Do đó bộ máy Nhà nớc Việt Nam theo Hiến pháp 1992 đợc tổ chức theo tinh thần: "Quyền lực nhà n-ớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nớc trong việc
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Có thể nói trong lịch sử t tởng chính trị của nhân loại, các t tởng vềnhà nớc luôn luôn giữ vị trí quan trọng nhất Trong số các t tởng ấy thì những
t tởng về quyền lực nhà nớc, về việc tổ chức và thực hiện quyền lực ấy lại giữ
vị trí cơ bản và trọng yếu, chúng bao giờ cũng để lại dấu ấn của mình trongcác thể chế chính trị nhất định Vì vậy, nghiên cứu lịch sử các t tởng chính trị
sẽ mang lại một ánh sáng cần thiết cho việc nghiên cứu nền chính trị và cácthể chế chính trị đơng đại
Ngợc dòng thời gian, ta thấy, t tởng phân chia quyền lực nhà nớc vốn
có mầm mống từ xa xa trong lịch sử, từ thời cổ đại, khi kiểu nhà nớc và phápluật đầu tiên tồn tại ở Hy Lạp, La Mã Chúng ta có thể tìm thấy những nét đạicơng của nó trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc Hy Lạp, La Mãthời kỳ cổ đại, trong các quan điểm chính trị của Aristote, Polybe Song t tởngnày đã gần nh bị lãng quên hoặc không hề đợc nhắc đến trong thời kỳ hngthịnh của chế độ phong kiến, khi mà chính thể quân chủ chuyên chế chiếm uthế ở hầu hết các nớc Chỉ đến khi quan hệ sản xuất phong kiến tan rã, quan hệsản xuất t bản chủ nghĩa bắt đầu hình thành và phát triển thì t tởng phân chiaquyền lực nhà nớc mới đợc phục hng và trở thành chỗ dựa vững chắc về mặt ttởng cho các phong trào đấu tranh nhằm tiêu diệt chính thể chuyên chế và chế
độ phong kiến, vì tự do, dân chủ của nhân dân
T tởng này đã đợc các nhà t tởng t sản thế kỷ XVII-XVIII mà điểnhình là John Locke và Montesquieu kế thừa, phát triển và hoàn thiện nó, coi
đó là cơ sở để bảo đảm quyền lực của nhân dân và chống chế độ độc tàichuyên chế Nó đã đợc thể hiện và áp dụng trong việc tổ chức bộ máy nhà nớccủa nhiều nớc trên thế giới ở các mức độ khác nhau, đợc ghi nhận một cách
Trang 2trang trọng trong các bản Tuyên ngôn và Hiến pháp của một số nớc Thậm chí cónớc đã coi phân quyền là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nớc củamình, là tiêu chuẩn và điều kiện của nền dân chủ Đó chính là sự thừa nhận vàkhẳng định giá trị của t tởng phân chia quyền lực nhà nớc trong thực tế.
Song tiếc rằng, trong một thời gian khá dài, ở nớc ta cũng nh ở các nớcxã hội chủ nghĩa khác, t tởng này không đợc chú trọng nghiên cứu và cũngkhông đợc đánh giá đúng giá trị của nó; vì nó bị coi là t tởng của giai cấp tsản Việc tổ chức của bộ máy nhà nớc ở những nớc này có lúc gần nh rậpkhuôn theo mô hình Nhà nớc Liên Xô và sự phân quyền hầu nh bị phủ nhận
Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc do Đại hội VI Đảng Cộngsản Việt Nam khởi xớng, với mục đích phục vụ nhiệm vụ cấp bách mà Đảng
ta đã vạch ra là: tăng cờng bộ máy nhà nớc, cải tiến tổ chức và hoạt động đểnâng cao hiệu quả quản lý của nó, t tởng phân chia quyền lực nhà nớc đã đợcquan tâm nghiên cứu để hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của nó và để vận dụng vàoviệc tổ chức bộ máy Nhà nớc ta ở mức độ phù hợp Do đó bộ máy Nhà nớc
Việt Nam theo Hiến pháp 1992 đợc tổ chức theo tinh thần: "Quyền lực nhà
n-ớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nớc trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và t pháp" [5] Theo
cách tổ chức này, bộ máy nhà nớc ta hiện tại tuy cha khắc phục đợc hết những
điểm hạn chế và sự yếu kém, song bớc đầu đã có những tiến bộ nhất định
Điều đó đã đợc thể hiện trong sự đánh giá của Đảng ta là: "Hoạt động của
Nhà nớc ta trên các lĩnh vực từ lập pháp, hành pháp đến t pháp đã có những tiến bộ rõ rệt Quản lý nhà nớc bằng pháp luật đợc tăng cờng Dân chủ xã hội chủ nghĩa đợc mở rộng ổn định chính trị đợc giữ vững" [5] Đó là kết quả ban
đầu của quá trình đổi mới nhận thức của chúng ta và chính vì vậy mà phơng ớng cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc ta nh trên đợc ghi nhậnlại trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng IX là:
Trang 3h-Xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa dới sự lãnh
đạo của Đảng Nhà nớc ta là một trụ cột của hệ thống chính trị và công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp [7]
Tuy nhiên, quan điểm trên vẫn chỉ dừng ở quan điểm, mục tiêu chínhtrị cho đến khi Nghị quyết của Quốc hội về việc sửa đổi bổ sung một số điềucủa Hiến pháp 1992 ra đời, lúc đó nó mới đợc pháp luật hóa, đợc chính thứcghi nhận trong luật cơ bản của Nhà nớc, trở thành nguyên tắc Hiến định trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc Cụ thể, Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa
đổi quy định: "Nhà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nớc
pháp quyề xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Quyền lực nhà nớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp"
Nh vậy, mục tiêu xây dựng Nhà nớc pháp quyền Việt Nam và nguyêntắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc theo mục tiêu ấy đã đợc Đảng vàNhà nớc ta khẳng định trong những văn kiện quan trọng nhất của đất nớc Đó
là một mục tiêu hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại
- xu thế phát triển dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn cầu
Một trong những yêu cầu cơ bản của nhà nớc pháp quyền là phải có sựphân chia quyền lực (hay nói theo ngôn ngữ của chúng ta là phân công, phânnhiệm rõ ràng) giữa các cơ quan nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lựclập pháp, hành pháp và t pháp, nhằm tạo ra sự độc lập và hiệu quả hoạt độngcao cho từng cơ quan nhà nớc Đồng thời phải có cơ chế thực hiện sự kiểmsoát quyền lực lẫn nhau và hợp tác với nhau giữa các cơ quan nhà nớc để qua
đó vừa hạn chế đợc sự lạm dụng quyền lực, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cácchủ thể mà đặc biệt là các cá nhân khỏi bị xâm hại từ phía quyền lực nhà nớc
Trang 4vừa bảo đảm sự thống nhất và hiệu quả cao của quyền lực nhà nớc Song làmthế nào để Nhà nớc thỏa mãn đợc yêu cầu này? Đó là một câu hỏi khá hóc búa
đối với nớc ta hiện nay Để có thể tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi này, thiếtnghĩ, việc tìm hiểu t tởng phân quyền, sự thể hiện và áp dụng t tởng đó trongthực tế thực hiện quyền lực nhà nớc ở một số nớc, từ đó tìm ra những điều cóthể tham khảo, học tập, rút kinh nghiệm, chắc chắn là một việc làm cần thiết.Với mong muốn góp phần mình vào công cuộc tìm kiếm nói trên và có thể
đóng góp ý kiến vào việc cải tiến tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nớc ta
cũng nh để phục vụ cho công tác giảng dạy, tôi mạnh dạn chọn đề tài: "T tởng phân chia quyền lực nhà nớc với việc tổ chức bộ máy nhà nớc ở một số nớc"
làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
T tởng phân quyền đã đợc nghiên cứu từ lâu và ở nhiều nớc trên thếgiới nh Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Trung quốc Còn ở nớc ta, việc tìm hiểu t tởngphân quyền cũng nh sự vận dụng nó vào tổ chức bộ máy nhà nớc cho đến naymới dừng ở mức độ khái quát nên cha có tác giả nào trình bày một cách cụ thể
và có hệ thống về vấn đề này Hiện tại mới chỉ có một số công trình đề cập
đến nó nh: "Thuyết: "Tam quyền phân lập" và bộ máy nhà nớc t sản hiện đại" của Viện Thông tin Khoa học xã hội; "Thử bàn lại học thuyết phân chia
quyền lực" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung; "Luật Hiến pháp và các định chế chính trị" của Lê Đình Chân Các tác phẩm này đã trình bày khái quát về
cội nguồn của thuyết "Tam quyền phân lập", nội dung cơ bản của nó, các quan điểm khác nhau về thuyết này, thực tế áp dụng thuyết "Tam quyền phân
lập" trên thế giới và yêu cầu phải có sự phân công phân nhiệm rạch ròi giữa
các cơ quan nhà nớc Việt Nam Song cha có tác giả nào trình bày một cách cụthể và có hệ thống về lịch sử của t tởng phân chia quyền lực nhà nớc cũng nh sựthể hiện và áp dụng t tởng này trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nớc trên thếgiới và ở Việt Nam Phải chăng cũng vì thế mà cho đến nay, việc tìm ra một cơ
Trang 5chế để thực hiện có hiệu quả sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhànớc trong việc thực hiện các quyền lực: lập pháp, hành pháp, t pháp và bảo
đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nớc ở nớc ta vẫn còn nhiều lúng túng,cha có câu trả lời thỏa đáng Hậu quả là vấn đề này hiện nay chủ yếu mớidừng ở nguyên tắc mà cha đợc cụ thể hóa về mặt pháp lý
3 Mục đích nghiên cứu của luận án
Thông qua việc xem xét một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống về
sự hình thành và phát triển của t tởng phân quyền, sự thể hiện và áp dụng nótrong thực tế tổ chức bộ máy nhà nớc ở một số nớc, luận án mong muốn:
+ Làm rõ lịch sử phát triển của t tởng phân quyền, nội dung, giá trị lýluận và thực tiễn, ảnh hởng và sức sống qua nhiều thế kỷ của nó
+ Chứng minh rằng t tởng phân quyền có thể áp dụng đợc và đã đợc ápdụng với các mức độ khác nhau trong tổ chức bộ máy của các nhà nớc cóchính thể khác nhau, từ Cộng hòa Tổng thống, Cộng hòa và Quân chủ Đạinghị đến Cộng hòa Hỗn hợp Và cả những nớc có chính thể Cộng hòa xã hộichủ nghĩa nh nớc ta - nơi mà việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc đ-
ợc căn bản dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ và thống nhất quyền lực - thìvẫn có thể vận dụng đợc và cần phải vận dụng một số luận điểm của t tởng ấyvào việc tổ chức bộ máy nhà nớc để nâng cao hiệu quả hoạt động của nó cũng
nh bảo đảm tất cả quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân
+ Từ kết quả nghiên cứu trên, có thể tìm ra một số giải pháp cụ thể đểcải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nớc ta hiện nay theo hớng vậndụng t tởng phân quyền mạnh mẽ và rõ rệt hơn
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu và lý giải các vấn đề sau:
Một là: Khái niệm về t tởng phân chia quyền lực nhà nớc, nội dung cơ
bản, sự xuất hiện và phát triển của t tởng này trong lịch sử thể hiện qua thực
Trang 6tiễn tổ chức bộ máy nhà nớc của một số nớc, qua quan điểm của một số nhà ttởng của các thời đại và một số cách hiểu về sự phân quyền.
Hai là: Sự thể hiện và áp dụng t tởng phân quyền trong tổ chức bộ máy
nhà nớc ở một số nớc t sản đại diện cho các mức độ áp dụng Trong thực tế, ttởng phân quyền đã đợc thể hiện và đợc áp dụng trong tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nớc ở hầu hết các nhà nớc t sản nhng với mức độ khác nhautùy theo hình thức chính thể của từng nớc Nhìn chung, các nhà nớc t sản hiệntại có một số dạng chính thể điển hình là Quân chủ và Cộng hòa Đại nghị,Cộng hòa Tổng thống, Cộng hòa Hỗn hợp Mức độ thể hiện và áp dụng t tởngphân quyền ở những nớc có chính thể giống nhau về cơ bản là tơng tự nhau.Thêm vào đó, số trang của luận án theo quy định lại rất hạn chế Do vậy, luận
án không cần và cũng không thể trình bày về sự thể hiện và áp dụng ấy ở tấtcả các nhà nớc t sản mà chỉ dừng ở một số nớc đại diện cho các mức độ ápdụng: cứng rắn, mềm dẻo và trung gian giữa hai mức độ ấy Còn ở các n ớc xãhội chủ nghĩa trớc khi bị khủng hoảng, t tởng này hầu nh không đợc thừa nhậnnên luận án không đề cập tới
Ba là: Sự thể hiện t tởng phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nớc
Việt Nam đợc biểu hiện trong các quy định của bốn bản Hiến pháp 1946,
1959, 1980, 1992 và một số biện pháp cải cách tổ chức và hoạt động của bộmáy Nhà nớc ta hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án bao gồm:
Thứ nhất: Quan điểm của học thuyết Mác về mối quan hệ giữa tồn tại
xã hội với ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thợng tầng mà chủyếu là quan điểm về vai trò và tác động của nhà nớc đối với sự phát triển củaxã hội, về vai trò của các t tởng và học thuyết đối với hoạt động thực tiễn
Thứ hai: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề đổi mới
toàn diện đất nớc mà cụ thể là vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của bộ
Trang 7máy Nhà nớc ta để nâng cao hiệu quả điều hành và quản lý xã hội của nónhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc và xây dựngchủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
Thứ ba: Các quan điểm khác nhau về hình thức nhà nớc nói chung,
hình thức chính thể nói riêng mà chủ yếu là quan điểm của học thuyết Lênin về vấn đề này
Mác-Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề trên, tôi chủ yếu dựa vào phơngpháp thu thập và xử lý thông tin, t liệu Khi xử lý, tôi sử dụng kết hợp các ph-
ơng pháp cụ thể: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và so sánh giữa các quan
điểm, các tài liệu, các ý kiến, nhận xét khác nhau của nhiều tác giả về cùngmột vấn đề, đồng thời kết hợp với suy nghĩ, quan điểm, vốn kiến thức sẵn có
và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân để lập luận, kiến giải các vấn đề đãnêu ra
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Thông qua việc trình bày một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thốngcác quan điểm về cách thức tổ chức bộ máy nhà nớc, các loại quyền lực nhà n-
ớc, khái niệm và chủ thể nắm giữ của từng quyền, mối quan hệ giữa các chủthể ấy của Aristote, Locke, Montesquieu và một vài tác giả khác, luận án làmsáng tỏ khái niệm t tởng phân chia quyền lực nhà nớc, lịch sử hình thành, pháttriển, nội dung, giá trị lý luận và thực tiễn và hạn chế của t tởng này, qua đógóp phần bổ sung, làm phong phú hơn, hoàn chỉnh hơn sự hiểu biết về quátrình hình thành và phát triển của t tởng phân quyền trong lịch sử, góp phần bổsung những tri thức mới và thúc đẩy sự phát triển của ngành khoa học nghiêncứu về lịch sử t tởng chính trị - pháp lý ở Việt Nam
Bằng việc trình bày một cách tổng quát về sự thể hiện và áp dụng t ởng phân quyền một cách sáng tạo vào tổ chức bộ máy nhà nớc ở một số nớc
t-đại diện cho các mức độ áp dụng và sự thể hiện t tởng phân quyền trong tổchức bộ máy Nhà nớc ta qua các Hiến pháp, luận án vừa góp phần khẳng định
Trang 8giá trị thực tiễn của t tởng phân quyền trong việc thiết kế các mô hình tổ chức
bộ máy nhà nớc, vừa nêu lên đặc trng cơ bản cũng nh u điểm và hạn chế củatừng mức độ áp dụng để có thể tham khảo, học tập, rút kinh nghiệm trong quátrình cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nớc ta
Nêu lên một số biện pháp cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nớc
ta theo hớng vận dụng rõ rệt và rộng rãi hơn những điểm hợp lý của t tởngphân quyền nhằm đạt tới mục tiêu xây dựng nhà nớc pháp quyền Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của luận án vừa cung cấp cơ sở khoa học vừa gợi ýcho các công trình nghiên cứu tiếp theo về cách thức tổ chức nhà nớc theo h-ớng xây dựng nhà nớc pháp quyền, đặc biệt là việc tìm ra cơ chế thực hiệnquyền lực nhà nớc phù hợp để vừa bảo đảm sự phân công quyền lực hay phânchia chức năng, thẩm quyền rõ ràng vừa bảo đảm sự phối hợp hoạt động giữacác cơ quan nhà nớc thực hiện các quyền lực lập pháp, hành pháp và t pháp
7 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu này cố gắng góp phần bổ sung, làm
phong phú thêm, hoàn chỉnh thêm sự hiểu biết về quá trình hình thành và pháttriển của t tởng phân chia quyền lực nhà nớc trong lịch sử, nội dung cơ bảncủa nó, sự thể hiện và áp dụng nó trong thực tế tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nớc Từ đó, tạo ra sự nhận thức đúng đắn và sự đánh giá giá trị của
nó một cách công bằng, đồng thời góp phần bổ sung những tri thức mới đểthúc đẩy sự phát triển ngành khoa học nghiên cứu về lịch sử t tởng chính trị -pháp lý ở nớc ta
Về mặt thực tiễn: Việc nghiên cứu này sẽ phục vụ cho việc tham khảo,
học tập kinh nghiệm tổ chức bộ máy nhà nớc của các nớc khác và việc rútkinh nghiệm về tổ chức bộ máy Nhà nớc ta trong các giai đoạn trớc nhằm tìm
ra những biện pháp phù hợp để cải cách bộ máy nhà nớc và thúc đẩy hoạt
động xây dựng pháp luật ở nớc ta hiện nay Vì vậy, luận án có giá trị làm tài
Trang 9liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu về cải cách bộ máy Nhà nớc ta,cho việc tham khảo, học tập, nghiên cứu của sinh viên luật và những ngờiquan tâm.
Tuy nhiên, với sự hạn chế về thời gian, về tài liệu tham khảo và về khảnăng nghiên cứu của bản thân, luận án này không thể tránh khỏi những điểmthiếu sót Rất mong nhận đợc sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy cô giáo vàcác đồng nghiệp
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ángồm 3 chơng, 10 mục
Trang 10kỳ hoạt động chung nào cũng đòi hỏi cần có ngời tổ chức, ngời chỉ huy vànhững kẻ phục tùng - cái vốn tạo thành nội dung sơ khai cũng nh nội dunghiện đại của phạm trù quyền lực Trong xã hội có giai cấp thì chủ thể có đủkhả năng chỉ huy và phối hợp hoạt động của tất cả các chủ thể khác chính lànhà nớc nên quyền lực nhà nớc là thứ quyền lực quan trọng nhất
Từ quan niệm chung nhất về quyền lực, có thể hiểu quyền lực nhà nớc
là sức mạnh của nhà nớc có thể bắt các chủ thể khác trong quốc gia (các tổchức, cá nhân, giai cấp, tầng lớp) phải phục tùng ý chí của nó Nhờ có quyềnlực này mà nhà nớc có đủ khả năng làm dịu xung đột giai cấp hoặc giữ choxung đột ấy ở trong vòng một "trật tự" nhất định để xã hội có thể tồn tại vàphát triển đợc Cũng nhờ có quyền lực đó mà nhà nớc có thể thực hiện và bảo
vệ đợc quyền lợi và địa vị thống trị của giai cấp thống trị, có thể tổ chức và
Trang 11quản lý xã hội, thiết lập, củng cố, bảo vệ trật tự và sự ổn định của xã hội, làmcho xã hội phát triển theo chiều hớng mà nó mong muốn Thông thờng Hiếnpháp đa số các nớc đều tuyên bố quyền lực nhà nớc xuất phát từ nhân dân, donhân dân ủy quyền cho nhà nớc nên đợc thực hiện nhân danh nhân dân và đạidiện cho lợi ích của toàn xã hội Song thực tế quyền lực nhà nớc xét về bảnchất chủ yếu là quyền lực của giai cấp thống trị và một phần là quyền lực xãhội, ở một mức độ nhất định, quyền lực nhà nớc cũng chịu ảnh hởng từ phíacác lực lợng xã hội, tổ chức xã hội Do vậy, khi hoạt động trớc hết vì lợi íchcủa một giai cấp hay một liên minh giai cấp nhất định, nhà nớc phải tính tớilợi ích của các giai cấp tầng lớp khác và khi có tính độc lập nhất định, nó cóthể thực hiện một số chức năng trọng tài trong cuộc cạnh tranh giữa các lực l -ợng không thống nhất; nhà nớc còn phải nhân danh toàn quốc gia dân tộc đểthực hiện những hoạt động nhằm bảo vệ công lý, bảo đảm trật tự an toàn và ổn
định xã hội, bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng Quyền lực nhà nớc chỉ docác cơ quan nhà nớc thực hiện Muốn cho quyền lực này đợc thực hiện mộtcách có hiệu quả thì phải tìm cho nó một hình thức tổ chức và phơng phápthực hiện phù hợp Việc tìm kiếm ấy đã trở thành trung tâm chú ý của tất cảcác nhà t tởng chính trị tiến bộ của loài ngời từ khi nhà nớc ra đời tới nay Vìthế, trong các t tởng chính trị, vấn đề hình thức tổ chức và thực hiện quyền lựcnhà nớc bao giờ cũng là vấn đề trọng tâm, cơ bản và quan trọng nhất Hìnhthức ấy đợc gọi bằng những cái tên rất khác nhau Platon (427-374 tr CN) gọi
đó là những hình thức chính trị, Aristote (384-322 tr CN) gọi nó là hình thứcchính phủ, Bertrand Russell gọi là hình thức chính quyền, còn chúng ta gọi nó
là hình thức chính thể
Trong các nhà nớc có hình thức chính thể khác nhau, cách thức thựchiện quyền lực nhà nớc rất khác nhau ở các nớc quân chủ chuyên chế, toàn
bộ quyền lực cao nhất của nhà nớc từ lập pháp, hành pháp đến t pháp đều tậptrung trong tay nhà vua Vua đợc mệnh danh là Thiên tử nên quyền lực của
Trang 12vua là vô hạn, là tối cao và bất khả xâm phạm Mọi mệnh lệnh, chiếu chỉ, ýchỉ, thậm chí khẩu dụ của nhà vua đều có giá trị bắt buộc phải tuân theo, đều
là pháp luật nên pháp luật chủ yếu là sự thể hiện ý chí của nhà vua Các quanchức nhà nớc - những ngời tổ chức thực hiện các mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhàvua đều do vua cắt cử và bãi chức Vua cũng là vị quan tòa tối cao để phán xửcác vụ án quan trọng nhất Việc làm của các quan chức và của thần dân có thể
đợc vua xem xét đúng sai, tùy công mà vua thởng, vua ban lộc, tùy tội mà vuaquyết định hình phạt Khi vua "băng hà", quyền lực của vua phải đợc truyền
kế một cách nghiêm ngặt theo trật tự "cha truyền con nối", để đảm bảo sự dàilâu của vơng triều, của "cơ nghiệp tổ tông" ở những nớc quân chủ hạn chế,quyền lực của vua bị hạn chế bởi các thế lực khác nhau (cơ quan đại diện củacác đẳng cấp, nghị viện hoặc hiến pháp) và trong những lĩnh vực nhất định.Nếu nh trong chính thể Quân chủ Đại diện đẳng cấp, vua chỉ phải tham khảo ýkiến của cơ quan đại diện đẳng cấp khi tăng thuế, thay đổi luật hoặc ban hànhluật mới thì trong chính thể Quân chủ Nhị hợp, quyền lực của vua bị hạn chếtrong lĩnh vực lập pháp (quyền lập pháp thuộc về nghị viện) và t pháp (quyền
t pháp thuộc về tòa án), song lại đợc mở rộng trong lĩnh vực hành pháp Vuavừa đứng đầu quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ, nắm toàn quyền hành pháp.Các bộ trởng do vua bổ nhiệm và bãi nhiệm, chịu trách nhiệm trớc vua nên đ-
ợc coi là bộ trởng của vua Còn trong chính thể Quân chủ Đại nghị, quyền lựccủa vua bị hạn chế trong cả ba lĩnh vực, quyền lập pháp do nghị viện thựchiện, quyền hành pháp đợc thực hiện bởi chính phủ mà đứng đầu là thủ tớng,còn quyền t pháp đợc thực hiện bởi tòa án Thẩm quyền và mối quan hệ giữacác cơ quan trên đợc quy định trong hiến pháp Chức vị vua chỉ còn mang tínhchất truyền thống, nghi lễ và tợng trng vì vua không trực tiếp giải quyết cáccông việc của nhà nớc mà chỉ đóng vai trò chính thức hóa các hoạt động củanhà nớc
Trong các nhà nớc t sản có chính thể cộng hòa, các loại quyền lực lậppháp, hành pháp và t pháp của nhà nớc thờng đợc trao cho các cơ quan khác
Trang 13nhau là nghị viện, tổng thống, chính phủ và tòa án Các cơ quan này có thểchung hoặc không chung nhân viên với nhau, có thể độc lập hoặc chịu tráchnhiệm lẫn nhau, có thể kiềm chế và kiểm soát lẫn nhau, hoặc kiềm chế và đốitrọng với nhau trong hoạt động theo nguyên tắc "quyền lực ngăn cản quyềnlực" Còn ở các nhà nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây thì quyền lực nhà nớc đợccoi là tập trung thống nhất trong tay cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân,
do nhân dân trực tiếp bầu ra thông qua tuyển cử phổ thông đầu phiếu Quyềnlực của cơ quan này là tối cao vì trực tiếp nhận đợc từ nhân dân Song nó chỉthực hiện quyền lực lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất n-
ớc, giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nớc Nó lại tổ chức ra các cơ quantrung ơng khác nh nguyên thủ quốc gia, chính phủ, tòa án nhân dân tối cao,viện kiểm sát nhân dân tối cao để các cơ quan ấy thực hiện quyền lực nhà nớctrong những lĩnh vực còn lại Vì vậy, các cơ quan nhà nớc khác ở trung ơng
đều phải chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trớc cơ quan đại diện cao nhấtcủa nhân dân hay cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nớc và chịu sự kiểm tragiám sát của cơ quan này
Tóm lại, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớc trong thực
tế rất đa dạng và phong phú Song tựu trung lại có thể khái quát thành hai cơ
chế cơ bản, đó là tập quyền và phân quyền Tập quyền có nghĩa là quyền lực
cao nhất của nhà nớc thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan và cá nhân hoặccơ quan ấy có thể chi phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ nhà n-
ớc hoặc các cơ quan nhà nớc khác Còn phân quyền có nghĩa là quyền lực nhà
nớc đợc phân tách thành các loại lập pháp, hành pháp, t pháp và đợc phân chiacho các cơ quan nhà nớc khác nhau, cơ quan này thực hiện quyền lực lậppháp, cơ quan kia thực hiện quyền lực hành pháp và quyền lực t pháp thì đợctrao cho cơ quan thứ ba Các cơ quan ấy có thể chung hoặc không chung nhânviên với nhau, ngang bằmg nhau và khá độc lập với nhau hoặc phụ thuộc nhau
ở một mức độ nhất định, có thể chịu trách nhiệm trớc nhau, trong hoạt động
Trang 14có thể kiềm chế, kiểm soát thậm chí đối trọng với nhau song lại phối hợp vớinhau để tạo nên sự thống nhất của quyền lực nhà nớc
Xem xét lịch sử của nhà nớc ta thấy, từ khi nhà nớc ra đời đến nay,cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớc có sự biến đổi rất lớn Mộttrong những nguyên nhân dẫn đến điều đó là do sự trăn trở trong t duy của loàingời nhằm tìm kiếm một mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớcthích hợp để có thể phát huy những tác động tích cực và giảm thiểu đến mứcthấp nhất những tác động tiêu cực của nhà nớc đối với xã hội Sở dĩ loài ngờiluôn phải trăn trở, tìm kiếm mô hình đó vì thuở mới ra đời, nhà nớc có côngrất lớn trong việc cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa của sự tàn sát lẫn nhau,khỏi nguy cơ của sự tuyệt chủng Nhng trong quá trình tồn tại của mình, nhànớc đã có thời kỳ bị tha hóa nghiêm trọng, làm cho nó từ một tổ chức xuấthiện do nhu cầu khách quan của sự tổ chức và quản lý xã hội có giai cấp nhằmduy trì sự tồn tại của một cộng đồng thành công cụ đắc lực và hữu hiệu đểphục vụ lợi ích và quyền thống trị của một cá nhân hoặc một nhóm ngời trongxã hội, thành công cụ đàn áp, nô dịch đại đa số nhân dân lao động, gây ra cho
họ và cho toàn nhân loại biết bao khổ đau và bất hạnh, dẫn đến những bi kịchcủa lịch sử Tuy vậy, nhà nớc vẫn cần thiết và ngày càng cần thiết đối với xãhội cho đến khi nó bị tiêu vong theo quan điểm của Mác Vì thế, những nhà ttởng tiến bộ, đại diện cho lợi ích và khát vọng của quần chúng lao khổ luôn tduy, trăn trở để tìm kiếm một mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớcthích hợp nhằm tạo ra và giữ gìn sự công minh, sự tốt đẹp của nhà nớc, làmcho hoạt động của nhà nớc biến đổi theo chiều hớng dân chủ, tiến bộ và nhân
đạo, thừa nhận và bảo đảm tự do cho mỗi công dân, vì lợi ích chung của cảcộng đồng và giảm bớt sự khổ đau, bất hạnh của con ngời Một trong nhữngkết quả tốt đẹp, có giá trị của sự trăn trở, t duy ấy chính là sự xuất hiện và pháttriển của t tởng phân chia quyền lực nhà nớc- một trong những giá trị quý báutrong kho tàng lịch sử t tởng chính trị - pháp lý của nhân loại
Trang 151.2 Sự xuất hiện và phát triển của t tởng phân chia quyền lực nhà nớc
"T tởng phân chia quyền lực nhà nớc" - còn gọi tắt là T tởng phân
quyền - là tổng thể các quan điểm về việc chia tách quyền lực nhà nớc thành
các loại quyền lực khác nhau, về cơ chế vận hành của từng loại quyền lực vàmối quan hệ theo hớng ngăn cản, kiềm chế, kiểm soát hoặc đối trọng với nhaugiữa các loại quyền lực ấy trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nớc Nóimột cách cụ thể, đó là tổng thể các quan điểm đề cập đến việc phân táchquyền lực nhà nớc thành những loại quyền lực có tên gọi, nội dung và vị tríkhác nhau, đợc trao cho các chủ thể khác nhau thực hiện và trong quá trìnhhoạt động, các chủ thể ấy có thể kiềm chế, ngăn cản, kiểm soát lẫn nhau hoặc
đối trọng với nhau song lại phối hợp với nhau để vừa bảo đảm sự kiểm soátquyền lực nhà nớc nhằm ngăn chặn sự độc tài chuyên chế, bảo vệ tự do củacông dân, vừa bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nớc
Việc nghiên cứu t tởng này trên thế giới đã có từ thời cổ đại, nhng nómới đợc xúc tiến ở nớc ta từ sau công cuộc đổi mới trở lại đây Trong sách báo
pháp lý nớc ta t tởng này đợc đề cập đến với các tên gọi nh: Thuyết "Tam
quyền phân lập", Thuyết "Phân quyền", Thuyết "Phân chia quyền lực", "Học thuyết phân chia quyền lực", " Nguyên tắc phân chia quyền lực", "Nguyên tắc tam quyền phân lập", "Nguyên tắc phân quyền" Điều này đã đợc giải thích
nh sau: "Thuyết "Tam quyền phân lập" là tên gọi của thuyết "phân quyền" mà
trong tiếng Việt đã quen dùng qua âm Hán-Việt: "Shanquánfenli" Ngời ta cũng còn gọi thuyết này là "Nguyên tắc tam quyền phân lập", "Nguyên tắc phân quyền" [75, tr 5] Trong một số tác phẩm dịch từ tiếng nớc ngoài nh:
"Những vấn đề căn bản của chính trị" của Leslie Lipson, "Những cách diễn
giải hiện nay về thuyết phân quyền ở Phơng Tây" của Marsenco, t tởng này
đ-ợc đề cập đến với các tên gọi nh "Thuyết phân quyền", "Học thuyết phân
quyền" Song nếu tìm hiểu về cội nguồn của nó, có thể thấy những cách gọi
Trang 16trên là do ngời đời sau đặt ra căn cứ vào nội dung cơ bản của t tởng này, còntrong thực tế, những ngời mà tên tuổi của họ luôn gắn liền với t tởng này hayvẫn đợc coi là những ngời đặt nền móng, xây dựng và phát triển nó nhAristote, Locke, Montesquieu thì lại không hề nhắc đến các tên gọi trên trongcác tác phẩm của họ Chẳng hạn, Aristote cho rằng: có ba bộ phận trong tất cảcác nhà nớc, đó là Hội nghị nhân dân (The Public Assembly), các viên chứcnhà nớc (The officers of the state) và cơ quan tòa án (The JudicialDepartment) Sau đó ông trình bày về ba bộ phận này và đề cập một cách rấtsơ lợc về mối quan hệ giữa ba bộ phận đó mà không hề nhắc đến từ "phân
quyền" hay "phân chia quyền lực" Trong tác phẩm "Hai chuyên luận về chính
quyền" (Two Treatises of Government), ở Chơng XII Quyển 2 với tiêu đề: "Về quyền lực lập pháp, hành pháp và liên bang của nớc Cộng hòa"(Of the
Legislative, Executive, and Fedrative Power of the Commonwealth), Locketrình bày sơ qua về nội dung, đặc tính của từng loại quyền lực trên ở các ch-
ơng khác, ông trình bày về giới hạn của quyền lực lập pháp, về sự phụ thuộccủa các quyền lực của nớc Cộng hòa Nhng trong cả tác phẩm, ông không hềnhắc đến cụm từ "phân quyền" hay "phân chia quyền lực" Montesquieu cũng
vậy, ông viết: "Trong mỗi chính quyền đều có ba thứ quyền lực: quyền lập
pháp, quyền thực hiện những việc dựa vào luật quốc tế và quyền thực hiện những việc dựa vào luật dân sự Chúng ta sẽ gọi quyền lực sau cùng là quyền
t pháp và quyền kia một cách giản dị là quyền hành pháp của nhà nớc" [87,
tr 151] Sau đó, ông đề cập đến nội dung cụ thể của từng loại quyền lực, vị trí
và mối quan hệ giữa các loại quyền lực ấy
Nh vậy, rõ ràng rằng các tác giả trên không hề đề cập đến các cụm từ
"phân chia quyền lực", "phân quyền" hoặc "tam quyền phân lập" mà họ chỉ
quan niệm rằng trong mỗi nhà nớc hay mỗi quốc gia đều có các loại quyền lựckhác nhau hoặc các bộ phận (cơ quan) thực hiện những chức năng khác nhau
và cần phải chia tách giữa các loại quyền lực hay các bộ phận ấy, không cho
Trang 17chúng nhập lại với nhau Tức là các thứ quyền lực trên không thể trao chocùng một chủ thể mà phải trao cho các chủ thể khác nhau thực hiện Hoặc các
bộ phận trên phải có cách thức tổ chức và các chức năng nhiệm vụ tách biệtvới nhau Tuy nhiên, theo chúng tôi, tất cả những tên gọi trên đều cha thật
chính xác và phù hợp Thiết nghĩ tên gọi "T tởng phân chia quyền lực nhà
n-ớc" với cách hiểu nh đã đề cập là hợp lý hơn bởi những lý do sau:
Thứ nhất, gọi là "Thuyết phân quyền" thì có thể hiểu đó là một hệ
thống các quan điểm nhằm giải thích về sự phân chia quyền lực nhà nớc Gọi
là "Học thuyết phân quyền" thì có thể hiểu đó là toàn bộ những ý kiến, lý lẽ
đ-ợc trình bày một cách có hệ thống về sự phân chia quyền lực nhà nớc Các têngọi này chỉ phù hợp khi dùng để chỉ t tởng của Locke và Montesquieu vì chỉ
đến họ, t tởng phân quyền mới đợc đề cập đến một cách có hệ thống, từ lý dophải chia tách quyền lực nhà nớc, các loại quyền lực nhà nớc, nội dung, đặctính, vị trí, chủ thể nắm giữ của từng loại quyền lực và quan hệ giữa chúng.Còn khi xem xét về t tởng của các tác giả trớc đó nh Aristote, Polybe thì
không thể dùng tên "Thuyết phân quyền" hoặc "Học thuyết phân quyền" vì
cách đề cập của họ còn sơ khai, mới chỉ mang tính chất đặt nền móng cho t ởng này mà cha trình bày đầy đủ và có hệ thống về nó Vì thế, dùng tên gọi
t-"T tởng phân quyền" với nghĩa đó là toàn bộ những quan điểm của một ngời
về sự phân chia quyền lực nhà nớc thì sẽ phù hợp hơn và bao quát hơn khixem xét t tởng của tất cả các tác giả đề cập đến vấn đề này
Thứ hai, dùng tên "Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nớc" hay
"Nguyên tắc phân quyền" cũng không hoàn toàn phù hợp, không bao quát bởi
lẽ: nó chỉ đợc coi là nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nớc khi nó là nguyên lý, ttởng chỉ đạo có tính chất là cơ sở cho toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nớc Nhng trong thực tế, có nớc tuyên bố nó là nguyên tắc cơbản trong tổ chức bộ máy nhà nớc của họ (ví dụ nh Nhà nớc Mỹ) thì tên gọi
"Nguyên tắc phân quyền" là hoàn toàn phù hợp Có nớc mặc dù trong tổ chức
Trang 18bộ máy nhà nớc có thể hiện một số luận điểm của t tởng phân quyền, song lạikhông tuyên bố hoặc thừa nhận nó là nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nớc thì
tên gọi "Nguyên tắc phân quyền" sẽ không phù hợp.
Thứ ba, tên gọi "Thuyết "Tam quyền phân lập" hoặc "Nguyên tắc
"Tam quyền phân lập" tỏ ra là ít phù hợp nhất bởi lẽ nó chỉ đúng khi đề cập
đến t tởng của Montesquieu và tổ chức bộ máy nhà nớc của những nớc Cộnghòa Tổng thống, còn khi đề cập đến t tởng của các tác giả khác hoặc tổ chức
bộ máy của các nhà nớc khác thì không thể dùng các tên gọi đó
T tởng phân chia quyền lực nhà nớc có quá trình hình thành và pháttriển khá lâu dài, từ thời cổ đại cho tới thời kỳ Cách mạng T sản, nội dung của
nó đợc thể hiện ngày càng rõ ràng, cụ thể, có hệ thống và khoa học hơn Toàn
bộ quá trình ấy sẽ đợc trình bày cụ thể trong phần dới đây
Trong lịch sử hình thành Athenes có thời kỳ Thành bang này do nhà
độc tài Peisistratus cai trị, ông ta nắm mọi quyền hành Tới đời các con ông ta,chế độ này bị sụp đổ và nhân dân giành đợc quyền tự trị thông qua các hộinghị công dân, song quý tộc thị tộc vẫn là tầng lớp có thế lực nhất về chính trị
và kinh tế Bộ máy nhà nớc gồm ba bộ phận chủ yếu là: Hội đồng quý tộc hayHội đồng trởng lão, Quan chấp chính và Hội nghị công dân Nền dân chủ này
đã đợc củng cố và mở rộng thêm nhờ những cải cách của Solon vào năm 549
tr CN và của Clisthenes vào năm 508 tr CN Nhờ thế, bộ máy nhà nớcAthenes đã có thêm các cơ quan mới nh: Hội đồng nhân dân, Tòa án nhândân, Hội đồng 10 tớng lĩnh, song quyền lực nhà nớc vẫn chủ yếu tập trung
Trang 19trong tay Hội đồng trởng lão, quyền hành của các hội nghị công dân bị hạnchế bởi cơ quan này.
Đến Thế kỷ thứ V tr CN, chính quyền ở Athenes về tay những ngời
dân chủ cấp tiến nhất mà đứng đầu là Ephialtes Ông nổi tiếng là "một nhà
chính trị trung thành với Tổ quốc và cơng trực không ai mua chuộc đợc"
(Aristote) Xuất thân từ một gia đình quý tộc bị phá sản, sống gần gũi vớiquần chúng, ông trở thành ngời bạn của dân nghèo Với mong muốn dân tự dophải làm chủ đất nớc, tất cả quyền lực đều thuộc về dân chúng, họ thực hiệnquyền đó bằng cách tham gia vào các công việc công và có quyền đối với cácviên chức của họ nên năm 462 tr CN, đợc sự trợ giúp của Pericles, Ephialtes
đã tiến hành một cuộc cải cách dân chủ nhằm đánh đổ thế lực của Hội đồngtrởng lão - một cơ quan phản dân chủ về thành phần cũng nh về chức năng vớiquyền hạn khá to lớn của nó Ông đã đa ra thông qua tại Hội nghị công dânmột đạo luật tớc hết mọi quyền chính trị và t pháp của Hội đồng trởng lão (trừquyền xét xử các vụ án tôn giáo của nó) và trao quyền ấy cho các cơ quan dân
cử Quyền lập pháp thuộc về Hội nghị nhân dân Hội nghị này họp ngoài trời
và họp hàng tháng, mỗi năm phải họp ít nhất 10 lần, tất cả các công dân đềuphải tham gia Hội nghị Hội nghị sẽ ban hành tất cả các đạo luật, các nghị
định và có quyền quyết định lu đày một quan chức bị mất tín nhiệm TrongHội nghị, mọi công dân đều có quyền đề nghị thông qua bất kỳ một dự ánluật, nghị định nào hoặc đề nghị bãi bỏ một văn bản pháp luật hiện hành nào
đó Song nội dung của các văn bản đợc đề nghị phải phù hợp với pháp luậthiện hành Ephialtes còn quy định chế độ trách nhiệm của những nhà lập pháptrớc nhân dân về hậu quả của những văn bản mà họ đề nghị thông qua ở Hộinghị Trong vòng một năm sau khi luật hoặc nghị định đợc thông qua, ngời đềxớng hoặc chủ trơng thông qua văn bản đó vẫn có thể bị truy tố về tội vi hiến
và bị trừng phạt rất nặng nếu văn bản đó gây tổn hại đến lợi ích của quốc giahay quyền lợi của công dân Theo Ephialtes, bằng những quy định nh trên cóthể đảm bảo xây dựng một nhà nớc pháp trị
Trang 20Quyền hành pháp thuộc về Hội đồng nhân dân gồm 500 ngời Đó làcác viên chức hành chính, họ đợc tuyển lựa theo một trong hai cách: bầu cửhoặc rút thăm Hội đồng đợc chia thành 10 ủy ban, mỗi ủy ban điều khiểncông việc của Hội đồng trong 1/10 năm, nó giải quyết những công việc thôngthờng, lúc có việc quan trọng thì họp toàn thể Hội đồng Hội đồng đợc bầu lạimỗi năm một lần và không ai có quyền tham gia Hội đồng quá hai năm nênmỗi công dân đều có hy vọng tham gia Hội đồng một lần trong đời mình, đểlần lợt vừa là ngời thống trị vừa là ngời bị thống trị.
Quyền t pháp thuộc về Tòa án nhân dân gồm 6000 ngời do tất cả các
bộ lạc bầu ra hàng năm để vừa làm thẩm phán, vừa làm bồi thẩm Mỗi lần cần
xử một vụ án thì họ lại bắt thăm để chọn lấy một số thẩm phán Ngoài ra còn
có Hội đồng 10 tớng lĩnh do 10 bộ lạc cử ra Hội đồng này lúc đầu chỉ nắmquyền chỉ huy quân sự Ngời chỉ huy tối cao do 10 tớng lĩnh luân lu đảmnhiệm Về sau Hội đồng này nắm cả quyền hành chính cao nhất của nhà nớc
và thành viên của nó có thể đợc tái cử lại nhiều lần (chẳng hạn Pericles đợcbầu đi bầu lại trong 30 năm nhng mỗi năm ông lại phải ra ứng cử một lần)
Nh vậy, bằng cải cách của mình, Ephialtes đã thực sự chia tách quyền lực nhànớc thành ba loại quyền lực và trao cho các cơ quan dân cử khác nhau thựchiện để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, chống lại sự tập trung quyềnlực vào tay một chủ thể Từ đó có thể coi ông là một trong những ngời đầutiên đặt nền móng cho t tởng phân quyền Rất không may là Ephialtes thựchiện cải cách cha đợc bao lâu thì bị bọn quý tộc thù địch ám sát Sau khi ôngmất, phái Dân chủ vẫn tiếp tục nắm quyền mà đại diện là Pericles - một nhà
chính trị và nhà hùng biện có tài, "là ngời siêu việt nhất của Athenes, ngời thứ
nhất về mọi cái và về nói và hành động" [41, tr.33].
Năm 461 tr CN, khi lên cầm quyền Pericles đã tiếp tục một cách xuấtsắc cải cách của Ephialtes theo chiều hớng củng cố và mở rộng nền dân chủAthenes Ông vận động ban hành quy định mới về việc lựa chọn các chức vụ
Trang 21nhà nớc, theo đó, trừ chức Tớng quân, các chức vụ lớn nhỏ khác đều đợc bổnhiệm bằng cách bốc thăm Theo ông, bằng phơng pháp đó, bất cứ công dânAthenes nào, không phân biệt dòng họ, giàu nghèo, sang hèn đều có khả năng
đợc cắt cử giữ bất cứ một chức vụ nào trong nhà nớc, có nh vậy họ mới thật sựhoàn toàn bình đẳng và còn đợc giáo dục để có ý thức trách nhiệm công dân
hơn Ông khẳng định: "Chúng ta là những ngời duy nhất coi ngời công dân xa
lạ với các công việc công không phải nh là một sinh vật nhàn rỗi mà nh một sinh vật vô ích" [41, tr 35] Để đề phòng sự lựa chọn những ngời không xứng
đáng và để chặn bớt sự lạm quyền, pháp luật còn quy định trớc khi giữ chức
vụ, những ngời đợc chọn bởi cuộc rút thăm phải trải qua một cuộc kiểm travừa để thử thách khả năng vừa để thăm dò lòng trung thành Rồi 10 lần trongnăm, tại mỗi phiên họp của Hội nghị công dân, theo thủ tục, bao giờ dânchúng cũng đợc mời biểu quyết chấp thuận hay khiển trách các viên chức của
họ, nếu khiển trách thì tiếp theo sẽ có cuộc truy tố ra tòa án, tơng tự nh mộtthủ tục bãi nhiệm vậy Tới cuối năm, mỗi viên chức sẽ phải tờng trình trớcmột ủy ban đặc biệt về số tiền công quỹ mà họ là ngời thu, ngời giữ hay ngờichi tiêu [23] Có thể thấy đây là hình thức ban đầu của sự kiểm soát của nhândân đối với việc thực hiện quyền lực nhà nớc, sự kiểm soát của cơ quan lậppháp với các nhân viên nhà nớc Để cho những công dân thuộc tầng lớp dới,
kể cả những ngời nghèo khổ nhất cũng có thể đảm nhiệm các chức vụ lớn nhỏtrong bộ máy nhà nớc, lần đầu tiên trong lịch sử, Pericles đã ban hành chế độtrả lơng cho những ngời làm việc trong bộ máy nhà nớc, từ các thành viên củaHội đồng nhân dân, quan chấp chính, ủy viên bồi thẩm đến thủy thủ, sĩ quan
và binh lính Những cải cách mà Ephialtes và Pericles thực hiện đã đa Nhà nớcAthenes cũng nh nền dân chủ của nó phát triển đến mức độ cực thịnh nên ngời
Hy Lạp gọi thời kỳ này là "Thế kỷ vĩ đại" hay "Thế kỷ Pericles" Tuy nhiên,nền dân chủ Athenes chỉ là nền dân chủ hạn chế vì tham gia vào các cơ quannhà nớc chỉ có các công dân, tức là những ngời đàn ông tự do, mà họ chỉchiếm khoảng 20% tổng số dân c Còn phụ nữ, những ngời tự do nhng mẹ
Trang 22không phải là ngời Athenes, kiều dân và nô lệ đều không đợc hởng quyềncông dân.
ở La Mã từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ I tr CN, tình hình cũng diễn
ra tơng tự nh ở Athenes Trong thời gian đó, để tránh sự tái diễn các chế độbạo quyền mà họ đã phải chịu đựng dới các triều đại vua chúa, nhất là thời kỳdới quyền độc đoán của vị Vua "Tarquin kiêu ngạo", sau khi ông ta bị lu đàyvào năm 509 tr CN, ngời La Mã đã xây dựng nền cộng hòa và áp dụng phơngpháp chia quyền và phân quyền Họ thiết lập một Hiến pháp trong đó quyềnhành đợc phân chia một cách khéo léo Thay vì có một hội nghị công dân thìnay có tới ba hội nghị với các chức năng và quyền lực khác nhau Một là Hộinghị Bào tộc (qui-ri) là đại hội của quý tộc, không có vai trò chính trị quantrọng, có nhiệm vụ giao quyền lực cho các quan t pháp tối cao và giải quyếtnhững vấn đề thuộc luật lệ gia đình Hai là Hội nghị Xăng-tu-ri là hội nghịtheo đơn vị quân đội của các đẳng cấp, có quyền hành rất lớn nh giải quyếtcác vấn đề chiến tranh và hòa bình, bầu các chức quan cao nhất của nhà nớc
Ba là Hội nghị nhân dân các bộ lạc theo khu vực, giải quyết những vấn đề vềluật pháp Đó là đại hội mang nhiều tính chất dân chủ nhất, nhng lại bị bọnquan lại cao cấp khống chế, vì thế nó không đợc quyết định những vấn đềquan trọng của nhà nớc
Loại cơ quan thứ hai trong bộ máy Nhà nớc La Mã là Viện nguyên lão
- cơ quan có quyền lực quyết định - gồm những quý tộc giàu sang có thế lực
đã từng nắm giữ những chức quan cao cấp Cơ quan này có quyền phê chuẩn cácquan lại tối cao mới đợc bầu ra, quản lý tài sản của nhà nớc, đề ra và chỉ đạothực hiện chính sách đối nội, đối ngoại, trông coi các công việc tôn giáo
Bộ phận thứ ba của Nhà nớc La Mã là các chức quan cai trị Chức vịcao nhất trong hàng quan lại là hai viên quan chấp chính (còn gọi là Thợngphán quan) Thay vì có một Thợng phán quan trớc đây thì nay có hai Thợngphán quan có quyền lực ngang nhau và có thể kiểm soát lẫn nhau Các quan
Trang 23chấp chính này do hội nghị Xăng-tu-ri bầu ra và đợc giữ chức vụ trong mộtnăm Họ có quyền rất lớn về quân sự và dân chính, là tổng chỉ huy quân đội,
có quyền triệu tập Hội nghị Viện nguyên lão, Hội nghị nhân dân, chỉ đạo thựchiện những quyết nghị của Viện nguyên lão và Hội nghị nhân dân Ngoài racòn nhiều chức quan khác nh quan t pháp, quan giám sát, quan tài vụ đó lànhững chức quan thờng trực lâu dài và do nhân dân bầu ra
Trong trờng hợp có khủng hoảng quân sự thì sẽ có một cơ quan đứng
ra tạm phối hợp quyền hành Cơ quan này là văn phòng quan Thống lãnh(Dictator) hay còn gọi là quan độc tài, đợc nắm giữ quyền hành tối cao trongsáu tháng, điều khiển quân đội và hầu nh bao trùm chính quyền dân sự quaquyền thiết quân luật Cách thức tổ chức Nhà nớc La Mã nh trên kéo dài cho
đến khi chế độ độc tài của Xi la, Cesar rồi chế độ quân chủ đợc thiết lập
Nh vậy, t tởng phân quyền đã nảy sinh từ thực tiễn tổ chức bộ máyNhà nớc Athenes và La Mã gắn liền với việc thiết lập và củng cố nền dân chủvới mong muốn quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân và nhằm chống chế độ
độc tài chuyên chế Vì thế mà cả Montesquieu lẫn Rousseau khi đề cập đến sựphân quyền đều lấy La Mã làm ví dụ để giải thích hoặc phê phán
1.2.1.2 T tởng phân quyền của Aristote (384 - 322 tr CN)
Aristote là "nhà t tởng vĩ đại nhất thời cổ đại" (C.Mác), là " khối óc
toàn diện nhất trong số những nhà triết học Hy Lạp" (Ph Ăngghen) và "là vị bá chủ về t tởng" (Gomperz) Ông là nhà triết học có kiến thức uyên thâm
trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực chính trị Trên cơ sở nghiên cứu Hiếnpháp của 158 nhà nớc đơn nhất và liên bang, Aristote đã viết lên tác phẩm
"Chính trị" hay "Luận về chính quyền" trong đó có thể hiện t tởng phân quyền
mặc dù mới dừng ở mức sơ khai, đặt nền móng cho nó
Khi bàn về bộ máy nhà nớc, ông phân tách nó thành ba bộ phận hay bangành của chính quyền là thảo luận hay quyết nghị, áp dụng luật hay hànhpháp và phán xử theo luật hay xét xử Ông viết:
Trang 24có ba bộ phận trong tất cả các nhà nớc mà một nhà lập pháp có trách nhiệm phải cân nhắc thật kỹ vì chúng có tầm quan trọng rất lớn đối với tất cả mọi ngời và chúng hết sức cần thiết để làm cho nhà nớc hạnh phúc, tùy theo sự thay đổi của chúng mà làm cho nhà nớc này sẽ khác với nhà nớc khác Thứ nhất trong những
bộ phận đó là Hội nghị nhân dân, thứ hai là các viên chức của nhà nớc, đó là những ngời phải đợc giao phó cho một quyền lực nào đó
và phải đợc bổ nhiệm theo một cách thức nào đó, thứ ba là cơ quan tòa án [85, tr 132].
ở đoạn khác ông khẳng định rằng trong một số nhà nớc, các công dân cóthể đợc tham gia vào cả ba bộ phận của chính phủ, đó là Hội nghị nhân dân,
hành pháp và xét xử (có thể thấy từ "chính phủ" Aristote dùng ở đây đồng nghĩa với từ "nhà nớc" hiện nay) Không chỉ chia tách ba bộ phận, Aristote còn trình
bày về cách thức hình thành, chức năng, thẩm quyền, thành viên, cơ cấu của từng
bộ phận và khái quát về mối quan hệ giữa chúng Về Hội nghị nhân dân, ông
viết: "Công việc thích hợp của Hội nghị nhân dân là quyết định về vấn đề
chiến tranh và hòa bình, lập ra hoặc phá vỡ những liên minh, ban hành các
đạo luật, những án tử hình, đi đày hoặc tịch thu tài sản và yêu cầu các pháp quan giải thích về cách xử sự của họ trong thời gian giữ chức vụ" [85, tr 133].
Nh vậy, theo Aristote, chức năng của Hội nghị nhân dân (mà thực chất
là Hội nghị công dân) là lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhấtcủa quốc gia, tơng tự nh chức năng của các cơ quan lập pháp ngày nay Ôngcho rằng cách thức tổ chức và hoạt động của cơ quan này rất khác nhau ở cácnhà nớc có hình thức khác nhau Trong chế độ dân chủ thì tất cả các quyềntrên đợc trao cho tất cả mọi ngời vì nhân dân nhằm đạt tới sự bình đẳng và đợctrao bằng nhiều phơng pháp Chẳng hạn, Hội nghị công dân chỉ họp khi cầnban hành những đạo luật mới, hoặc khi một số công việc của quốc gia cầnphải đợc thảo luận, hoặc khi phải nghe những đề nghị nào đó của các pháp
Trang 25quan hoặc khi thẩm tra t cách đạo đức của các pháp quan; còn những côngviệc khác thì giao cho một hội đồng tối cao gồm các pháp quan và các chức vụnày đợc phân chia lần lợt cho các bộ lạc, các khu vực và các đơn vị rất nhỏkhác cho đến khi mỗi ngời đều lần lợt trải qua các chức vụ ấy; hoặc đợc thựchiện bởi các pháp quan trong các văn phòng riêng của họ và là những ngời đợclựa chọn ra trong toàn xã hội bằng cách bỏ phiếu hoặc bốc thăm; hoặc traocho bất cứ pháp quan nào ngẫu nhiên đợc lựa chọn, song những ngời đợc sửdụng trong một lĩnh vực riêng biệt nào đó phải là những ngời có kỹ năng tốttrong lĩnh vực đó Cũng có thể để cho tất cả mọi ngời thảo luận kỹ lỡng vềmọi vấn đề trong Hội nghị nhân dân, và trong Hội nghị đó, các pháp quankhông đợc quyết định một vấn đề gì mà chỉ có đặc quyền là đa ra ý kiến trớctiên Đó là phơng pháp của một chế độ dân chủ thuần túy, nó cũng tơng tự nhcách thức tiến hành trong chế độ đầu sỏ chính trị hoặc chế độ quân chủchuyên chế ở chế độ dân chủ, nhân dân có quyền lực tối cao, ngay cả trênpháp luật, họ nắm giữ Hội nghị nhân dân một cách thờng xuyên; chế độ này
sẽ tốt nhất nếu nó bắt chớc chế độ đầu sỏ chính trị ở tòa án của nó Tức là ngời
ta sẽ phạt những ngời đợc bổ nhiệm để xét xử những vụ kiện tụng mà lạikhông có mặt, và ngời ta sẽ thởng cho những ngời nghèo đã đến Hội nghịnhân dân Nh thế trong Hội nghị sẽ có ngời của các đẳng cấp khác nhau cùngthảo luận, bàn bạc với nhau
Trong chế độ đầu sỏ chính trị, chế độ mà - theo Aristote - quyền lựctối cao nằm trong tay một bộ phận của xã hội hay số ít và những ngời này hoạt
động chỉ vì lợi ích của riêng họ, thì nhân dân nói chung không đợc tham dựvào quyền thảo luận mà một số ngời nhất định sẽ đợc lựa chọn để làm việc đó.Những ngời này sẽ lựa chọn lẫn nhau và con trai đợc nối nghiệp cha, họ có thểtuân theo hoặc không tuân theo pháp luật, có thể thay thế các đạo luật Tuynhiên, nhân dân có thể đợc phép bỏ phiếu khi bất kỳ một dự luật nào đợc đệ trình,nhng không thể đề nghị bất cứ cái gì ngợc lại hay thêm vào dự luật đó, hoặc
Trang 26nhân dân có thể nêu lên ý kiến của họ, song quyền quyết định chỉ thuộc về cácpháp quan ở một số nớc có chế độ này, ngời ta còn yêu cầu một số ngời củalớp bình dân vào hội đồng hoặc là thiết lập một tòa án Họ đợc gọi là nhữngngời cố vấn trớc (preadviser) hay những ngời bảo vệ pháp luật, công việc của
họ là đề xuất trớc tiên những cái mà sau đó sẽ đợc ban hành Còn trong chế độquý tộc thì một số ngời quyết định đối với một vấn đề và những ngời khác lạiquyết định những vấn đề khác, giống nh chiến tranh và hòa bình, và tất cả sẽthẩm tra t cách đạo đức của các pháp quan, còn những việc khác đợc trao chocác viên chức khác nhau, những ngời đó đợc lựa chọn từ toàn thể nhân dânhoặc từ một số ngời nhất định bằng cách bỏ phiếu hoặc bốc thăm và cả haiviệc đó đều đợc mở ra cho tất cả mọi ngời
Aristote còn xác định nghĩa vụ cho các nhà lập pháp trong nhiều lĩnhvực với mong muốn họ có thể xây dựng đợc những đạo luật tốt để bảo đảm choquốc gia đợc cai trị tốt Chẳng hạn, họ phải nghiên cứu một cách cẩn thận đấtnớc của họ, phải tính toán xem làm thế nào để cho những ngời thống trị xuấtsắc hơn những ngời bị trị, để công dân có thể trở thành những ngời tốt, đểchính quyền vì sự an toàn, sự yên tâm và hòa bình của những ngời dới quyềnchứ không phải là một sự chuyên quyền và một sự nô dịch đối với họ
Về các viên chức nhà nớc, Aristote cho rằng những ngời xứng đángnhất đợc gọi là pháp quan là những thành viên của hội đồng thảo luận, hoặc làngời giải quyết những việc kiện tụng, hoặc là ngời có quyền chỉ huy trong mộthoặc một số lĩnh vực, trong đó quyền chỉ huy là quan trọng nhất vì chỉ huy là
đặc quyền riêng của các pháp quan Thông thờng, sẽ cần có các pháp quancho từng lĩnh vực hoạt động của xã hội Chẳng hạn, pháp quan quản lý thị tr-ờng để thanh tra các hợp đồng mua bán và giữ gìn trật tự trong lĩnh vực muabán, pháp quan quản lý các công trình xây dựng lớn của cả cộng đồng lẫn cánhân ở các thành phố có các thanh tra viên của thành phố ở những vùngngoài thành phố thì có các thanh tra viên rừng, thanh tra viên đất đai Cần
Trang 27phải có các pháp quan quản lý tài sản quốc gia tức là những viên chức làmnhiệm vụ thu thuế của nhân dân rồi lại chi cho những ngời thuộc các cơ quankhác của nhà nớc Cũng cần phải có các viên chức để ghi vào sổ tất cả nhữnghợp đồng t nhân, các bản án của tòa án cũng nh những biên bản của việc kiệntụng, những lời khai Đôi khi các công việc này đợc chia ra cho nhiều bộphận và mỗi bộ phận đó có một ngời đứng đầu, họ đợc gọi là các ủy viên kiểmsát, các công chứng viên và những ngời thuộc loại đó Tiếp theo là viên chứclàm nhiệm vụ xem xét các bản án tử hình, quan tâm đến việc làm thủ tục đểcho bản án có giá trị đối với ngời bị kết án, theo dõi việc nộp tiền phạt theolệnh của thẩm phán Chức vụ này không nên để cho một ngời thực hiện mànên đợc thực hiện bởi một số pháp quan và nên để cho ngời quản lý lĩnh vựcnày theo dõi việc thực hiện quyết định của ngời quản lý lĩnh vực khác Ví dụ,pháp quan quản lý việc xây dựng công cộng sẽ theo dõi việc thực hiện cácquyết định do các thanh tra viên thị trờng ban hành ra Đây là những chức vụkhó khăn nhất nhng cũng là cần thiết nhất, nếu thiếu nó thì xã hội không thểtồn tại bởi lẽ nó làm cho việc bắt buộc thực hiện đúng pháp luật đợc dễ dànghơn.
Bên cạnh đó còn có một ngời là cao nhất, đứng trên tất cả họ, ngời nàyluôn luôn có quyền lực riêng của mình để sắp xếp ngân khố chung của quốcgia và thuế, là ngời chỉ huy nhân dân trong khi quyền lực tối cao là nằm trongtay họ, vì phải có một quan chức nào đó có quyền lực để tập hợp nhân dân lạivới nhau và chỉ huy họ nh là ngời đứng đầu của nhà nớc Ngời này đợc gọi làngời cố vấn trớc và nếu có nhiều ngời nh vậy thì họ sẽ tạo thành một hội đồng.Ngoài ra còn có thể có các chức vụ khác nh những ngời chăm lo cho các đềnmiếu và sự thờ cúng chung, những ngời cai quản phụ nữ, những ngời xem xétviệc thực hiện pháp luật, những ngời chăm sóc cho trẻ em và những ngời chỉhuy việc giáo dục chúng, những ngời quan tâm đến việc luyện tập thể thao,các rạp hát và mọi sự biểu diễn công cộng
Trang 28Trong số pháp quan có ba loại đợc các nhà nớc giao phó cho quyền lựctối cao, đó là những ngời bảo vệ pháp luật, những ngời cố vấn trớc và thợngnghị sĩ Những ngời bảo vệ pháp luật thì phù hợp nhất với chế độ quý tộc,những ngời cố vấn trớc thì phù hợp nhất với chế độ đầu sỏ chính trị và thợngnghị sĩ thì phù hợp nhất với chế độ dân chủ Nếu trong một nhà nớc có cả haichức vụ ngời cố vấn trớc và thợng nghị sĩ thì chức vụ ngời cố vấn trớc phải caohơn, mặc dù họ đều có nhiệm vụ xem xét trớc và chuẩn bị những dự luật sẽ đ-
ợc đa ra trớc nhân dân Song quyền lực của thợng nghị viện sẽ bị tớc mất trongnhững nhà nớc dân chủ mà ở đó nhân dân gặp gỡ nhau trong Hội nghị nhândân và nắm giữ tất cả các quyền lực trong tay họ
Số lợng, các loại pháp quan và phơng pháp lựa chọn các pháp quankhác nhau trong các nhà nớc có hình thức khác nhau, có những chức vụ cótrong hình thức này mà không có trong hình thức khác Trong chế độ dân chủthì tất cả các pháp quan đợc lựa chọn ra trong toàn thể nhân dân bằng bỏ phiếuhoặc bốc thăm, hoặc là bằng cả hai Trong chế độ quí tộc, một số pháp quan
đợc lựa chọn từ dân thờng trong toàn xã hội, một số khác trong một đẳng cấp
đặc biệt bằng bốc thăm hoặc bầu cử, hoặc là bằng cả hai, nhng thích hợp nhất
là toàn thể xã hội lựa chọn các pháp quan của họ trong những ngời đặc biệt(về tài sản, nguồn gốc gia đình hoặc đức hạnh) và bằng cách bỏ phiếu ở chế
độ đầu sỏ chính trị, các pháp quan đợc lựa chọn trong những đẳng cấp nhất
định, một số đợc lựa chọn bằng bốc thăm, những ngời khác bằng hai phơngpháp, nhng bằng bốc thăm là phù hợp nhất Thời gian và số lần nắm giữ chức
vụ của các pháp quan cũng rất khác nhau Có ngời nắm giữ chức vụ trong 6tháng hoặc ít hơn, có ngời một năm hoặc lâu hơn; có ngời giữ cùng một chức
vụ đến vài lần song cũng có ngời chỉ đợc giữ cùng một chức vụ không quámột lần
Nh vậy, theo Aristote, bộ phận hành pháp của nhà nớc bao gồm nhiềuchức vụ có vị trí, chức năng, thẩm quyền và con đờng hình thành khác nhau và
Trang 29những ngời giữ các chức vụ ấy đều có quyền lực riêng, tức là có quyền quản lýmột lĩnh vực hoạt động nào đó và họ cũng có quyền theo dõi, kiểm tra, giámsát lẫn nhau
Đề cập đến bộ phận thứ ba của nhà nớc - các tòa án, Aristote cho rằng
có 8 loại tòa án: tòa án kiểm tra t cách của các pháp quan khi họ bỏ việc; tòa
án trừng phạt những ngời gây thiệt hại cho công chúng; tòa án có thẩm quyềntrong các việc kiện tụng mà nhà nớc là một bên; tòa phân xử giữa các phápquan với các cá nhân là những ngời đã kháng án vì sự phạt tiền đối với họ; tòagiải quyết các tranh chấp có thể xuất hiện liên quan tới những hợp đồng có giátrị lớn; tòa phân xử giữa những ngời nớc ngoài mà về những vụ giết ngời; tòagiải quyết những vụ việc giữa những ngời nớc ngoài với nhau hoặc giữa mộtngời nớc ngoài với một công dân; tòa án cho những vụ việc nhỏ, từ 1-5
Đracma hoặc nhỏ hơn một chút ở Athenes còn có một tòa án khác đợc gọi làTòa án Phreatte, nó quyết định những vấn đề liên quan tới một vụ giết ngời màcan phạm đã tẩu thoát, nó đợc giải quyết mà không biết anh ta có quay lạikhông
Cách lựa chọn thẩm phán cho các vụ việc và quyền xét xử của cácthẩm phán cũng khác nhau tùy theo hình thức nhà nớc Cách lựa chọn mà thừanhận toàn thể xã hội có thể trở thành các thẩm phán trong tất cả các vụ việc làphù hợp nhất với chế độ dân chủ Cách lựa chọn mà những ngời nhất định sẽ
là thẩm phán trong tất cả các vụ việc là phù hợp với chế độ đầu sỏ chính trị.Còn cách lựa chọn mà toàn thể xã hội có thể trở thành thẩm phán trong một số
vụ việc, nhng những ngời đặc biệt lại có thể trở thành thẩm phán trong những
vụ việc khác thì phù hợp với chế độ quý tộc hay nhà nớc tự do
Qua trên ta thấy, Aristote là một trong những nhà t tởng đầu tiên tronglịch sử trình bày về t tởng phân quyền khi ông cho rằng quyền lực nhà nớc đợcphân chia và đợc thực hiện bởi ba bộ phận hay ba ngành của chính quyền Mỗi
bộ phận ấy có chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức và cách thức hình thành
Trang 30khác nhau Ông còn đề cập một cách khái quát đến mối quan hệ giữa các bộphận ấy Chẳng hạn, Hội nghị nhân dân có thể lựa chọn, thẩm tra t cách đạo
đức cũng nh khiển trách các pháp quan, các quan tòa Các pháp quan có thểtham gia hoạt động trong Hội nghị nhân dân, có thể soạn thảo và trình dự luật
ra trớc Hội nghị cũng nh báo cáo trớc Hội nghị; theo dõi việc thực hiện cácquyết định hoặc bản án của tòa án Còn các thẩm phán lại có thể phán xét cácpháp quan khi họ bị kiện tụng Các pháp quan giữ các chức vụ khác nhau phảitheo dõi, kiểm tra, giám sát lẫn nhau Song về cơ bản, Aristote mới chỉ dừng ởviệc mô tả về nhân viên, cách thức tổ chức và hoạt động của các bộ phận trên
mà cha phân tích sâu về mối quan hệ giữa chúng cũng nh cha lý giải lý dophải chia tách nhà nớc thành những bộ phận nh vậy Tuy nhiên, Aristote nhậnthức khá chính xác rằng ở những chế độ dân chủ, nơi mà quyền lực tối cao củanhà nớc thuộc về toàn thể nhân dân thì nhân dân phải có cơ hội tham gia vàotất cả các bộ phận đó khi đợc lựa chọn và có quyền lựa chọn tất cả các quanchức nhà nớc, có quyền thẩm tra t cách đạo đức của họ và có thể khiển trách
họ
Sau Aristote, Polybe (201120 tr CN) "nhà Hy Lạp La tinh hóa"
-ngoài sự phân biệt nh trên còn nêu lên tính độc lập tơng đối cần có trong
quyền lực và hoạt động của mỗi cơ quan Trong tác phẩm "Lịch sử trong 40
quyển" của mình, khi xem xét về tổ chức và hoạt động của Nhà nớc La Mã cổ
đại, Polybe khẳng định Hiến pháp La Mã tập hợp ba nguyên tắc hàng đầu, bahình thức cơ sở: chế độ quân chủ, chế độ quý tộc và chế độ dân chủ Nó phatrộn ba yếu tố đó một cách thỏa đáng nhất Khảo sát các tổ chức Chấp chínhtối cao thì là quân chủ, xem xét Nguyên lão nghị viện thì là quý tộc, nhìn vàocác Hội đồng và các quan bảo dân thì là dân chủ Việc phân chia và việc kếthợp rất khéo léo về chủ quyền giữa ba quyền lực làm cho mỗi quyền lực cần
đến các quyền lực khác và các quyền lực khác không vợt qua đợc nó Hệthống Hiến pháp hoàn toàn cân đối đó đã dẫn Nhà nớc La Mã đến những kếtquả tốt nhất về đối nội và đối ngoại Có thể thấy, Polybe đã đi xa hơn Aristote
Trang 31ở chỗ: ông đòi hỏi các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nớc phải độc lập vớinhau, không đợc vợt quyền nhau song lại vẫn phải hợp tác với nhau, nhờ đó
mà mang lại hiệu quả cao cho hoạt động của nhà nớc
1.2.2 T tởng phân quyền ở Tây Âu thời kỳ Cách mạng t sản
Trong thời kỳ chế độ phong kiến tồn tại, các t tởng về tổ chức bộ máynhà nớc của Aristote và Polybe hầu nh không đợc nhắc đến Các nhà t tởnggiai đoạn này chủ yếu ủng hộ thể chế nhà nớc tập quyền, đặc biệt là đề cao vaitrò của một vị minh chủ đứng đầu nhà nớc Các quan điểm của họ đã đợc giaicấp địa chủ phong kiến đứng đầu là nhà vua áp dụng triệt để trong tổ chức bộmáy nhà nớc, vì vậy mà đã dẫn đến sự thống trị hầu nh tuyệt đối của chế độquân chủ chuyên chế, của sự chuyên quyền độc đoán Song từ cuối chế độ
phong kiến đến Cách mạng T sản, dới ảnh hởng của t tởng của "Chủ nghĩa
Nhân văn" hay "Hệ t tởng Phục hng", nhiều nhà t tởng đã thể hiện rõ quan
điểm phản đối chế độ phong kiến tập quyền, chống lại những hành vi bạo
ng-ợc, sự lộng quyền và sự lạm dụng quyền lực, chống lại sự chà đạp lên con ngời
và nhân cách con ngời Họ nêu lên t tởng về các quyền tự nhiên bất khả xâmphạm của con ngời nh quyền t hữu, tự do, bình đẳng và t tởng bảo vệ quyềncon ngời, thể hiện niềm tin vào sức mạnh của lý trí, kinh nghiệm và sức sángtạo của con ngời Họ đòi hỏi phải đề cao vai trò của pháp luật và của sự tuân
thủ pháp luật trong việc tổ chức và hoạt động của nhà nớc, đồng thời thể hiện
nhu cầu cấp thiết về việc phân chia quyền lực nhà nớc Trong hoàn cảnh đó, t
tởng của Aristote, của Polybe đợc "phục hng", đợc kế thừa và phát triển bởiphái "Bình quân" (leveller) ở Anh, John Locke, Montesquieu và một số tác giảkhác
1.2.2.1 T tởng phân quyền của John Locke (1632-1704)
John Locke là một bác sĩ kiêm triết gia Anh vĩ đại, ngời "mà t tởng đã
ảnh hởng mạnh mẽ đến các nhà lập quốc ở Hoa Kỳ" [11, tr 64] Ông là một
trong những ngời đi tiên phong chống chủ nghĩa chuyên chế, kiên quyết đòi
Trang 32phải hạn chế quyền lực của nhà nớc, của nhà vua T tởng phân quyền của ông
chủ yếu đợc thể hiện trong tác phẩm "Hai chuyên luận về chính quyền", tác
phẩm mà giá trị của nó đợc Marcel Prelot đánh giá rằng:
Sự thiếu vắng hoàn toàn việc tái bản ở thế kỷ XIX và trong tất cả nửa đầu thế kỷ XX tác phẩm của Locke không nên nghĩ rằng Locke bị lãng quên hoặc khi đó không còn ảnh hởng mà ngợc lại,
đó là vì các t tởng của ông đã gắn một cách trực tiếp vào sự kiện, rằng một sự tái bản không cần đặt ra Từ t tởng của Locke mà ba cuộc cách mạng lớn của thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII: Cách mạng Anh, Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp đã bắt rễ của chúng trong pháp quyền tự nhiên [41 tr 503]
Trong tác phẩm này, Locke lý giải khá cặn kẽ về nguồn gốc, mục đíchcủa nhà nớc và các loại quyền lực nhà nớc, về nội dung, phạm vi giới hạn củatừng quyền, về vị trí và mối quan hệ giữa các loại quyền lực nhà nớc Theo ông,trong một nớc Cộng hòa có ba loại quyền lực lập pháp, hành pháp và liênbang, cả ba loại quyền lực này đều do nhân dân ủy quyền cho nhà nớc hay nóicách khác, nhà nớc đều nhận đợc từ nhân dân thông qua một sự chuyển nhợngbằng khế ớc rõ ràng xác định; và tất nhiên cả quyền lực nhà nớc nói chung lẫntừng loại quyền lực nhà nớc nói riêng đều phải bị hạn chế hoặc bị giới hạn bởinhững điều khoản của khế ớc đó Locke luận bàn khá nhiều về quyền lập phápvì ông coi nó là quyền lực tối cao, song chỉ là tối cao trong số các loại quyền
lực nhà nớc chứ không phải là tối cao trong xã hội Ông viết: "Quyền lực lập
pháp là cái mà có quyền chỉ đạo cách thức sử dụng quyền lực của nhà nớc để bảo tồn cộng đồng và các thành viên của nó" [86, tr 364].
Trong tất cả các trờng hợp, khi chính quyền tồn tại thì lập pháp là quyền lực tối cao Vì ai có thể làm ra các đạo luật cho ngời khác thì cần phải cao hơn anh ta, và vì quyền lập pháp không là cái gì khác ngoài việc bằng quyền mà nó có làm ra các đạo luật cho tất
Trang 33cả các bộ phận và cho mọi thành viên của xã hội, quy định cho họ các quy tắc hành vi và trao quyền trừng phạt những vi phạm pháp luật; lập pháp phải là tối cao, và tất cả các quyền lực khác của bất
kỳ một thành viên hoặc bộ phận nào của xã hội, đều đợc bắt nguồn
từ đó và phụ thuộc vào nó [86, tr 367-368].
Vì cơ quan lập pháp có quyền lực tối cao nên sự thành lập cơ quan lậppháp là đạo luật đầu tiên và cao nhất của xã hội, là tiền đề cho tất cả các đạoluật thực định của nó Các đạo luật thờng đợc làm trong một thời gian ngắnsong có hiệu lực không thay đổi và lâu dài nên cơ quan lập pháp không cầnphải luôn luôn hiện diện, không cần phải hoạt động thờng xuyên bởi vì khôngcần phải luôn luôn làm ra các đạo luật mới Song các đạo luật đã đợc làm ralại cần phải đợc thực hiện liên tục, phải thờng xuyên hiện diện nên cần phải cómột quyền lực khác tồn tại thờng xuyên để phụ trách việc thực hiện các đạoluật đã đợc làm ra và vẫn còn hiệu lực, đó chính là quyền lực hành pháp Haithứ quyền lực lập pháp và hành pháp phải luôn luôn đợc chia tách với nhau và
do các chủ thể khác nhau nắm giữ Bởi vì quyền lực có sức quyến rũ rất lớn vàcon ngời lại rất dễ bị cám dỗ bởi quyền lực nên có xu hớng cố nắm giữ nó.Nếu cùng những con ngời có cả quyền lập pháp lẫn quyền hành pháp thì họ cóthể miễn cho bản thân họ khỏi sự phục tùng những đạo luật mà họ đã làm ra,
đồng thời làm cho cả việc xây dựng luật lẫn việc thực hiện nó đều chỉ thuậnlợi cho những lợi ích riêng của họ Bằng cách ấy sẽ dẫn đến sự khác biệt về lợiích giữa họ với những ngời khác trong xã hội và ngợc lại với lợi ích của xã hội
và chính phủ Vì vậy, cần phải chia tách giữa quyền lập pháp và quyền hànhpháp (Mặc dù sự giải thích của Locke về lý do phải chia tách giữa quyền lựclập pháp và hành pháp cha thật sự thuyết phục, song đòi hỏi phải chia tách haiquyền lực này của ông là hoàn toàn có lý)
ở những nhà nớc đợc tổ chức tốt, có trật tự ổn định, nơi mà lợi ích củatoàn thể mọi ngời đều đợc tính đến nh nó phải đợc tính thì quyền lập pháp
Trang 34phải thuộc về nhiều ngời khác nhau đợc nhóm họp với nhau một cách đúng
đắn và chỉ riêng bản thân họ hoặc cùng với những ngời khác có quyền làm ra các
đạo luật Nhng sau khi luật đợc làm ra thì chính họ cũng phải phục tùng những
đạo luật ấy; đó là một sự ràng buộc mới và gần gũi để nhắc nhở họ rằng họlàm luật là vì lợi ích chung Trong những nhà nớc ấy, việc lập pháp nên đợc trao
cho sự hợp lực của ba chủ thể Một là một ngời đợc cha truyền con nối thực sự,
có quyền lực hành pháp tối cao và cùng với nó có quyền triệu tập và giải tánhai chủ thể kia trong một thời gian nhất định (ngời này theo Locke chính là nhà
vua) Hai là một Hội đồng quý tộc cha truyền con nối (giống nh Thợng viện ở nớc Anh) Ba là một Hội đồng của những ngời đại diện do nhân dân bầu ra
trong một thời gian nhất định (giống nh Hạ viện ở nớc Anh)
Ngoài ra, trong mỗi nhà nớc còn có một quyền lực khác, quyền này cóthể gọi là tự nhiên bởi vì nó đảm bảo một quyền lực mà mỗi ngời có một cách
tự nhiên trớc khi gia nhập xã hội Nội dung của quyền lực này gồm quyền lực
về chiến tranh và hòa bình, liên kết và liên minh và tất cả những giao dịch vớitất cả những ngời và cộng đồng bên ngoài nhà nớc Nó có thể đợc gọi là quyềnlực liên bang nếu nh ai thích, song Locke cũng nói rõ rằng ông không quantâm lắm đến tên gọi của nó
Hai quyền lực hành pháp và liên bang mặc dù thực sự có sự khác biệtnhau, một quyền lực đợc hiểu là sự thực hiện các luật lệ riêng của mỗi xã hội
ở bên trong bản thân nó, đối với tất cả các bộ phận của nó, còn quyền lực kia
là sự giữ gìn an toàn và lợi ích của xã hội ở bên ngoài nó, nó có thể nhận đợclợi ích hoặc thiệt hại từ những việc đó; và mặc dù quyền liên bang là mạnhhay yếu có tầm quan trọng rất lớn đối với quốc gia, nhng khả năng đợc điềuchỉnh bởi những đạo luật thực định hiện hành đã đợc định trớc của nó nhỏ hơnnhiều so với quyền hành pháp Song hai quyền trên vẫn hầu nh luôn thốngnhất với nhau nên rất khó chia tách chúng, trong cùng một thời gian khó màtrao cho những ngời khác biệt nhau và điều vô cùng cần thiết là chúng phải đ-
ợc trao cho những ngời thận trọng, khôn ngoan và phải đợc thực hiện vì lợi ích
Trang 35chung Bởi vì cả hai quyền lực này đều cần đến lực lợng của xã hội để thựchiện chúng nên nếu trao chúng cho những ngời hoạt động tách biệt nhau thìlực lợng của dân chúng phải theo những mệnh lệnh khác nhau và có khả năngmột lúc nào đó sẽ gây ra sự hỗn loạn và sự sụp đổ Vì vậy mà trong cùng mộtthời gian chúng phải đợc trao cho cùng những con ngời thực hiện và họ phảiphụ thuộc vào quyền lực lập pháp (theo ông thì thích hợp nhất là trao haiquyền này cho nhà vua).
Quyền lực lập pháp có thể quyết định đến hình thức nhà nớc vì hìnhthức của chính quyền phụ thuộc vào nơi đợc trao quyền lực tối cao, tức làquyền làm luật Theo Locke, khi đa số nhân dân có toàn bộ quyền lực của xãhội và đôi khi có thể sử dụng quyền lực đó vào việc làm luật cho xã hội, cònviệc thực hiện các đạo luật đó là thuộc về các viên chức do chính họ lựa chọnthì hình thức của chính quyền là chế độ dân chủ Khi quyền làm luật thuộc vềmột số ngời đợc lựa chọn và những ngời thừa kế của họ thì đó là hình thức đầu
sỏ chính trị Khi quyền làm luật thuộc về một ngời thì đó là chế độ quân chủ.Nếu quyền đó thuộc về ông ta và những ngời thừa kế của ông ta thì đó là nềnquân chủ thế tập; nếu ông ta chỉ giữ quyền đó trong một đời mình nhng khi
ông ta chết, xã hội lại lựa chọn một ngời kế nghiệp ông ta thì đó là nền quânchủ đợc bầu Và từ những hình thức đó xã hội có thể tạo ra những dạng ghéphoặc hỗn hợp của chính quyền mà họ cho là tốt Nếu quyền lực lập pháp trớctiên đợc đa số nhân dân trao cho một ngời hoặc nhiều hơn nhng chỉ trong một
đời của họ, hoặc trong một thời gian giới hạn nào đó và sau đó, quyền lực tốicao lại quay trở lại với đa số và họ lại tiếp tục trao cho những ngời mà họ tínnhiệm thì lại tạo thành hình thức mới của chính quyền
Quyền lập pháp không chỉ là quyền lực tối cao của nhà nớc mà còn làmột quyền lực bất khả xâm phạm và không thể thay đổi đợc trong tay nhữngngời một khi đã đợc xã hội trao nó, cũng không thể có một sắc lệnh, chỉ dụcủa bất kỳ ai, dù đợc hiểu dới bất kỳ hình thức nào, hoặc đợc ủng hộ bởi bất
Trang 36kỳ quyền lực nào, lại có thể có sự bắt buộc và nghĩa vụ giống nh một đạo luật;nếu không có sự phê chuẩn của cơ quan lập pháp mà đã đợc dân chúng lựachọn và bổ nhiệm Vì nếu không có điều này thì luật pháp không thể có cái
mà tuyệt đối cần thiết cho nó trở thành pháp luật, đó là sự ng thuận của xã hội,không ai có thể có quyền lực làm luật nếu không bởi sự ng thuận của chính xãhội và không bởi quyền lực nhận đợc từ xã hội Tuy vậy, quyền lập pháp vẫn
bị hạn chế bởi những điều kiện nhất định Dới đây là những giới hạn mà sự tínnhiệm của xã hội và luật tự nhiên đã đặt ra cho quyền lực lập pháp của mỗinhà nớc trong tất cả các hình thức của chính quyền
Thứ nhất, nó không phải và cũng không thể tuyệt đối chuyên quyền
đối với cuộc sống và vận mệnh của nhân dân Bởi vì nhân dân trao quyền cholập pháp là vì lợi ích chung của xã hội, vì sự bảo tồn cuộc sống và tài sản của
họ nên lập pháp không có một mục đích nào khác ngoài sự bảo tồn những
ng-ời dới quyền, và vì vậy nó không thể phá hủy, bắt làm nô lệ hoặc có ý địnhbần cùng hóa những ngời dới quyền Các đạo luật của nó phải đợc thiết lậphoàn toàn không vì một mục đích nào khác là vì lợi ích của nhân dân
Thứ hai, quyền lực lập pháp không thể có trong bản thân nó quyền lực
thống trị bằng những sắc lệnh ứng khẩu độc đoán mà nhất định phải truyền bá
sự công bằng, quyết định quyền của ngời dân bằng những đạo luật đã đợc banhành, đang có hiệu lực và đã trải qua sự xem xét của tòa án Bởi vì, con ngờichuyển giao toàn bộ quyền lực tự nhiên của họ cho xã hội mà họ đã gia nhập
và xã hội sẽ trao quyền lực lập pháp cho những ngời mà nó cho là phù hợp, vớiniềm tin tởng là họ sẽ đợc điều chỉnh bởi những đạo luật đã đợc công bố mànhờ chúng, tài sản và bản thân mỗi ngời đợc bảo vệ vì mỗi ngời sẽ biết đợc cáigì là của mình Nếu bị điều chỉnh bằng những mệnh lệnh tùy ý và những quyết
định không rõ ràng thì hòa bình, an ninh và tài sản của họ vẫn ở trong tìnhtrạng không chắc chắn và loài ngời sẽ ở trong điều kiện xấu hơn nhiều so vớitrạng thái tự nhiên Bởi vì nh thế là họ đã vũ trang cho một ngời hoặc một số
Trang 37ngời bằng quyền lực liên kết của cả cộng đồng để bắt buộc họ phải tuân theomọi sự đòi hỏi quá đáng, tùy ý và những sắc lệnh vô giới hạn của những ýthích bất thờng hoặc không bị kiềm chế của ngời hoặc một số ngời đó Dovậy, để cho những quyền lực mà chính quyền có tồn tại chỉ vì lợi ích của xãhội thì nó phải không đợc chuyên quyền độc đoán và tùy ý, mà nó phải đợcthực hiện bằng những đạo luật đã đợc thiết lập và đợc công bố Các đạo luật
đó không đợc thay đổi trong những trờng hợp đặc biệt, mà phải có cùng mộtquy định cho cả ngời giàu và ngời nghèo, cho cả những ngời đợc sủng ái trongtriều đình lẫn những ngời dân cày
Thứ ba, quyền lực tối cao không thể tớc đoạt của bất kỳ một ngời nào
bất kỳ một phần tài sản nào của anh ta mà không có sự đồng ý của anh ta Vì
sự bảo tồn tài sản là mục đích tồn tại của chính quyền, và cũng vì mục đích đó
mà con ngời thiết lập xã hội Con ngời trong xã hội phải có tài sản, họ cóquyền đòi hỏi điều đó và phải đợc quy định bởi pháp luật của xã hội rằng:không ai có quyền tớc đoạt tài sản của họ hoặc một phần tài sản ấy nếu không
có sự đồng ý của họ Nếu không có quy định này thì không ai có một chút tàisản nào cả, vì có thể bị ngời khác hoặc chính quyền tớc mất Nhà vua hoặcThợng viện, tuy có quyền làm luật để điều chỉnh quan hệ tài sản giữa các chủthể, song cũng không bao giờ có quyền lấy cho mình toàn bộ hoặc một phầntài sản của ngời dân, nếu không có sự đồng ý của họ Một điều chắc chắn làcác chính quyền không thể tồn tại nếu không có một khoản tiền lớn, và sẽ làphù hợp nếu mỗi ngời đợc hởng sự bảo vệ của nhà nớc cần phải trả từ tài sảncủa mình một phần tơng xứng với sự bảo vệ đó Nhng vẫn phải đợc sự đồng ýcủa chính ngời đợc bảo vệ, tức là sự ng thuận của đa số nhân dân đợc nêu lênhoặc là bởi chính bản thân họ, hoặc là bởi những ngời đại diện của họ dochính họ lựa chọn
Thứ t, lập pháp không thể chuyển giao quyền làm luật cho bất kỳ một
ngời nào khác Vì nó tồn tại nh là một quyền lực đại diện cho nhân dân nên
Trang 38những ngời có nó không thể chuyển sang cho những ngời khác Chỉ riêngnhân dân mới có quyền lựa chọn hình thức của nhà nớc bằng việc thiết lậpquyền lập pháp và trao nó vào tay những ngời có thể Sau đó nhân dân sẽ nóirằng: chúng tôi sẽ phục tùng những quy định và đợc điều chỉnh bằng những
đạo luật do những ngời đó làm ra Nhân dân cũng không thể bị hạn chế bởi bất
kỳ đạo luật nào ngoài những đạo luật đợc ban hành bởi những ngời do họ chọn
và ủy quyền làm luật cho Quyền lực lập pháp là nhận đợc từ nhân dân từ sựchuyển nhợng bằng một khế ớc đợc thiết lập rõ ràng, tự nguyện trong đó xác
định nó tồn tại chỉ để làm luật chứ không phải để tạo ra các nhà lập pháp, lậppháp không có quyền nhờng quyền làm luật cho bất kỳ ai
Nh vậy, dới con mắt của Locke, quyền lực lập pháp là tối cao songkhông phải là vô hạn mà vẫn bị giới hạn bởi những điều kiện nhất định Sở dĩ
nh vậy là vì quyền lập pháp chỉ là một quyền lực đợc ủy thác từ nhân dân đểhoạt động vì những mục đích nhất định nên nó không phải là một quyền lựchoàn toàn độc lập mà phải phụ thuộc vào nhân dân - chủ thể tối cao của quyềnlực trong xã hội Nhân dân vẫn còn một quyền lực tối cao là cách chức hoặcthay đổi chính quyền lập pháp khi họ nhận thấy nó hoạt động trái ngợc với sựtín nhiệm của họ Khi ấy nhân dân sẽ lấy lại quyền lực và lại có thể trao quyềnlập pháp cho những ngời mới mà họ cho là sẽ bảo đảm tốt nhất cho sự an toàn
và an ninh của họ Do đó, nhân dân vĩnh viễn nắm giữ quyền lực tối cao đểbảo đảm sự an toàn cho chính họ khỏi sự xâm phạm và những mu đồ của bất
cứ ngời nào, thậm chí kể cả những nhà lập pháp Các nhà lập pháp sẽ bị coi làngu xuẩn và đồi bại, và sẽ bị tớc mất quyền lực khi họ đề ra và thực hiệnnhững mu đồ chống lại tự do và tài sản của nhân dân Trong luận điểm này,Locke đã hoàn toàn tiến bộ và hợp lý khi thừa nhận quyền lực tối cao và vaitrò quyết định của nhân dân đối với nhà nớc, song cũng thể hiện rõ lập trờng tsản của ông khi ông đề cao quyền sở hữu tài sản của con ngời
Bên cạnh việc luận bàn về giới hạn và sự phụ thuộc của quyền lậppháp, Locke còn luận bàn về sự phụ thuộc của các quyền hành pháp và liên
Trang 39bang Theo ông, ở một số nhà nớc mà quyền lập pháp không tồn tại thờngxuyên, quyền hành pháp đợc trao cho một cá nhân và ngời này cũng đợc thamgia vào quyền lập pháp, thì trong một nghĩa có thể chấp nhận đợc, con ngờinày cũng có thể đợc gọi là tối cao Song không phải là bản thân ông ta có tấtcả quyền lực tối cao mà chỉ vì ông ta cũng có quyền làm luật Ông ta đợc gọi
là tối cao bởi vì ông ta có quyền hành pháp tối cao, tất cả hoặc hầu hết cácpháp quan thấp hơn nhận đợc quyền lực từ ông ta, phụ thuộc vào ông ta, đồngthời không có sự lập pháp nào cao hơn ông ta vì không có đạo luật nào đợclàm nếu không có sự đồng ý của ông ta, song các phần khác của lập pháp thìlại không phải phụ thuộc vào ông ta Ông ta chỉ là ngời thực hiện tối cao củaluật, là ngời đại diện cho xã hội, đợc nhân dân trao quyền theo pháp luật, phảihoạt động theo ý chí của xã hội đợc tuyên bố trong pháp luật của nó, tức làphải tuân theo pháp luật Nếu ông ta vi phạm pháp luật, không hoạt động với
t cách là ngời đại diện cho xã hội, theo ý chí chung mà chỉ hoạt động theo ýchí riêng của ông ta thì có nghĩa là ông ta đã tự giáng chức của mình Tóm lại,
dù quyền hành pháp đợc trao vào tay ai mà ngời đó cũng đợc tham gia vàoquyền lập pháp thì dù là ngời hành pháp tối cao, ngời đó cũng vẫn phải phụthuộc vào quyền lập pháp và chịu trách nhiệm trớc quyền lập pháp Ông ta cóthể bị thay đổi hoặc bị cách chức tùy theo ý muốn của quyền lập pháp Vềquyền lực của các bộ trởng và những ngời phụ thuộc khác, Locke nói rằng ôngkhông muốn nói đến vì nó rất phong phú và phức tạp tùy theo phong tục vàHiến pháp của các nhà nớc Song Locke cảnh báo họ rằng họ không đợc cómột cách xử sự nào vợt quá thẩm quyền và những công việc đã đợc ủy quyềncho họ bằng một khế ớc xác định, đồng thời tất cả họ phải chịu trách nhiệm tr-
ớc một số quyền lực khác của nhà nớc Khi quyền lập pháp trao việc thực hiệncác đạo luật mà nó làm ra cho những bàn tay khác thì nó cũng có quyền lấylại từ những bàn tay đó khi nó tìm thấy lý do và khi trừng phạt vì bất kỳ một
sự thực hiện nào trái với luật pháp, dù là rất nhỏ
Trang 40Việc nắm giữ quyền liên bang cũng tơng tự vì nó cùng với quyền hànhpháp đều là những quyền bổ trợ và phụ thuộc của quyền lập pháp Lập phápphải bao gồm một số ngời (vì nếu nó chỉ có một cá nhân thì nó không thểkhông thờng xuyên tồn tại, mà nó cũng vẫn là tối cao nên đơng nhiên ngời này
có cả quyền hành pháp tối cao lẫn quyền lập pháp), có thể nhóm họp và thựchiện việc lập pháp của họ vào một thời gian nhất định
Quyền triệu tập cơ quan lập pháp thông thờng thuộc về hành pháp và
có một trong hai sự giới hạn về thời gian Hoặc là Hiến pháp gốc đòi hỏi sựnhóm họp và hoạt động của họ vào những khoảng thời gian nhất định, và sau
đó quyền hành pháp không có gì khác hơn sự thực hiện pháp luật bằng cách
điều khiển sự bầu cử và sự nhóm họp của họ theo đúng một thể thức nhất
định Hoặc là cho phép theo sự khôn ngoan và thận trọng của hành pháp triệutập họ bằng những cuộc bầu cử mới, khi có những lý do trực tiếp hoặc nhu cầucấp bách của xã hội đòi hỏi phải thay đổi những đạo luật cũ, hoặc làm ranhững đạo luật mới, hoặc uốn nắn, hoặc ngăn ngừa những sự bất tiện nào đó
mà thuộc trách nhiệm của mình hoặc đe dọa tới nhân dân Quyền nắm giữ haychỉ huy quân đội phải thuộc về hành pháp Song nếu hành pháp lại sử dụng lựclợng này để cản trở hội nghị và hoạt động của cơ quan lập pháp thì nhân dân
sẽ loại bỏ lực lợng đó Về điều này, Locke viết:
Để xây dựng đợc một cơ quan lập pháp với mục đích thực hiện quyền làm luật, hoặc là trong một thời gian nhất định, hoặc là khi cần đến điều đó; khi họ bị cản trở bởi bất kỳ lực lợng nào thì
điều cần thiết cho xã hội và cốt để an toàn và bảo tồn nhân dân là nhân dân phải có quyền loại bỏ lực lợng đó cũng bằng vũ lực Trong tất cả các nhà nớc và các điều kiện, sự đáp lại thích đáng với việc dùng vũ lực mà không có thẩm quyền là phải đối chọi lại bằng
vũ lực Việc sử dụng vũ lực không có thẩm quyền luôn luôn đặt anh
ta, ngời sử dụng đó vào trạng thái chiến tranh với nhân dân giống