Chơng trình phát triển kinh tế xã hội
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của chơng trình phát triển kinh tế xã hội
Chiến lược và kế hoạch định hướng vĩ mô của nhà nước đặt ra nhiều mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cho tương lai, yêu cầu sự phối hợp giữa nhiều ngành, vùng và lĩnh vực Một số mục tiêu phản ánh các vấn đề kinh tế xã hội cấp bách cần sự nỗ lực tập trung từ các cấp, các ngành để giải quyết trong thời gian nhất định Do đó, việc thực hiện các mục tiêu này không thể chỉ dựa vào các cơ chế thông thường, mà cần các giải pháp đặc thù Chương trình phát triển kinh tế xã hội ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu này.
Chương trình phát triển kinh tế xã hội là công cụ quan trọng để cụ thể hóa và triển khai mục tiêu của chiến lược và kế hoạch định hướng vĩ mô Nó bao gồm các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ liên quan đến kinh tế, xã hội, công nghệ, môi trường và cơ chế chính sách, nhằm thực hiện một hoặc nhiều mục tiêu của chiến lược và kế hoạch định hướng vĩ mô dựa trên nguồn lực nhất định.
Chơng trình phát triển kinh tế xã hội có các đặc điểm sau đây: a Tính mục tiêu:
Chương trình là công cụ quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu của chiến lược và kế hoạch định hướng Do đó, mục tiêu của chương trình cần phải phù hợp với các mục tiêu chiến lược và kế hoạch đã đề ra Nếu không tuân thủ nguyên tắc này, chương trình sẽ trở nên vô nghĩa Tính đồng bộ giữa chương trình và chiến lược là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả thực hiện.
Trong thực tiễn, nhiều vấn đề không thể giải quyết chỉ trong một ngành hay một địa phương, và việc giải quyết chúng có tác động lớn đến nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó, cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ngành, địa phương và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, cùng với một hệ thống giải pháp đồng bộ Tính hiệu quả của chương trình phụ thuộc vào việc đạt được mục tiêu trong khuôn khổ nguồn lực và thời gian nhất định; việc vượt trội về nguồn lực hay thời gian không phải là biểu hiện của hiệu quả Để thực hiện chương trình, cần có cơ chế tổ chức chặt chẽ, xác định rõ công việc, thời gian, nguồn lực và trách nhiệm của các bên liên quan, vì một trục trặc nhỏ trong tổ chức cũng có thể làm giảm hiệu quả thực hiện chương trình.
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn còn kém phát triển và tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới Để đuổi kịp, chúng ta cần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã được xác định trong chiến lược phát triển Tuy nhiên, nguồn lực để đạt được những mục tiêu này rất hạn hẹp, đặc biệt là nguồn lực trong nước Hơn nữa, cách thức sử dụng nguồn lực hiện tại thường phân tán, cục bộ và đôi khi chồng chéo mục tiêu, dẫn đến lãng phí và hiệu quả thấp.
Để đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững, cần lựa chọn đúng mục tiêu và tập trung nguồn lực hạn chế Sự chỉ đạo và quản lý từ trung ương đến cơ sở phải thống nhất để đạt được các mục tiêu đề ra Kế hoạch hoá theo chương trình phát triển kinh tế xã hội là công cụ thiết yếu trong cơ chế quản lý tại Việt Nam.
Xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam rất quan trọng, vì nó giúp phối hợp đồng bộ các giải pháp từ các ngành và cấp khác nhau Điều này cho phép khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hạn chế để đạt được các mục tiêu trong kế hoạch cụ thể Đồng thời, chương trình cũng giải quyết hệ thống các tác động của kế hoạch, đảm bảo hiệu quả tổng hợp về kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng trên toàn quốc.
Nội dung của chơng trình phát triển kinh tế xã hội
Một chương trình phát triển kinh tế xã hội cần đánh giá thực trạng vấn đề để xác định tính cấp thiết của việc giải quyết Việc này giúp nhận diện ảnh hưởng của vấn đề đến hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, từ đó khẳng định sự cần thiết phải giải quyết triệt để Có nhiều phương pháp để giải quyết vấn đề, nhưng việc xây dựng một chương trình cụ thể là cách hiệu quả nhất, giúp tập trung nguồn lực hạn chế vào mục tiêu đã đề ra Mục tiêu, phạm vi và quy mô của chương trình cũng cần được xác định rõ ràng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.
Mục tiêu là yếu tố cốt lõi của mỗi chương trình, với một mục tiêu cuối cùng và các mục tiêu trung gian tạo thành hệ thống mục tiêu hoặc cây mục tiêu.
Mục tiêu cuối cùng của chương trình được xây dựng dựa trên mục tiêu chiến lược phát triển hoặc kế hoạch định hướng Việc đạt được mục tiêu này sẽ góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu chiến lược và kế hoạch đã đề ra Mặc dù mục tiêu cuối cùng có thể mang tính định tính, nhưng càng được định lượng rõ ràng thì càng tốt.
Mặc dù không thể định lượng, mục tiêu cuối cùng cần được trình bày rõ ràng và có thể đánh giá Để đạt được mục tiêu này, cần triển khai và thực hiện nhiều cấp mục tiêu trung gian khác nhau Thông thường, mỗi chương trình sẽ có từ 3 mục tiêu trung gian trở lên.
Các cấp mục tiêu trung gian cần được lượng hóa cụ thể về số lượng, chất lượng, thời gian và không gian để đảm bảo thực hiện hiệu quả mục tiêu cấp trên Những mục tiêu này phải rõ ràng và không chồng chéo nhau, hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể Đối tượng hưởng thụ chương trình là những nhóm người và tổ chức kinh tế, xã hội nhận lợi ích trực tiếp, trong khi đối tượng chịu tác động là những người và tổ chức bị ảnh hưởng bởi kết quả của chương trình Sự ảnh hưởng có thể tích cực hoặc tiêu cực; nếu tích cực, chương trình đã tác động có lợi, còn nếu tiêu cực, cần có biện pháp hạn chế tác động xấu.
Xác định chính xác đối tượng hưởng thụ và đối tượng chịu tác động của chương trình là yếu tố then chốt trong phát triển kinh tế xã hội Đồng thời, cần nêu rõ những giới hạn thực hiện của chương trình và đề xuất các giải pháp phù hợp để khắc phục.
Những giới hạn trong việc thực hiện chương trình là những vấn đề khó khăn cản trở và hạn chế khả năng đạt được mục tiêu Trong quá trình thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội, thường gặp phải các giới hạn như:
Nguồn lực luôn khan hiếm và hạn chế, ngay cả đối với các chương trình cấp quốc gia, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đạt được các mục tiêu đề ra.
- Mâu thuẫn giứa các loại mục tiêu: Nếu nhấn mạnh mục tiêu cân bằng xã hội có thể làm giảm mục tiêu tăng trởng kinh tế.
- Các trục trặc thất bại của thị trờng: Độc quyền ảnh hởng ngoại lai.
- Những cản trở về mặt thể chế, thục tục hành chính.
- Các điều kiện tự nhiên không thuận lợi ngây ra.
Các giải pháp phải đồng bộ để khắc phục những hạn chế trên bao gồm:
- Các giải pháp về chính sách kinh tế xã hội
- Các giải pháp về đòn bẩy kinh tế.
- Các giải pháp về tổ chức bộ máy.
- Các giải pháp về kỹ thuật công nghệ
- Các giải pháp về nhân sự.
- Các giải pháp về bảo vệ môi trờng.
Tất cả các giải pháp cần tập trung vào việc khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện chương trình, từ đó góp phần đạt được mục tiêu đã đề ra Để chương trình hoạt động hiệu quả, việc xác định đúng nguồn lực, bao gồm số lượng và cơ cấu các nguồn lực, là rất quan trọng.
Nguồn lực thực hiện chơng trình gồm: Vốn đầu t, lao đông, tài nguyên, công nghệ kỹ thuật.
Để đạt được hiệu quả kinh tế xã hội của chương trình, cần xác định rõ từng yếu tố nguồn lực, bao gồm số lượng, thời điểm và chất lượng Chỉ khi có cơ sở này, chúng ta mới có thể đề ra các giải pháp khai thác nguồn lực hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu của chương trình Đồng thời, cần quán triệt quan điểm rằng nguồn lực trong nước là chính, nhưng cũng phải tận dụng tối đa nguồn lực từ bên ngoài để thực hiện mục tiêu của chương trình.
Hiệu quả của chơng trình thể hiện trên hai mặt: Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế của chương trình được thể hiện qua chỉ tiêu giá trị tăng thuần, phản ánh sự đóng góp của chương trình vào việc gia tăng GDP của nền kinh tế.
Chương trình mang lại hiệu quả xã hội rõ rệt qua việc tạo ra việc làm và thu nhập, giảm thiểu tệ nạn xã hội, nâng cao dân trí và năng lực lao động, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong thực tế, chương trình có thể tập trung vào hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hoặc cả hai Việc xác định đối tượng tham gia thực hiện chương trình là rất quan trọng.
Để thực hiện chương trình hiệu quả, cần xác định rõ các ngành, địa phương, cơ quan và doanh nghiệp tham gia, cùng với trách nhiệm và quyền lợi của từng đơn vị Mỗi cơ quan cần nắm rõ công việc của mình, bao gồm khối lượng công việc, thời gian bắt đầu và kết thúc, cũng như địa điểm thực hiện Đồng thời, họ cũng phải hiểu mối quan hệ công việc của mình với các cơ quan khác Để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, cần thành lập cơ quan quản lý chương trình, có trách nhiệm chủ trì và phối hợp các đối tác liên quan trong việc tổ chức, xây dựng và thực hiện chương trình, dự án nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Nó có trách nhiệm quản lý phân bổ kinh phí và tổ chức kế toán để đảm bảo nguồn kinh phí của chương trình tuân thủ chế độ quản lý tài chính nhà nước Để hỗ trợ cơ quan quản lý chương trình, cần thành lập ban chủ nhiệm chương trình, có chức năng điều hành và giám sát thực hiện chương trình, và sẽ được giải thể khi chương trình kết thúc Ngoài ra, cần đề xuất khả năng lồng ghép với các chương trình khác có liên quan trong quá trình xây dựng chương trình.
Tiền đề xây dựng chơng trình
Trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đã triển khai nhiều chủ trương và chính sách nhằm tập trung chỉ đạo các chương trình và dự án phát triển kinh tế.
Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương đã cụ thể hóa các chủ trương phù hợp với đặc thù của từng vùng miền núi và dân tộc Qua các dự án, họ xác định rõ mục tiêu và bước đi cụ thể, đồng thời tích cực vận động nhân dân tham gia triển khai thực hiện Nhờ đó, đã có những chuyển biến tích cực trong xã hội.
Kinh tế đang có mức tăng trưởng tích cực, với nhiều người dân chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang các mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả Sự hình thành các vùng sản xuất mới đã dẫn đến sự xuất hiện ngày càng nhiều hộ gia đình làm kinh tế giỏi Nhờ đó, đời sống của nhân dân các dân tộc được cải thiện, đồng thời trật tự và an toàn xã hội cũng được duy trì.
Những chuyển biến tích cực gần đây đã tạo nền tảng cho sự phát triển của 6 tỉnh miền núi phía bắc (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Lai Châu) trong những năm tới Tuy nhiên, kinh tế xã hội của các tỉnh này vẫn ở mức phát triển thấp, với đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí hạn chế, và cơ sở hạ tầng còn yếu kém Để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2005, cần khai thác tiềm năng về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, rừng và khoáng sản, đồng thời gắn phát triển kinh tế với chính sách dân tộc, nhằm cải thiện đời sống nhân dân và bảo vệ an ninh quốc phòng.
Để phát huy tiềm năng và giải quyết các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, cần phát triển kết cấu hạ tầng gần với sản xuất hàng hóa, nhằm nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc và giảm khoảng cách với các vùng khác trong cả nước Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành quyết định số 186/2001/QĐ-TTg vào ngày 07/12/2001 về việc phát triển kinh tế xã hội tại 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc trong giai đoạn 2001 - 2005.
Mục tiêu của chơng trình phát triển kinh tế-xã hội 6 tỉnh miền núi phía bắc
Mục tiêu tổng quát của chương trình là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nông nghiệp nông thôn, xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm bền vững để tạo ra sản phẩm hàng hóa tập trung Chương trình sẽ áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Đồng thời, xây dựng nông thôn hiện đại với cơ cấu hợp lý giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, giải quyết triệt để vấn đề du canh, du cư Chương trình cũng hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại những khu vực có điều kiện, tập trung đầu tư cho các vùng khó khăn nhằm đảm bảo việc làm và xóa đói giảm nghèo, hướng tới một xã hội nông thôn văn minh, dân chủ và công bằng.
Giải quyết các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội khu vực như đói nghèo, di cư tự do, và tình trạng du canh, du cư Cần ngăn chặn việc phá rừng để làm nương rẫy, đồng thời cải thiện nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt Tái trồng cây thuốc phiện cũng cần được kiểm soát, bên cạnh việc đảm bảo người dân có điều kiện đi lại, học hành và khám chữa bệnh.
Sự phát triển của kết cấu hạ tầng gắn liền với sự phát triển kinh tế hàng hóa đã góp phần nâng cao đời sống của người dân, đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền trong cả nước.
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 2005 đã tăng gấp 1.7 lần so với năm 2000, với mức tăng trưởng bình quân khoảng 7-8% mỗi năm Trong đó, ngành công nghiệp ghi nhận mức tăng 15.5%/năm, nông lâm nghiệp tăng 5.7%/năm, và dịch vụ tăng 13.1%/năm Tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2005 cũng tăng gấp 1.5 lần so với năm 2000.
Tỷ trọng GDP của các ngành là: Công nghiệp - Xây dựng: 22%; Nông lâm nghiệp 35%; Dịnh vụ 43%.
Tổng kim nghạch tăng bình quân 20%/năm. b Mục tiêu cụ thể của chơng trình.
Không còn hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dới 15%.
Hơn 90% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm, 100% số xã có điện thoại, và 70% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch Đặc biệt, trên 75% số xã có điện đến trung tâm xã.
Nâng cấp và kiên cố hóa các trạm y tế là cần thiết để đảm bảo 100% số xã có trạm y tế đạt tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân Mục tiêu là giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống còn 30%.
Củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ là mục tiêu quan trọng Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 95% ở tiểu học, 79% ở trung học cơ sở và 40% ở trung học phổ thông Tất cả các thôn bản đều có lớp học, đồng thời kiên cố hoá các phòng học tại xã Ngoài ra, 15% lao động trong ngành kinh tế đã được đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội và nâng cao dân trí sẽ cải thiện rõ rệt đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là đời sống văn hóa của các đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhiệm vụ của chơng trình
Tạo ra những tiền đề cơ bản cho công nghiệp hoá là cần thiết để hình thành một hệ thống kinh tế vững mạnh Việc tích luỹ ban đầu từ nội bộ, xây dựng hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực ở mức tối thiểu sẽ giúp nông nghiệp giải quyết vấn đề an ninh lương thực Đồng thời, hệ thống công nghiệp và dịch vụ ban đầu cần được thiết lập để thúc đẩy tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn vùng, từ đó hình thành một cơ chế quản lý kinh tế mới.
Phát triển nguồn lực con người là cần thiết để đáp ứng nhu cầu trong khu vực, đồng thời cần có chính sách thu hút nhân lực làm việc tại các thôn bản và xã còn khó khăn Đây là vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế bền vững của các tỉnh đặc biệt khó khăn.
Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trởng kinh tế nhanh ít nhất là bằng với mức tăng trung bình của cả nớc.
Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế vùng so với các vùng khác trong cả nước là cần thiết Đổi mới công nghệ và ứng dụng tối đa các thành tựu công nghệ mới sẽ giúp cải thiện năng suất Đồng thời, cần đổi mới quản lý, chuyển dịch và nâng cấp cơ cấu kinh tế Việc tích cực trao đổi giao lưu buôn bán với các khu vực khác, đặc biệt là phát huy lợi thế giao lưu buôn bán với nước ngoài ở những tỉnh có đường biên, cũng rất quan trọng.
Quy hoạch lại dân cư ở những khu vực cần thiết nhằm tổ chức hợp lý đời sống sinh hoạt của người dân tại các bản, làng Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, hình thành những đầu tàu kéo theo sự phát triển của các vùng lân cận Đồng thời, cần đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp gắn liền với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nhằm khai thác nguồn tài nguyên và sử dụng lao động tại chỗ Qua đó, tạo thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập và ổn định đời sống, từng bước phát triển hàng hóa.
Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cần phù hợp với quy hoạch sản xuất và sắp xếp lại dân cư Điều này bao gồm việc cải thiện hệ thống giao thông, cung cấp nước sinh hoạt và nâng cấp hệ thống điện, đặc biệt là ở những khu vực có điều kiện thuận lợi, bao gồm cả việc phát triển thủy điện nhỏ.
Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã cần ưu tiên cho các công trình y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cũng như các cơ sở phục vụ sản xuất và phát thanh truyền hình Đồng thời, việc đào tạo cán bộ xã, bản, làng là rất quan trọng để nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế, từ đó phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Điều kiện tự nhiên kinh tế - x hội của tỉnh ã
Điều kiện tự nhiên
Năm 2004, tỉnh Điện Biên được tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ theo Nghị quyết điều chỉnh địa giới của Quốc hội, với tổng diện tích tự nhiên là 9.554,107 km².
Tỉnh này nằm ở phía bắc giáp tỉnh Lai Châu mới, phía đông và đông nam giáp tỉnh Sơn La, phía tây bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc với đường biên giới Việt - Trung dài 38,5 km Ngoài ra, phía tây và tây nam của tỉnh giáp với nước CHDCND Lào, có biên giới Việt - Lào dài 360 km.
Tỉnh có 8 đơn vị hành chính tương đương cấp huyện, bao gồm: Thành phố Điện Biên Phủ, huyện Mường Nhé, huyện Mường Lay, huyện Điện Biên, huyện Tuần Giáo, huyện Điện Biên Đông, huyện Tủa Chùa và thị xã Lai Châu.
Điện Biên bao gồm 9 phường, 4 thị trấn và 75 xã, trong đó có 59 xã đặc biệt khó khăn Dân số trung bình năm 2003 là 438 ngàn người, với 18 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm 40,4%, dân tộc Mông 28,8%, dân tộc Kinh 19,7%, dân tộc Khơ Mú 3,2%, và các dân tộc khác như Nh Dao, Hà Nhì, Hoa Địa hình Điện Biên rất phức tạp với độ dốc lớn, phía đông bắc có dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Xi Phăng cao 3143m, trong khi phía tây là dãy núi biên giới Việt Lào với đỉnh Pu Đen Đinh cao 1886m.
Xen kẽ giữa những dãy núi cao là các thung lũng và lòng chảo có độ dốc tương đối thấp như Mờng Thanh, Tuần Giáo Địa hình phức tạp gây khó khăn trong việc di chuyển, đồng thời hạn chế khả năng phát triển nông nghiệp và khai thác nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất Thời tiết khí hậu cũng ảnh hưởng đến các hoạt động này.
Thời tiết khí hậu vùng này là nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh và ít mưa, trong khi mùa hè có nhiều mưa Đặc điểm thời tiết diễn biến thất thường và đa dạng, chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng Khu vực phía bắc thường có nhiệt độ thấp hơn khu vực phía nam từ 4 đến 5 độ C do ảnh hưởng của địa hình núi cao, đặc biệt là dãy núi Hoàng Liên Sơn, với nhiệt độ bình quân khoảng 19 độ C và lượng mưa trung bình từ 2000 mm.
Khu vực phía Bắc có lượng mưa trung bình khoảng 2500 mm/năm, với mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8 Trong khi đó, phía Nam có nhiệt độ trung bình 21 °C và lượng mưa từ 1500 – 1700 mm/năm, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 Điện Biên nằm ở khu vực núi cao với độ cao trung bình từ 1000 – 2000 m so với mực nước biển, có địa chất cổ và phức tạp Địa hình cao thường có mây mù và độ ẩm cao, thuận lợi cho việc tích lũy mùn Vùng này có 13 loại đất chính, chủ yếu là đất đỏ vàng và đất mùn đỏ vàng, tạo điều kiện cho sự phát triển của cây lương thực, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả.
Sự phân bố các nguồn nớc của tỉnh nh sau:
Các huyện phía bắc như Mờng Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tủa Chùa và M-ơng Lay nằm trong lưu vực sông Đà, nơi có mật độ sông suối lớn với bình quân đạt 0,55 km/km².
Các huyện phía nam nh: Tuần Giáo, Điện Biên, Điên Biên Đông thuộc lu vực Sông Mã có mật độ sông suối là 0,5km/km 2
Các sông suối thường có độ dốc lớn và phân chia thành hai mùa rõ rệt Mùa mưa lũ từ tháng 6 đến tháng 8 chiếm 65-70% lượng nước, thường gây ra lũ ống và lũ quét, đặc biệt khi rừng bị tàn phá nặng nề Ngược lại, mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 30-35% lượng nước, dẫn đến tình trạng cạn kiệt và thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất và sinh hoạt.
Trong những năm qua, tình trạng chặt phá rừng bừa bãi đã khiến độ che phủ rừng chỉ còn 29% diện tích tự nhiên, chủ yếu là rừng khoanh nuôi và tái sinh Diện tích rừng giàu và trung bình chỉ chiếm 10% tổng diện tích rừng hiện có Thảm động thực vật trong tỉnh rất phong phú với nhiều loài quý hiếm như hổ, voi, khỉ, và gấu Tuy nhiên, do sự tàn phá rừng, số lượng động vật ngày càng giảm và nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng, dẫn đến việc rừng mất đi giá trị kinh tế và khả năng phòng hộ.
Điều kiện kinh tế
Sản xuất nông nghiệp chủ yếu vẫn ở trạng thái tự nhiên, với hình thức du canh và tự cung tự cấp Mức sản lượng lương thực bình quân đạt 287 kg/người/năm, trong đó lương thực chiếm 60%, còn lại là hoa màu khác.
Năng suất cây trồng đạt thấp: Lúa nớc 27 tạ/ha, lúa nơng 10 tạ/ha, ngô
12 tạ/ha Sản xuất không ổn định, năng suất bấp bênh, thiên tai xẩy ra thờng xuyên, nạn đói luôn đe doạ.
Cây công nghiệp, cây dợc liệu, cây ăn quả còn nhỏ bé, manh mún, chủ yếu là tự cung tự cấp cha có sản xuất hàng hoá.
Chăn nuôi phát triển chậm, chủ yếu đang chăn thả tự nhiên, dịch bệnh cha đợc kiểm soát.
Lâm nghiệp cha đã trở thành ngành chính, tuy nhiên vẫn còn nặng về khai thác Mặc dù trong những năm gần đây đã có sự quy hoạch và trồng tái sinh rừng, nhưng hiệu quả của việc trồng rừng cha vẫn chưa cao.
Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống đang đợc khôi phục song mức độ phát triển vẫn còn chậm.
Thương mại và dịch vụ đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, nhưng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực tiêu dùng Tuy nhiên, số hộ nghèo vẫn còn ở mức cao.
Thuận lợi khó khăn
Tỉnh có tiềm năng lớn về điều kiện tự nhiên, tạo cơ hội phát triển nông lâm nghiệp đa dạng và đặc thù Nơi đây có khả năng sản xuất nhiều nông sản hàng hóa giá trị như chè, cà phê, mận, mơ, cam, xoài, nhãn Đồng thời, tỉnh cũng chú trọng vào chăn nuôi đại gia súc, trồng rừng và khai thác gỗ để chế biến lâm sản.
Cửa khẩu Mờng Lói và Tây Trang giáp với Lào, Pha Nận giáp với Trung Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hóa, kinh tế và khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam, Lào và Trung Quốc Nhà nước đã quan tâm đầu tư phát triển thông qua các nguồn vốn và nhiều chương trình phát triển xã hội, an ninh quốc phòng Đồng bào các dân tộc trong tỉnh đoàn kết, tin tưởng vào chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Nhân dân trong tỉnh có nhiều truyền thống văn hóa đặc sắc, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc và tinh thần cần cù, chịu khó Tuy nhiên, địa hình dốc và phức tạp gây ra khó khăn trong giao thông, đặc biệt vào mùa mưa, thường xuyên xảy ra sụt lở và ách tắc Hàng năm, chi phí cho việc tu sửa và khắc phục tình trạng này là rất lớn.
Rừng bị tàn phá nặng nề, môi trờng sinh thái diễn biến theo xu hớng ngày càng xấu.
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong tỉnh còn nghèo nàn và lạc hậu, dẫn đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân chưa được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo và khó khăn vẫn chiếm một phần lớn, trong khi nhiều hộ gia đình không có đủ tích lũy để tái sản xuất và phát triển kinh tế.
Do thị trờng còn nhỏ lẻ manh mún nên kéo theo sản xuất hàng hoá củng cha phát triển.
Nguồn nước sạch cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của người dân đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong mùa khô, khi một số huyện phải đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng.
Trình độ dân trí hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, với tỷ lệ người mù chữ vẫn còn cao Bên cạnh đó, tình trạng tệ nạn xã hội, đặc biệt là nghiện hút, vẫn diễn ra phổ biến.
Một số dân tộc vẫn duy trì phong tục tập quán lạc hậu, đặc biệt là các xã giáp biên giới Những mối quan hệ dòng họ và láng giềng với các dân tộc ngoài biên giới thường bị các thế lực phản động quốc tế lợi dụng để chống phá cách mạng và gây chia rẽ đoàn kết nội bộ.
Nội dung chơng trình 186 trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Nhiệm vụ
Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nông thôn toàn tỉnh, xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm bền vững để tạo ra sản phẩm hàng hóa tập trung Áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ cao và công nghệ sạch vào sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh Phát triển nông thôn theo hướng hiện đại với cơ cấu hợp lý giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Giải quyết triệt để vấn đề du canh, du cư, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở những khu vực có điều kiện Tập trung đầu tư cho các vùng khó khăn để đảm bảo việc làm và xóa đói giảm nghèo, hướng tới một xã hội nông thôn văn minh, dân chủ và công bằng.
Giải quyết các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội của tỉnh như đói nghèo, du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy, và thiếu nước sản xuất, sinh hoạt là rất cần thiết Mục tiêu là đẩy mạnh phát triển kinh tế với tốc độ cao, tạo sự chuyển dịch tích cực và bền vững trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là trong nông nghiệp nông thôn Cần sử dụng hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ từ trung ương và phát huy tối đa nội lực để khai thác tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là mục tiêu hàng đầu, bao gồm cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo và y tế Đồng thời, cần phát huy sức mạnh đoàn kết, bảo tồn và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc Giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội và bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội cũng là những nhiệm vụ quan trọng.
Những mục tiêu cụ thể giai đoạn 2001 - 2005
2.1.1 Sản xuất nông nghiệp: a Sản xuất lơng thực :
Phát triển sản xuất lương thực theo hướng đa dạng và bền vững là mục tiêu quan trọng, nhằm tăng nhanh khối lượng và chất lượng lương thực, thực phẩm Đến năm 2005, tỉnh phấn đấu đạt 220 ngàn tấn lương thực, đảm bảo đáp ứng nhu cầu lương thực cho nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Đến năm 2005, sản lượng thóc đạt 167 ngàn tấn, với mức tăng bình quân hàng năm là 7.200 tấn, chiếm 76% sản lượng lương thực Lương thực bình quân đầu người đạt 320 kg/người/năm Để duy trì sản lượng lương thực này, cần tập trung phấn đấu đạt một số chỉ tiêu cụ thể.
+ Lúa chiêm xuân: Đa diện tích vụ chiêm xuân từ 7.370 ha năm 2001 lên 10.746 ha vào năm 2005 Sản lợng đạt 52.250 tấn vào năm 2005, tăng từ 52,3 tạ / ha năm 2005.
Lúa vụ mùa đã được chú trọng khai hoang và đầu tư thủy lợi, nâng diện tích từ 18.294 ha năm 2001 lên 26.372 ha năm 2005 Đồng thời, việc thâm canh và đầu tư giống mới đã giúp đạt năng suất 40,5 tạ/ha vào năm 2005, với tổng sản lượng đạt 98.400 tấn.
+ Lúa nơng: Do diện tích ruộng khai hoang tăng thêm 10.000 ha, vì vậy diện tích nơng truyền thống chỉ còn 13.974 ha Năng suất 11,7 tạ/ha, sản lợng 16.350 tấn.
Đến năm 2005, toàn tỉnh đã trồng 30.000 ha cây ngô, với sự tập trung vào thâm canh và nâng cao diện tích ngô lai, ngô kỹ thuật, chiếm 65% tổng diện tích Mục tiêu là nâng cao năng suất ngô từ 15,2 tạ/ha năm 2002 lên 25 tạ/ha, đạt sản lượng 75.000 tấn.
Xây dựng các vùng sản xuất lúa có trình độ thâm canh cao tại Điện Biên, cánh đồng Bình L (Phong Thổ) và một số cánh đồng khác với điều kiện thuận lợi.
Xây dựng các vùng ngô tập trung tại Pú Nhung, Tuần Giáo, Điện Biên với mục tiêu đến năm 2005, hơn 50% diện tích sẽ trồng ngô lai và 15% sẽ trồng giống ngô tiến bộ có năng suất, chất lượng cao.
Triển khai chương trình giống theo hệ thống đồng bộ nhằm cung cấp giống lúa chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển lương thực Hàng năm, đảm bảo 40% diện tích sử dụng giống lúa tiến bộ và 13,5% diện tích gieo cấy giống lúa lai.
Khuyến khích đầu tư vào xây dựng và cải tạo nông, ruộng bậc thang, với mục tiêu tăng diện tích sản xuất lúa lên 8000 ha cho vụ mùa, 1000 ha cho vụ chiêm xuân và 500 ha cho vụ đông Đặc biệt, cần chú trọng đến các vùng sâu, vùng xa, nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao, nhằm ổn định lương thực tại chỗ Cần tập trung hỗ trợ hộ nghèo bằng cách cung cấp kiến thức, hướng dẫn kinh nghiệm và mô hình tổ chức sản xuất, đồng thời chuyển giao kỹ thuật canh tác và giống mới có năng suất, chất lượng cao, cùng với hỗ trợ phân bón và vật tư, nhằm đảm bảo an ninh lương thực.
Quy hoạch một số vùng chuyên canh trồng sắn kết hợp với công nghiệp chế biến nhỏ và tiêu thụ sản phẩm là cần thiết Cần hỗ trợ giống sắn có năng suất và chất lượng cao, cùng với kỹ thuật thâm canh để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Khuyến khích người dân trồng khoai tây, rau và đậu dưới ruộng, chú trọng thực hiện quy trình thâm canh để nâng cao năng suất, đồng thời đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm.
Hớng dẫn kỹ thuật thâm canh, phòng trừ dịch hại theo phơng thức IPM. c Cây công nghiệp, dợc liệu:
* Cây chè : Đa diện tích chè hiện có 2.348 ha, sản lợng búp tơi: 4.240 tấn năm 2001 lên 4200 ha, đạt sản lợng 6800 tấn chè búp tơi vào năm 2005.
Để nâng cao chất lượng sản phẩm chè, cần tập trung thâm canh diện tích chè hiện có và tuyển chọn giống địa phương có năng suất, chất lượng cao Đồng thời, thử nghiệm trồng một số giống chè mới có ưu thế Cần tiếp tục tuyên truyền và vận động người dân thực hiện tốt quy trình trồng và chăm sóc chè, cũng như nâng cấp các cơ sở chế biến Mục tiêu là trồng mới 250 ha chè công nghiệp mỗi năm tại vùng Tam Đường, Bình L, và quy hoạch các vùng trồng chè cây cao như Ba Chà, Cao nguyên Sìn Hồ, Tả Phìn, và Pú Nhi Mỗi năm, tổ chức trồng mới 125 ha chè chất lượng cao.
* Cây Cà phê : Tập trung thâm canh diện tích cà phê hiện có.
* Cây Mía : Tập trung phát triển chăm sóc cây mía ở khu vực tái định c
Si Pa Phìn được quy hoạch để đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy đường sẽ được xây dựng trong những năm tới Mục tiêu là đến năm 2005, toàn tỉnh sẽ hoàn thành kế hoạch này.
3400 ha mía đạt sản lợng 150.000 tấn Trong đó vùng nguyên liệu Si Pa Phìn có 3000 ha đạt sản lợng 135000 tấn.
* Cây Thảo quả : Chăm sóc 400 ha thảo quả hiện có đồng thời lồng ghép với các chơng trình, dự án tập trung phát triển mới : 600 ha để đến năm
2005 toàn tỉnh có 1000 ha đạt sản lợng 200 tấn quả khô Xây dựng và tổ chức tốt mạng lới thu mua, bao tiêu sản phẩm cho nông dân.
Cây đậu tơng phấn đấu đạt 5700 ha vào năm 2005, với năng suất 13 tạ/ha và sản lượng 7410 tấn Để đạt được mục tiêu này, cần áp dụng các biện pháp thâm canh, đặc biệt là trong khâu giống và phân bón Quy hoạch và xây dựng vùng đậu tơng tại Pú Nhung và Phình sáng (Tuần Giáo) sẽ được triển khai, tập trung phát triển đậu tơng dưới ruộng 1 vụ ở các khu vực như Điện Biên, Phong Thổ, Tủa Chùa, Mờng Lay và Tuần Giáo.
* Cây Lạc : Tập trung phát triển cây lạc trên diện tích bãi, ruộng 1 vụ.
Đến năm 2005, toàn tỉnh phấn đấu đạt 1900 ha cây ăn quả, với sự hỗ trợ giống mới và kỹ thuật thâm canh tại một số vùng, nâng năng suất lên 9 tạ/ha, đạt sản lượng 1700 tấn.
Xây dựng quy hoạch vùng tập trung cho từng nhóm cây trồng, bao gồm cây ăn quả á nhiệt đới tại các khu vực như Sìn Hồ, Pú Nhi, Mờng Phăng, và Tam Đờng; vùng cam ở Mờng Nhà, Mờng Pồn; cùng với vải, nhãn, xoài ở vùng thấp Đồng thời, cần tuyển chọn, du nhập và phát triển các vườn cung cấp giống cây ăn quả có năng suất và phẩm chất tốt, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu của tỉnh.
Thực trạng thực hiện chơng trình trong giai đoạn 2001-200
3.1 Tốc độ tăng trởng kinh tế
Biểu 2:Tình hình tăng trởng kinh tế
Chỉ tiêu Đơn vị tÝnh
Tổng giá trị gia t¨ng
Tốc độ tăng tr- ởng
( Nguồn: báo cáo thờng niên của sở kế hoạch và đầu t tỉnh Lai châu giai đoạn 2001-
Giai đoạn 2001 – 2003 đánh dấu những năm đầu thực hiện mục tiêu của quyết định 186, tuy nhiên, việc triển khai gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc huy động và quản lý nguồn lực đầu tư Dù vậy, với sự nỗ lực của Đảng Bộ và chính quyền địa phương, cùng với mong mỏi của đồng bào các dân tộc, các chính sách ưu đãi đặc biệt cho nhân dân miền núi đã được triển khai đồng bộ, bao gồm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các chính sách hỗ trợ cụ thể.
Tổng giá trị gia tăng hàng năm đã có xu hướng tăng, từ 713 tỷ đồng vào năm 2001 với tỷ lệ 7,6%, lên 769 tỷ đồng vào năm 2002 đạt 7,85%, tăng 25% so với năm 2001 Đến năm 2003, giá trị này đạt 843 tỷ đồng với tỷ lệ 9,68%, vượt qua mục tiêu của chương trình 0,68% và tăng 18,3% so với năm 2002.
3.2 Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh
Biểu 3:Tình hình thu ngân sách
Chỉ tiêu Đơn vị tÝnh
(Nguồn: báo cáo tài chính của cục thống kê tỉnh Lai châu giai đoạn 2001- 2003)
Mục tiêu thu ngân sách hàng năm là 60-70 tỷ đồng, nhưng trong 3 năm qua, chương trình chưa đạt được do điều kiện tự nhiên và kinh tế khó khăn Để có đủ nguồn vốn thực hiện chương trình, cần sự hỗ trợ từ nhà nước Giai đoạn 2001 – 2003, trung ương đã cấp 78.678 triệu đồng, tỉnh đã phân bổ vốn theo QĐ186/TTg, bao gồm: hỗ trợ nhà cho giáo viên 4.982 triệu đồng, sách giáo khoa 16.855 triệu đồng, di dân biên giới 10.532 triệu đồng, chương trình giống 20.000 triệu đồng, sắp xếp lại dân cư 6.000 triệu đồng, khai hoang 4.000 triệu đồng, tấm lợp 2.000 triệu đồng, và vốn lưu động cho nhà máy giấy 1.874 triệu đồng.
Trong giai đoạn 2001 – 2003, quyết định 186 đã hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 420 giáo viên tại 13 xã đặc biệt khó khăn, với tổng diện tích 3.640 m² và kinh phí 4.720 triệu đồng Ngoài ra, chương trình cũng đã cung cấp sách giáo khoa và giấy vở cho 244.692 học sinh, với tổng kinh phí 16.855 triệu đồng Đối với việc di dân biên giới, 257 hộ dân đã được hỗ trợ, cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng như thủy lợi nhỏ và nhà lớp học, với tổng vốn thực hiện là 4.500 triệu đồng.
3.3 Thực trạng về nông nghiệp
Biểu 4: tình hình hoạt động nông nghiệp
Chỉ tiêu đơn vị tính Mục tiêu ct
Tổng sản Nghìn tấn 215-220 192 196 203 lợng thực
( Nguồn: báo cáo định kỳ của sở NN&PTNT tỉnh Lai châu giai doạn 2001-
Trong ba năm đầu thực hiện chương trình, mục tiêu đề ra từ 215 – 220 nghìn tấn không được hoàn thành Cụ thể, năm 2001 đạt 192 nghìn tấn, tương đương 92%, và năm 2002 đạt 196 nghìn tấn.
Đến năm 2003, sản lượng đạt 203 nghìn tấn, tương đương 97%, cho thấy chỉ tiêu này đã tăng lên qua các năm Điều này chứng tỏ tỉnh đã thực hiện các chính sách hỗ trợ phù hợp, kịp thời điều chỉnh việc thực hiện chương trình.
Hỗ trợ thực hiện chơng trình giống – gồm giống cây trồng, vật nuôi.
Trong giai đoạn 2001 – 2003, kế hoạch của trung ương giao là 20 tỷ đồng, tuy nhiên chỉ dừng lại ở bước quy hoạch và dự án tổng thể Trong thời gian này, đã có 700 hộ dân ở vùng khó khăn được hỗ trợ di dời đến những khu vực có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn, với tổng mức đầu tư lên tới 6.000 triệu đồng, bao gồm cả kinh phí hỗ trợ và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Kết quả đạt được là 100% chỉ tiêu kế hoạch được giao, với 700 hộ đã được định cư tại khu vực thuận lợi hơn và toàn bộ số tiền 6.000 triệu đã được giải ngân.
Chương trình hỗ trợ khai hoang ruộng bậc thang đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ nhân dân và các dân tộc Từ năm 2001 đến 2003, toàn tỉnh đã khai hoang được 3.404 ha, vượt 404 ha so với kế hoạch ban đầu Trong giai đoạn này, tổng vốn đầu tư được bố trí là 12.000 triệu đồng, trong đó 5.000 triệu đồng từ nguồn vốn 186/TTg và 7.000 triệu đồng do địa phương tự bỏ ra Số vốn còn thiếu đã được tỉnh bổ sung và thanh toán cho nhân dân vào năm 2004.
Hỗ trợ tấm lợp cho đồng bào giai đoạn 2001 – 2003 tỉnh đã bố trí
2.000 triệu đồng để hỗ trợ tấm lợp cho 2000 hộ dân với mức bình quân 1 triệu đồng/ hộ đến hết 2003 đã cấp đợc 800 triệu đồng.
3.4 Về cơ sở hạ tầng
Biểu 5: tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng
Chỉ tiêu Đơn vị tÝnh
N¨m 2001 N¨m 2002 N¨m 2003 Đờng ô tô đến trung tâm xã
Số xã phờng có % 50 22,4 28,5 47,1 điện sinh hoạt
Số xã có điện thoại % 64 31,38 34,09 57,47
(Nguồn: báo cáo của chi cục thống kê tỉnh Lai Châu giai đoạn 2001 – 2003)
Trong giai đoạn 2001 – 2003, mặc dù có sự hỗ trợ từ chính phủ về vốn xây dựng cơ bản, UBND tỉnh vẫn quyết định đầu tư gần 50 tỷ đồng cho các công trình thuộc chương trình 186 Các dự án trọng điểm bao gồm bệnh viện đa khoa tỉnh và đường Phìn Hồ, nhằm thực hiện quyết định 186 một cách hiệu quả.
Phong Thổ, đờng Ta Lét – Mờng Lói, đờng S o Lèng – Pa Há Giai đoạnðo Lèng – Pa Há Giai đoạn
Từ năm 2001 đến 2003, tỉnh đã bắt đầu triển khai chương trình 500 bản vùng cao, nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông liên bản, hệ thống nước sinh hoạt và thủy lợi nhỏ.
Trong 5 năm qua, chương trình đầu tư cho 500 bản vùng cao khó khăn nhất đã đạt mục tiêu “xã, bản có trình, nhân dân có việc làm, thu nhập” với mức đầu tư 60 triệu đồng mỗi bản mỗi năm Giai đoạn 2001 – 2003, tổng đầu tư lên tới 60 tỷ đồng, trong đó 30 tỷ đồng từ nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung và 30 tỷ đồng từ ngân sách địa phương Đến hết năm 2003, các huyện đã hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư, nhiều công trình được xây dựng đã mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác xoá đói giảm nghèo.
Từ đầu năm 2001, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với UBND các huyện, thị xã triển khai kế hoạch hỗ trợ cho đồng bào dân tộc vùng đặc biệt khó khăn theo chỉ đạo của Chính Phủ Trong đó, đã xây dựng 59 công trình cấp nước sinh hoạt tại 52 xã, phục vụ cho 30.000 người với tổng vốn đầu tư 12.278 triệu đồng Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã đầu tư 2.000 triệu đồng để xây dựng 6 công trình cấp nước ở 4 huyện, cung cấp nước cho 6.029 người.
Trong giai đoạn 2001 – 2003, dự án cơ sở hạ tầng tại các xã đặc biệt khó khăn đã thực hiện tổng vốn 129.535 triệu đồng, mang lại những cải thiện đáng kể cho cơ sở hạ tầng nông thôn Cụ thể, đã mở mới 44 tuyến đường giao thông tại 3 xã, với tổng chiều dài lên tới 435 km.
Trong năm qua, tổng kinh phí đầu tư đạt 23.129 triệu đồng, với việc xây dựng 30 công trình cầu, cống tại 27 xã, giúp đảm bảo giao thông thuận lợi trong mùa mưa lũ với tổng kinh phí 9.446 triệu đồng Ngoài ra, 59 công trình nước sinh hoạt đã được xây dựng tại 52 xã, cung cấp nước cho 30.036 người Đặc biệt, 15 công trình trường học mới đã được hoàn thành, với tổng diện tích 37.577 m² và tổng vốn đầu tư lên tới 50.566 triệu đồng.
Trong giai đoạn 2001 – 2003, các chính sách hỗ trợ giáo dục cho đồng bào dân tộc đã được triển khai kịp thời, với 120 xã đặc biệt khó khăn được miễn học phí và tiền đóng góp xây dựng Học sinh được cấp miễn phí bộ sách giáo khoa với kinh phí bình quân 70.000 đồng/học sinh, cùng với giấy vở viết, tổng kinh phí hỗ trợ lên tới 10.068 triệu đồng, trong đó ngân sách trung ương đóng góp 8.855 triệu đồng, dự án EU 590 triệu đồng, và bộ giáo dục 623 triệu đồng Số học sinh được hỗ trợ là 127.692 em, đồng thời toàn bộ kinh phí sinh hoạt học tập của học sinh tại 9 trường PTTH nội trú tỉnh huyện cũng được chu cấp Chính sách cử tuyển được thực hiện đúng đối tượng theo quy định trong giai đoạn này.
Đánh giá việc thực hiện chơng trình giai đoạn 2001-2003
4.1 Những kết quả đạt đợc
Giai đoạn 2001 – 2003, kinh tế tỉnh duy trì ổn định với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,24% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, trong đó giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng 5,2%, chiếm 40,05% GDP Giá trị sản xuất công nghiệp xây dựng tăng 8,42%, chiếm 20,82% GDP, và ngành dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng 9%, chiếm 39,13% GDP Thu nhập bình quân đầu người trong giai đoạn này là 2,22 triệu đồng/năm, tăng 5,4% so với giai đoạn trước.
Tổng nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển ước đạt khoảng 1.000 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách địa phương quản lý, bao gồm cả kinh phí ủy quyền, đạt 469 tỷ đồng, tăng khoảng 70% so với giai đoạn trước Sự gia tăng này đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển và giải quyết một phần những khó khăn bức bách về đầu tư cho hạ tầng sản xuất, bao gồm thủy lợi, điện, đường giao thông, cũng như các dịch vụ công cộng như bệnh viện, trường học, công sở và xây dựng đô thị.
Khu vực kinh tế cửa khẩu đã thu hút lượng hàng hóa xuất khẩu đáng kể từ tỉnh và các tổ chức kinh tế ngoài tỉnh Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ năm 2001 đến 2003 đạt 30.341 ngàn USD, tăng 6,8 lần so với giai đoạn trước Trong đó, hàng xuất khẩu của địa phương ước đạt 4.041 ngàn USD, tăng 58% so với giai đoạn trước.
Cơ sở hạ tầng nông thôn và nông nghiệp đã được củng cố và tăng cường đáng kể, với 140/156 xã có đường ô tô đến trung tâm Đến cuối năm 2003, 66 xã đã kết nối với lưới điện quốc gia, đạt tỷ lệ 52% Ngoài ra, 82 xã có điện thoại và 74/141 xã có bưu điện văn hóa xã.
Các vấn đề y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được cải thiện đáng kể, với 151/156 trạm y tế xã được xây dựng kiên cố và bán kiên cố Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng 6 loại vắc xin đạt trên 90% Đồng thời, tỷ lệ người mắc các bệnh xã hội như lao, phong bướu cổ và sốt rét đều giảm và được kiểm soát hiệu quả.
Trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục đào tạo, cơ sở vật chất trường lớp đã được cải thiện đáng kể, với 5.381 phòng học hiện có, tăng 1.629 phòng so với những năm trước Đến nay, 78 trường học đã có thư viện, 15 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, và 91 trường nội trú dân nuôi phục vụ 5.440 học sinh Giai đoạn 2001 – 2003, tổng số 437 phòng học được xây dựng kiên cố, nâng tỷ lệ phòng học kiên cố hóa lên 37% Kết quả về phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ được duy trì, đồng thời triển khai phổ cập giáo dục THCS, với 10 xã phường được công nhận Số học sinh đầu năm học 2003 – 2004 đạt 174.932, tăng 3,44% so với năm trước, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường ở bậc tiểu học đạt 95%, THCS 55%, và THPT 27% Tình trạng thiếu giáo viên đã được khắc phục bước đầu.
Các mặt văn hóa và đời sống tinh thần của nhân dân đang được chú trọng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa Tỷ lệ hộ gia đình được phủ sóng phát thanh đạt 72%, trong khi tỷ lệ hộ được phủ sóng truyền hình đạt 89% Hoạt động chiếu bóng tại vùng cao vẫn tiếp tục được triển khai phục vụ nhân dân.
300 buổi Trong năm 2003 đã có 490 làng bản đăng ký xây dựng làng bản văn hoá.
Dự án tái định cư cho người dân vùng lòng hồ thủy điện Sơn La đang được triển khai nhằm đảm bảo rằng người dân sẽ có điều kiện sản xuất và sinh hoạt tốt hơn so với nơi ở cũ.
4.2 Những vấn đề còn tồn tại
Trong giai đoạn 2001 – 2003, chương trình 186 đã đạt được một số thành công nhất định, tuy nhiên vẫn tồn tại một số khó khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Tỉnh này có hơn 90% nguồn thu ngân sách phụ thuộc vào trợ cấp từ trung ương, dẫn đến việc phân bổ ngân sách địa phương phải tuân theo định hướng của trung ương Do đó, địa phương không có đủ nguồn kinh phí để tự chủ thực hiện các mục tiêu phát triển.
Việc lồng ghép các nguồn vốn trên địa bàn gặp nhiều khó khăn do mỗi nguồn vốn có cơ chế quản lý riêng Hơn nữa, việc thực hiện còn phụ thuộc vào quy hoạch định hướng đã được thiết lập trước khi có nguồn vốn 186.
Mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt yêu cầu theo quyết định 186, dẫn đến đời sống của đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
Việc triển khai các chính sách cần được thực hiện đồng bộ và kịp thời Một số chính sách như hỗ trợ nhà ở cho cán bộ y tế và cấp học bổng cho học sinh nội trú chưa được triển khai hiệu quả trong giai đoạn 2001 – 2003.
Việc triển khai các chính sách hỗ trợ gặp nhiều khó khăn và chậm trễ, đặc biệt trong chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng tại các xã đặc biệt khó khăn Điều này dẫn đến việc giải ngân kinh phí hỗ trợ tấm lợp và hỗ trợ di chuyển, sắp xếp lại dân cư không đạt yêu cầu.
Việc tiếp nhận nguồn vốn cho chương trình diễn ra chậm, dẫn đến một số chương trình chưa hoàn thành và chưa thể phục vụ đời sống của nhân dân, do đó kết quả hoạt động chưa đạt yêu cầu cao.
Việc đầu t vốn cho chơng trình con dàn trải cha tập chung vốn vào một số dự án trọng điểm.