
Trang 2Trong thực tiễn giảng dạy các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh nói chung và môn Triết học Mác – Lênin nói riêng, việc giảngdạy không chỉ dừng lại ở cung cấp tri thức mà hơn thế phải hình thành chosinh viên tư duy lý luận để lý giải, xử lý những vấn đề thực tiễn đặt ra Hơnnữa Triết học là môn khoa học mang tính lý luận khái quát hoá và trừutượng rất cao Do vậy việc truyền thụ tri thức Triết học cho sinh viên thậtkhông dễ dàng
Trường CĐSP Lạng Sơn nằm trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, sátcửa khẩu biên giới quốc gia Sinh viên của trường chủ yếu là người dân tộcnên điều kiện học tập, trình độ nhận thức còn nhiều khó khăn, hạn chế
Thực tế quá trình học tập của sinh viên Trường CĐSP Lạng Sơn chothấy: sinh viên còn lệ thuộc vào giáo viên, chưa tích cực trong học tập, điều
đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu giáo dục và đào tạo Mặt khác,thực tế giảng dạy môn Triết học ở Trường CĐSP Lạng Sơn cho thấy giáoviên sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu, chưa tận dụng được ưuthế của công nghệ thông tin trong giảng dạy nên chưa phát huy được tínhtích cực học tập của sinh viên, chưa cung cấp được kiến thức sâu rộng về lýluận cũng như thực tiễn trong quá trình dạy học
Có thể nói có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, songnguyên nhân chủ yếu nhất là do hạn chế trong phương pháp cũng như hìnhthức dạy học Trong thời đại CNTT như hiện nay, chúng ta có thể áp dụngnhững thành tựu của chúng vào trong quá trình dạy học nhằm phát huy tínhtích cực nhận thức, tạo hứng thú và khơi dậy óc sáng tạo cho người học
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết trên chúng tôi chọn đề tài: “Sử dụng công nghệ thông tin trong thuyết trình bài giảng triết học nhằm phát huy tính tích cực học tập cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn”
2 Lịch sử nghiên cứu
Trang 3Trên thế giới, việc sử dụng CNTT như một phương tiện dạy học trongnhà trường đã được nhiều nước quan tâm, đặc biệt là các nước có nền kinh
tế phát triển Có thể kể đến như: Đề án “Tin học cho mọi người” của Phápnăm 1970; Hội thảo về “Xây dựng phần mềm dạy học” các nước châu Á -Thái Bình Dương được tổ chức tại Malayxia, năm 1985…; Còn ở Việt Namnăm 2004, Hội thảo quốc tế lần 2 về “CNTT và truyền thông giáo dục đàotạo” được tổ chức tại Hà Nội, nhiều báo cáo trong các tạp chí, tập san khoahọc của các trường ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Thành phố HCM, ĐHSP Huế đãnêu các kết quả nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụngCNTT trong dạy học của các tác giả như: Đặng Văn Đức, Nguyễn MinhPhương, Nguyễn Đức Vũ, Nguyễn Trọng Phúc, Hoàng Việt Anh…
Đối với môn Triết học, trong thời gian vừa qua đã có nhiều đề tàinghiên cứu khoa học cấp bộ cũng như các hội thảo về đổi mới phương phápdạy học và ứng dụng CNTT trong giảng dạy các môn khoa học Mác – Lênin
đã được tổ chức như: Tài liệu tập huấn về “Huấn luyện về phương pháp sư phạm (PPSP)” theo dự án VAT của ÚC; các tài liệu của “Hội thảo về phương pháp giảng dạy và học tập môn triết học Mác- Lênin trong các trường đại học” tổ chức tại Hải Phòng tháng 11- 2002… Các công trình khác
đã công bố có thể kể đến là: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn dạy học môn học Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học” của tác giả
Nguyễn Duy Bắc; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2005 của Tiến sĩ Nguyễn
Như Hải “Đổi mới phương pháp dạy học các khái niệm Triết học”.
Từ những góc độ khác nhau, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về việc
sử dụng công nghệ thông tin vào các phương pháp dạy học khác nhau, nhằmnâng cao hiệu quả của dạy học nhưng vấn đề sử dụng công nghệ thông tintrong thuyết trình bài giảng Triết học chưa có nhà khoa học nào đi sâunghiên cứu một cách cụ thể vấn đề này
Những công trình khoa học trên là cơ sở quý báu để chúng tôi đi sâunghiên cứu đề tài này Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng
Trang 4công nghệ thông tin trong phương pháp thuyết trình đồng thời đề xuất quytrình kết hợp sử dụng công nghệ thông tin trong thuyết trình bài giảng Triếthọc Mác – Lênin.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụngcông nghệ thông tin trong thuyết trình, luận văn tiến hành khảo nghiệm vàđưa ra quy trình sử dụng công nghệ thông tin trong thuyết trình bài giảngTriết học nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên trường Cao đẳng
sư phạm Lạng Sơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ sau:
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng công
nghệ thông tin trong dạy học Triết học
Hai là, khảo sát thực trạng và tiến hành thực nghiệm việc giảng dạy
và học tập Triết học của trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Ba là, đề xuất quy trình nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn
Triết học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
4 Phạm vi nghiên cứu
Để định hướng cho quá trình nghiên cứu, luận văn xác định phạm vikhảo sát ở góc độ lý luận sư phạm về phương pháp sử dụng CNTT trong
thuyết trình bài giảng Triết học nhằm phát huy tính tích cực học tập cho sinh
viên trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Đối tượng khảo sát là giáo viên trong tổ bộ môn chính trị, sinh viên
năm thứ nhất K14 trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đã nêu ở trên, luận văn quán triệtquan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (CNDVBC và CNDVLS);chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo;các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:phương pháp lịch sử - logic; phương pháp cụ thể – trừu tượng; Phân tích –tổng hợp; phương pháp so sánh; Điều tra xã hội học; Thống kê kết hợp vớiquan sát, trò chuyện, nghiên cứu sản phẩm…
7 Đóng góp khoa học của luận văn
Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào việc đổi
mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp sử dụng CNTT trongthuyết trình bài giảng Triết học để nhằm nâng cao chất lượng dạy học Triết học
Về mặt thực tiễn, đề tài xây dựng được quy trình của phương pháp sử
dụng CNTT trong thuyết trình bài giảng Triết học Kết quả của đề tài có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các giảng viên giảng dạy Triết học ở cáctrường đại học và cao đẳng
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn gồm 3 chương 7 tiết
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THUYẾT TRÌNH BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THUYẾT TRÌNH
1.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học
Trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người luônluôn tìm cách làm cho hoạt động của mình ngày càng trở nên nhẹ nhànghơn, đỡ tốn kém sức lực và thời gian nhưng lại có hiệu quả cao hơn Điều đó
đã dẫn đến nhu cầu xuất hiện về phương pháp trong cuộc sống
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là “Method” cónghĩa là con đường để đạt mục đích
Phương pháp được đề cập dưới nhều góc độ khác nhau Trong cuốn từđiển triết học xuất bản năm 1976, các tác giả đã khẳng định “ phương pháp
là cách thức đề cập đến hiện thực, nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xãhội”, “ là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tưduy” [23,tr 743-744]
Trong cuốn sách Triết học tập 3 dùng cho nghiên cứu sinh và cao họckhông chuyên các tác giả cho rằng : “phương pháp là hệ thống những nguyêntắc được rút ra từ những tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạtđộng nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định [21,tr29]
Tuy được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung khi đềcập đến phương pháp là đề cập đến cách thức, con đường mà chủ thể sửdụng để đạt mục đích đề ra
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất củaquá trình dạy học Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học:
Trang 7Theo quan niệm của Iu Babanxki: Phương pháp dạy học là cách thức tươngtác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục vàphát triển trong quá trình dạy học.
Quan niệm của I Ia Lecne cho:
Phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có mục đích củagiáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảmbảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn
Còn I D Dverev cho rằng: phương pháp dạy học là cách thức hoạtđộng tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt mục đích dạy học Hoạt động nàyđược thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật lôgic,các dạng hoạt động độc lập của học sinh và cách thức điều khiển quá trìnhnhận thức của thầy giáo Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác nhau, có thểtóm tắt ở ba dạng cơ bản:
Theo quan điểm của điều khiển học, phương pháp dạy học là cáchthức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này
Theo quan điểm lôgíc, phương pháp dạy học là những thủ thuật lôgícđược sử dụng để giúp học sinh nắm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác
Meyer cho rằng: Phương pháp dạy học là những hình thức và cáchthức, thông qua đó và bằng cách đó giáo viên và học sinh lĩnh hội nhữnghiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh những điều kiện học tập cụ thể
Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt đông củagiáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mụcđích dạy học
Như vậy, xét về bản chất, phương pháp là sự vận động của nội dungdạy học Hoạt động dạy học là quá trình xử lý, chuyển giao thông tin tri thứccủa giảng viên và quá trình thu nhận, xử lý thông tin đó của sinh viên Tínhhiệu quả của quá trình này không những phụ thuộc vào chất lượng của thôngtin mà điều quan trọng chính là phương pháp thực hiện hoạt động ấy
Trang 8Tóm lại, bàn về phương pháp dạy học có nhiều quan điểm khác nhau,song về cơ bản có thể coi phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạtđộng của giáo viên và học sinh nhằm đạt mục tiêu đề ra
Phương pháp dạy học là một khái niệm rất phức hợp, có nhiều bìnhdiện và phương diện khác nhau Phương pháp dạy học cũng không phải lànhững nguyên tắc có sẵn và bất biến, mà nó luôn phải đổi mới để đáp ứngnhững đòi hỏi của hoạt động dạy và học ở mỗi giai đoạn của lịch sử Nhưvậy phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinhnhằm đạt mục đích đề ra
- Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định
- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích vàxây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quảhoạt động
- Phương pháp dạy học nhằm đạt mục đích dạy học
- Phương pháp dạy học là sự thống nhất giữa phương pháp dạy vàphương pháp học
- Phương pháp dạy học thực hiện thống nhất chức năng đào tạo vàgiáo dục
- Phương pháp dạy học là sự thống nhất của lôgíc nội dung dạy học vàtâm lý nhận thức
- Phương pháp dạy học có mặt bên trong và mặt bên ngoài; có mặtkhách quan và chủ quan
- Phương pháp dạy học là sự thống nhất của cách thức hành động vàphương tiện dạy học
Có rất nhiều hệ thống phân loại phương pháp dạy học khác nhau.Không có hệ thống nào là khép kín và hoàn thiện Mỗi hệ thống phân loạidựa trên những dấu hiệu khác nhau của phương pháp dạy học Có thể liệt kêmột số hệ thống phân loại sau:
Trang 9- Dựa trên nguồn thông tin: Các phương pháp ngôn ngữ (thuyết trình,thảo luận, sử dụng sách, tài liệu…), các phương pháp trực quan (biểu diễn,trình bày trực quan, trình bày thí nghiệm…), các phương pháp thực hành(quan sát, luyện tập, độc lập làm thí nghiệm…).
- Dựa trên tính chất hoạt động nhận thức: các phương pháp thông báo
- tái hiện, các phương pháp tìm tòi khám phá, các phương pháp giải quyếtvấn đề, nghiên cứu…
- Dựa trên mục đích lý luận dạy học: các phương pháp nhập đề,phương pháp trình bày tài liệu mới, phương pháp củng cố, ôn tập, đánh giá…
1.1.2 Phương pháp thuyết trình
Trong quá trình dạy học, người giáo viên cần thiết phải sử dụng nhiềuphương pháp dạy học phù hợp với các tình huống dạy học khác nhau Cómột số phương pháp dạy học đã được sử dụng qua nhiều năm và người tagọi đó là phương pháp truyền thống
Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học truyền thống, nóxuất hiện từ thời cổ đại
Phương pháp thuyết trình là một trong các phương pháp được sử dụngphổ biến trong quá trình dạy học Đây là phương pháp được áp dụng trongquá trình chuyển tải một khối lượng kiến thức lớn mà giáo viên dự địnhcung cấp cho người học
Có nhiều cách quan niệm về phương pháp thuyết trình:
“Phương pháp thuyết trình là phương pháp mà giáo viên sử dụngngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung họctập.Người học tiếp thu hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lý chúngtuỳ theo chủ thể người học và yêu cầu của người dạy học”
“Thuyết trình là dùng lời nói của giáo viên để thuyết minh, trình bàymột vấn đề có tính chất lý luận nhằm: truyền đạt, thông báo, bày tỏ một nộidung khoa học nào đó”
Trang 10Phương pháp thuyết trình có từ lâu đời, hiện nay và trong tương lai.phương pháp thuyết trình vẫn là phương pháp chủ đạo trong dạy học Điềunày được khẳng định bởi chính nội dung môn học, mục tiêu giáo dục củamôn học và thực tiễn phát triển của xã hội.
Phương pháp thuyết trình có những ưu thế sau đây:
Thứ nhất, với một thời gian định lượng, người dạy chủ động trình bày
bài giảng một cách lưu loát, dễ hiểu, hấp dẫn, hợp lôgíc nhận thức của ngườihọc Bằng trình độ hiểu biết, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú,thông qua thuyết trình, người dạy chuyển tải toàn bộ nội dung tri thức bàihọc cho người học Đó là một lượng lớn những tri thức lý luận trừu tượngkhái quát cao mà bằng phương pháp dạy học khác khó mà thực hiện được
Thứ hai, cung cấp cho người học những thông tin cập nhật mới nhất
Thông thường những tri thức khoa học được đưa vào tài liệu giáokhoa nhà trường có xu hướng lạc hậu hơn so với sự phát triển hiện tại củalĩnh vực khoa học đó Hơn nữa, trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệthông tin phát triển hết sức mạnh mẽ, các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hộidiễn ra hết sức sôi động trên phạm vi toàn cầu Điều này càng khẳng định tàiliệu giáo khoa phải thường xuyên được cập nhật, bổ sung điều chỉnh, có nhưvậy mới đáp ứng mục tiêu giáo dục, hấp dẫn người học
Thứ ba, phương pháp thuyết trình có khả năng kích thích hoạt động
học tập, góp phần giáo dục niềm tin, tình cảm của người học trong quá trìnhlĩnh hội tri thức Thuyết trình khác đọc hiểu ở chỗ, qua thuyết trình ngườidạy đã trực tiếp giao tiếp với người học Nhờ vậy giáo viên có thể thay đổithủ pháp sư phạm, hiệu chỉnh tài liệu cho phù hợp với trình độ nhận thứchiện tại của người học Việc truyền thụ tri thức vừa sức, phù hợp nhận thứccủa học sinh, kết hợp sự khích lệ động viên kịp thời và sự say mê nhiệt tìnhgiảng dạy của thầy có vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá hoạt độngcủa người học và truyền cảm hứng sáng tạo cho họ
Trang 11Mặt khác, sự kỳ diệu của ngôn ngữ, biểu hiện qua ngữ điệu âm thanhkhi giảng của người thầy đã lôi cuốn, kích thích sự tập trung chú ý, phát triểntrí nhớ và trí tưởng tượng của học sinh Hiệu quả bài thuyết trình không chỉdừng lại ở việc truyền thụ nội dung tri thức bài học mà thông qua thuyết trình,nhờ có sự giao tiếp giữa thầy và trò mà trò nhận được tình cảm, tư tưởng nhânvăn cao đẹp, từ đó niềm tin và hoài bão của các em được nâng lên.
Thứ tư, phương pháp thuyết trình vạch cho học sinh khuôn mẫu và
phương pháp nhận thức, tổng hợp cấu trúc tài liệu học tập; giúp người họcphương pháp tự học, rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ
Triết học – môn khoa học của những khái niệm, phạm trù, nguyên
lý và những quy luật chung nhất được rút ra trên cơ sở của sự khái quátnhững thành tựu khoa học và hoạt động thực tiễn Bởi vậy, khi giảng dạyngười giáo viên phải làm rõ được nguồn gốc, bản chất của những kháiniệm, nguyên lý và quy luật đó Để làm rõ người giáo viên phải sử dụngnhiều phương pháp tư duy khoa học: Diễn dịch và quy nạp, phân tích vàtổng hợp, cụ thể và trừu tượng, lịch sử và lôgíc Thông qua quá trình họctập, các phương pháp tư duy này từng bước hình thành và phát triển ởhọc sinh
Triết học là môn học có tính Đảng, tính tư tưởng rất cao, tính cáchmạng và tính khoa học rất sâu sắc Do đó yêu cầu người dạy phải có kiếnthức tổng hợp, chuyên môn nghiệp vụ, nghiên cứu, tập hợp nhiều thông tin
từ nhiều nguồn tư liệu cũng như từ thực tiễn, phương pháp tổng hợp tri thức,cấu trúc tài liệu này đã ảnh hưởng tích cực đến người học, qua đó hình thànhphương pháp tự học tự nghiên cứu
Việc luận giải những tri thức trừu tượng, khái quát bằng những ngônngữ trong sáng tường minh đi vào lòng người khi thuyết giảng, người dạy đãgóp phần kích thích tinh thần tư duy, “khai tâm”, “mở trí” rèn luyện khảnăng mở rộng và phát triển tư duy, ngôn ngữ cho học sinh
Trang 12Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh, phương pháp thuyết trìnhcũng có những điểm hạn chế như:
- Thu được ít thông tin phản hồi từ phía người học
- Tính cá thể hoá thấp vì phương pháp dạy học dùng chung cho cả lớp
- Hạn chế tính tích cực học tập của người học Phương pháp này cóthể biến học sinh thành những người nghe thuần tuý không cần phải tư duy
- Thời gian thu hút, duy trì chú ý của người học vào nội dung bài học thấp.Phương pháp thuyết trình cũng còn nhiều nhược điểm nếu bị lạmdụng thuyết trình quá dài Thuyết trình như vậy không phát huy được tínhtích cực học tập của học sinh, đặt người học ở vào thế thụ động, làm chosinh viên thụ động, trông chờ vào sự tiếp nhận tri thức từ phía giảng viên
Ngày nay khoa học đã tiến nhanh đến mức người học không thể trôngchờ vào những gì thầy truyền đạt, mà phải chủ động học tập Bởi lẽ chỉ cóhọc tập chủ động người học mới học tập suốt đời được Bằng phương phápthuyết trình chú trọng đến các kiến thức, các hiểu biết hơn là việc hình thànhcác kỹ năng vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn
Vì vậy để phát huy tính tích cực chủ động của người học cần phải đổimới phương pháp thuyết trình theo những hướng: Định hướng việc học tậpcủa sinh viên theo hướng tăng cường vận dụng kiến thức đã học vào thựctiễn - giảm thời gian thuyết trình, tăng cường tính chủ động của sinh viêntrong học tập bằng cách đặt ra các câu hỏi, các vấn đề cho sinh viên tự suynghĩ và đi đến kết luận; phối hợp với các phương pháp khác; tăng cườngliên kết với các phương tiện kỹ thuật và công nghệ hiện đại hỗ trợ cho quátrình dạy học một cách linh hoạt và có lộ trình
Thuyết trình là phương pháp dạy học có hiệu quả để truyền đạt thôngtin ở các lớp mà trình độ, khả năng và ý thích của người học tương đối giốngnhau Trong khi thực tế các lớp sinh viên của chúng ta lại không có đượcđiều kiện đó Mặt khác, một khi phi phương pháp thuyết trình vẫn giữ vị trí
Trang 13độc tôn thì mọi sự cải tiến, khắc phục nó vẫn là các biện pháp lẻ loi, đơnđộc, không thể phát huy được tính độc lập, chủ động sáng tạo của học sinh.Muốn thuyết trình có hiệu quả cần phải có sự kết hợp với các phương pháp
và phương tiện dạy học khác
1.1.3 Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin và truyền thông là sự tổng hợp của 3 thành phần:máy tính, truyền thông (đặc biệt là viễn thông) và các nguồn tài nguyên đảmbảo phục vụ cho hoạt động của cả hệ thống các trang thiết bị thuộc hai lĩnhvực ấy hoặc trong một chừng mực nào đấy có thể coi là sự giao nhau củaĐiện tử - Tin học - Viễn thông
Ban đầu điện tử và điện toán là hai nghành nghiên cứu độc lập Sựliên kết giữa hai khoa học này được đánh dấu bằng việc phát minh ra chiếcmáy tính điện tử lớn Eniac đầu tiên vào năm 1945, rồi sự ra đời của máy vitính vào năm 1981 của hãng IBM Cho đến nay sự thay đổi công nghệ về bộ
vi xử lý, về tốc độ và các phần mềm ứng dụng đã không còn tính bằng thậpniên hay năm mà đo băng tháng
Cuối những năm 70 của thế kỷ trước, nước Pháp sử dụng từInformatique - Tin học Còn người Mỹ quen dung thuật ngữ truyền thống là:Computer Science và tiếng Anh là Information Technology (viết tăt là I.T).Công nghệ thông tin, viết tắt là CNTT ngành ứng dụng công nghệ quản lý
và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn
Ở Việt Nam thì khái niệm công nghệ thông tin (CNTT) được hiểu vàđịnh nghĩa trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển côngnghệ thông tin của chính phủ Việt Nam, như sau: “ công nghệ thông tin làtập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuậthiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khaithác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú vàtiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Thuật
Trang 14ngữ đó do Hội đông chính phủ quyết định, trong khi đó các chuyên gia vẫnbảo lưu thuật ngữ Tin học.
Tuy nhiên từ năm 2000, thế giới bắt đầu phổ cập thuật ngữ ICT:Information and Communication Technology, CNTT&TT Sự thay đổi thuậtngữ phản ánh sự thay đổi của cả thực tiễn phát triển công nghệ và nhận thức
Sự ứng dụng và phát triển của ICT ở nước ta hiện nay cũng đang giatăng với tốc độ chóng mặt Người tiêu dùng, trong đó có ngành giáo dụcđang được hưởng những tiện ích cũng như những dịch vụ thông tin tốt hơnbao giờ hết Điều đó cũng đồng nghĩa với việc cơ hội và thách thức cho nềngiáo dục đang nhân lên
Thực tế cho thấy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở nước ta vẫncòn hạn chế so với các quốc gia trên thế giới Vì vậy, việc đổi mới PPDH vàứng dụng CNTT góp phần vào việc đổi mới PPDH là việc làm cần thiết vàquan trọng của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, để sửdụng CNTT trong dạy học có hiệu quả chúng ta phải nắm rõ những ưu điểm
và hạn chế của nó
Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin
so với phương pháp giảng dạy truyền thống là những thí nghiệm, tài liệuđược cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể
có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một côngdụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mớiphương pháp dạy học
Việc sử dụng CNTT trong dạy học giúp giáo viên có thể chuyển tảiđược lượng tin tức lớn đến học sinh, việc trao đổi thông tin sẽ nhanh hơn vàhiệu quả hơn
Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyềnthông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh
và đều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
Trang 15Theo nhận định của một số chuyên gia thì việc đưa công nghệ thôngtin và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước tabước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thứcvẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn,tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưngtrong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợgiáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đốivới một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyênnhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiếnthức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn chohọc sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặtbảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cầnphải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử
Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chícòn né tránh Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mònkhó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời giantới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cáchlàm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáoviên Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trìnhdạy học, vẫn chưa thể phát huy trọn vẹn tính tích cực và hiệu quả của nó
Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy họcchưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, khôngđúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụngcông nghệ thông tin còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệthông tin trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưatạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho
Trang 16việc đổi mới phương pháp dạy học như máy projector, projection monitor,…còn thiếu nên chưa triển khai rộng khắp Việc kết nối và sử dụng Internet chưađược thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên dothiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũgiáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiếnthức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu quả.
Đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là vấn đề cốt tử để nâng caochất lượng dạy học Đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trongcải cách giáo dục ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học làmột công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vậtchất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên Do đó, để đẩy mạnh việcứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong day học trong thời gian tới
có hiệu quả, không có gì khác hơn, là nhà nước tăng dần mức đầu tư đểkhông ngừng nâng cao, hoàn thiện và hiện đại hoá thiết bị, công nghệ dạyhọc; đồng thời hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông đểmọi trường học đều có thể kết nối vào mạng Internet Bên cạnh đó, có sự chỉđạo đầy đủ, đồng bộ, thống nhất bằng các văn bản của nhà nước mang tínhpháp quy để các tỉnh, thành có cơ sở lập đề án, huy động nguồn vốn đầu tưcho hoạt động này, góp phần làm thay đổi nội dung, phương pháp, hìnhthức dạy học và quản lý giáo dục, tạo nên được sự kết hợp giữa nhà trường,gia đình, xã hội thông qua mạng, làm cơ sở tiến tới một xã hội học tập
1.1.4 Tầm quan trọng của việc kết hợp công nghệ thông tin trong thuyết trình bài giảng triết học
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chấtkhuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thànhtựu của công nghệ thông tin Công nghệ thông tin đã góp phần quan trọngcho việc tạo ra những nhân tố năng động mới của nền kinh tế và xã hội, và
do đó, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin
Trang 17Có thể nói, công nghệ thông tin và truyền thông trong hai thập niêncuối cùng của thế kỷ trước đã tạo ra những nền tảng cơ bản cho phép con người thay đổi phương thức tổ chức và xử lý thông tin trên phạm vi toàn xãhội, từ tiềm năng trở thành hiện thực, từ vị trí thụ động chuyển thành mộtsức mạnh chủ động sáng tạo và làm nên sự giàu có của xã hội Với thông tin
đã được số hoá và nối mạng, con người có thể tích hợp thông tin trongnhững “kho tin” khổng lồ được liên kết tích hợp với nhau, biến chúng thànhnguồn tài nguyên quý giá, có thể chia sẻ, trao đổi thông tin trên phạm vitoàn cầu một cách dễ dàng thông qua Internet trong một khoảng thờigian.Với tác động của công nghệ thông tin và truyền thông môi trường dạyhọc cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình quản
lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của hệ thống các phầnmềm ứng dụng, website và hạ tầng công nghệ thông tin đi kèm
Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đã ảnh hưởngsâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp dạyhọc Các phương tiện nghe nhìn phục vụ cho việc khai thác, xử lý, lưu trữ vàtrình diễn thông tin (như máy chiếu đa năng, video, máy tính, internet) đã cónhiều trong các hệ thống trường học Chính vì vậy mà việc ứng dụng CNTT
để đổi mới phương pháp dạy học không còn là mới mẻ
Ứng dụng CNTT trong giảng dạy nói chung và trong dạy học Triếthọc nói riêng sẽ góp phần cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học truyềnthống, thay đổi lối dạy thụ động một chiều, làm cho hoạt động dạy và họctrở nên tích cực hơn
Trong một bài dạy Triết học, người giáo viên không bao giờ chỉ dùngmột phương pháp Vấn đề đặt ra là phải phối hợp các phương pháp như thếnào? Vấn đề kết hợp đó phải bắt đầu từ sự phân tích nội dung Nội dungmôn Triết học rất đa dạng, mà mỗi phương pháp thường chỉ giải quyết đượcmột nội dung nhận thức nào đó Vì vậy, phải sử dụng nhiều phương pháp
Trang 18Vấn đề là bao giờ cũng có một phương pháp chủ đạo, phương pháp khác chỉ
là hỗ trợ cho phương pháp chủ đạo này Nếu không nhận thức được điều đóthì hoạt động của giáo viên sẽ không chủ động khi lên lớp
Do đó, việc kết hợp phương pháp thuyết trình với các phương pháp dạyhọc khác, đặc biệt là phương pháp sử dụng CNTT trong dạy học Triết họcMác- Lênin sẽ góp phần phát huy ưu điểm của phương pháp sử dụng CNTT,minh họa, sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, khắc phục hạn chế củaphương pháp thuyết trình Phương pháp này không phát huy đầy đủ tính tíchcực, độc lập và tư duy sáng tạo của sinh viên, sinh viên tiếp thu kiến thức mộtcách thụ động, ép buộc và nếu thầy truyền đạt không hấp dẫn, thiếu sứcthuyết phục thì sinh viên chán nản, buồn ngủ, không muốn nghe, không muốnghi chép Phương pháp này làm cho sinh viên giảm khả năng chuyển hoá kiếnthức đã được học thành kiến thức của riêng mình Cho nên, khó có khả năngvận dụng kiến thức đã học vào giải quyết một vấn đề thực tiễn cụ thể
Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tintrong dạy học nói chung và trong thuyết trình bài giảng Triết học nói riêng
là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập của học sinh, tạo ra mộtmôi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là
“thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích vàtạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự họctập, tự rèn luyện của bản thân mình
Triết học Mác- Lênin với tư cách là một lý luận.Trong hệ tư tưởngMác- Lênin, Triết học là một trong ba bộ phận hợp thành (cùng với Kinh tếchính trị Mác- Lênin, CNXHKH)
Triết học Mác- Lênin là một khoa học độc lập có hệ thống phạm trù,khái niệm, phương pháp và đối tượng nghiên cứu riêng Triết học Mác-Lênin nghiên cứu những quy luật và những vấn đề mang tính quy luật chungnhất của thế giới từ tự nhiên, xã hội và tư duy Đây là môn khoa học mang
Trang 19tính lý luận, trừu tượng và khái quát hoá cao Môn Triết học Mác- Lênin làmôn khoa học mang tính chính trị sâu sắc vì thế nó đòi hỏi giữa lý thuyết vàthực tiễn phải gắn liền với nhau Triết học Mác- Lênin còn trang bị cho conngười thế giới quan, phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới một cáchđúng đắn nhất.
Đối với môn học Triết học Mác- Lênin, do nhiều nguyên nhân nênvẫn theo lối dạy học truyền thống chủ yếu là thầy đọc, trò ghi Đây làphương pháp thông tin một chiều
Để hiệu quả hơn, việc kết hợp phương pháp thuyết trình với phươngpháp sử dụng CNTT trong dạy học triết học sẽ giúp cho sinh viên có khảnăng tư duy về môn học, có điểm tựa để hiểu sâu sắc những khái niệm trừutượng của môn học Bởi đây là một môn học mang tính lý luận, khái quát vàtrừu tượng hóa cao Tính lôgíc của vấn đề do phương pháp thuyết trình đemlại, phải có các yếu tố minh hoạ, mô phỏng của công nghệ thông tin hỗ trợ sẽđem lại hiệu quả cao Công nghệ thông tin trong thuyết trình bài giảng triếthọc nhằm mục đích khắc phục những hạn chế của phương pháp thuyết trình,khắc phục khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn, làm dễ dàng hoá qúa trìnhnhận thức của sinh viên, chuyển từ đối tượng mang tính trừu tượng sang cụthể
Công nghệ thông tin là một phương tiện có khả năng truyền tải lượngthông tin cực kỳ phong phú và sinh động, giúp sinh viên lĩnh hội tri thức đầy
đủ và chính xác Đồng thời, khắc sâu, mở rộng, củng cố và hoàn thiện trithức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cần thiết Phát triển năng lực độc lập nghiêncứu, tư duy tìm tòi khám phá, năng lực quan sát, phân tích, tổng hợp các hiệntượng xảy ra và giải thích có cơ sở khoa học các hiện tượng đó, góp phần củng
cố và vận dụng tri thức vào thực tiễn Kết hợp CNTT trong thuyết trình sẽ tạo
ra khả năng to lớn làm tăng chất lượng nhận thức của sinh viên, phát huy tínhtích cực nhận thức, hứng thú học tập; phát triển năng lực thực hành, hoạt động
Trang 20thực tiễn; tăng năng suất lao động của giáo viên và sinh viên; làm thay đổiphong cách tư duy và hành động của sinh viên trong quá trình dạy học.
Mặt khác, sử dụng CNTT trong thuyết trình bài giảng triết học còn cókhả năng giúp giáo viên có những thuận lợi cơ bản để trình bày bài giảng tinhgiản nhưng vẫn đảm bảo nội dung đầy đủ, sâu sắc và sinh động; điều khiểnquá trình nhận thức của sinh viên có hiệu quả; tạo điều kiện cho giáo viên kiểmtra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên được chính xác và đầy đủ hơn; giúpgiáo viên tổ chức điều khiển quá trình học tập của sinh viên một cách chủđộng, tích cực, đáp ứng được nhu cầu và hứng thú học tập của người học
Việc kết hợp phương pháp dạy học thuyết trình với phương pháp sửdụng công nghệ thông tin trong dạy học triết học là vô cùng quan trọng Mỗiphương pháp đều có mặt ưu và nhược điểm riêng của nó, qua đó sẽ pháthiện được sức mạnh của phương pháp thuyết trình và thế mạnh của phươngpháp sử dụng công nghệ thông tin
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THUYẾT TRÌNH BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN
1.2.1 Thực trạng sử dụng CNTT trong việc giảng dạy Triết học ở Trường cao đẳng sư phạm Lạng sơn.
Trường cao đẳng sư phạm Lạng sơn nằm trên địa bàn thành phố LạngSơn, là một tỉnh miền núi biên giới, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam
Trường CĐSP Lạng Sơn tiền thân là trường sư phạm mầm non,Trường sư phạm cấp I, Trường sư phạm cấp II, và trường bồi dưỡng cán bộquản lý hợp thành
Ra đời đúng vào năm đất nước bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhấtxây dựng XHCN (1961) Trường CĐSP Lạng sơn có nhiệm vụ đào tạo cácgiáo viên mầm non, nhạc hoạ, giáo viên tiểu học đáp ứng nhu cầu học tập củacon em các dân tộc tỉnh Lạng sơn Trường có các khoa: khoa tiểu học, khoa
xã hội, khoa tự nhiên, khoa bồi dưỡng, khoa mầm non và khoa ngoại ngữ
Trang 21Đây là trường đa cấp, đa hệ Học sinh, sinh viên của trường chủ yếu làcon em các dân tộc ít người sinh sống tại Lạng sơn.
Bộ môn Triết học là một trong các môn khoa học Mác- Lênin đượcgiảng dạy cho sinh viên hệ cao đẳng ở các ngành học Là môn khoa học độclập, có hệ thống phạm trù, phương pháp và đối tượng nghiên cứu riêng Mônhọc này góp phần rất quan trọng vào mục tiêu giáo dục đào tạo toàn diện chosinh viên, trực tiếp cung cấp những tri thức khoa hoc để xây dựng thế giớiquan, nhân sinh quan và phươmg pháp luận khoa học cho sinh viên Nó cùngvới các môn khoa học xã hội nhân văn và các hoạt động chính trị xã hội đểbồi dưỡng nhân sinh quan và đạo đức cách mạng cho học sinh, sinh viên
Cùng với sự nghiệp đổi mới của ngành, việc giảng dạy các môn khoahọc Mác- Lênin nói chung và việc giảng dạy môn Triết học Mác- Lênin nóiriêng đã thực hiện được nhiều đổi mới có ý nghĩa thiết thực, góp phần đáng
kể trong quá trình giáo dục đào tạo toàn diện, làm cho chủ nghĩa Mác- Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong nhà trường vàtrong đời sống tinh thần của toàn xã hội
Tổ bộ môn có 10 giáo viên tham gia giảng dạy ở các chuyên ngànhkhác nhau: Triết học, Kinh tế chính trị học, CNXHKH, Lịch sử Đảng và Tưtưởng Hồ Chí Minh Trong đó có 3 giảng viên đạt trình độ thác sĩ ở 3chuyên ngành (1 chuyên ngành Triết học, 1 chuyên ngành CNXHKH, 1chuyên ngành KTCT) 7 giáo viên ở trình độ đại học, trong đó 2 chuyênngành Lịch sử Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh, 2 giáo viên KTCT, 2 giáoviên Triết học, 1 giáo viên CNXHKH
Môn Triết học có 3 giáo viên giảng dạy trong đó 1 giáo viên có trình
độ thạc sĩ, 2 giáo viên trình độ đại học Với số lượng sinh viên đông nênviệc giáo viên giảng dạy ở phân môn này sang giảng dạy ở phân môn khác
sẽ đạt chất lượng không cao, không có nhiều thời gian chuẩn bị cho môn họcđược phân công giảng dạy
Trang 22Cùng với sự vận động và phát triển liên tục của nhà trường, quá trìnhdạy học môn Triết học đã có nhiều cố gắng và đạt được nhữnh kết quả nhấtđịnh Trong quá trình giảng dạy giáo viên đã không ngừng học hỏi, bồidưỡng chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quảgiảng dạy của giáo viên cũng như chất lượng học tập của sinh viên đối vớimôn học Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu giáo dục và đào tạo của nước
ta hiện nay thì trên thực tế cho đến nay vẫn chưa khắc phục được căn bảntình trạng yếu kém cả về nội dung và phương pháp giảng dạy nên hiệu quảgiảng dạy và học tập môn học này chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càngcao của sự nghiệp giáo dục
Để tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng CNTT&TT trong thuyết trìnhbài giảng Triết học nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên trườngCĐSP Lạng sơn, chúng tôi đã điều tra tình hình giảng dạy của giáo viên thôngqua sự phản hồi ngược của 260 sinh viên năm thứ nhất (K14) thuộc các khoa:Khoa Tự nhiên (61 sinh viên), Khoa Xã hội (35 sinh viên), Khoa ngoại ngữ(71 sinh viên), Khoa mầm non (29 sinh viên), Khoa tiểu học (64 sinh viên)
Qua thống kê số liệu đã được điều tra và nghiên cứu từ các thông tin
ngược của sinh viên về thực trạng giảng dạy và học tập môn Triết học của nhà trường, chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng 1.1:
ST
2 Giáo viên sử dụng chủ yếu phương pháp
Trang 23Từ kết quả thống kê trong bảng 1.1, chúng tôi nhận thấy: các giảngviên giảng dạy môn Triết học của Trường CĐSP Lạng sơn đều nhiệt tình cótinh thần trách nhịêm cao với nghề nghiệp.
Có 200/260 sinh viên được điều tra (chiếm tỷ lệ 76,9 %) đã đánh giácác thầy cô là những giảng viên giảng dạy nhiệt tình
Có 198/260 sinh viên được điều tra (chiếm tỷ lệ 76,2 %) cho rằnggiáo viên giảng dạy sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu, ít vậndụng thực tiễn, thậm chí vẫn còn tình trạng đọc cho sinh viên chép
Việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, có 28/260 (chiếm tỷ lệ10,8 %) nhận xét rằng giáo viên chưa sử dụng phương tiện dạy học hiện đại,đặc biệt là phương tiện dạy học hiện đại làm cho giờ học khô khan, kém hấpdẫn, sinh động và không hiệu quả
Việc kết hợp phương pháp thuyết trình với CNTT&TT trong giảngdạy có 15/260 (chiếm tỷ lệ 5,8 %) Hầu như giáo viên chưa sử dụng phươngtiên dạy học hiện đại nên chưa có sự kết hợp hai phương pháp này
Nhìn vào kết quả chúng tôi nhận thấy thực trạng giảng dạy môn Triếthọc ở Trường CĐSP Lạng sơn là giáo viên chưa có sự đổi mới phương phápdạy học, vẫn dạy học theo phương pháp truyền thống, phương pháp thuyếttrình là chủ yếu Qúa trình giảng dạy vẫn mang nặng truyền thụ mặt lýthuyết nhằm cung cấp những khái niệm, phạm trù, quy luật Vấn đề vậndụng lý thuyết vào thực tiễn giảng dạy môn Triết học hoặc đưa những vấn
đề mang tính thực tiễn vào làm sáng tỏ lý thuyết còn hạn chế
Ngoài kết quả trên, chúng tôi còn thu được những ý kiến khác của
sinh viên nhận xét về thực trạng giảng dạy có tính hấp dẫn, lôi cuốn của
giáo viên bộ môn Triết học Những ý kiến đó được thể hiện ở bảng 1.2:
Trang 24Nhìn vào bảng số liệu chúng ta thấy có 50/260 sinh viên có hứng thúnghe giảng (chiếm tỷ lệ 19,2%); mức độ bình thường có số lượng sinh viênlựa chọn nhiều nhất 159/260 sinh viên (chiếm tỷ lệ 62,2%); có 51/260 sinhviên đựoc hỏi lựa chọn mức độ không (chiếm tỷ lệ 19,6%).
Nhìn vào kết quả chúng ta thấy giờ giảng của giáo viên không thu hútđược hứng thú học tập của sinh viên
Thực tế dạy học chứng minh rằng, khi sinh viên có hứng thú với mônhọc thì kết quả học tập thu được thường rất cao, bởi khi đó các em dồn tất cảtâm lực, trí lực của mình để tìm hiểu thế giới tri thức đa dạng, phong phú củamôn học Ngược lại, nếu không khơi dậy được ở các em hưng thú với mônhọc thì kết quả thu được sẽ không đạt được như mong muốn Bởi vậy để khơidậy được sự hứng thú với môn học của sinh viên có nhiều việc phải làm đòihỏi sự nỗ lực, cố gắng của người giáo viên trong đó có sự kết hợp các phươngpháp, phương tiện dạy học làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn hơn
Nhiều sinh viên có ý kiến rằng, giáo viên nên đổi mới phương phápdạy học, cần cho sinh viên tham gia vào bài giảng nhiều hơn trong quá trìnhgiảng dạy; giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, tự đặt câu hỏi và trảlời nên sinh viên không được tham gia nhiều trong quá trình học; giáo viênnên cải tiến phương pháp dạy học, sử dụng nhiều phương tiện dạy học hiệnđại Giáo viên cần có cách giảng dạy dễ hiểu, không khô khan, nên liên hệthực tiễn nhiều hơn, lấy ví dụ hấp dẫn về các danh nhân, tình hình kinh tếchính trị, xã hội Việt Nam và thế giới…
Bên cạnh việc điều tra thông qua ý kiến của sinh viên, để có cái nhìntoàn diện chúng tôi còn trưng cầu ý kiến của 10 giáo viên giảng dạy trong tổ
bộ môn và giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Triết học về thực trạng sử
dụng các phương pháp giảng dạy môn Triết học ở Trường CĐSP Lạng Sơn ở bảng 1.3:
Trang 254 Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại 3 30
5 Kết hợp thuyết trình với CNTT&TT 3 30Theo thống kê trên bảng 1.3 chúng tôi nhận thấy: Có 60% ý kiến giáoviên đánh giá chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình, 60% kết hợp vấn đápđàm thoại, do đặc trưng môn học giáo viên phải giải thích những khái niệm,quy luật trừu tượng
Có 40% ý kiến giáo viên sử dụng phương pháp dạy học trực quan,30% ý kiến giáo viên đánh giá là có sử dụng các phương tiện dạy học hiệnđại Theo tôi tỷ lệ này mới phản ánh ở mức độ có sử dụng chứ chưa thườngxuyên vì: Thứ nhất, việc sử dụng phương tiện dạy học như máy chiếuOverhead, máy chiếu Projector chưa đạt hiệu quả cao; Thứ hai, do việc vậnchuyển các phương tiện dạy học còn khó khăn, phức tạp, trường chưa cóphòng đặc thù Với những lý do trên dẫn đến giáo viên ít sử dụng cácphương tiện dạy học, trừ những lúc thao giảng, hoặc dự giờ thường xuyên
Có 30% ý kiến đánh giá của giáo viên có kết hợp cả phương phápgiảng dạy thuyết trình với CNTT&TT trong giờ dạy Triết học Kết quả chothấy giáo viên chưa kết hợp thường xuyên các công nghệ mới đặc biệt làCNTT trong dạy học
Tóm lại, qua việc tìm hiểu thực trạng giảng dạy môn Triết học ởtrường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn, chúng ta thấy rằng: giáo viên tổ bộmôn ở Trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn đều nhịêt tình, yêu nghề; Cónhiều cố gắng trong dạy học bộ môn, có kết hợp các phương pháp dạy họcnhằm đạt kết quả dạy học Nhưng do đặc thù môn nên chủ yếu vẫn sử dụngnhóm phương pháp dùng lời nói: Thuyết trình kết hợp với đàm thoại Việccải, tiến đổi mới phương pháp dạy học vẫn còn hạn chế mặc dù đã có nhiều
cố gắng nhưng chưa đem lại hiệu quả thiết thực Vì thế chất lượng và kết
Trang 26quả học tập của sinh viên chưa cao Điều đó được thể hiện qua số liệu thống
sự phát triển giáo dục Vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải có sự thay đổi vềphương pháp dạy học, một mặt vừa nâng cao chất lượng dạy học, mặt khác,
sẽ đạt kết quả cao về chất lượng môn học, tạo hứng thú học tập của sinhviên đối với môn học
1.2.2 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn Triết học ở Trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn.
Để giúp cho việc giảng dạy của giáo viên được tốt hơn, một trongnhững điều kiện quan trọng là chúng ta phải nắm được nguyên nhân (cả chủquan và khách quan), chúng tôi đã tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên
và thu được kết quả thống kê ở bảng 1.5:
4 Việc đổi mới phương pháp dạy học còn khó
khăn, chưa thống nhất, chậm chuyển biến
Trang 27Qua kết quả thu được chúng ta thấy: có 80% ý kiến đánh giá của giáoviên về năng lực trình độ nhận thức của sinh viên còn hạn chế; có 70% ýkiến đánh giá của giáo viện cho rằng sinh viên còn thụ động, chưa tích cực;50% ý kiến đánh giá của giáo viên về phương tiện dạy học hiện đại thiếu;60% có ý kiến về việc đổi mới phương pháp dạy học còn khó khăn, chưathống nhất, chậm chuyển biến.
Như vậy nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của giáoviên và sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn là:
Nguyên nhân khách quan
Nằm trên dải đất vùng biên, từ lâu Lạng Sơn đã trở thành điểm hội tụgiao lưu kinh tế quan trọng phía Bắc Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
xã hội trong tỉnh, sự giao lưu buôn bán kinh tế, văn hoá của nước ta vớinước láng giềng ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề học tập của sinh viên
Tỷ lệ sinh viên của Trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn phần lớn làngười dân tộc thiểu số, (Thành phần dân tộc ít người trong HS-SV trongnăm học 2007 – 2008 chiếm 80,9% trong đó dân tộc Tày chiếm 47,6%;Nùng: 32,7%; Mường: 0,2%; Sán chỉ: 0,1%; Sán dìu: o,1%; Dao: o,9%; Caolan: 0,1% Trong đó dân tộc Kinh chỉ chiếm 17,8%; dân tộc Hoa: 0,5%)
Đặc biệt là dân tộc ở các vùng sâu, vùng xa, núi cao (Sinh viên đến từcác Huyện trong Tỉnh: Bắc Sơn, Bình Gia, Đình Lập, Cao Lộc…) nên hiểubiết xã hội, ngôn ngữ còn nhiều hạn chế; trình độ nhận thức tiếp thu khôngđồng đều Đây cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết quả học tập mônTriết học còn thấp
Để sinh viên nhận thức một cách dễ dàng những tri thức bộ môn Triếthọc là công việc khó khăn đối với giáo viên Đa số sinh viên chỉ coi mônTriết học là môn chung, chỉ học để đối phó, lấy điểm, thi cho qua, chứkhông phải xuất phát từ sự say mê, hứng thú với môn học
Trang 28Mặc dù trường rất quan tâm cung cấp các tài liêu tham khảo cho giáoviên, như cung cấp bốn đầu báo cho tổ bộ môn Ngoài ra những tài liệu họctập trong các đợt tập huấn chuyên môn đều được trường cung cấp kinh phí
để mua Nhưng về phía sinh viên, giáo trình vẫn còn thiếu, tài liêu thamkhảo chưa phong phú, chủ yếu là sinh viên tự tìm kiếm
Các thiết bị dạy học khác như màn hình, đầu video, casset, máy vitính, máy chiếu… đều được trang bị nhưng do hạn chế trường chỉ có 2 máychiếu nên không đáp ứng được nhu cầu mỗi khi giáo viên sử dụng Do chưa
có phòng dành riêng cho môn học nên mỗi khi sử dụng phương tiện dạyhọc hiện đại bản thân giáo viên phải mất rất nhiều thời gian
Nguyên nhân chủ quan.
Đội ngũ giáo viên của tổ bộ môn về mặt phương pháp, trình độ tưduy, năng lực giảng dạy, còn nhiều hạn chế
Trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học còn ở mức thấp, điều này ảnhhưởng không nhỏ đến khả năng nghiên cứu và sử dụng phương tiện dạy họchiện đại của giáo viên
Nói chung sự tiến triển trong việc đổi mới phương pháp còn chậm vàchưa đồng bộ Nhiều giáo viên vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình là chủyếu, mặc dù ai cũng nhận thấy hiệu quả của phương pháp này hiện nay là rấtthấp Người học cảm thấy giờ học khô khan, nặng nề, thụ động Nhưng việcchuyển sang các phương pháp khác lại gặp khó khăn về khối lượng kiếnthức của bài cần truyền đạt không đảm bảo Việc sử dụng phương pháp nêuvấn đề, hay phương pháp đàm thoại kết hợp với các phương pháp khác cònlúng túng
Việc giảm thời gian giảng dạy của giáo viên ở trên lớp, tăng thời gianhướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu, hướng dẫn thảo luận là nhằmnâng cao tính chủ động tích cực của người học Nhưng thực tế kết quả lại rấtthấp vì quỹ thời gian tự học của sinh viên quá ít Buổi sáng lên lớp học từ 5
Trang 29đến 6 tiết, trong tuần sinh viên phải học thêm 2 buổi chiều, những lớp đàotạo có nhiều thực hành thì mất đến 3 buổi chiều Những hoạt động chính trị,văn nghệ, thể thao cần huy động sinh viên, nên thời gian buổi tối học khôngđược nhiều.Vì thế việc giành thời gian cho đọc tài liệu tham khảo cho cácmôn học nói chung cũng như môn Triết học nói riêng là quá ít, hầu như làkhông có nên khi thảo luận sinh viên không có kiến thức để tranh luận.Thường sinh viên chỉ nhắc lại bài cũ, số sinh viên phát biểu ít, giờ thảo luậntrở nên nặng nề Hơn nữa, hầu hết các em sinh viên đều mới tốt nghiệp phổthông lên học cao đẳng, đại học nên chưa có phương pháp học phù hợp vớibậc học; chưa thực sự có ý thức tự giác tích cực tự học Đối với giáo viên,ngay cả việc chỉ dạy theo phương pháp thuyết trình cũng chưa có một giáoviên nào có khả năng cuốn hút người học, chưa tạo cho sinh viên sự thíchthú nghe giờ giảng của thầy.
Có thể nói, năng lực của giáo viên còn nhiều hạn chế, lượng kiến thứcchưa sâu rộng, chưa tạo được sự ngưỡng mộ, kính nể trình độ kiến thức củathầy
Về nghiệp vụ, năng lực nhớ của giáo viên có hạn, kỹ năng dùng ngônngữ, cách đặt và giải quyết vấn đề chưa tạo ra được sự cuốn hút người nghe.Tất cả những hạn chế đó của giáo viên đã khiến giờ giảng của môn Triết họckhông tạo được sự thích thú đối với sinh viên
Việc nắm bắt các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc dạy và học của bộmôn Triết học Mác – Lênin có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đó sẽ là cơ sở
để chúng ta có những tác động cần thiết giúp cho việc giảng dạy đạt đượckết quả như mục tiêu đề ra
Nói cách khác, khi không có sự am hiểu sâu sắc về những nguyênnhân gây ra thực trạng hiện tại, không đi vào tìm hiểu những khó khăn củagiáo viên và sinh viên thì chúng ta không thể có những biện pháp thiết thực
để nâng cao được chất lượng của môn học
Trang 301.2.3 Sự cần thiết kết hợp Công nghệ thông tin trong thuyết trình bài giảng Triết học nhằm phát huy tính tích cực học tập cho sing viên
Trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn.
Từ nghiên cứu thực trạng dạy và học môn Triết hoc Mác – Lênin ởTrường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn chúng ta thấy: Cần phải đổi mớiphương pháp dạy học truyền thống, khắc phục những hạn chế của nó, có sựkết hợp các phương pháp và phương tiện dạy học khác, đặc biệt là sử dụngcông nghệ thông tin và truyền thông sẽ làm cho việc dạy và học trở nên tíchcực hơn
Kết hợp sử dụng CNTT trong thuyết trình là sự đan xen của phươngpháp thuyết trình với phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy họchiện đại một cách phù hợp trong từng đơn vị kiến thức bài giảng
Để kết hợp tốt cần căn cứ vào nội dung tri thức bài giảng:
Như đã khẳng định, Triết học – môn khoa học của những khái niệm,phạm trù, quy luật chung nhất được rút ra trên cơ sở của những thành tựukhoa học và hoạt động thực tiễn
Tri thực Triết học là những tri thức lý luận và có tính khái quát cao.Song bất kỳ một lý luận nào dù trừu tượng và khái quát đến đâu, cũng đềuxuất phát từ thực tiễn và phản ánh thực tiễn, mà thực tiễn thì vô cùng phongphú và sinh động Mặt khác, giữa Triết học và các khoa học khác, đặc biệt làkhoa học tự nhiên, có mối quan hệ đặc biệt Các khái niệm, phạm trù cơ bản,các nguyên lý, quy luật do triết học nêu ra đều được khái quát hóa từ nhữngthành tựu của các khoa học tự nhiên và hoạt động thực tiễn Chúng khôngchỉ là kết quả của hoạt động trừu tượng hoá, mà còn là sản phẩm tổng hợpnhất định của sự phản ánh dưới dạng hình tượng cảm tính của con người về
hiện thực Vậy có thể đưa những lược đồ, sơ đồ, mô hình, sự mô phỏng, những hình ảnh tĩnh và động với cả âm nhạc vào để hỗ trợ và minh hoạ bằng CNTT cho bài giảng môn Triết học được không?
Trang 31Theo quan điểm của chúng tôi là hoàn toàn có thể Vấn đề là ở chỗđưa cái gì, ở thời điểm nào, liều lượng ra sao, sự kết hợp giữa các phươngpháp với ngôn ngữ, văn bản, hình ảnh như thế nào cho phù hợp nhằm làmcho kiến thức bài giảng trở nên dễ hiểu và đầy cảm xúc, có lý lẽ, có sứcthuyết phục, để cho lý luận có khả năng gắn chặt với cuộc sống, với thựctiễn khoa học và xã hội, phát huy tính tích cực trong dạy học triết học.Những vấn đề đó mới là những “nút thắt” trong đổi mới phương pháp giảngdạy Triết học ở thời điểm hiện nay.
V.L Lênin đã khẳng định: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứngcủa sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.[31,179.]
Cần nhấn mạnh rằng, việc sử dụng các phương pháp khác nhau với sự
hỗ trợ của CNTT một cách khoa học, hài hoà không hề loại trừ phương phápthuyết trình, mà trái lại, chúng làm cho thuyết trình trở nên tích cực hơn, hấpdẫn hơn Không phải các mô hình, sơ đồ, hình ảnh, âm thanh… mà chính là
ở nội dung thể hiện trong các mô hình, ký hiệu làm cho các kiến thức bịkhúc xạ, méo mó Mặt khác, chính cái “lôgic thuần tuý”, tức những kháiniêm, phán đoán, suy luận… nếu không được sử dụng cẩn thận sẽ “sai một
ly đi một dặm” bởi việc sử dụng ngôn từ và sự vi phạm những quy luậtlôgic Điều này cho thấy, sự sai lệch, sự khúc xạ các khái niệm, phạm trù,quy luật, nguyên lý, đều có khả năng xảy ra, nếu chúng ta vận dụng khôngphù hợp, dù chúng được diễn tả bởi bất kỳ hình thức nào
Sự thật, những giờ học mà chỉ có ngôn ngữ nói giữ vai trò thống trị vànhững trang sách dày đặc chữ viết đã làm cho sinh viên căng thẳng và khólòng “tiêu hoá” nổi Vì thế, nói đến Triết học nhiều người thường tỏ ra engại, cảm thấy nặng nề, phải nhăn trán suy tư, đau đầu nhức mắt
Với đặc điểm như vậy môn học sẽ làm hạn chế sự hứng thú hoạt độnghọc tập của sinh viên Hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động nhận
Trang 32thức có tính chất nghiên cứu Trong quá trình học tập mỗi sinh viên phải tựmình chiếm lĩnh khối lượng tri thức khoa học cơ bản và hệ thống kỹ năngnghề nghiệp, một lĩnh vực học tập rèn luyện mới, phức tạp, khó hơn rấtnhiều so với kiến thức mà họ đã được học ở bậc học phổ thông Hệ thống trithức đó bao gồm tri thức cơ bản, tri thức cơ sở của các chuyên ngành, trithức chuyên ngành, hệ thống kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp tương lai, vềnghiên cứu khoa học, kinh nghiệm sáng tạo và tự học Do vậy, khi tiến hànhhoạt động học tập, sinh viên không chỉ có năng lực tự nhận thức thôngthường mà còn phải có năng lực tự nghiên cứu, tìm kiếm sáng tạo Sinh viênphải được rèn luyện thói quen, nhu cầu học tập, tìm cho mình phương pháphọc tập có hiệu quả Muốn hoàn thành tốt quá trình nhận thức này thì mỗisinh viên phải phát huy cao độ vai trò chủ thể của mình.
Sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn phần lớn là người dântộc thiểu số, trình độ nhận thức, tiếp thu không đồng đều Đặc thù tri thứcmôn Triết học là những nguyên lý, quy luật, phạm trù trừu tượng, khái quátnên chỉ bằng việc thuyết trình, giải thích những nguyên lý, quy luật, phạmtrù của môn học thì sẽ gặp nhiều khó khăn đối với sinh viên nên việc kếthợp sử dụng CNTT với phương pháp thuyết trình sẽ giúp sinh viên dễ dànghiểu một cách sâu sắc hơn những tri thức trừu tượng của môn học Nhưng đểthực hiện được việc kết hợp đó, một yêu cầu đặt ra đối với giáo viên bộ mônTriết học là phải biết cách sử dụng thành thạo và phát huy được những ưuđiểm của các phương tiện dạy học hiện đại
Từ thực trạng trên cho thấy, việc giảng dạy môn Triết học của giáoviên ở Trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn chỉ chủ yếu thuần tuý sử dụngphương pháp dạy học truyền thống Mặc dù đã có những cải biến, đổi mớinội dung và phương pháp nhất định nhưng vẫn mang tính áp đặt, giáo điềukhiến cho quá trình dạy và học mang tính cứng nhắc, thiếu biện chứng Vớicách dạy chủ yếu chỉ chú ý đến việc truyền đạt thông tin làm cho người họctiếp thu một cách thụ động một chiều Vì thế, không phát huy được tư duy
Trang 33sáng tạo của sinh viên Người học chưa thể hiện được là vai trò của chủ thểnhận thức, chưa làm chủ được kiến thức của mình trong việc vận dụng cáckiến thức đó vào giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn cuộc sống đặt ra.Các tri thức môn học chưa chuyển hoá được thành tri thức của chính ngườihọc, chưa thực hiện được chức năng trang bị tri thức khoa học lý luận, chưatạo được niềm tin, định hướng chính trị cho người học.
Vì vậy, để khắc phục những hạn chế trong giảng dạy và học tập mônTriết học nhằm nâng cao chất lượng nhận thức môn học cần có những bước
đi và biện pháp phù hợp với khả năng tiếp cận của chủ thể sinh viên
Để có thể thực hiện được sự kết hợp giữa thuyết trình với công nghệthông tin cần phải căn cứ vào điều kiện và phương tiện dạy học của nhàtrường Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, giáo viên có thể sử dụngcác phương tiện dạy học hiện đại mà sinh viên của trường đã được tiếp xúcvới các phương tiện dạy học ấy: máy vi tính, máy chiếu đa năng Hiệu qủahọc tập của sinh viên đã được nâng cao nhờ vào sự hỗ trợ của các phươngtiện, thiết bị dạy học hiện đại này Do vậy, giáo viên giảng dạy môn Triếthọc Mác – Lênin có thể sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại với mụcđích nhằm kích thích hứng thú học tập của sinh viên, giảm bớt nhữngcông việc đơn điệu và nhàm chán trên lớp của giáo viên và sinh viên, kíchthích tư duy sáng tạo của sinh viên, giành nhiều thời gian cho sinh viênthảo luận ngay trên lớp, khắc phục những hạn chế và phát huy những ưuđiểm của các phương pháp dạy học khác Không có một phương pháp dạyhọc nào là phù hợp hoàn toàn với mọi học sinh Điều giáo viên cần làm là
sử dụng những phương pháp và phương tiện dạy học khác nhau để có thểkích thích được nhiều mặt khác nhau trong trí thông minh của người học Biếtkết hợp phương pháp thuyết trình với CNTT sẽ là một biện pháp quan trọnglàm cho quá trình giảng dạy và học tập môn Triết học Mác- Lênin đạt hiệuquả cao
Trang 34Kết luận chương 1
Từ nghiên cứu thực trạng của việc kết hợp công nghệ thông tin trongthuyết trình bài giảng Triết học ở Trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn chothấy: giáo viên chưa có sự kết hợp giữa hai phương pháp này trong dạy học,vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình dẫn đến hiệu quả môn họcchưa cao Sinh viên còn thụ động, chưa có hứng thú đối với môn học, chưaphát huy được tính tích cực học tập của sinh viên
Chính phương pháp giảng dạy của giáo viên có ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng học tập của sinh viên Sinh viên còn phụ thuộc nhiều vàogiáo viên, chưa chủ động, chưa tích cực trong học tập Phương tiện dạy họchiện đại sử dụng còn ít và chưa thường xuyên làm cho giờ học thiếu sinhđộng và hiệu quả học tập chưa cao
Qua nghiên cứu lý luận về sự kết hợp phương pháp thuyết trình vớiviệc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy sẽ đạt hiệu quả cao trongdạy học Triết học Mác – Lênin, góp phần phát huy được tính tích cực họctập cho sinh viên Việc làm đó vừa làm tăng hiệu quả của phương phápthuyết trình và phát huy tối ưu những ứng dụng của công nghệ thông tin vàtruyền thông trong dạy học
Sự kết hợp này trong dạy học Triết học sẽ làm cho phương phápthuyết trình cũng như nhiều phương pháp dạy học khác được tích cực hơn,làm hạn chế những nhựơc điểm của nó Đây là một hướng đổi mới quantrọng và tất yếu trong dạy học Triết học ở các trường Đại học và cao đẳngnói chung cũng như ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn nói riêng
Trang 352.1.2 Đối tượng thực nghiệm
Chúng tôi chọn đối tượng thực nghiệm là 2 lớp Khoa Tự Nhiên: 34sinh viên lớp K14A và 32 sinh viên lớp K14B làm lớp đôi chứng.Số lượngsinh viên đều là sinh viên năm thứ nhất
Thời gian tổ chức thực nghiệm là vào học kỳ I năm học 2007 – 2008
2.1.3 Giả thuyết thực nghiệm
Kết hợp sử dụng CNTT trong thuyết trình bài giảng Triết học, khi tiếnhành sẽ kích thích được hứng thú và phát huy được tính tích cực học tập, tưduy sáng tạo của sinh viên nhằm đạt hiệu quả cao Do vậy, sinh viên lớpthực nghiệm sử dụng phương pháp này sẽ đạt hiệu quả học tập cao hơn sinhviên lớp đối chứng
2.1.4 Tiến trình thực nghiệm
Thực nghiệm được tiến hành trong thời gian 2 tuần Chúng tôi tiếnhành thực nghiệm song song trong đó tương ứng với phương án thựcnghiệm (Kết hợp sử dụng CNTT trong thuyết trình bài giảng Triết học) làphương án đối chứng (chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình hoặc đàmthoại) Chúng tôi chia làm hai khối lớp, lớp thực nghiệm và lớp đối chứng,lớp thực nghiệm học theo phương án thực nghiệm, còn lớp đối chứng họctheo cách giảng thông thường
Trang 36Sau khi kết thúc thực nghiệm, chúng tôi tổ chức kiểm tra ở cả hainhóm thực nghiệm và đối chứng cùng một đề bài, cùng một thời gian Kếtquả các bài kiểm tra được phân tích và sử lý để tăng thêm tính khách quancủa quá trình thực nghiệm sư phạm.
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm qua các giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1 : Chuẩn bị thực nghiệm
Bước 1: Xây dựng giáo án kết hợp sử dụng CNTT trong thuyết trìnhbài giảng Triết học
Bước 2: Lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
*
Giai đoạn 2: Triển khai thực nghiệm
Bước 1: Khảo sát kết quả học tập ban đầu của hai lớp thực nghiệm vàđối chứng
Bước 2: tiến hành thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm bằng cách dạy cho sinh viên theo haigiáo án đã xây dựng cho hai lớp
Bước 3: Kiểm tra đánh giá kết quả thực nghiệm
* Giai đoạn 3: Xử lý theo kết quả thực nghiệm
Bước 1: Xây dựng tiêu chí và thang định giá
+ Kết quả học tập cao (xuất phát từ quan điểm là phát huy tính tíchcực học tập chỉ có ý nghĩa khi có đem lại kết quả cao trong học tập).Tiêu chínày được đánh giá theo thang điểm 10 hiện nay
+ Thái độ đối với việc học tập môn Triết học, đo bằng các mức độhứng thú Chúng tôi đã xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến sinh viên Qua đóbiết được sự hứng thú cũng như tính tích cực của các em với phương án thựcnghiệm đó là như thế nào
Bước 2: Xử lí kết quả thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành xử lý kết quả thực nghiệm bằng cách so sánh, đốichiếu kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng dựa trên tiêu chí
và thang định giá đã nêu ra
Trang 372.2 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM
Trước khi tiến hành tác động sư phạm theo mục tiêu thực nghiệm,chúng tôi tiến hành khảo sát trình độ ban đầu của sinh viên hai nhóm lớpthực nghiệm và lớp đối chứng Chúng tôi lấy kết quả điểm đầu vào của sinhviên để phân tích Sau khi xử lý chúng tôi thu được kết như sau:
Bảng 2.1 Kết quả tuyển sinh đầu vào của lớp K14A năm 2007.
Môn
Tổng số và tỷ lệ % sinh viên đạt điểm
SốSV
4→4
5điểm
4→4
5điểm
Chúng tôi tiến hành tác động sư phạm bằng cách một giáo viên giảngcho sinh viên lớp thực nghiệm bằng giáo án có sử dụng kết hợp Công nghệthông tin với thuyết trình đã được xây dựng Còn sinh viên lớp đối chứng sẽhọc theo cách thông thường
Trang 38Sau khi tiến hành tác động sư phạm để có kết quả chúng tôi đã chosinh viên 2 lớp thực nghiệm và đối chứng làm bài kiểm tra Yêu cầu đặt ra làsinh viên không chỉ nắm được kiến thức có sự tổng hợp hoá, khái quát hoá,trừu tượng hóa mà còn phải biết vận dụng sáng tạo những tri thức lý luậnvào thực tiễn cuộc sống.
2.2.1 Nghiên cứu nội dung và lựa chọn đơn vị kiến thức thực nghiệm
Nội dung chương trình Triết học Mác – Lênin trong giáo trình Triết họcdùng cho các Trường đại học và cao đẳng hiện nay theo quy định của của Bộgiáo dục và đào tạo gồm 11 chương.Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đã lựachọn những đơn vị kiến thức thuộc chương II: VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC vàchương VI: HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
*Lập kế hoạch bài dạy cho lớp thực nghiệm.
Thiết kế bài thực nghiệm 1
- Sinh viên biết xác định cái gì là vật chất cái gì không phải là vật chất
cả trong tự nhiên và xã hội
3 Về thái độ:
Trang 39- Sinh viên có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn về các hiện tượng tự
nhiên cũng như hiện tượng xã hội
II Đồ dùng và phương tiện dạy học
Đồ dùng và phương tiện dạy học là giáo trình, tài liêu tham khảo, máy
vi tính, máy chiếu Projector, phiếu trưng cầu ý kiến
III Những yêu cầu cần thực hiện
Trước khi tiến hành giờ dạy một tuần chúng tôi yêu cầu sinh viên
chuẩn bị đủ giáo trình để nghiên cứu Đồng thời chia lớp theo 5 nhóm học
tập (Mỗi nhóm từ 5 – 6 sinh viên) Các nhóm này phải đề ra kế hoạch tự
học, tự tổ chức tiến hành thảo luận nhóm theo những đơn vị kiến thức mà
giáo viên cung cấp
Hướng dẫn sinh viên tự đọc, nghiên cứu bài tới
Sinh viên chuẩn bị bài đầy đủ theo yêu cầu của giáo viên
Những vấn đề yêu cầu sinh viên cần chuẩn bị:
+ Quan niệm về vật chất của các nhà duy vật trước Mác, giá trị và hạn
chế của nó
+ Nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc của những quan điểm trước Mác về vật chất
+ Nội dung định nghĩa vật chất của Lênin và ý nghĩa phương pháp
luận của định nghĩa
IV Các hoạt động dạy học.
1 Giới thiệu bài học:
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, các nhà triết học đều phải giải quyết
câu hỏi xung quanh vấn đề: vật chất hay ý thức là bản chất của thế giới?
phải chăng vật chất – ý thức là hai phạm trù cơ bản, nền tảng xuyên suốt
lịch sử triết học, là cơ sở phân chia hai trường phái triết học cơ bản trong
lịch sử triết học
2 Dạy bài mới:
I.Vật chất và cácphương - Nêu vấn đề: Để nắm vững cơ sở triết học
Trang 40thức tồn tại của vật chất Mác- Lênin, chúng ta phải nhận thức đúng
đắn trước hết là phạm trù vật chất, mộtphạm trù cơ bản và nền tảng của CNDV
Nó chứa đựng thế giới quan và phươngpháp luận rất khái quát và sâu sắc
- Thời cổ đại: Vật chất - vật
thể, vật thể: nước, đất,
không khí, nguyên tử,
ête…là cơ sở đầu tiên của
tồn tại thế giới khách quan
? Quan niệm về vật chất của các nhà duyvật trước Mác?
Sv suy nghĩ, trao đổi và trảlời.SV cần đạt được:
- Thời cổ đại: đồng nhất vật chấtvới các vật thể cụ thể: đất nước,lửa, không khí, nguyên tử…Đỉnh cao là thuyết nguyên tửcủa Lơxip và Đêmôcrit Tuynhiên đây mới chỉ là phỏngđoán
- GV chiếu một số hình ảnh và quan điểmcủa các nhà DV cổ đại
- SV theo dõi và ghi chép
của vật thể: khối lượng
Vì theo họ khối lượng là
bất biến
- Thời cận đại XVIII): đồng nhất vật chất vớinguyên tử hay một thuộc tínhcủa vật thể: khối lượng (vì theo
(TKXVII-họ khối lượng là bất biến)
- GV chiếu hình ảnh và quan điểm củamột số nhà triết học thời kỳ phục hưng cậnđại
- GV kết luận: Trong lịch sử triết học,phạm trù vật chất được hiểu khác nhau,phụ thuộc vào sự phát triển nhận thức, tư
SV quan sát và ghi theo ý hiểu