1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) sinh kế của người dân sau tái định cư, trường hợp nghiên cứu, chung cư khang gia, quận gò vấp, thành phố hồ chí minh

109 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sinh kế của người dân sau tái định cư, trường hợp nghiên cứu, chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Thị Khánh Hòa
Người hướng dẫn TS. Trần Tiến Khai
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU (12)
    • 1.1. Đặt vấn đề (12)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (13)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (13)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
    • 1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (14)
    • 1.6. Phương pháp nghiên cứu (0)
    • 1.7. Nguồn số liệu nghiên cứu (14)
    • 1.8. Kết cấu luận văn (15)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (16)
    • 2.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững (16)
      • 2.1.1 Khái niệm sinh kế bền vững (16)
      • 2.1.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững (17)
        • 2.1.2.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP (18)
        • 2.1.2.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE (19)
        • 2.1.2.3 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID (20)
    • 2.2 Những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về vấn đề TĐC (24)
    • 2.3 Các đề tài nghiên cứu trước có liên quan (25)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 3.1 Xác định các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cần thu thập và nghiên cứu (31)
    • 3.2 Phương pháp chọn mẫu và xác định cỡ mẫu (31)
    • 3.4 Các phương pháp phân tích dữ liệu (33)
      • 3.4.1 Thống kê (33)
      • 3.4.2 Mô hình kinh tế lượng (33)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (38)
    • 4.1 Tổng quan về hai dự án TĐC (38)
      • 4.1.1 Dự án cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên (38)
        • 4.1.1.1 Giới thiệu dự án (38)
        • 4.1.1.2 Mục tiêu của dự án (39)
      • 4.1.2 Dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài (39)
        • 4.1.2.1. Giới thiệu dự án (39)
        • 4.1.2.2. Mục tiêu của dự án (41)
      • 4.1.3 Về công tác bồi thường, TĐC (42)
        • 4.1.3.1. Dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài (42)
        • 4.1.3.2. Dự án Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên (43)
        • 4.1.3.3. Công tác chuẩn bị quỹ nhà TĐC (44)
    • 4.2 Mô tả tình hình kinh tế - xã hội của các hộ TĐC (45)
      • 4.2.1 Các nguồn lực (45)
        • 4.2.2.1 Nguồn nhân lực (45)
        • 4.2.2.2 Nguồn lực xã hội (49)
        • 4.2.2.3 Nguồn lực vật chất (54)
        • 4.2.2.4 Nguồn lực tài chính (57)
      • 4.2.2 Những vấn đề khác (58)
    • 4.3 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế người dân sau khi TĐC (60)
      • 4.3.1. Quan hệ giữa các tài sản sinh kế của hộ gia đình (60)
      • 4.3.3. So sánh thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo kỹ năng của người lao động chính của hộ gia đình (62)
      • 4.3.4. So sánh thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC, số người có việc làm, số người phụ thuộc, số năm đi học của lao động chính giữa các hộ có vay vốn hoặc không vay vốn (63)
      • 4.3.5. So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo loại hình nghề nghiệp của lao động chính (64)
      • 4.3.6. So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo kỹ năng của lao động chính (66)
      • 4.3.7. So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo dạng nhà tái định cư (67)
      • 4.3.8. So sánh thu nhập bình quân đầu người trước TĐC, thu nhập bình quân đầu người sau TĐC, số người có việc làm, số người phụ thuộc, số năm đi học của lao động chính giữa hai nhóm hộ có tình trạng thay đổi thu nhập (67)
      • 4.3.9. Hồi quy Binary Logistics về những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ (69)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (73)
    • 5.1 Kết luận về những hạn chế của nghiên cứu (73)
    • 5.2 Kết luận về những phát hiện của đề tài (74)
    • 5.3 Đề xuất, chính sách (75)

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU

Đặt vấn đề

Từ xa xưa, câu nói “an cư - lạc nghiệp” đã phản ánh đúng nhu cầu của con người về một cuộc sống ổn định và hạnh phúc Để phát triển sự nghiệp, con người cần có chỗ ở vững chắc Trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển với nhiều đô thị và khu công nghiệp, nhu cầu về tái định cư (TĐC) trở nên thiết yếu, đòi hỏi sự quan tâm từ Đảng và Nhà nước.

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại TP.HCM đã diễn ra song song với các cải cách kinh tế, đáp ứng nhu cầu phát triển thương mại và cải thiện cơ sở hạ tầng Sự gia tăng dân số từ 5 triệu (năm 1999) lên 10 triệu đã dẫn đến yêu cầu giải tỏa và di dời một số hộ dân cư để thu hút đầu tư và phát triển bền vững.

2020) sẽ có khoảng 50% dân số tham gia quá trình TĐC vào khu đô thị mới

Gò Vấp đang phát triển mạnh mẽ tại TP.HCM với nhiều dự án lớn như công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên, tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài, cùng với các trường mầm non, tiểu học và trung học.

Trước khi triển khai xây dựng các công trình, công tác giải phóng mặt bằng và di dời người dân cần được ưu tiên hàng đầu Việc di dời đến nơi ở mới có thể ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân, gây ra nhiều trở ngại và khó khăn Do đó, cần có các biện pháp nhằm đảm bảo người dân có cuộc sống và nơi ở mới tốt hơn hoặc ít nhất bằng nơi ở cũ, phù hợp với chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước.

“Sinh kế của người dân sau TĐC, trường hợp nghiên cứu tại chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp, TP.HCM”.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn này nhằm đánh giá sinh kế của người dân tại chung cư Khang Gia sau quá trình tái định cư (TĐC) Mục tiêu chính là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của cư dân trong khu vực này Các nội dung nghiên cứu sẽ được trình bày để làm rõ vấn đề này.

Mô tả thực trạng sinh kế của người dân sau TĐC hiện đang sinh sống tại chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sau tái định cư (TĐC) là rất quan trọng Để nâng cao chất lượng sinh kế của người dân, cần đề xuất một số giải pháp và chính sách phù hợp.

Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng sinh kế của người dân ở chung cư Khang Gia sau TĐC như thế nào?

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến sinh kế người dân ở chung cư Khang Gia sau TĐC?

Làm thế nào để ổn định cuộc sống và việc làm của người dân sau TĐC?

1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về việc làm, thu nhập, giáo dục, cơ sở hạ tầng, các điều kiện sản xuất, sinh hoạt, việc tiếp cận các dịch vụ y tế, các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội, v.v

Phạm vi nghiên cứu: Chung cư Khang Gia, phường 14, quận Gò Vấp, TP.HCM

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đề tài tập trung mô tả sinh kế của người dân sau TĐC tại chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp, qua đó phát hiện ra những khó khăn mà người dân phải đối mặt sau TĐC và tìm ra nguyên nhân của những khó khăn này

Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tái định cư (TĐC) cho dự án đầu tư xây dựng công trình tiêu thoát nước và giảm ô nhiễm tại kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên ở quận Gò Vấp, cũng như cho dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài và các dự án khác trong khu vực quận Gò Vấp.

1.6 Thiết kế mô hình nghiên cứu

Phương pháp thống kê nhằm mô tả và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sau TĐC

Phương pháp hồi quy Binary logistic được sử dụng để xây dựng mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình sau tái định cư (TĐC) Nghiên cứu này nhằm xác định sự tác động, cả tích cực lẫn tiêu cực, cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sinh kế của các hộ gia đình sau TĐC.

1.7 Nguồn số liệu nghiên cứu

Số liệu thứ cấp là những thông tin đã được công bố liên quan đến dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước và cải thiện tình trạng ô nhiễm tại kênh Tham Lương – Bến.

Dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài, cùng với các quyết định di dời, giải tỏa, đền bù và tái định cư liên quan đến khu vực Cát – rạch Nước Lên, đã được UBND TP.HCM và UBND quận Gò Vấp ban hành thông qua các báo cáo sơ kết và tổng kết.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình tại chung cư Khang Gia bằng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi này được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây và các cuộc phỏng vấn định tính với chuyên gia cũng như hộ gia đình.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và đề xuất chính sách.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Bài viết tập trung vào việc mô tả sinh kế của cư dân tại chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp, sau khi tái định cư (TĐC) Qua đó, bài viết nêu bật những khó khăn mà người dân phải đối mặt và phân tích nguyên nhân dẫn đến những thách thức này.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tái định cư (TĐC) cho dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước và giảm ô nhiễm tại kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên ở quận Gò Vấp, cũng như cho dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài và các dự án khác trong khu vực quận Gò Vấp.

1.6 Thiết kế mô hình nghiên cứu

Phương pháp thống kê nhằm mô tả và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sau TĐC

Phương pháp hồi quy Binary logistic được sử dụng để xây dựng mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình sau tái định cư (TĐC) Nghiên cứu này nhằm xác định sự tác động, cả tích cực lẫn tiêu cực, cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sinh kế của các hộ gia đình sau TĐC.

1.7 Nguồn số liệu nghiên cứu

Số liệu thứ cấp là những thông tin đã được công bố liên quan đến dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước và cải thiện tình trạng ô nhiễm tại kênh Tham Lương – Bến.

Dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài, cùng với các quyết định di dời, giải tỏa, đền bù và tái định cư liên quan đến chung cư Khang Gia, đã được UBND TP.HCM và UBND quận Gò Vấp ban hành thông qua các báo cáo sơ kết và tổng kết.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình tại chung cư Khang Gia bằng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi này được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây và các cuộc phỏng vấn định tính với chuyên gia cũng như hộ gia đình.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và đề xuất chính sách.

Nguồn số liệu nghiên cứu

Số liệu thứ cấp là những thông tin đã được công bố liên quan đến dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước và cải thiện tình trạng ô nhiễm tại kênh Tham Lương – Bến.

Dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài và các quyết định liên quan đến di dời, giải tỏa, đền bù, tái định cư đã được UBND TP.HCM và UBND quận Gò Vấp ban hành, bao gồm các báo cáo sơ kết và tổng kết.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình tại chung cư Khang Gia bằng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi này được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây và các cuộc phỏng vấn định tính với chuyên gia cũng như hộ gia đình.

Kết cấu luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và đề xuất chính sách.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khung lý thuyết về sinh kế bền vững

Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được giới thiệu trong báo cáo Brundland (1987) tại hội nghị thế giới về môi trường và phát triển Thuật ngữ này có thể được hiểu và áp dụng theo nhiều cách khác nhau Trong tiếng Tây Ban Nha, sinh kế được diễn đạt như là

Sinh kế, theo DFID (1999), bao gồm ba yếu tố chính: nguồn lực và khả năng của con người, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế Nó không chỉ đơn thuần là việc kiếm sống mà còn liên quan đến quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng và các mối quan hệ (Wallmann, 1984) Sinh kế được hiểu là sự kết hợp giữa các nguồn lực và khả năng mà con người có, cùng với những quyết định và hoạt động mà họ thực hiện để sống và đạt được ước mơ của mình.

Một sinh kế bền vững cho phép con người ứng phó và phục hồi trước các áp lực và cú sốc, đồng thời duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản hiện tại cũng như tương lai mà không làm tổn hại đến nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Sinh kế bền vững không chỉ tránh việc khai thác hay gây hại cho môi trường, mà còn không làm tổn hại đến các sinh kế khác trong hiện tại và tương lai Thực tế, nó cần phải thúc đẩy sự hòa hợp giữa các yếu tố này và mang lại lợi ích cho các thế hệ tương lai (Chambers & Conway, 1992).

Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau:

Lấy con người làm trung tâm và dễ tiếp cận, bài viết nhấn mạnh sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng dựa trên sức mạnh con người Đồng thời, cần đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương một cách tổng thể và thực hiện ở nhiều cấp độ Mối quan hệ với các đối tác cũng rất quan trọng để đảm bảo tính bền vững và năng động trong các hoạt động.

Trong các yếu tố cấu thành sinh kế, danh mục tài sản bị mất là phần phức tạp nhất, đặc biệt khi người dân nỗ lực tái thiết cuộc sống của mình.

Danh mục tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình như cửa hàng và tài nguyên, cũng như tài sản vô hình như quyền lợi và khả năng tiếp cận (Krantz, 2001).

2.1.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững

Khung sinh kế bền vững là phương pháp tiếp cận toàn diện nhằm giải quyết các vấn đề phát triển, tập trung vào thảo luận về sinh kế của con người Phương pháp này bắt nguồn từ phân tích của Amartya Sen về các quyền liên quan đến nạn đói và nghèo đói (1981) và đã được Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) thúc đẩy (Diana Carney (ed.) 1998) Ngoài ra, nó cũng được các học giả và cơ quan phát triển áp dụng rộng rãi (Anthony Bebbington 1999).

Lý thuyết khung sinh kế bền vững cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn để giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế, bao gồm: vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên Những loại vốn này đóng vai trò quan trọng cả ở đầu vào và đầu ra Tiếp cận sinh kế bền vững cũng nhấn mạnh rằng các chính sách, thể chế và quy trình ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng các tài sản, từ đó tác động đến sinh kế Nghiên cứu này tập trung phân tích khung lý thuyết về sinh kế bền vững của ba tổ chức UNDP, CARE và DFID.

2.1.2.1 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP

Theo UNDP có 5 bước để thiết kế, thực thi và đánh giá những chương trình sinh kế bền vững, đó là:

Bước 1: Xác định sự đền bù được thực hiện dựa trên những rủi ro phải đối diện, những tài sản và những kiến thức cộng đồng mất đi

Bước 2: Phân tích vi mô, vĩ mô, chính sách mà nó tác động đến chiến lược sinh kế của người dân

Bước 3: Xác định và hỗ trợ những đóng góp tiềm năng của khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm bổ sung hệ thống kiến thức bản địa, từ đó cải thiện sinh kế cho cộng đồng.

Bước 4: Nhận dạng những đầu tư về Kinh tế xã hội để loại bỏ những cản trở chiến lược sinh kế

Giai đoạn đầu tiên của quá trình thích ứng cần phải được thực hiện một cách thực sự, nhằm đảm bảo rằng toàn bộ tiến trình là sự phát triển liên tục, chứ không chỉ là những sự kiện riêng lẻ.

Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP nhấn mạnh hai chiến lược chính: đối phó và thích ứng Chiến lược đối phó (coping) tập trung vào việc ứng phó ngắn hạn với các cú sốc cụ thể, trong khi chiến lược thích ứng (adaptation) hướng tới những thay đổi dài hạn trong hành vi để đối phó với các cú sốc và căng thẳng.

Tài sản hữu hình Tài sản vô hình Nguồn: Krantz, 2001

Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP, theo Krantz (2001), thường được nghiên cứu ở cấp độ quốc gia và triển khai các chương trình đặc biệt tại cấp huyện.

2.1.2.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE

Khung lý thuyết này nhấn mạnh vào sinh kế hộ gia đình, trong đó CARE phát triển một mô hình hoạt động sinh kế dựa trên tính năng động và sự tương tác được lập trình sẵn, bao gồm các bước cụ thể.

Bước 1: Nhận dạng những khu vực địa lý tiềm năng, sử dụng dữ liệu thứ cấp để tìm ra những chủ hộ

Bước 2: Nhận dạng những nhóm bị tổn thương và những khó khăn về sinh kế mà họ phải đối mặt

Bước 3: Thu thập những dữ liệu phân tích, ghi chú những xu hướng về thời gian và nhận dạng những chỉ dẫn mà nó sẽ được kiểm định

Bước 4: Lựa chọn những khu vực để thực thi các chính sách can thiệp

Khả năng sinh kế Đời sống

Tài sản và tài nguyên Tài sản và tài nguyên

Tình huống Chiến lược sinh kế Kết quả sinh kế

Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE, như thể hiện trong Sơ đồ 2.2, tập trung vào việc hiểu rõ tính tự nhiên của các chiến lược sinh kế trong các hộ gia đình khác nhau Mục tiêu chính là nhận diện những khó khăn và cơ hội mà các hộ gia đình đang đối mặt.

2.1.2.3 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID

Những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về vấn đề TĐC

Kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới (2004) chỉ ra rằng, TĐC có thể gây ra những rủi ro nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường Cụ thể, hệ thống sản xuất có thể bị phá vỡ, dẫn đến nguy cơ đói nghèo cho người dân khi mất đi điều kiện sản xuất và nguồn thu nhập Họ có thể bị di dời đến những khu vực thiếu việc làm và tài nguyên sống, làm suy yếu các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội Các mối quan hệ gia đình và văn hóa cũng bị ảnh hưởng, dẫn đến mất mát những giá trị truyền thống và tình cảm cộng đồng Đây là những chi phí "vô hình" mà người dân TĐC phải chịu, bên cạnh những tổn thất về nhà cửa và đất đai.

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995) chỉ ra rằng, ngoài những thiệt hại đã nêu, cư dân tại các khu vực tái định cư (TĐC) còn phải đối mặt với những thách thức như sự thiếu thân thiện và sự khác biệt về văn hóa Những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và điều kiện sống mới có thể buộc người dân TĐC phải khai thác tài nguyên môi trường một cách tối đa, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường.

Việc di dời và giải tỏa theo các tổ chức quốc tế gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho người dân, bao gồm mất nhà cửa, đất đai và những thiệt hại về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Điều này dẫn đến sự đảo lộn trong đời sống, mất ổn định và đe dọa môi trường, làm gia tăng tình trạng nghèo đói và suy giảm các yếu tố văn hóa trong cộng đồng Ngoài ra, người dân còn phải đối mặt với những khó khăn trước mắt như đi làm xa, chuyển hộ khẩu, chuyển trường cho con cái và tiếp cận các dịch vụ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và tinh thần của họ.

Các đề tài nghiên cứu trước có liên quan

Đề tài nghiên cứu của Tô Thị Thúy Hằng tập trung vào việc đánh giá tác động môi trường và hệ quả kinh tế - xã hội của dự án xây dựng khu đô thị mới Nam Sài Gòn Bài viết cũng đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và khắc phục những hệ quả tiêu cực liên quan đến kinh tế và xã hội.

Nghiên cứu năm 1997 đã chỉ ra điều kiện sống của các hộ nông dân bị di dời và mất đất, đồng thời nêu rõ các hệ quả kinh tế - xã hội và kiến nghị giải pháp cho họ Đề tài của Dư Phước Tân (1997) đã khảo sát 150 hộ sắp di dời, phân tích sự khác biệt giữa các hộ muốn và không muốn chuyển lên chung cư, cùng với những thay đổi trong tâm tư và nguyện vọng của họ Nghiên cứu cũng chỉ ra những bất hợp lý trong chính sách di dời và đề xuất giải pháp cho nhà nước Võ Hưng (2003) đã nghiên cứu điều kiện sống của người tái định cư (TĐC) ở TP.HCM, phân chia thành hai nhóm: TĐC ở chung cư và TĐC tự chọn, đánh giá các yếu tố như nhà ở, thu nhập, và vệ sinh môi trường, cho thấy 44% người TĐC cảm thấy cuộc sống hiện tại tốt Cuối cùng, Phan Huy Xu (2005) đã nêu thực trạng đời sống xã hội của người dân TĐC, phân theo nhóm dân và đề xuất các giải pháp cải thiện.

Luận văn của Nguyễn Thị Liên (Đại học Nông nghiệp Hà Nội liên kết Đại học Liege, 2005) nghiên cứu sinh kế của hộ gia đình tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam, thông qua khung phân tích sinh kế bền vững và phương pháp đánh giá có sự tham gia Nội dung chính của nghiên cứu là đánh giá chiến lược sinh kế của các hộ gia đình, xác định những hạn chế trong chiến lược này và đề xuất các giải pháp phù hợp với đặc điểm địa bàn nghiên cứu.

The thesis titled "Living in the Peri-Urban Area of Ho Chi Minh City: A Case Study of Hung Long Commune, Binh Chanh District, Ho Chi Minh City, Vietnam" by Vo Ngan Tho is a collaborative effort between the Swedish University of Agricultural Sciences (SLU) and Hue University of Agriculture and Forestry.

Nghiên cứu của năm 2006 đã chỉ ra chiến lược sinh kế của người dân nông thôn tại xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, tập trung vào việc phân loại hộ nghèo và tìm hiểu bối cảnh sản xuất nông nghiệp Mục tiêu là xác định sự khác biệt giữa các nhóm hộ và xây dựng chiến lược sinh kế phù hợp Đề tài của Th.S Lê Văn Thành và cộng sự (2008) đánh giá sự biến đổi kinh tế - xã hội của các hộ gia đình trước và sau tái định cư (TĐC), từ đó phát hiện các vấn đề cần giải quyết và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân sau TĐC.

Luận văn của Phạm Minh Trí mang tên “Đánh giá một số khía cạnh kinh tế xã hội phát sinh của hộ gia đình sau TĐC thuộc dự án Rạch Ụ Cây, quận 8, TP.HCM” tập trung vào việc phân tích các tác động kinh tế và xã hội đối với các hộ gia đình sau khi thực hiện tái định cư Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự thay đổi trong đời sống của cư dân, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững cho khu vực.

Luận văn năm 2011 đã phân tích cuộc sống "hậu TĐC" của người dân, chỉ ra những khó khăn và tổn thất mà họ đang phải đối mặt, cùng với nguyên nhân của những vấn đề này Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất một số giải pháp cho vấn đề TĐC trong dự án rạch Ụ Cây và tình hình TĐC tại các dự án khác trong quận 8.

Luận văn “Sinh kế người dân ngoại thành TP.HCM” của Đỗ Thị Hồng Nga

Luận văn năm 2011 đã phân tích các nguồn lực phục vụ cho chiến lược sinh kế của hộ khảo sát, phân loại theo nguồn lực kinh tế Từ đó, nghiên cứu gợi ý các giải pháp và chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao mức sống của người dân.

Dựa trên lý thuyết về sinh kế bền vững, nghiên cứu này giả định rằng cộng đồng tại khu vực kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên và Tân Sơn Nhất – Bình Lợi là các hệ thống xã hội Các thành phần cấu thành hệ thống này bao gồm việc làm, thu nhập, sức khỏe, giáo dục, cơ sở hạ tầng, điều kiện sản xuất và sinh hoạt, cũng như khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội và các quan hệ xã hội Những yếu tố này thuộc về các nguồn lực trong khung lý thuyết sinh kế bền vững của DFID.

Các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác chặt chẽ, và bất kỳ sự thay đổi nào về trật tự, thứ tự, hoặc kiểu quan hệ giữa chúng đều có thể dẫn đến "sự lệch pha" và ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng của toàn bộ hệ thống Khi xảy ra thay đổi về chỗ ở, theo lý thuyết hệ thống, điều này sẽ tác động đến các thành phần như nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính Đặc biệt, trong môi trường đô thị, sinh kế của người dân không còn phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên như đất đai hay cây trồng.

Dựa trên các phân tích đã thực hiện, tác giả đề xuất một khung phân tích nhằm nhận diện và giải thích những biến đổi trong sinh kế của người dân do ảnh hưởng của việc tái định cư.

 Khung phân tích của đề tài:

Cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên và Tân Sơn Nhất – Bình Lợi

Quyết định giải tỏa, di dời của chính quyền

Thay đổi về nguồn nhân lực

Thay đổi về nguồn lực xã hội

Thay đổi về nguồn lực vật chất

Thay đổi về nguồn lực tài chính

Thay đổi về thu nhập

Sơ đồ 2.4: Khung phân tích sinh kế bền vững của đề tài

Các khía cạnh này sẽ được phân chia thành các khái niệm cụ thể, nhằm xác định các thành phần mà đề tài sẽ tập trung giải quyết để trả lời các câu hỏi nghiên cứu.

Bảng câu hỏi sẽ được thiết lập theo cách tiếp cận này

Chương 2 đã trình bày khung lý thuyết về sinh kế bền vững của ba tổ chức UNDP, CARE và DFID, đồng thời phân tích các khuyến cáo của các tổ chức quốc tế liên quan đến vấn đề TĐC Tác giả đã chỉ ra những khó khăn, thử thách, nguy cơ và thiệt hại mà người dân TĐC có thể gặp phải Bên cạnh đó, tác giả dựa vào các nghiên cứu trước đó để xác định những thay đổi trong sinh kế của người dân sau TĐC và xác định các biến phân tích cho chương tiếp theo Từ đó, khung phân tích của đề tài được hình thành, trong đó cách tiếp cận của DFID đóng vai trò chính.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Xác định các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cần thu thập và nghiên cứu

Dựa trên lý thuyết, tác giả đã phát triển một số chỉ tiêu khảo sát cho nghiên cứu, bao gồm các yếu tố đại diện cho bốn nhóm tài sản sinh kế.

Nguồn nhân lực bao gồm tổng số người có việc làm và số người phụ thuộc trong hộ gia đình, cùng với loại hình nghề nghiệp của lao động chính, số năm học và kỹ năng của họ.

Nguồn lực xã hội bao gồm các yếu tố quan trọng như quan hệ láng giềng, sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương, cùng với các dịch vụ y tế, giáo dục, thông tin liên lạc, thương mại, và các dịch vụ văn hóa, giải trí.

Nguồn lực vật chất bao gồm các yếu tố quan trọng như diện tích căn hộ, loại hình nhà tái định cư, hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống điện, hệ thống nước sạch, cùng với các hệ thống khác như thoát nước, xử lý rác thải và phòng cháy chữa cháy.

Nguồn lực tài chính bao gồm các chỉ tiêu về tình trạng vay vốn, giá trị khoản vay, mục đích vay vốn.

Phương pháp chọn mẫu và xác định cỡ mẫu

Quá trình thu thập dữ liệu được chia thành 2 giai đoạn:

Khảo sát tất cả các hộ gia đình đang sinh sống tại chung cư Khang Gia nhằm xác định tình trạng cư trú của họ, bao gồm các hộ ở theo diện tái định cư (TĐC), mua lại hoặc thuê.

Nghiên cứu tập trung vào việc chọn mẫu từ các hộ gia đình, trong đó hình thức tái định cư (TĐC) được lựa chọn là nhận căn hộ chung cư Các dự án liên quan bao gồm đầu tư xây dựng công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm cho kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên, cùng với dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài.

Khung mẫu liệt kê các hộ gia đình bị di dời trong hai dự án quan trọng: dự án đầu tư xây dựng công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên, cùng với dự án xây dựng tuyến đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi - Vành đai ngoài.

Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn, được thiết kế dựa trên các bảng câu hỏi của Đỗ Thị Hồng Nga (2011) và Phạm Minh Trí (2011), cùng với các định nghĩa về sinh kế từ DFID (1999).

Tại thời điểm khảo sát, chung cư Khang Gia có 130 hộ chuyển qua tái định cư, nhưng nhiều hộ đã chuyển đi nơi khác và ủy quyền căn hộ cho người khác, bao gồm bán hoặc cho thuê Do đó, số lượng hộ gia đình tái định cư tại đây bị giới hạn Qua quá trình điều tra tổng thể, số hộ thỏa mãn yêu cầu được xác định là 72 hộ.

Thời gian khảo sát, điều tra: 20/3/2012 – 15/5/2012

3.3 Nhập liệu và kiểm định lại số liệu

Sau khi thu thập, dữ liệu được thiết kế, mã hóa và nhập liệu bằng phần mềm SPSS 16.0, sau đó tiến hành làm sạch Việc làm sạch dữ liệu là cần thiết để loại bỏ các phiếu trống và không hợp lệ, cũng như khắc phục những sai lệch, thiếu sót trong quá trình nhập liệu Điều này đảm bảo rằng dữ liệu đưa vào phân tích là đầy đủ và thống nhất, từ đó cung cấp thông tin chính xác và có độ tin cậy cao.

Phương pháp thực hiện bao gồm việc sử dụng bảng tần số để kiểm tra tất cả các biến quan sát, nhằm phát hiện các biến có thông tin sai lệch hoặc thiếu sót, thông qua công cụ phần mềm SPSS 16.0.

Kết quả thực hiện: Sau khi dùng phương pháp lập bảng tần số, kết quả cho thấy: Đầy đủ dữ liệu ở tất cả các biến

Tác giả đã tiến hành rà soát tất cả các biến quan sát thông qua bảng tần số và không phát hiện biến nào có thông tin sai lệch Dữ liệu đã được làm sạch, sẵn sàng để đưa vào mô hình.

Các phương pháp phân tích dữ liệu

Trong phần thống kê mô tả, tác giả sẽ mô tả các tài sản sinh kế và lập ma trận tương quan để phân tích mối quan hệ giữa các biến Các kiểm định Anova và T-test sẽ được sử dụng để so sánh giá trị trung bình của các chỉ tiêu định lượng giữa các nhóm liên quan Bên cạnh đó, tác giả cũng áp dụng kiểm định Chi-square để đánh giá các mối quan hệ giữa các tính chất của bộ dữ liệu.

3.4.2 Mô hình kinh tế lƣợng Để phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sau TĐC tại chung cư Khang Gia, phường 14, quận Gò Vấp, TP.HCM, trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic

Y = β0 + 12 i 1 βiXi + u Dạng tổng quát của mô hình Logistic:

P(Y=1) = P0 : Xác xuất hộ có sinh kế không đổi hoặc tốt hơn;

P(Y=0) = 1 – P0 : Xác xuất hộ có sinh kế xấu đi

Phương trình Log của hệ số Odds

LnO 0 = β 0 + β 1 X 1 + β 2 X 2 + …+ β 6 X 6 + β 7 X 7 Log của hệ số Odd là một hàm tuyến tính với các biến độc lập X i (i 1,2,…,7)

Sự thay đổi về chỗ ở ảnh hưởng đến các yếu tố tài sản sinh kế, dẫn đến thay đổi kết quả sinh kế và thu nhập Trong nghiên cứu này, chênh lệch thu nhập được đo bằng thu nhập bình quân đầu người sau TĐC trừ đi thu nhập bình quân đầu người trước TĐC Biến phụ thuộc y thể hiện sự thay đổi thu nhập bình quân đầu người, với y = 0 nếu chênh lệch xấu đi và y = 1 nếu chênh lệch không đổi hoặc tốt hơn Nghiên cứu giả định rằng có nhiều yếu tố tác động đến sự thay đổi này và sử dụng một số biến để khảo sát.

Số người có việc làm trong hộ gia đình phản ánh số lượng thành viên đang làm việc Giả định rằng, khi số lượng người có việc làm tăng lên, thu nhập của hộ gia đình cũng sẽ tăng theo Vì vậy, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc.

Số người phụ thuộc trong hộ gia đình phản ánh số lượng thành viên không có khả năng tự nuôi sống Giả định rằng hộ gia đình có nhiều người phụ thuộc sẽ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn và mức sống cũng giảm Vì vậy, biến số này được kỳ vọng có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc.

Loại hình nghề nghiệp của lao động chính trong hộ được chia thành ba nhóm: nhóm 1 là người làm nghề tự doanh, nhóm 2 là lao động ngắn hạn và nhóm 3 là lao động dài hạn Những hộ có lao động dài hạn thường có trình độ học vấn cao và thu nhập ổn định, trong khi lao động tự doanh và ngắn hạn thường có trình độ học vấn thấp và thu nhập không ổn định Do đó, loại hình nghề nghiệp này được kỳ vọng sẽ đồng biến với biến phụ thuộc.

Số năm đi học của lao động chính có ảnh hưởng lớn đến trình độ học vấn và cơ hội nghề nghiệp Người lao động có nhiều năm học thường đạt được công việc ổn định và thu nhập cao hơn Do đó, biến này được kỳ vọng sẽ đồng biến với biến phụ thuộc.

Kỹ năng lao động của người lao động chính trong hộ gia đình phản ánh việc họ đã được đào tạo hay tập huấn Những lao động có kỹ năng thường có khả năng tìm kiếm việc làm với mức thu nhập cao hơn, trong khi những người không được đào tạo sẽ gặp khó khăn hơn trong việc kiếm việc Mối quan hệ này được kỳ vọng là đồng biến với biến phụ thuộc.

Dạng nhà TĐC được chia thành hai nhóm: nhóm 1 là căn hộ chung cư ở tầng trệt và nhóm 2 là căn hộ ở các tầng cao Khi sinh sống ở tầng trệt, người dân có khả năng tạo thêm thu nhập từ kinh doanh, buôn bán, do đó, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc.

Tình trạng vay vốn của hộ gia đình ảnh hưởng đến biến động thu nhập sau tái định cư (TĐC) Việc vay vốn có thể làm tăng hoặc giảm thu nhập, nhưng tác giả chưa xác định được dấu kỳ vọng trong trường hợp này.

Bảng 3.1: Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình sau TĐC

Tên biến Ký hiệu Mô tả Đơn vị đo/thang đo Dấu kỳ vọng

Y Biến Dummy, nhận giá trị

1 khi hộ có tình trạng thay đổi thu nhập theo hướng ổn định hoặc tốt hơn, và là giá trị 0 nếu theo xu hướng xấu đi

1 Số người có việc làm ncvl Số người có việc làm của hộ gia đình

2 Số người phụ thuộc npt Số người phụ thuộc trong hộ (trẻ em, học sinh, người già, thương binh, tàn tật, v.v)

3 Loại hình nghề nghiệp của lao động chính nn Loại hình nghề nghiệp của người lao động chính trong hộ

Thang đo định danh từ 1-3:

Tên biến Ký hiệu Mô tả Đơn vị đo/thang đo Dấu kỳ vọng

4 Số năm đi học của lao động chính ndh Số năm đi học của người lao động chính trong hộ

5 Kỹ năng của lao động chính kn Kỹ năng của người lao động chính trong hộ

1 = đã qua đào tạo, tập huấn;

0 = không được đào tạo, tập huấn

6 Dạng nhà TĐC dn Dạng nhà: chung cư ở tầng trệt hay chung cư ở các tầng cao

Gần đây ông/bà có đi vay vốn không?

Trong chương 3, tác giả đã phát triển mô hình hồi quy logistic để phân tích đề tài, đồng thời mô tả chi tiết các biến độc lập và biến phụ thuộc, bao gồm tên biến, mô tả, đơn vị đo/thang đo và dấu kỳ vọng Chương này cũng giới thiệu phương pháp thống kê mô tả sẽ được áp dụng trong chương 4, cùng với phương pháp chọn mẫu, xác định cỡ mẫu, và quy trình làm sạch, xử lý số liệu Cuối cùng, phương pháp phân tích của đề tài bao gồm cả phương pháp thống kê mô tả và hồi quy bằng mô hình Binary Logistic.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng quan về hai dự án TĐC

Khu vực kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên là một trong những khu vực ô nhiễm nghiêm trọng nhất tại TP.HCM Để khắc phục tình trạng này, UBND TP.HCM đã triển khai dự án cải tạo khu vực với năm gói thầu xây lắp, bao gồm các hạng mục như cống điều tiết nước và nạo vét kênh.

Giai đoạn 1 của dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 1.950 tỷ đồng, bao gồm các hạng mục như nạo vét lòng kênh dài 32,7 km, xây dựng và sửa chữa 148 cống ngăn triều, cùng với việc trồng cây xanh ven lưu vực.

Giai đoạn 2 của dự án bao gồm việc xây dựng hệ thống cống thu nước thải cho lưu vực Tham Lương – Bến Cát, cùng với hệ thống thu gom nước mưa và nước thải, cũng như trạm bơm trong khu vực này Tổng mức đầu tư cho giai đoạn này gần 5.000 tỷ đồng, với địa điểm xây dựng trải dài trên 07 quận, huyện: Bình Chánh, Bình Tân, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, quận 12 và Bình Thạnh.

Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 8.825 tỷ đồng, do Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng công trình thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn làm chủ đầu tư.

4.1.1.2 Mục tiêu của dự án

Dự án nhằm nâng cao khả năng thoát nước mưa, giảm thiểu ngập úng, và phát triển đô thị cùng với không gian xanh cho khu vực dân cư ven kênh Mục tiêu còn bao gồm cải thiện môi trường, kết hợp giao thông thủy và chỉnh trang hai bờ kênh, với tổng diện tích khoảng 14.900 ha Tuyến kênh kết nối từ sông Chợ Đệm, huyện Bình Chánh đến sông Sài Gòn qua rạch Cầu Bưng.

Ngoài ra, dự án cũng bao gồm các hạng mục như xây dựng đường giao thông dài gần 62 km ven kênh, hệ thống chiếu sáng và 19 cây cầu, v.v

Dự án được triển khai từ năm 2008 với mục tiêu hoàn thành giai đoạn 1 vào cuối năm 2010, nhưng tiến độ chậm do vướng mắc trong giải phóng mặt bằng UBND các quận huyện chậm trễ trong việc bàn giao mặt bằng đã gây khó khăn cho các nhà thầu Mặc dù chưa hoàn thành, dự án đã giúp giảm ngập ở một số khu vực dân cư, đặc biệt là kênh Tham Lương, nơi đã cải thiện khả năng tiêu thoát nước Công tác nạo vét đã giải quyết một số điểm ngập nước trong khu vực kênh Nước Đen và kênh 19-5, đồng thời nhiều đoạn kênh đã bắt đầu tạo cảnh quan đô thị, không còn tình trạng ngập úng.

4.1.2 Dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài 4.1.2.1 Giới thiệu dự án

Theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải TP.HCM đến năm 2020, khu vực này có 45 đường vành đai, trong đó Vành đai số 1 bắt đầu từ đường Nguyễn Văn Linh, đi qua cầu Phú Mỹ, đến ngã tư Bình Thái và gần cầu Gò Dưa Tuyến đường này tiếp tục theo đường Kha Vạn Cân, qua cầu Bình Lợi, song song với đường sắt đến ngã năm Nguyễn Thái Sơn, và đi qua công viên Hoàng Văn Thụ theo đường Hoàng Minh Giám.

Đường Vành đai số 1, kéo dài từ đường Kha Vạn Cân đến đường Nguyễn Văn Linh, có 12 làn xe và lộ giới từ 60m đến 67m Quy hoạch cho tuyến đường này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 1996 Vào ngày 27-3-2007, Sở Kế hoạch – Đầu tư TP.HCM đã ký kết với Tập đoàn GSE & C (Hàn Quốc) để đầu tư xây dựng tuyến đường Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài, dài 13,7 km, với tổng vốn đầu tư hơn 314 triệu USD.

Dự án xây dựng đường nối Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài bao gồm các đoạn chính: Đoạn từ sân bay Tân Sơn Nhất đến nút giao thông Nguyễn Thái Sơn có hai nhánh, mỗi nhánh rộng 20m, phục vụ cho việc lưu thông hành khách từ sân bay ra đường Vành đai số 1 Đoạn từ nút giao thông Nguyễn Thái Sơn đến cầu Gò Dưa nằm trong quy hoạch đường Vành đai số 1 TP.HCM, với yêu cầu bố trí hành lang an toàn cho đường sắt và đường ống cấp nước, dẫn đến ranh giải tỏa cách đường ray tối thiểu là 70m Cuối cùng, đoạn từ cầu Gò Dưa đến ngã tư Linh Xuân chỉ cần rộng 30m do lưu lượng xe không cao, và có một đường nhánh khác kết nối với Vành đai 1 cách cầu Gò Dưa khoảng 300m.

4.1.2.2 Mục tiêu của dự án Đây là tuyến đường huyết mạch của TP.HCM, sau khi hoàn thành sẽ tạo điều kiện kết nối trung tâm thành phố với các khu đô thị vệ tinh xung quanh và các tỉnh liền kế như Bình Dương – Đồng Nai

Dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài là một tuyến cao tốc quan trọng trong hệ thống giao thông vành đai TP.HCM, có tổng chiều dài 13,7 km bắt đầu từ sân bay Tân Sơn Nhất Tuyến đường này sẽ khởi đầu tại nút giao thông Trường Sơn, đi qua ngã năm Nguyễn Thái Sơn – Gò Vấp với hai nhánh rộng 20m và mỗi nhánh có 3 làn xe Đặc biệt, đoạn đường sẽ vượt sông Sài Gòn qua cầu Bình Lợi, kết nối với nút giao ngã tư Bình Triệu.

Gò Dưa, quận Thủ Đức, có chiều rộng 60m và được thiết kế với 2 làn xe Tuyến đường này sẽ kết nối trực tiếp đến nút giao Linh Xuân, quận Thủ Đức, và tiếp giáp với quốc lộ 1 rộng 30m với 6 làn xe.

Dự án đường nội đô đẹp nhất với 4 cầu và 4 giao lộ, có chiều rộng từ 30 - 65 m (tương đương 6 - 12 làn xe), sẽ giúp giải tỏa lượng lớn phương tiện từ khu vực trung tâm thành phố về hướng Đông Hiện tại, dự án đã hoàn thành hơn 40% khối lượng và dự kiến sẽ được đưa vào sử dụng vào năm 2014.

4.1.3 Về công tác bồi thường, TĐC 4.1.3.1 Dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài

Theo Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận Gò Vấp (2012), dự án đã ảnh hưởng đến 1.272 hộ, trong đó có 869 hộ bị giải tỏa hoàn toàn và 403 hộ bị giải tỏa một phần.

Phường 1: 615 hộ (452 hộ giải tỏa trắng; 163 hộ giải tỏa một phần);

Phường 3: 587 hộ (366 hộ giải tỏa trắng; 221 hộ giải tỏa một phần);

Phường 4: 70 hộ (51 hộ giải tỏa trắng; 19 hộ giải tỏa một phần)

Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận Gò Vấp đã hoàn tất thủ tục bồi thường cho 1.272 hộ, đạt tỷ lệ 100% Đến nay, 1.211 hộ đã nhận tổng số tiền 1.641 tỷ đồng, bao gồm cả kinh phí bồi thường và hỗ trợ nộp quỹ 156 là 21 tỷ đồng Trong số đó, 1.208 hộ dân đã nhận 100% tiền bồi thường và hỗ trợ với tổng số tiền 1.588 tỷ đồng.

Mô tả tình hình kinh tế - xã hội của các hộ TĐC

 Về số người có việc làm trong hộ

Bảng 4.1: Số người có việc làm trong hộ

Thấp nhất Cao nhất Tổng Trung bình

Số người có việc làm (người/hộ)

Trong tổng số 72 hộ, lực lượng lao động gồm 143 người, trung bình 02 người/hộ Có ít nhất 01 người có việc làm trong 22,2% số hộ, trong khi chỉ 1,4% số hộ có tới 04 người có việc làm.

Những hộ gia đình có một người làm việc thường là vợ chồng trẻ chưa có con hoặc có 1-2 con, trong đó người chồng đi làm còn người vợ ở nhà chăm sóc con cái và làm nội trợ Trước khi chuyển đến chung cư, một số người vợ có thể đã tham gia vào các công việc buôn bán nhỏ hoặc may quần áo tại nhà, nhưng việc chuyển đổi này đồng nghĩa với việc họ phải từ bỏ những công việc đó.

 Về số người phụ thuộc trong hộ

Kết quả khảo sát cho thấy có 179 người phụ thuộc trong 72 hộ gia đình, chủ yếu là trẻ em, học sinh, sinh viên và người già Một số hộ không có người phụ thuộc, trong khi có hộ có đến 5 người phụ thuộc, với trung bình mỗi hộ có hơn 2 người Số lượng người phụ thuộc cao có thể dẫn đến giảm chất lượng cuộc sống của các hộ gia đình.

Bảng 4.2: Số người phụ thuộc trong hộ

Số người phụ thuộc (người)

 Về loại hình nghề nghiệp của người lao động chính

Biểu đồ 4.1 cho thấy loại hình nghề nghiệp chính của lao động trong hộ gia đình, với lao động tự doanh chiếm tỷ lệ cao nhất là 44,5% Nhiều người tham gia vào các công việc như tự kinh doanh, may quần áo, và buôn bán nhỏ tại chợ hoặc tại nhà, bao gồm thực phẩm, quần áo và thiết bị điện tử Tuy nhiên, một số người gặp khó khăn khi chuyển đến nơi ở mới do không còn mặt bằng buôn bán, mất mối khách hàng, dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc phải tìm kiếm cơ hội việc làm mới.

 Về số năm đi học của lao động chính trong hộ

Bảng số liệu 4.3 và hình 4.2 cho thấy rằng 40,3% người lao động chính trong hộ có số năm đi học từ 1 đến 9 năm, tương đương với trình độ Tiểu học đến Trung học cơ sở Trong khi đó, 20,8% có trình độ Trung học phổ thông và 38,9% đạt trình độ từ trung cấp trở lên Tổng cộng, 59,7% hộ được phỏng vấn có trình độ Trung học phổ thông trở lên, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân trong việc đối mặt với những khó khăn và thay đổi do quá trình TĐC.

Bảng 4.3: Số năm đi học và kỹ năng của lao động chính

STT Khoản mục Số lượng Tỷ lệ (%)

1 Số năm đi học của lao động chính

2 Kỹ năng Đã qua đào tạo, tập huấn 30 41,7

Chưa được đào tạo, tập huấn 42 58,3

Biểu đồ 4.2: Số năm đi học của lao động chính

Bảng 4.3 và hình 4.3 cho thấy rằng chỉ có 41,7% lao động chính trong hộ được đào tạo, trong khi 58,3% còn lại chưa qua đào tạo Điều này cho thấy một số lượng lớn lao động chính vẫn chưa có kỹ năng cần thiết để tham gia vào các công việc đòi hỏi tay nghề Phân tích này nhấn mạnh rằng các cấp chính quyền cần tạo điều kiện và hỗ trợ để lao động có thể học nghề và tham gia các khóa đào tạo nhằm nâng cao tay nghề.

Biểu đồ 4.3: Kỹ năng của lao động chính

Quá trình giải tỏa, di dời và tái định cư đã gây ra nhiều thay đổi trong cuộc sống, làm phá vỡ các quan hệ xã hội cũ và gặp khó khăn trong việc thiết lập các quan hệ mới, đặc biệt là quan hệ hàng xóm Truyền thống văn hóa của dân tộc ta nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ này với câu nói “Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau” và “Bán anh em xa mua láng giềng gần” Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng khi được hỏi, nhiều người vẫn cảm thấy thiếu gắn kết với hàng xóm của mình.

Theo khảo sát, 88,9% hộ gia đình cho biết họ không nhận được sự giúp đỡ nào từ hàng xóm tại nơi ở mới, chỉ có 11,1% (8 hộ) nhận được sự hỗ trợ Nhiều hộ còn không biết mặt hàng xóm của mình từ khi chuyển đến Chỉ 18,1% hộ cho rằng mối quan hệ hàng xóm tại nơi ở mới tốt hơn so với nơi cũ, trong khi 31,9% cho rằng mối quan hệ này đã xấu đi.

Bảng 4.4: Tình trạng quan hệ láng giềng tại nơi ở mới Quan hệ láng giềng Số lượng Tỷ lệ (%)

Xây dựng mối quan hệ với hàng xóm là điều quan trọng giúp các hộ gia đình hòa nhập vào cộng đồng Theo khảo sát, có 33 hộ gia đình (chiếm 45,8%) cho biết họ gặp khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ này tại nơi ở mới (bảng 4.5).

Nhiều hộ gia đình hiện nay vẫn sống khép kín và đề phòng, dẫn đến việc khó khăn trong việc tạo mối quan hệ hàng xóm Tuy nhiên, có 30 hộ (41,7%) cảm thấy bình thường và 9 hộ (12,5%) dễ dàng thiết lập mối quan hệ này Để cải thiện tình hình, các hộ gia đình cần cởi mở hơn và chủ động làm quen, giúp đỡ lẫn nhau Bên cạnh đó, ban quản lý chung cư nên tổ chức các hoạt động văn hóa, vui chơi, và văn nghệ để tạo cơ hội cho các hộ gia đình gặp gỡ, trò chuyện, từ đó xây dựng mối quan hệ gần gũi và thân thiết hơn.

Bảng 4.5: Khả năng thiết lập mối quan hệ láng giềng Thiết lập mối quan hệ láng giềng Số hộ Tỷ lệ (%)

 Về sự giúp đỡ của chính quyền địa phương

Vai trò của các cấp chính quyền được thể hiện rõ ràng, với 87,5% hộ gia đình nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương Họ được giúp đỡ về các thủ tục giấy tờ, điều kiện khi chuyển đến nơi ở mới, cũng như trong việc đăng ký hộ khẩu và đồng hồ điện, nước tại chung cư.

Bảng 4.6: Sự giúp đỡ của chính quyền địa phương

Sự giúp đỡ của chính quyền địa phương Số lượng Tỷ lệ (%)

 Về việc tiếp cận các dịch vụ xã hội tại nơi TĐC so với nơi ở cũ

Việc tiếp cận các dịch vụ xã hội tại nơi ở mới, bao gồm lương thực, thực phẩm, thuốc men, và các nhu yếu phẩm thiết yếu, là mối quan tâm hàng đầu của các hộ dân TĐC Điều này không chỉ ảnh hưởng đến điều kiện sinh hoạt hàng ngày mà còn tác động đến những dự định tương lai của họ Các dịch vụ thông tin liên lạc, trường học, trung tâm văn hóa, giải trí, chợ, siêu thị, quán ăn, và cửa hàng tạp hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.

Bảng 4.7: Việc tiếp cận các dịch vụ xã hội

Tốt hơn Không đổi Xấu đi Tổng cộng

Số hộ % Số hộ % Số hộ % Số hộ %

Dịch vụ y tế 29 40,3 18 25,0 25 34,7 72 100,0 Dịch vụ thông tin liên lạc

Dịch vụ thương mại và tiêu dùng (mua bán lẻ, chợ, khu mua sắm, ăn uống, v.v)

Dịch vụ văn hóa, giải trí

Dựa trên bảng số liệu, dịch vụ giáo dục và dịch vụ thông tin liên lạc được đánh giá là có sự thay đổi lớn nhất, tiếp theo là dịch vụ y tế, văn hóa, giải trí và thương mại tiêu dùng Cụ thể, 52,8% người dân nhận thấy dịch vụ thông tin liên lạc cải thiện, 40,3% cho rằng dịch vụ y tế tốt hơn, 36,1% nhận xét dịch vụ thương mại và tiêu dùng có tiến bộ, và 25,0% cảm thấy dịch vụ văn hóa, giải trí đã cải thiện Tuy nhiên, có 49,3% trong số 69 hộ gia đình được phỏng vấn cho rằng tình hình giáo dục sau TĐC đã xấu đi, ngoại trừ 3 hộ không có con em đang đi học.

Trong số các hộ có con em đang đi học, 79,7% cho biết con em họ không thay đổi trường học, trong khi 20,3% phải chuyển sang trường khác Đối với những hộ phải chuyển trường, 78,6% cho rằng nguyên nhân là do thay đổi chỗ ở, cho thấy việc chuyển chỗ ở đã ảnh hưởng đến điều kiện học tập của con em với tỷ lệ 20,3% Các hộ gia đình gặp phải nhiều vấn đề khi chuyển trường, trong đó 23,0% cho biết gặp khó khăn về thủ tục, 38,5% cho rằng thủ tục là bình thường, và 38,5% còn lại cho rằng thủ tục chuyển trường dễ dàng và thuận lợi.

Bảng 4.8: Việc thay đổi trường học và lý do thay đổi trường học

Khoản mục Số hộ Tỷ lệ (%)

2 Lý do thay đổi trường học

Do thay đổi chỗ ở Khác

Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi địa điểm cư trú, các hộ gia đình gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt là việc tốn thời gian và chi phí hơn để đưa đón con em đi học Các bậc phụ huynh phải lo lắng về công việc để ổn định cuộc sống, dẫn đến thời gian rảnh rỗi bị hạn chế Điều này buộc họ phải sắp xếp để vừa đảm bảo công việc vừa có thể đưa đón con cái, gây ra xáo trộn trong đời sống hàng ngày của các thành viên trong gia đình.

Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế người dân sau khi TĐC

Để hiểu rõ mối quan hệ giữa các biến số, tác giả đã phân tích sự tương quan giữa chúng Kết quả cho thấy rằng số người phụ thuộc trong hộ gia đình có mối tương quan nghịch và rất chặt chẽ với số năm đi làm.

Số năm đi học của lao động chính có mối liên hệ tích cực với trình độ học vấn và nhận thức của họ Khi trình độ học vấn cao, nhận thức tốt hơn dẫn đến việc sinh ít con, từ đó giảm số người phụ thuộc trong hộ Tuy nhiên, việc đưa cả hai biến này vào mô hình hồi quy có thể gây ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Thu nhập bình quân đầu người có mối quan hệ nghịch và chặt chẽ với số người phụ thuộc trong hộ gia đình Cụ thể, những hộ gia đình có nhiều người phụ thuộc thường có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn.

Thu nhập bình quân đầu người có mối tương quan thuận chặt chẽ với số năm đi học của lao động chính, cho thấy rằng trình độ học vấn cao giúp họ có cơ hội tham gia vào các công việc ổn định và thu nhập cao Do đó, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình cũng tăng lên cả trước và sau khi thực hiện TĐC.

4.3.2 So sánh thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo loại hình nghề nghiệp của lao động chính của hộ gia đình

Phân tích Anova cho thấy thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC có sự khác biệt rõ rệt giữa lao động dài hạn và lao động ngắn hạn hoặc tự doanh Cụ thể, thu nhập bình quân của những người làm nghề dài hạn, như giáo viên, bác sĩ, và nhân viên văn phòng, cao hơn so với những người lao động ngắn hạn, bao gồm công nhân xí nghiệp, người giúp việc và bốc xếp.

2 Xem phụ lục 1.3 v.v Còn tự doanh chẳng hạn các công việc như tự kinh doanh, buôn bán quần áo, văn phòng phẩm, thiết bị, v.v

Bảng 4.13: Thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo loại hình nghề nghiệp của lao động chính của hộ

Loại hình nghề nghiệp của lao động chính

Tự doanh Lao động ngắn hạn

Lao động dài hạn Thu nhập bình quân đầu người trước TĐC (1.000 đồng) 2.073 1.799 2.937

Thu nhập bình quân đầu người sau TĐC (1.000 đồng) 1.554 1.688 2.837

4.3.3 So sánh thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo kỹ năng của người lao động chính của hộ gia đình

Kết quả kiểm định T-test cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC giữa các hộ có lao động chính với kỹ năng khác nhau Nhóm lao động có kỹ năng có thu nhập cao hơn so với nhóm không có kỹ năng Điều này cho thấy TĐC ảnh hưởng nhiều hơn đến những người lao động không có kỹ năng Ngoài ra, thu nhập bình quân đầu người của các hộ có lao động chính đã qua đào tạo, tập huấn cao hơn so với các hộ có lao động chính chưa được đào tạo.

Bảng 4.14: Thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC theo kỹ năng của người lao động chính của hộ

Kỹ năng của lao động chính Không được đào tạo, tập huấn Đã qua đào tạo, tập huấn Thu nhập bình quân đầu người trước TĐC (1.000 đồng) 1.953 2.825

Thu nhập bình quân đầu người sau TĐC (1.000 đồng) 1.563 2.752

Thu nhập trước và sau khi tái định cư (TĐC) phụ thuộc vào số lượng người phụ thuộc, số năm học của lao động chính, loại hình nghề nghiệp và kỹ năng của lao động chính trong hộ.

4.3.4 So sánh thu nhập bình quân đầu người trước và sau TĐC, số người có việc làm, số người phụ thuộc, số năm đi học của lao động chính giữa các hộ có vay vốn hoặc không vay vốn

Kết quả kiểm định t-test cho thấy có sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người, số người có việc làm và số năm đi học của lao động chính giữa nhóm hộ có vay vốn và không có vay vốn Cụ thể, hộ có nhu cầu vay vốn có thu nhập sau TĐC thấp hơn nhóm không có nhu cầu vay vốn Điều này cho thấy những hộ có thu nhập thấp thường phải vay vốn để trang trải cuộc sống và lo cho việc học hành của con cái, trong khi những hộ có thu nhập cao và ổn định không có nhu cầu vay vốn.

Nhóm không vay vốn có bình quân đầu người cao hơn nhóm vay vốn cả trước và sau khi TĐC Sự liên quan giữa thu nhập trước và sau TĐC với trình độ học vấn và loại hình nghề nghiệp của người TĐC là rõ ràng Những người có trình độ học vấn cao và công việc ổn định, đã qua đào tạo, ít bị ảnh hưởng đến sinh kế và không cần vay vốn Mối quan hệ này sẽ được phân tích chi tiết hơn trong các mục 4.3.5 và 4.3.6.

Bảng 4.15 trình bày thu nhập bình quân đầu người trước và sau khi tái định cư (TĐC), số lượng người có việc làm, số người phụ thuộc, cũng như số năm đi học của lao động chính giữa các hộ vay vốn và không vay vốn.

Tình trạng vay vốn của hộ Không vay vốn Có vay vốn Thu nhập bình quân đầu người trước TĐC (1.000 đồng) 2.466 2.081

Thu nhập bình quân đầu người sau TĐC (1.000 đồng) 2.277 1.715

Số người có việc làm

Số người phụ thuộc (người/hộ) 2,4 2,7

Số năm đi học của lao động chính (năm) 11,4 9,7

4.3.5 So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo loại hình nghề nghiệp của lao động chính

Chỉ tiêu được chia thành ba nhóm: tự doanh, lao động ngắn hạn và lao động dài hạn Nhóm lao động chính có nghề ổn định (lao động dài hạn) khi chuyển chỗ ở mới sẽ ít bị ảnh hưởng xấu về thu nhập hơn so với nhóm có nghề không ổn định (lao động ngắn hạn và tự doanh) Phân tích cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa loại hình nghề nghiệp và tình trạng thay đổi thu nhập sau TĐC Đối với lao động chính thuộc nhóm tự doanh hoặc lao động ngắn hạn, tỷ lệ thay đổi thu nhập theo hướng xấu cao hơn, trong khi nhóm có nghề nghiệp dài hạn thường có tỷ lệ thay đổi thu nhập không đổi hoặc tốt hơn Do đó, loại hình nghề nghiệp của lao động chính ảnh hưởng đến xu hướng thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC.

Bảng 4.16: Sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo loại hình nghề nghiệp của lao động chính

Loại hình nghề nghiệp của lao động chính

Lao động dài hạn Thay đổi về thu nhập sau TĐC

Không đổi hoặc tốt hơn 29,0% 19,4% 51,6%

Pearson Chi-Square = 7,440 Likelihood Ratio = 7,534 Asymp Sig (2-sided) = 0,023

4.3.6 So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo kỹ năng của lao động chính Đây là chỉ tiêu nhằm tìm hiểu xem kỹ năng của lao động chính có ảnh hưởng gì đến việc thay đổi về thu nhập sau TĐC của hộ gia đình hay không Giả định rằng những người lao động chính của hộ mà được đào tạo, tập huấn thì sẽ có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do đó tình trạng thay đổi thu nhập sau TĐC theo xu hướng tốt Còn những lao động mà không có kỹ năng thì thay đổi về thu nhập theo chiều hướng xấu sẽ nhiều hơn

Bảng 4.17: Sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo kỹ năng của lao động chính

Kỹ năng của lao động chính Không được đào tạo, tập huấn Đã qua đào tạo, tập huấn Thay đổi về thu nhập sau TĐC

Không đổi hoặc tốt hơn 22,0% 67,7%

Pearson Chi-Square = 15,229 Likelihood Ratio = 15,662 Asymp Sig (2-sided) = 0,000

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa kỹ năng của người lao động chính trong hộ và sự thay đổi thu nhập của hộ sau tái định cư Điều này cho thấy kỹ năng của lao động chính ảnh hưởng đến xu hướng thay đổi thu nhập của gia đình, phù hợp với giả định ban đầu Những người không có kỹ năng hoặc chưa được đào tạo thường dễ bị tổn thương khi có biến động xảy ra.

Trong chính sách di dời, cần chú trọng đến việc đào tạo những người không có kỹ năng, nhằm giúp họ có nhiều cơ hội tìm việc làm và đạt được thu nhập ổn định, cao hơn Những người đã qua đào tạo và có kỹ năng thường ít bị ảnh hưởng bởi tình trạng di dời.

4.3.7 So sánh sự thay đổi thu nhập của hộ sau TĐC theo dạng nhà TĐC

Ngày đăng: 28/07/2023, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Hồng Nga (2011), Sinh kế người dân ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế người dân ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đỗ Thị Hồng Nga
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Năm: 2011
2. Lê Văn Thành (2008) Thực trạng đời sống Kinh tế xã hội các hộ gia đình sau tái định cư: vấn đề và giải pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đời sống Kinh tế xã hội các hộ gia đình sau tái định cư: vấn đề và giải pháp
Tác giả: Lê Văn Thành
Năm: 2008
3. Lê Quang Tố (2011), Cải thiện qui trình tái định cư ở khu Kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện qui trình tái định cư ở khu Kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
Tác giả: Lê Quang Tố
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Năm: 2011
4. Phạm Minh Trí (2011), Đánh giá một số khía cạnh Kinh tế xã hội phát sinh của hộ gia đình sau tái định cư thuộc dự án Rạch Ụ Cây quận 8 – thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá một số khía cạnh Kinh tế xã hội phát sinh của hộ gia đình sau tái định cư thuộc dự án Rạch Ụ Cây quận 8 – thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Minh Trí
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Năm: 2011
5. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2008
7. Từ An, Đào Lê, Đoàn Qúy (2012), “Những dự án... làm mãi chưa xong”, http://land.cafef.vn/20120328083948592CA45/nhung-du-an-lam-mai-chua-xong.chn, truy cập ngày 05/04/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dự án... làm mãi chưa xong
Tác giả: Từ An, Đào Lê, Đoàn Qúy
Nhà XB: CaféF
Năm: 2012
8. Ngọc Lữ (2008,) “Việc làm cho người dân tái định cư tại TPHCM - Bài 1: Thiếu ổn định”,http://tintuc.xalo.vn/007274321/viec_lam_cho_nguoi_dan_tai_dinh_cu_tai_tphcm_bai_1_thieu_on_dinh.html?id=529944&o=0, truy cập ngày 21/03/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm cho người dân tái định cư tại TPHCM - Bài 1: Thiếu ổn định
Tác giả: Ngọc Lữ
Năm: 2008
9. Hạnh Nhung (2010), “TPHCM – Chương trình nhà ở tái định cư: Nhiều tín hiệu vui”, http://www.sggp.org.vn/xaydungdiaoc/2010/11/242200/,truy cập ngày 10/03/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TPHCM – Chương trình nhà ở tái định cư: Nhiều tín hiệu vui
Tác giả: Hạnh Nhung
Năm: 2010
10. Vọng (2012), “Hoàn thành 40% công trình đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - Vành đai ngoài”,http://www.thehyco4tower.com/vn/news/detail/29/156/hoan-thanh-40-cong-trinh-duong-tan-son-nhat---binh-loi---vanh-dai-ngoai/1.html, truy cập ngày 12/03/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thành 40% công trình đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - Vành đai ngoài
Tác giả: Vọng
Năm: 2012
11. Trang web http://imv-hanoi.com (2005), “Trung Quốc”: Thay đổi chỗ ở, tái định cư và những biểu hiện phân hoá về không gian – xã hội”, truy cập ngày 15/01/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc: Thay đổi chỗ ở, tái định cư và những biểu hiện phân hoá về không gian – xã hội
Năm: 2005
12. Trang web http://www.isponre.gov.vn (2008), “Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam”, truy cập ngày 10/02/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam
Năm: 2008
13. Trang web http://www.diaoconline.vn (2010), “Khu dân cư phường 13, quận Gò Vấp”, truy cập ngày 10/02/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu dân cư phường 13, quận Gò Vấp
Năm: 2010
14. Trang web thesaigontimes.vn (2011), “ Dự án cải thiện kênh Tham Lương - Bến Cát chậm tiến độ”, truy cập ngày 10/02/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án cải thiện kênh Tham Lương - Bến Cát chậm tiến độ
Nhà XB: thesaigontimes.vn
Năm: 2011
17. Website http://vietbao.vn/Nha-dat/Chinh-phu-ban-hanh-2-nghi-dinh-huong-dan-thi-hanh-Luat-Dat-dai-Chinh-sach-moi-ve-boi-thuong-ho-tro-va-tai-dinh-cu/45137035/511/ “Chính phủ ban hành 2 nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai – Chính sách mới về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”, truy cập ngày 10/02/2012.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ ban hành 2 nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai – Chính sách mới về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Năm: 2012
18. DFID, (1999), Sustainable Livelihoods Guidance Sheets Introduction Overview 1.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable Livelihoods Guidance Sheets Introduction Overview
Tác giả: DFID
Năm: 1999
19. DFID, (1999), Sustainable livelihoods guidance sheets framework introduction 2.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable livelihoods guidance sheets framework introduction 2.1
Tác giả: DFID
Năm: 1999
20. DFID, (1999), Sustainable livelihoods guidance sheets Uses Overview 3.1 21. DFID, (1999), Sustainable livelihoods guidance sheets methodsOverview 4.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable livelihoods guidance sheets
Tác giả: DFID
Năm: 1999
22. DFID, (1999), Sustainable livelihoods guidance sheets methods Conducting SL Analysis 4.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable livelihoods guidance sheets methods Conducting SL Analysis
Tác giả: DFID
Năm: 1999
23. Nancy L. Leech, Karen C. Barrett & George A. Morgan (2005), SPSS for Intermediate Statistics: Use and Interpretation, publishers Mahwah, New Jersey, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: SPSS for Intermediate Statistics: Use and Interpretation
Tác giả: Nancy L. Leech, Karen C. Barrett, George A. Morgan
Nhà XB: Mahwah
Năm: 2005
15. Website của UBND thành phố Hồ Chí Minh http://hochiminhcity.gov.vn/default.aspx16.Website của UBND quận Gò Vấphttp://www.govap.hochiminhcity.gov.vn/default.aspx Link

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm