Đặt vấn đề
Trong một tổ chức, sự chênh lệch về kinh nghiệm giữa các cá nhân có thể dẫn đến hiệu quả hoạt động không cao, khi một số người đã có kiến thức chuyên môn trong khi những người khác vẫn đang tìm kiếm kinh nghiệm thông qua thử nghiệm Điều này không chỉ tốn thời gian mà còn làm gia tăng chi phí cho tổ chức Tri thức đóng vai trò quan trọng và có giá trị kinh tế, xã hội đối với cả cá nhân lẫn tổ chức Việc chia sẻ tri thức là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi tri thức được coi là tài sản quý giá và là nền tảng cho lợi thế cạnh tranh của các tổ chức.
Để con người sẵn sàng đón nhận thách thức mới và chia sẻ tri thức đã tích lũy, việc khuyến khích tham gia vào các hoạt động dựa trên tri thức là rất quan trọng Tuy nhiên, khác với các nguồn tài nguyên truyền thống, tri thức khi được chia sẻ sẽ trở thành hàng hóa công cộng, điều này khiến việc chia sẻ tri thức trở nên khó khăn do nỗi lo mất đi sức mạnh tri thức trong tổ chức Do đó, trong quản lý tri thức, việc chia sẻ tri thức được coi là một trong những thách thức lớn nhất.
Có nhiều rào cản trong việc chia sẻ tri thức, như vị trí công việc, tuổi tác và trình độ Điều này dẫn đến việc không phải tổ chức nào cũng có thể tạo ra môi trường hiệu quả cho việc chia sẻ tri thức Nhiều tổ chức đang tiêu tốn nhiều nguồn lực cho đào tạo nhân lực, một phần do thiếu sự khuyến khích trong việc chia sẻ kinh nghiệm và tri thức cũng như tự đào tạo.
Tại Việt Nam, khái niệm chia sẻ tri thức và thông tin chủ yếu được thể hiện trong khu vực tư, trong khi khu vực công vẫn còn thiếu nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, việc chia sẻ tri thức trong khu vực công đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và nghiên cứu (Willen, Annick, Marc Buelens, 2007).
Trong khu vực công, quá trình chia sẻ tri thức giữa các bộ phận vẫn chưa hiệu quả Nghiên cứu các mô hình chuyển giao và chia sẻ tri thức toàn cầu, đặc biệt là ứng dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh và UBND Quận 7, là cần thiết Đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chia sẻ tri thức giữa những người lao động tại UBND Quận 7 - Thành phố Hồ Chí Minh” sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp và chia sẻ tri thức trong tổ chức này.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính là nâng cao sự phối hợp và chia sẻ tri thức giữa các nhân viên tại UBND quận 7, từ đó cải thiện hiệu quả và năng suất trong công tác quản lý và hoạt động của cơ quan này.
Nghiên cứu này nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến quá trình chia sẻ tri thức và hiệu quả chia sẻ tri thức của người lao động tại UBND quận 7 Đồng thời, bài viết cũng đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả chia sẻ tri thức tại cơ quan này.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Tri thức và các mô hình chia sẻ tri thức hiện nay
- Các yếu tố liên quan và ảnh hưởng đến hiệu quả chia sẻ tri thức
Chia sẻ tri thức mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao hiểu biết và kỹ năng của cá nhân Việc này không chỉ giúp người nhận tiếp thu thông tin mới mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực Để tối ưu hóa quá trình chia sẻ, cần sử dụng các công cụ và nền tảng hiện đại, đồng thời đảm bảo thông tin được truyền tải một cách rõ ràng và dễ hiểu.
Phạm vi nghiên cứu: những người lao động đang làm việc tại UBND quận 7,
Ý nghĩa của Nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm nâng cao khả năng chia sẻ tri thức giữa các nhân viên tại UBND quận 7, từ đó cải thiện hiệu quả kết nối và giải quyết công việc trong cơ quan, tổ chức.
Kết cấu nghiên cứu
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tƣợng, phạm vi và ý nghĩa kỳ vọng và kết cấu của luận văn Mục tiêu của chương 1 nêu bật vấn đề nghiên cứu, khe hổng nghiên cứu và tổng quan các nội dung chính của Luận văn
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của việc chia sẻ tri thức tại UBND quận 7
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: nội dung giới thiệu cụ thể về phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, hệ thống các thang đo và quy trình nghiên cứu của luận văn
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp phân tích dữ liệu nhằm nghiên cứu, mô tả, kiểm định và đƣa ra các nhận định quan trọng về những yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của việc chia sẻ tri thức hiện nay tại UBND quận 7
Chương 5: Kết luận và gợi ý giải pháp cơ bản cho việc nâng cao hiệu quả của việc chia sẻ tri thức hiện nay tại UBND quận 7 tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Tổng quan về chia sẻ tri thức
Ngày nay, tri thức trở thành nguồn lực quan trọng cho sự cạnh tranh giữa các tổ chức "Chia sẻ tri thức" là sự đóng góp của cá nhân vào kiến thức tập thể của tổ chức, và ngày càng được công nhận là chủ đề nghiên cứu quan trọng Để thành công trong nền kinh tế tri thức, các tổ chức cần phát triển quy trình hệ thống để tạo ra và nâng cao kiến thức Tuy nhiên, nhiều công ty thất bại trong việc thúc đẩy chia sẻ tri thức do nhân viên không muốn chia sẻ, mặc dù có sự khuyến khích Những lập luận này chưa được kiểm chứng thực nghiệm và còn thiếu dữ liệu thống nhất về các yếu tố cản trở việc chia sẻ tri thức.
Nghiên cứu của Lin Lu và cộng sự (2006) đã phát triển một khung khái niệm ba cấp để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết về hàng hóa công và các nghiên cứu về hành vi tổ chức nhằm khám phá các yếu tố cá nhân và tổ chức tác động đến việc chia sẻ kiến thức Mục tiêu chính là xác định các yếu tố có thể thúc đẩy hoặc cản trở hành vi chia sẻ tri thức trong tổ chức Hai nghiên cứu đã được thực hiện để kiểm tra các giả thuyết về các yếu tố quyết định hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhà quản lý Nghiên cứu 1 tập trung vào mô hình hành vi chia sẻ tri thức, trong khi Nghiên cứu 2 mở rộng mô hình bằng cách xem xét vai trò của công nghệ trong việc hỗ trợ hành vi này Cả hai nghiên cứu đều cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa các yếu tố cá nhân và tổ chức trong việc xác định hành vi chia sẻ tri thức Các cơ quan công quyền hiện nay là nơi lý tưởng để áp dụng lý thuyết quản lý vào thực tiễn, nơi mà nhân viên có thể vận dụng tri thức đã học từ các trường, viện vào công việc của mình.
Quản lý tri thức là chức năng quan trọng của các cơ quan công quyền, giúp ứng dụng tri thức vào quy trình làm việc Đây là một công cụ chiến lược thiết yếu để các tổ chức công quyền duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Các nghiên cứu về quản lý tri thức trong các cơ quan công quyền tại Việt Nam hiện nay còn hạn chế Mặc dù đã có một số đề xuất quy trình quản lý tri thức, nhưng rất ít nghiên cứu kiểm định cụ thể cho từng cơ quan Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của người lao động, từ đó làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động chia sẻ tri thức, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý tri thức tại các cơ quan công quyền Việt Nam.
Chia sẻ tri thức là hành động chủ động nhằm tái sử dụng tri thức bởi người khác thông qua chuyển giao tri thức (Lee và Al-Hawamdeh, 2002) Đây là quá trình cho và nhận tri thức, trong đó sự sáng tạo và chia sẻ tri thức phụ thuộc vào nỗ lực có ý thức của cá nhân, giúp tri thức được lan tỏa (Nonaka và Takeuchi, 1995).
Các khái niệm
2.2.1 Hàng hóa, dịch vụ công và các đối tƣợng có liên quan Các cơ quan công quyền là các cơ quan cung cấp dịch vụ công (hàng hóa công) làm lợi cho cộng đồng (Komorita và Parks, 1994) Vấn đề với hàng hóa dịch vụ công, những người cung cấp hàng hóa dịch vụ công thường không hưởng thụ tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg những lợi ích từ hàng hóa dịch vụ công được cấp, còn những người được cung cấp hàng hóa, dịch vụ công là những người tiêu thụ, hưởng thụ trực tiếp từ loại hàng hóa, dịch vực công đó Do đó, có một tình trạng mâu thuẫn giữa hai đối tƣợng; nếu mọi người cư xử theo cách tối đa hóa lợi ích cá nhân mình, lợi ích tập thể có khi sẽ không đạt đƣợc tối đa hóa (Messick và Brewer, 1983) Các lý thuyết hàng hóa công đã đƣợc áp dụng cho quản lý, chẳng hạn nhƣ trong phân tích động lực (Spicer và cộng sự, 1985), hành vi hợp tác (Aquino, Reed, 1998), nhƣng các nghiên cứu thực nghiệm dựa trên quan điểm này vẫn còn hiếm
Tri thức chia sẻ trong lĩnh vực hàng hoá dịch vụ công cộng đáp ứng hai tiêu chí quan trọng: đầu tiên, nó xuất phát từ sự đóng góp của nhân viên; thứ hai, các cộng tác viên khác có thể sử dụng kiến thức này Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, việc chia sẻ kiến thức trở nên không mang tính cá nhân, cho phép nhân viên dễ dàng tiếp cận thông tin tổ chức mà không cần có mối quan hệ trực tiếp với người đóng góp.
2.2.2 Tri thức và sự chia sẻ tri thức Đến nay, có khá nhiều định nghĩa về tri thức, nhƣng tựu trung lại, có thể định nghĩa tri thức là sự giải mã về một mối quan hệ giữa các khái niệm có liên quan đến những lĩnh vực cụ thể (Becerra-Fernandez và cộng sự, 2004)
Trong một tổ chức, việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên thông qua tài liệu công việc, quy tắc tổ chức, quy trình làm việc, kinh nghiệm cá nhân và bí quyết là rất quan trọng Chia sẻ tri thức không chỉ thúc đẩy các hoạt động tốt nhất mà còn giúp giảm thiểu nỗ lực học tập dự phòng và tránh việc 'tái phát minh bánh xe'.
Quản lý tri thức là quá trình hệ thống bao gồm sản xuất, phân phối, trình diễn và ứng dụng tri thức Mục tiêu của quá trình này là tổ chức việc truyền đạt tri thức ẩn tàng và tường minh giữa các nhân viên, giúp họ sử dụng tri thức một cách hiệu quả và nâng cao năng suất trong công việc.
1998) tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
2.2.3 Vai trò của thành viên trong tổ chức về chia sẻ tri thức Một số nghiên cứu đã tập trung vào các yếu tố thúc đẩy hoặc hạn chế xu hướng đóng góp vào lợi ích công cộng Dưới đây là hai yếu tố có thể là các yếu tố quyết định gần gũi của chia sẻ tri thức đƣợc xác định: tính ích kỷ cá nhân và tự hiệu quả (Chen, Au, và Komorita, 1996) Tính ích kỷ là mong muốn đạt đƣợc kết quả tốt nhất có thể cho bản thân (Kollock, 1998) hoặc mong muốn đƣợc đóng góp của người khác mà không tốn chi phí và là một lý do chính cho các hành vi phi hợp tác trong đóng góp của hàng hóa công ( Rapoport và Eshed-Levy, 1989; Yamagishi và Sato, 1986) Trong bối cảnh chia sẻ tri thức, tính ích kỷ liên quan đến mong muốn khai thác tri thức giá trị của người khác mà không có sự trao đổi
Khả năng tự tin và sự phán đoán của một người trong việc tổ chức và thực hiện hành động để đạt được mục tiêu cụ thể là yếu tố quyết định cho hành vi chia sẻ tri thức Hiệu quả tích cực của sự tự tin đã được ghi nhận qua nhiều hành vi khác nhau Trong bối cảnh hàng hóa công, sự tự tin liên quan đến nhận thức về khả năng đóng góp của cá nhân và tầm quan trọng của những đóng góp này đối với việc cung cấp sản phẩm công Nhận thức về bản thân có thể tăng cường hợp tác, giảm thiểu hành vi "cưỡi miễn phí" và thúc đẩy việc chia sẻ tri thức.
2.2.4 Bối cảnh tổ chức trong chia sẻ tri thức Chia sẻ tri thức tổ chức thường diễn ra trong tình trạng đánh đổi về mặt lợi ích giữa các chủ thể tham gia, giống nhƣ tình trạng tiến thoái lƣỡng nan hàng hoá công cộng ở nhiều khía cạnh Trong một bối cảnh hàng hoá công cộng điển hình, người tham gia được đối xử bình đẳng và được giả định hành động độc lập nhau
Một tổ chức tạo ra một ngữ cảnh cụ thể ảnh hưởng đến quyết định chia sẻ kiến thức của nhân viên, bao gồm văn hóa, cấu trúc, hệ thống thông tin, hệ thống khen thưởng, lãnh đạo và quan hệ cá nhân (Gupta và Govindarajan, 2000) Các thành viên trong tổ chức tương tác theo cách chính thức và không chính thức, chịu ảnh hưởng của cấu trúc có thứ bậc Việc chia sẻ tri thức không chỉ bị tác động bởi các yếu tố cá nhân như tính ích kỷ và hiệu quả, mà còn được hình thành bởi các lực lượng tổ chức khác nhau Chẳng hạn, trong một công ty khuyến khích học tập, kiến trúc tổ chức có thể được thiết lập để tạo điều kiện cho việc học và chia sẻ tri thức (Loermans, 2002).
De Long và Beers (1998) nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa tổ chức Nghiên cứu của Taylor và Wright (2004) chỉ ra rằng văn hóa sáng tạo, khả năng học hỏi từ thất bại, chất lượng thông tin tốt, quản lý thay đổi và khuynh hướng đối chiếu với các chỉ số hoạt động là những yếu tố tiên đoán việc chia sẻ tri thức.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bối cảnh tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cơ hội cho nhân viên tương tác với nhau, đồng thời ảnh hưởng đến mức độ và tính chất của các mối quan hệ cá nhân Hơn nữa, các tổ chức có khả năng thực hiện các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu cụ thể và cung cấp nguồn lực hỗ trợ hoặc hạn chế hành động của nhân viên.
2.2.5 Sự phối hợp đồng cấp (Lateral coordination) Đồng cấp và sự phối hợp đồng cấp: đề cập đến chất lƣợng mối quan hệ giữa các cá nhân và sự hợp tác trong công việc Mối quan hệ giữa các đồng nghiệp có lợi cho sự lựa chọn hợp tác trong việc xử lý, giải quyết đối với hàng hoá công cộng, bao gồm chia sẻ tri thức (Cabrera và Cabrera, 2002) Trong bối cảnh chia sẻ tri thức, các nghiên cứu đề xuất rằng các tác động của sự tin tưởng giữa các cá nhân và làm việc theo nhóm là những chỉ số tốt nhất của sự đồng bộ của các đồng nghiệp vì đây là mối quan hệ trung tâm của các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
Trong các tổ chức dựa trên tri thức, nhóm là đơn vị hoạt động chính và làm việc theo nhóm hiệu quả sẽ thúc đẩy việc chia sẻ tri thức Các nghiên cứu chỉ ra rằng tương tác tích cực giữa các cá nhân có thể tạo điều kiện cho việc chia sẻ tri thức Việc thúc đẩy nhận dạng nhóm, tăng cường tần suất tương tác và cải thiện truyền thông cũng góp phần quan trọng trong quá trình này Những chiến lược này chủ yếu là các biện pháp xây dựng nhóm nhằm nâng cao sự nhận thức và trách nhiệm trong cộng đồng làm việc, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi chia sẻ tri thức.
Một tổ chức sử dụng các hình thức truyền thông bên cạnh và các quá trình ra quyết định chung để chia cắt theo chiều dọc Chiến lược này chuyển mức độ quyết định xuống nơi thông tin tồn tại, cho phép các nhà quản lý và nhân viên giải quyết vấn đề ở cấp độ của họ và hợp tác với đồng nghiệp bằng thông tin mới Mục đích chính là tăng cường khả năng ra quyết định và phản ứng nhanh với tình huống thay đổi Việc tăng cường giao tiếp ở cấp thấp hơn mang lại hai lợi ích quan trọng: giải tỏa thời gian quản lý cho các quyết định quan trọng và tối đa hóa việc tiếp cận thông tin địa phương trong quá trình ra quyết định Điều này giúp tạo ra các quyết định nhanh hơn trong môi trường ra quyết định đồng thời.
Nghiên cứu cho thấy bối cảnh tổ chức có ảnh hưởng tích cực đến hành vi chia sẻ tri thức, với nhận thức rằng tổ chức quan tâm đến phúc lợi của nhân viên (Eisenberger, Cummings, Armeli, và Lynch, 1997) Liu và Lu (2006) đã chỉ ra ba khía cạnh quan trọng: đầu tiên là 'thái độ của người quản lý', cho rằng sự ủng hộ và hành động của quản lý là yếu tố quyết định trong quản lý tri thức (Davenport, De Long, và Beers, 1998) Thứ hai là đào tạo, được xem là cần thiết để trang bị kỹ năng và thái độ tích cực cho nhân viên trong việc chia sẻ kiến thức (Brand, 1998; Davenport, De Long, và Beers, 1998) Cuối cùng, khía cạnh trừng phạt được sử dụng để khuyến khích hành vi mong muốn và thúc đẩy hợp tác trong tổ chức (Messick và Brewer, 1983; Yamagishi và Sato).
Khung phân tích áp dụng
Nghiên cứu của Willem, Annick, và Marc Buelens (2007) về chia sẻ tri thức trong các tổ chức công cộng đã chỉ ra rằng các đặc điểm tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến việc chia sẻ tri thức giữa các phòng ban Tác giả rất tâm đắc với những phát hiện này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các yếu tố tổ chức để tối ưu hóa quy trình chia sẻ tri thức.
Các giả thuyết của nghiên cứu này bao gồm:
- P1a Việc sử dụng các hệ thống chính quy nhiều hơn, ít chia sẻ tri thức hơn trong các giai đoạn hợp tác
- P1b Việc sử dụng phối hợp đồng cấp nhiều hơn, việc chia sẻ tri thức nhiều hơn trong các hợp tác
- P1c Việc sử dụng phối hợp không chính thức nhiều hơn, sự chia sẻ tri thức nhiều hơn trong các hợp tác
Sẽ có sự tương tác giữa phối hợp bên và điều phối không chính thức, tạo ra ảnh hưởng tích cực đến tri thức.
- P2a Sự tin tưởng nhiều hơn ở các bên khác, việc chia sẻ tri thức nhiều hơn trong tập hợp hợp tác
- P2b Việc nhận dạng nhiều hơn với tổ chức, chia sẻ tri thức nhiều hơn trong tập hợp tác
- P2c Tổ chức càng công khai thì càng ít nhận dạng, và do đó chia sẻ tri thức ít hơn
- P3a Các trò chơi quyền lực hơn, sự chia sẻ tri thức ít hơn trong các hợp tác
- P3b Các tổ chức công cộng càng nhiều, các trò chơi quyền lực hơn, và do đó, chia sẻ tri thức ít hơn trong các giai đoạn hợp tác
Trong các tập hợp tác không chính thức, trò chơi quyền lực thường ít được thể hiện hơn, trong khi việc chia sẻ tri thức trở nên quan trọng hơn trong các giai đoạn hợp tác.
Mô hình nghiên cứu gốc : tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu gốc
Sự phối hợp đồng cấp Lateral coordination
Hệ thống chính thức Formal systems
Sự phối hợp không chính thức Informal coordination
Hiệu quả chia sẻ tri thức Knowledge-sharing effectiveness
Cường độ chia sẻ tri thức Knowledge-sharing Intensity
Government institutions play a crucial role in society, providing essential services and maintaining order They are responsible for implementing policies and regulations that affect citizens' daily lives Access to updated information and resources, such as downloadable documents and academic theses, is vital for students and professionals alike Engaging with these institutions can enhance understanding and facilitate communication within the community.
Dựa trên mô hình nghiên cứu và thực trạng tại UBND quận 7, tác giả đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu như sau:
- H1: Sự phối hợp đồng cấp tác động dương đến hiệu quả chia sẻ tri thức
- H2: Sự phối hợp không chính thức tác động dương đến hiệu quả chia sẻ tri thức
- H3: Sự khuyến khích tác động dương đến hiệu quả chia sẻ tri thức
- H4: Tin cậy tác động dương đến hiệu quả chia sẻ tri thức
Từ các giả thuyết trên, xây dựng mô hình nghiên cứu nhƣ sau
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu
Sự phối hợp đồng cấp Lateral coordination
Sự phối hợp không chính thức Informal coordination
Hiệu quả chia sẻ tri thức Knowledge-sharing effectiveness
H4 (+) tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Thiết kế nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thu thập thông tin qua bảng câu hỏi phỏng vấn Nghiên cứu này được thực hiện với đối tượng là người lao động tại các phòng ban của UBND quận 7.
Mục đích của nghiên cứu này là kiểm định lại các mối quan hệ theo giả thuyết nghiên cứu được công bố cụ thể trong chương 2 trên
- Đối tƣợng khảo sát là các các bộ công chức hiện đang làm việc tại phòng ban của UBND quận 7
Người tham gia khảo sát là những nhân viên làm việc tại các cơ quan công quyền, đã được tác giả giải thích rõ về mục đích và nội dung của cuộc khảo sát Họ đã từng tham gia vào việc chia sẻ tri thức qua nhiều hình thức khác nhau, bao gồm chia sẻ phi chính thức, tham gia vào các nhóm tác nghiệp, và các chương trình khuyến khích từ cơ quan hoặc quận.
Kích thước mẫu trong nghiên cứu định lượng được xác định theo nguyên tắc kinh nghiệm, với yêu cầu tối thiểu là 125 mẫu cho 25 biến quan sát (Hair, Anderson, Tatham, Black, 1998) Việc lấy mẫu được thực hiện ngẫu nhiên, với bảng câu hỏi được gửi đến các phòng ban và người lao động Trong đợt khảo sát, tổng số phiếu phát ra là 300, trong đó 232 phiếu được thu về và nhập liệu cho quá trình phân tích Số phiếu hợp lệ đạt 232, cao hơn so với quy mô mẫu dự kiến, đảm bảo độ tin cậy cho nghiên cứu (Hair, Anderson, Tatham, Black, 1998).
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu dự án
Để đảm bảo tính trung thực của kết quả khảo sát, người tham gia sẽ nhận được một chiếc bút để trả lời câu hỏi và chỉ nhận bút sau khi hoàn thành bảng hỏi.
Xây dựng thang đo
Hệ thống thang đo được phát triển dựa trên các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau, trong đó có nghiên cứu của Huiskonen, Janne và Timo Pirttilọ (2002) về sự phối hợp đồng cấp và không chính thức (Miller và Droge, 1986) Ngoài ra, các nghiên cứu của Lawler (1981), Landy và Becker (1987), cùng với Pinder (1984) cũng được kế thừa để xây dựng thang đo về sự khuyến khích Nghiên cứu của McAllister (1995) và Cummings, Bromiley cũng đóng góp vào việc phát triển hệ thống này.
Các nghiên cứu của Dirks và Ferrin (2001), Zucker (1987), Jarvenpaa và Leidner (1999), cùng với Jarvenpaa và cộng sự (1998), Moreland và Myaskovsky (2000), Rau (2005) đã được kế thừa và áp dụng trong các nghiên cứu về độ tin cậy Bên cạnh đó, các công trình của Leonard và Sensiper (1998), Nonaka và Takeuchi (1995) cũng được sử dụng để phát triển thang đo hiệu quả của việc chia sẻ tri thức.
Căn cứ xây dựng thang đo về Tin cậy chủ yếu dựa vào nghiên cứu của McAllister (1995), trong đó các thông tin đo lường khái niệm tin cậy được cụ thể hóa thành ba biến quan sát.
+ Các thành viên chuyển đến từ các đơn vị khác khi tiếp nhận công việc mới với thái độ chuyên nghiệp và tận tụy
+ Tôi hoàn toàn tin tưởng về năng lực của cán bộ/nhân viên từ đơn vị khác chuyển đến
+ Tôi tin tưởng cán bộ, nhân viên, trong các phòng ban đều đáng tin cậy
Thang đo Sự phối hợp đồng cấp được phát triển dựa trên nghiên cứu của Miller và Droge (1986) và bao gồm sáu biến quan sát cụ thể.
+ Tổ chức Anh/ chị có nơi/ kênh liên kết chia sẻ thông tin giữ các phòng , ban trước khi ra quyết định
Tổ chức của bạn có bộ phận chuyên trách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa các phòng ban, phục vụ cho các dự án đặc biệt.
+ Tổ chức Anh/chị có nhân sự điều phối, liên kết các bộ phận khi triển khai những dự án đặc biệt
+ Tổ chức Anh/chị thực hiện thảo luận , phối hợp giữa các bộ phận chức năng khác nhau trước khi ra quyết định
+ Tổ chức Anh/chị có quy trình trao đổi thông tin cụ thể theo trách nhiệm cụ thể cho dự án đặc biệt
Tổ chức Anh/chị chia sẻ thông tin qua các buổi làm việc nhóm Thang đo sự phối hợp không chính thức, được kế thừa từ nghiên cứu của Miller và Droge (1986), đề xuất rằng sự phối hợp này giữa các nhân viên trong các cơ quan công quyền có thể được đo lường thông qua các biến quan sát.
+ Tôi có mạng lưới cộng sự không chính thức trong tổ chức khi giải quyết công việc;
+ Anh /Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân là quan trọng khi giải quyết công việc trong tổ chức;
+ Anh /Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân trong tổ chức có vai trò quan trọng trong việc học hỏi chia sẽ kinh nghiệm lẫn nhau;
+ Anh/Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân hỗ trợ tốt trong thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức;
+ Anh/Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân hỗ trợ mình khi gặp khó khăn trong công việc
Thang đo Sự khuyến khích được phát triển dựa trên nghiên cứu của Lawler (1981), Landy và Becker (1987) cùng Pinder (1984) Nhóm tác giả đã đề xuất rằng sự khuyến khích có thể được đo lường thông qua sáu biến quan sát cụ thể.
+ Anh/Chị luôn đƣợc động viên khi làm một việc theo nhóm trong tổ chức;
+ Anh/Chị cho rằng làm việc theo nhóm đƣợc tổ chức cân nhắc đƣa vào đánh giá khen thưởng hàng năm;
Hành vi hợp tác được tổ chức đánh giá cao và có chính sách khen thưởng.
+ Anh/Chị cho rằng chia sẻ tri thức và thông tin giữa các cá nhân, phòng ban đƣợc tổ chức khuyến khích;
+ Anh/Chị cho rằng sự hợp tác giữa các phòng ban là một trong các chiến lƣợc của tổ chức;
+ Anh/Chị cho rằng chia sẻ thông tin, tri thức giữa các phòng đƣợc ƣu tiên trong tổ chức
Thang đo Tính hiệu quả chia sẻ tri thức: đƣợc nghiên cứu, kế thừa theo các nghiên cứu của nhóm tác giả (Leonard và Sensiper, 1998; Nonaka và Takeuchi,
1995) Theo đề xuất này, thang đo Tính hiệu quả chia sẻ tri thức đƣợc đề xuất sử dụng thông qua năm biến quan sát gồm:
+ Tôi đã đƣợc mở rộng tri thức và tầm nhìn mới khi chia sẽ tri thức với cộng sự;
+ Tôi đã nhận được những chia sẻ về các phương pháp hiệu quả để hoàn thiện những nhiệm vụ trong tổ chức khi chia sẻ với cộng sự;
+ Tôi cho rằng khi tham gia các dự án đặc biệt giúp tôi nâng cao năng lực giải quyết vấn đề;
+ Tôi cho rằng chia sẽ tri thức sẻ hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của tổ chức;
+ Tôi cho rằng tri thức đƣợc tăng thêm hỗ trợ cải thiện hiệu quả công việc mà tôi đang phụ trách
Hệ thống thang đo cho luận văn được xây dựng dựa trên các nghiên cứu của nhiều tác giả, nhằm tạo cơ sở cho bảng khảo sát các biến quan sát đo lường các khái niệm nghiên cứu trong mô hình của luận văn Bảng tổng hợp 3.1 cung cấp thông tin về các biến quan sát này, giúp làm rõ các khái niệm nghiên cứu.
Bảng 3 1: Tổng hợp các thang đo và căn cứ chọn thang đo
Các thành viên chuyển đến từ các đơn vị khác khi tiếp nhận công việc mới với thái độ chuyên nghiệp và tận tụy
Tôi hoàn toàn tin tưởng vào năng lực của cán bộ và nhân viên được chuyển từ các đơn vị khác Tôi cũng tin rằng cán bộ, nhân viên trong các phòng ban đều đáng tin cậy.
SỰ PHỐI HỢP ĐỒNG CẤP
Tổ chức Anh/ chị có nơi/ kênh liên kết chia sẻ thông tin giữ các phòng , ban trước khi ra quyết định
Tổ chức Anh/chị có nơi chuyên trách tạo điều kiện cho sự hợp tác giữa các phòng ban phục vụ cho các dự án đặc biệt
Tổ chức Anh/chị có nhân sự điều phối, liên kết các bộ phận khi triển khai những dự án đặc biệt
Tổ chức Anh/chị thực hiện thảo luận , phối hợp giữa các bộ phận chức năng khác nhau trước khi ra quyết định
Tổ chức Anh/chị có quy trình trao đổi thông tin cụ thể theo trách nhiệm cụ thể cho dự án đặc biệt
Tổ chức Anh/chị có chia sẻ thông tin bằng các buổi làm việc nhóm
SỰ PHỐI HỢP KHÔNG CHÍNH
Mạng lưới cộng sự không chính thức trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết công việc Mối quan hệ bạn bè cá nhân không chỉ giúp nâng cao hiệu quả công việc mà còn tạo điều kiện cho việc học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau.
Anh/Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân hỗ trợ tốt trong thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức
Anh/Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân hỗ trợ mình khi gặp khó khăn trong công việc
Anh/Chị luôn đƣợc động viên khi làm một việc theo nhóm trong tổ chức
Làm việc theo nhóm được xem là một yếu tố quan trọng trong đánh giá khen thưởng hàng năm, và hành vi hợp tác cũng được tổ chức đánh giá cao và có khen thưởng thích đáng.
Chia sẻ tri thức và thông tin giữa các cá nhân và phòng ban được tổ chức khuyến khích, điều này cho thấy sự hợp tác giữa các phòng ban là một trong những chiến lược quan trọng của tổ chức.
Anh/Chị cho rằng chia sẻ thông tin, tri thức giữa các phòng đƣợc ƣu tiên trong tổ chức
HIỆU QUẢ TRONG CHIA SẺ TRI THỨC
Chia sẻ tri thức với cộng sự đã giúp tôi mở rộng tầm nhìn và nâng cao hiểu biết Qua những cuộc trao đổi, tôi đã nhận được nhiều phương pháp hiệu quả để hoàn thiện nhiệm vụ trong tổ chức.
Tôi cho rằng khi tham gia các dự án đặc biệt giúp tôi nâng cao năng lực giải quyết vấn đề
Tôi cho rằng chia sẽ tri thức sẻ hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của tổ chức
Tôi cho rằng tri thức đƣợc tăng thêm hỗ trợ cải thiện hiệu quả công việc mà tôi đang phụ trách
Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu trước, bài viết này cung cấp thông tin về việc tải xuống luận văn thạc sĩ mới nhất Để nhận tài liệu, vui lòng liên hệ qua email: vbhtj mk gmail.com.
Giới thiệu
Trong Chương 3 đã trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu
Chương 4 sẽ trình bày kết quả kiểm định thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu lý thuyết, các giả thuyết đƣa ra trong mô hình và phân tích đa nhóm Phần mềm SPSS 18.0 và AMOS 18.0 là công cụ hỗ trợ cho quá trình phân tích Nội dung chương này bao gồm:
- Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
- Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
- Phân tích nhân tố khám phá EFA
- Phân tích nhân tố khẳng định CFA
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua bảng câu hỏi với 25 biến quan sát và một số câu hỏi đặc trưng Cỡ mẫu được xác định theo nguyên tắc kinh nghiệm, với quy tắc tối thiểu là 5 mẫu cho mỗi biến đo lường, dẫn đến tổng số mẫu cần thiết là 125 Để giảm sai số do chọn mẫu, việc thu thập dữ liệu càng nhiều càng tốt là tiêu chí quan trọng, vượt qua cỡ mẫu tối thiểu Tuy nhiên, do giới hạn trong phạm vi nghiên cứu tại các cơ quan nhà nước và sự nghiệp ở quận 7, tác giả đã gửi mẫu khảo sát đến hầu hết các phòng ban và nhờ người lao động trả lời phiếu câu hỏi.
Bảng 4 1: Mô tả mẫu khảo sát
Tần số Phần trăm (%) Phần trăm tích lũy (%)
Tần số Phần trăm (%) Phần trăm tích lũy (%)
Trung cấp, Cao đẳng 5 2,2 2,2 Đại học 182 80,5 82,7
Tần số Phần trăm (%) Phần trăm tích lũy (%)
Tần số Phần trăm (%) Phần trăm tích lũy (%)
The article discusses a survey conducted by the author regarding the latest full download of thesis materials It emphasizes the importance of accessing updated academic resources for graduate studies.
Tác giả đã phát ra tổng cộng 300 phiếu khảo sát và thu về 232 phiếu hợp lệ, vượt qua ngưỡng tối thiểu cỡ mẫu cần thiết cho đề tài Do đó, mẫu khảo sát này được sử dụng cho nghiên cứu trong luận văn.
Mô tả sơ lƣợc các quan sát trong mẫu nghiên cứu:
Giới tính: Nam chiếm 53,3% và nữ chiếm 46,7% trong mẫu khảo sát, tỷ lệ nam và nữ không chênh lệch cao trong mẫu khảo sát
Trình độ học vấn của người lao động tại UBND Quận 7 cho thấy sự đa dạng, với 80,5% có trình độ đại học, 2,2% có trình độ trung cấp và cao đẳng, và 17,3% đạt trình độ sau đại học Tỷ lệ 17,3% người lao động có trình độ sau đại học phản ánh nỗ lực và phấn đấu của đội ngũ nhân viên trong các phòng ban của quận.
Đa phần lao động tại các cơ quan UBND quận 7 có thâm niên công tác trên 1 năm, với 31% làm việc từ 1-5 năm, 27,2% từ 5-10 năm, và 35,8% trên 10 năm Điều này cho thấy người lao động tại đây chủ yếu là những người có kinh nghiệm lâu dài Do đó, nghiên cứu về việc chia sẻ tri thức nhằm nâng cao hiệu quả làm việc trong bối cảnh quận 7 hiện nay là rất quan trọng.
Trong mẫu khảo sát, người lao động chuyên môn chiếm đa số, với nhân viên chiếm 9,9% và công chức chuyên môn chiếm 78% Ngoài ra, có 28 trưởng, phó phòng tham gia, chiếm 12,1% cỡ mẫu Kết quả này phản ánh sự nhiệt tình của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và công chức trong việc tham gia khảo sát và nghiên cứu của tác giả.
Kết quả khảo sát cho thấy tính đa dạng của các đối tượng tham gia, với sự tương đồng cao và không có sự chênh lệch lớn trong quá trình tham gia Một số nhóm đối tượng có tỷ lệ thấp trong kết quả khảo sát do số lượng hạn chế trong mẫu Tuy nhiên, kết quả khảo sát vẫn đạt tính đại diện cao, phục vụ tốt cho nghiên cứu về chủ đề hiện tại của luận văn.
Để nâng cao chất lượng nghiên cứu trước khi kiểm định mô hình, dữ liệu khảo sát đã được kiểm định thang đo Cronbach’s alpha Việc này nhằm đảm bảo tính hội tụ của các khái niệm và tính phân biệt giữa các nhân tố trong mô hình Kết quả chi tiết sẽ được trình bày ở phần sau.
Kiểm định thang đo Cronbach’s alpha
Cronbach’s Alpha là công cụ quan trọng trong việc kiểm định thang đo, giúp loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu và các biến rác có thể gây ra các biến tiềm ẩn, ảnh hưởng đến mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu Theo tiêu chuẩn, các quan sát có hệ số tương quan biến - tổng dưới 0,3 sẽ bị loại, và thang đo được coi là đạt yêu cầu khi hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,60 trở lên Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) chỉ ra rằng nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng thang đo lường tốt khi Cronbach’s Alpha từ 0,80 trở lên, có thể sử dụng được từ 0,70 đến 0,80, và có thể chấp nhận từ 0,60 trong trường hợp khái niệm nghiên cứu là mới đối với người trả lời.
Theo các giả định, nhóm tác giả đã xác định điều kiện kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha, trong đó biến có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,30 sẽ bị loại Tiêu chuẩn để chọn thang đo có độ tin cậy Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên (Nunnally và Burnstein, 1994) Kết quả Cronbach’s Alpha cho 5 khái niệm nghiên cứu được trình bày trong bảng 4.2.
Bảng 4 2: Kiểm định thang đo Cronbach’s alpha cho các khái niệm nghiên cứu
Thang đo Bình quân thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Hệ số tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
Sự phối hợp đồng cấp
Bình quân thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Hệ số tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
Sự phối hợp không chính thức
Bình quân thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Hệ số tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
Bình quân thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Hệ số tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
Bình quân thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Hệ số tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả về luận văn tốt nghiệp, bao gồm thông tin chi tiết và tài liệu mới nhất.
Thang đo Tin cậy: được kì vọng đo lường bằng 3 biến quan sát gồm NT1;
Kết quả thang đo Tin cậy cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,694, với các hệ số tương quan biến - tổng của các biến thành phần tối thiểu là 0,47 Việc loại bỏ bất kỳ biến quan sát nào trong thang đo sẽ làm giảm ý nghĩa của hệ số Cronbach’s Alpha Do đó, thang đo Tin cậy được xác định thông qua ba biến quan sát NT1, NT2 và NT3.
Thang đo sự phối hợp đồng cấp được kỳ vọng đo lường thông qua 6 biến quan sát: DC1, DC2, DC3, DC4, DC5 và DC6 Kết quả cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,821, với các hệ số tương quan biến - tổng của các biến thành phần tối thiểu là 0,35 Việc loại bỏ bất kỳ biến quan sát nào trong thang đo này sẽ làm giảm ý nghĩa của hệ số Cronbach’s Alpha, dẫn đến sự giảm sút trong giá trị của nó Do đó, thang đo tin cậy được xác định qua 6 biến quan sát DC1, DC2.
DC3; DC4; DC5 và DC6;
Thang đo sự phối hợp không chính thức được thiết kế để đo lường thông qua 5 biến quan sát: KCT1, KCT2, KCT3, KCT4 và KCT5 Kết quả cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,755, với các hệ số tương quan biến - tổng của các biến thành phần tối thiểu là 0,38 Việc loại bỏ bất kỳ biến quan sát nào sẽ làm giảm ý nghĩa của hệ số Cronbach’s Alpha, dẫn đến sự giảm sút trong độ tin cậy của thang đo Do đó, thang đo tin cậy cũng được xác định qua 5 biến quan sát KCT1, KCT2, KCT3, KCT4 và KCT5.
Thang đo Sự Khuyến khích được kỳ vọng đo lường thông qua 6 biến quan sát: KK1, KK2, KK3, KK4, KK5 và KK6 Kết quả cho thấy thang đo Tin cậy có hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,767, với các hệ số tương quan biến - tổng của các biến thành phần tối thiểu là 0,33 Việc loại bỏ bất kỳ biến quan sát nào trong thang đo sẽ làm giảm ý nghĩa của hệ số Cronbach’s alpha Do đó, thang đo Tin cậy được xác định qua 6 biến quan sát KK1, KK2, KK3, KK4, KK5 và KK6.
Thang đo Tính hiệu quả được kỳ vọng sẽ đo lường thông qua 5 biến quan sát: HQ1, HQ2, HQ3, HQ4 và HQ5 Kết quả của thang đo này sẽ được đánh giá bằng hệ số Cronbach’s.
Hệ số Alpha đạt 0,835, cho thấy độ tin cậy cao của thang đo Các hệ số tương quan giữa các biến thành phần tối thiểu là 0,33 Việc loại bỏ bất kỳ biến quan sát nào trong thang đo sẽ làm giảm ý nghĩa của hệ số Cronbach’s alpha Thang đo độ tin cậy được xác định thông qua 5 biến quan sát: HQ1, HQ2, HQ3, HQ4.
Kết quả kiểm định thang đo cho thấy hầu hết các biến quan sát có khả năng đo lường tốt cho các khái niệm nghiên cứu Tính hội tụ của các biến quan sát được thể hiện rõ qua các chỉ số thành phần, với chỉ số tương quan biến tổng vượt qua ngưỡng tối thiểu theo tiêu chuẩn của Nunnally (1978) và Hair et al (1998) Do đó, các biến quan sát đã đảm bảo điều kiện đo lường cho các nhân tố trong mô hình nghiên cứu, nhằm đánh giá hiệu quả của sự chia sẻ tri thức giữa các phòng ban tại quận 7.
Phân tích nhân tố khám phá
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) là một kỹ thuật quan trọng giúp tóm tắt và giảm thiểu dữ liệu, đồng thời tìm ra mối quan hệ giữa các biến Trong quá trình thực hiện EFA, các nhà nghiên cứu thường chú trọng đến một số tiêu chí nhất định để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của phân tích.
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự thích hợp của phân tích nhân tố EFA, với giá trị từ 0,5 đến 1 cho thấy phân tích là phù hợp Kiểm định Bartlett được sử dụng để kiểm tra giả thuyết về mối tương quan giữa các biến quan sát, và nếu kết quả kiểm định có ý nghĩa thống kê (Sig ≤ 0,05), điều này cho thấy các biến quan sát có mối liên hệ với nhau trong tổng thể.
Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích nhân tố (EFA), theo Hair và cộng sự (1998) Cụ thể, factor loading ≥ 0,3 được xem là mức tối thiểu, ≥ 0,4 là quan trọng, và ≥ 0,5 có ý nghĩa thực tiễn Nếu chọn tiêu chuẩn factor loading ≥ 0,3, cỡ mẫu tối thiểu nên là 350; với cỡ mẫu khoảng 100, tiêu chuẩn nên là ≥ 0,55; và với cỡ mẫu khoảng 50, factor loading phải ≥ 0,75 Do đó, trong nghiên cứu này, các biến quan sát có hệ số tải nhân tố ≤ 0,50 sẽ bị loại để đảm bảo độ tin cậy.
Thứ ba, thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50%
Thứ tƣ, điểm dừng khi trích các yếu tố có hệ số Eigenvalue phải có giá trị ≥
Hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố cần đạt ≥ 0,30 để đảm bảo giá trị phân biệt giữa các nhân tố (Jabnoun và Al–Tamimi).
Dựa trên các điều kiện đã nêu, tác giả thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA) bằng phương pháp trích Principals axis factoring kết hợp với xoay Promax Quy trình phân tích được chia thành hai giai đoạn.
Giai đoạn 1 bao gồm việc phân tích nhân tố khám phá cho nhóm biến quan sát của 4 thang đo: Tin cậy, Sự phối hợp đồng cấp, Sự phối hợp không đồng cấp và Sự khuyến khích Mục tiêu của phân tích là loại bỏ các biến quan sát kém ý nghĩa và xác định các nhân tố quan trọng cho việc kiểm định mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu Nếu kết quả phân tích đạt yêu cầu, tác giả sẽ tiến hành giai đoạn 2 Ngược lại, nếu có nhiều biến quan sát không có ý nghĩa thống kê, tác giả sẽ kiểm định lại các thang đo cho các nhân tố mới hình thành để đảm bảo tính hợp lý và hội tụ của các khái niệm trước khi tiếp tục.
Giai đoạn 2: Phân tích nhân tố hình thành nên khái niệm Tính hiệu quả trong mô hình nghiên cứu
Theo quy trình, kết quả phân tích ở từng giai đoạn được thể hiện cụ thể Tải xuống luận văn thạc sĩ mới nhất qua email vbhtj mk gmail.com.
Giai đoạn 1: Phân tích nhân tố cho nhóm các biến: Tin cậy, Sự phối hợp đồng cấp, sự phối hợp không chính thức và sự khuyến khích:
Dựa trên các tiêu chuẩn đo lường cho mô hình phân tích nhân tố, quá trình phân tích cho thấy trong giai đoạn 1, đã loại bỏ lần lượt 5 biến quan sát KK1, DC6, KK2, KCT1 và KK6 do các trọng số đo lường cho các khái niệm vi phạm, với chỉ số trọng số đạt dưới mức tối thiểu 0,3.
Sau khi loại các biến quan sát kém trong đo lường này, mô hình phân tích nhân tố với kết quả nhƣ sau:
Tổng biến thiên của mẫu được giải thích của mô hình đạt 52,95%, vượt mức tối thiểu 50% theo đề xuất của Hair (2003), thỏa mãn điều kiện của Gerbing và Anderson (1988) Trong đó, thang đo phối hợp đồng cấp có khả năng giải thích cao nhất với 26,57%, tiếp theo là thang đo phối hợp phi chính thức đạt 10,8%, thang đo sự khuyến khích đạt 9,3% và thang đo tin cậy đạt 6,27% Tất cả bốn thang đo đều có chỉ số Eigenvalue trên 1, đảm bảo hình thành các nhân tố có ý nghĩa thống kê.
Kết quả kiểm định Barlett cho thấy phân tích nhân tố khám phá đối với 4 nhân tố là phù hợp Cụ thể, chỉ số KMO đạt 0,793 và giá trị kiểm định Sig đạt 0%, cho thấy mô hình phân tích nhân tố khám phá có độ thích hợp cao.
Bảng 4 3: Kiểm định KMO cho Phân tích nhân tố các biến Tin cậy, Phối hợp đồng cấp, phối hợp phi chính thức và sự khuyến khích
Giá trị chi bình phương xấp xỉ 1242,438
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả về luận văn tốt nghiệp, bao gồm các tài liệu mới nhất và thông tin liên quan.
Bảng 4 4: Tổng phương sai trích
Nhân tố Initial Eigenvalues Extraction Sums of Squared
Rotation Sums of Squared Loadings a
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Sau khi loại bỏ các biến quan sát có giá trị thấp, mô hình cuối cùng chỉ giữ lại những biến có giá trị cao và có ý nghĩa đo lường cho từng nhân tố Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 4.9.
Các hệ số tải nhân tố của ba nhân tố đều đạt giá trị tối thiểu trên 0,5, đáp ứng điều kiện nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn (Hair và cộng sự, 1998) Hệ số tải giữa các nhân tố khác biệt tối thiểu 0,3, đảm bảo mỗi biến quan sát chỉ tồn tại trong mô hình giải thích cho một nhân tố duy nhất (Jabnoun và Al–Tamimi, 2003) Với các chỉ số này, mô hình phân tích nhân tố cho thấy ý nghĩa thực tiễn cao và hình thành ba nhân tố có ý nghĩa.
Thang đo 1: Sự phối hợp đồng cấp: Sự phối hợp đồng cấp đƣợc kì vọng ban đầu đo lường bởi 6 biến quan sát gồm:
Bảng 4.5: Thang đo sự phối hợp đồng cấp
Biến SỰ PHỐI HỢP ĐỒNG CẤP
DC1 Tổ chức Anh/ chị có nơi/ kênh liên kết chia sẻ thông tin giữa các phòng , ban trước khi ra quyết định
Tổ chức của Anh/chị có bộ phận chuyên trách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa các phòng ban trong việc phục vụ các dự án đặc biệt Đồng thời, tổ chức cũng có nhân sự điều phối và liên kết các bộ phận khi triển khai những dự án này.
DC4 Tổ chức Anh/chị thực hiện thảo luận , phối hợp giữa các bộ phận chức năng khác nhau trước khi ra quyết định
DC5 Tổ chức Anh/chị có quy trình trao đổi thông tin cụ thể theo trách nhiệm cụ thể cho dự án đặc biệt
DC6 Tổ chức Anh/chị có chia sẻ thông tin bằng các buổi làm việc nhóm
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Thang đo DC6, liên quan đến việc chia sẻ thông tin qua các buổi làm việc nhóm, đã bị loại khỏi mô hình đo lường do trọng số đo lường thấp (0,336 so với mức tối thiểu 0,5) Do đó, thang đo sự phối hợp đồng cấp chỉ còn lại các biến quan sát DC1, DC2, DC3, DC4 và DC5.
Thang đo 2: Thang đo sự phối hợp không đồng cấp được kì vọng đo lường bằng 5 biến quan sát gồm:
Bảng 4 6: Thang đo Sự phối hợp không chính thức
III SỰ PHỐI HỢP KHÔNG CHÍNH THỨC
KCT1 Tôi có mạng lưới cộng sự không chính thức trong tổ chức khi giải quyết công việc
KCT2 Anh /Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân là quan trọng khi giải quyết công việc trong tổ chức
KCT3 Anh /Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân trong tổ chức có vai trò quan trọng trong việc học hỏi chia sẽ kinh nghiệm lẫn nhau
KCT4 Anh/Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân hỗ trợ tốt trong thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức
KCT5 Anh/Chị cho rằng mạng lưới bạn bè cá nhân hỗ trợ mình khi gặp khó khăn trong công việc
Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Kết quả phân tích từ mô hình nghiên cứu được báo cáo sử dụng phương pháp Hồi quy (regression)
Phương pháp hồi quy được đề cập đầu tiên bởi Galton (Galton, Francis,
Vào năm 1885, với ý tưởng ban đầu nghiên cứu quá trình quy về trung bình của một biến số phụ thuộc (Y) trong mối quan hệ tương quan với các biến độc lập khác, mô hình hồi quy đã được phát triển Sau đó, mô hình này tiếp tục được kế thừa và phát triển bởi các học trò của ông, bao gồm nhóm nghiên cứu của Karl Pearson và các nhà khoa học như G.U Yule, Norman Blanchard, và Alice Lee vào năm 1903, cùng với R.A Fisher.
Năm 1922, một nhóm biến có khả năng giải thích cho một biến phụ thuộc cần phải có mối quan hệ với biến đó Do đó, phương pháp tương quan giữa các biến được nghiên cứu cụ thể trong phương pháp hồi quy, được đề xuất bởi các nhà nghiên cứu như Karl Pearson, Yule, G.U., Blanchard, Norman và Lee, Alice vào năm 1903.
Phương pháp hồi quy nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, cho phép kiểm định giả thuyết về sự tồn tại mối quan hệ tác động theo kỳ vọng của mô hình nghiên cứu.
Kết quả kiểm định mô hình hồi quy được thực hiện dựa trên các kiểm định về tính phù hợp và các giả thiết nhằm đảm bảo mô hình ổn định và chính xác Các kiểm định này bao gồm:
Kiểm định hệ số hồi quy nhằm xác định mối quan hệ giữa biến giải thích và biến phụ thuộc Qua kiểm định này, các giả thuyết về sự tồn tại của mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu được kiểm tra Các nghiên cứu của Pearson, Yule, Blanchard, Lee (1903) và Galton (1885, tái bản 1889) đã đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này.
Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (goodness of fit) là quá trình đánh giá khả năng áp dụng của mô hình trong nghiên cứu Khi mô hình thỏa mãn kiểm định này, nó có thể được sử dụng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu một cách hiệu quả (Fisher, R.A., 1922).
Kiểm định sự thỏa mãn các giả thiết của mô hình là bước quan trọng, bao gồm việc xác định không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập Cần rà soát hiện tượng phương sai thay đổi và đảm bảo rằng phần dư phải có phân phối chuẩn.
Đa cộng tuyến là hiện tượng mà các biến độc lập trong mô hình hồi quy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, và chỉ số VIF (variance inflation factor) được sử dụng để kiểm tra hiện tượng này Chỉ số VIF thường được so sánh với ngưỡng 10; nếu VIF vượt quá 10, mô hình có thể gặp phải đa cộng tuyến nghiêm trọng Ngược lại, nếu VIF nhỏ hơn 10, hiện tượng đa cộng tuyến được coi là trong giới hạn cho phép Đặc biệt, khi VIF bằng 1, mô hình hoàn toàn không có hiện tượng đa cộng tuyến.
2007) và (Farrar Donald E và Glauber, Robert R, 1967)
Phương sai thay đổi (Heteroschedasticity) là hiện tượng biến thiên của phần dư trong mô hình, với các mô hình có phương sai không đổi được coi là ổn định (White, Halbert, 1980) Những kết luận và mối quan hệ từ mô hình này có độ tin cậy cao (Glejser, H., 1969) Để phát hiện phương sai thay đổi, có thể quan sát đồ thị phân tán của phần dư theo các biến quan sát Nếu các phân bố phần dư khá ngẫu nhiên và không theo quy luật, không phân tán mở rộng hay thu hẹp theo các biến quan sát, thì mô hình được xem là không có hiện tượng phương sai thay đổi (White, Halbert, 1980).
Kiểm định tính phân phối chuẩn của phần dư là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá sự ổn định của mô hình Nếu phần dư được tạo ra từ một mô hình có phân phối chuẩn, điều này cho thấy mô hình đó có tính ổn định (Cook, R.).
Đồ thị phân phối tần số kết hợp với đường phân phối chuẩn trong SPSS (Histogram with Normal curve) có thể cho thấy hình ảnh phân phối chuẩn của phần dư.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, tổng biến thiên của biến phụ thuộc về
Hiệu quả của mô hình được đánh giá qua hệ thống biến độc lập (Total Variation) với chỉ số R bình phương hiệu chỉnh (Adjusted R square) đạt 34,6% Giá trị mức ý nghĩa kiểm định cho R bình phương hiệu chỉnh là 0%, cho thấy sự khác biệt so với 0 có ý nghĩa thống kê, chứng tỏ mô hình phù hợp tốt cho việc kiểm định các mối quan hệ giả thuyết Kết quả phân tích hệ số VIF của tất cả các biến trong mô hình tối đa đạt 1,1005, cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra.
Các đồ thị mô tả tính phân phối chuẩn của phần dư cho thấy hình dạng của phần dư thông qua đường phân phối chuẩn và đồ thị phân phối tần số khá cân xứng, với xác suất cao về giá trị trung bình, trung vị và mode bằng nhau Điều này cho thấy phần dư của mô hình có phân phối chuẩn Đồ thị phân tán các giá trị phần dư được chuẩn hóa theo các giá trị dự đoán cũng cho thấy tính ngẫu nhiên, cho phép kết luận rằng mô hình đạt được giả thiết về hiện tượng phương sai không đổi Mô hình này có thể được sử dụng cho quá trình nghiên cứu và kết luận cho mô hình nghiên cứu giả thuyết.
Dựa trên việc kiểm tra các lỗi của mô hình hồi quy, các giả định về mô hình này đều được thỏa mãn Kết quả này là cơ sở để tác giả tiến hành kiểm định mô hình nghiên cứu, được trình bày trong bảng 4.16.
Bảng 4 16: Kiểm định mô hình nghiên cứu
Mô hình Hệ số hồi quy chƣa chuẩn hóa
Hệ số hồi quy chuẩn hóa t Sig Thống kê đa cộng tuyến
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Theo kết quả nghiên cứu, bốn giả thuyết về sự phối hợp đồng cấp, sự phối hợp không chính thức, độ tin cậy và sự khuyến khích đều có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả công việc của đội ngũ lao động tại UBND quận 7.
Tính tương đồng của kết quả nghiên cứu so với các nghiên cứu trước
Tính tương đồng về sự chia sẻ tri thức thông qua sự phối hợp đồng cấp:
Các tổ chức khu vực công thường bị ảnh hưởng bởi các văn bản và thủ tục chính thức, điều này tác động trực tiếp đến tính thực thi của đội ngũ cán bộ công chức Behn (1995) chỉ ra rằng việc tuân thủ các quy tắc thủ tục là một trong những rào cản gây lo ngại cho người lao động trong việc thực hiện chính sách Hơn nữa, động lực và cam kết thấp trong các tổ chức khu vực công là một vấn đề lớn đối với các nhà quản lý (Behn, 1995; Moon, 2000) Nếu không có các ràng buộc về thủ tục và pháp lý, lĩnh vực công sẽ không phải là môi trường lý tưởng để chia sẻ tri thức (Van den Bosch, Volberda, và de Boer, 1999).
Thiếu sự ràng buộc từ các hệ thống chính thức dẫn đến sự phối hợp yếu kém trong các tổ chức khu vực công (Boyne, 2002) Kết quả khảo sát cho thấy, sự phối hợp thông qua các hệ thống văn bản chính thức ít quan trọng hơn so với phối hợp bên ngoài và không chính thức Điều này cho thấy sự ràng buộc của các hệ thống trong tập thể chia sẻ chưa được quan sát Mặc dù sự phối hợp chủ yếu dựa vào các hệ thống chính quy làm giảm cường độ chia sẻ kiến thức, nhưng tác động không lớn Do đó, có thể kết luận rằng các hệ thống phối hợp chính thức không phải là trở ngại chính đối với việc chia sẻ tri thức, mà thậm chí còn tạo áp lực cho việc này trong các tổ chức khu vực công.
Sự phối hợp đồng cấp trên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao cường độ và hiệu quả chia sẻ tri thức Ngoài việc tạo ra tác động tích cực, sự phối hợp bên ngoài còn ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác, dẫn đến hiệu quả gián tiếp mạnh mẽ trong việc chia sẻ kiến thức Mặc dù sự phối hợp bên là cần thiết, nhưng nó cũng có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực thông qua các hệ thống chính thức, làm giảm khả năng chia sẻ tri thức Do đó, các hệ thống chính thức cần thiết để hỗ trợ công tác điều phối bên lề.
Tính tương đồng của kết quả nghiên cứu đối với sự phối hợp không chính thức là một vấn đề quan trọng Để tìm hiểu sâu hơn, bạn có thể tải xuống luận văn mới nhất từ địa chỉ email vbhtj mk gmail.com Luận văn này sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về chủ đề này.
Sự phối hợp không chính thức không làm tăng cường độ chia sẻ tri thức, nhưng lại cải thiện hiệu quả của việc chia sẻ này Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tính linh hoạt của sự phối hợp không chính thức có những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến loại tri thức được chia sẻ và các bên tham gia vào quá trình này.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc chia sẻ tri thức có tác động tích cực đến các biến số liên quan, đặc biệt là mức độ chia sẻ kiến thức Mặc dù có một số tác động nhỏ hoặc tiêu cực đến hiệu quả của việc chia sẻ tri thức, nhưng việc sử dụng sự phối hợp không chính thức lại mang lại ảnh hưởng tích cực rõ rệt Sự phối hợp này giúp phát triển lòng tin và sự cởi mở trong việc chấp nhận và áp dụng tri thức từ người khác Tuy nhiên, sự phối hợp không chính thức thường gặp khó khăn về độ tin cậy do tính không toàn diện trong các mối quan hệ Kostava và Kendall đã chỉ ra rằng những người trong các mạng lưới không chính thức đóng vai trò như những mối nối quan trọng, nhưng sự kết nối phi chính thức thường không đạt được sự toàn diện cần thiết.
Mạng xã hội được thành lập chủ yếu để phục vụ lợi ích cá nhân, nhưng có thể trở nên công khai khi một nhóm người hoặc tổ chức khai thác hiệu quả các nguồn lực từ mạng.
Mọi người có thể chia sẻ tri thức và tin tưởng vào lợi ích của việc kết nối mạng (Burt 1992) Họ tạo sự phối hợp không chính thức với các phòng ban khác để thu thập kiến thức, từ đó giúp đỡ bộ phận của mình Sự phối hợp không chính thức trong các cơ quan nhà nước được sử dụng nhiều hơn trong các giai đoạn hợp tác, nhưng không thể bù đắp cho những thiếu sót trong việc phối hợp chính thức Điều này dẫn đến tác động thấp hơn của việc điều phối không chính thức đối với cường độ chia sẻ tri thức.
Sự tương quan giữa phối hợp bên và không chính thức chỉ ra rằng phối hợp bên đóng vai trò là nguồn điều phối không chính thức, tạo cơ hội cho mọi người gặp gỡ và phát triển mối quan hệ cá nhân Điều này có thể dẫn đến việc hình thành các mạng lưới không chính thức, đặc biệt trong các giai đoạn hợp tác.
Tính tương đồng giữa kết quả nghiên cứu về tin cậy và khuyến khích ảnh hưởng đến tính hiệu quả:
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tin cậy có tác động tích cực đến việc chia sẻ tri thức Tin tưởng không chỉ là yếu tố quan trọng trong việc phối hợp mà còn được phát triển thông qua sự nhận diện Trong môi trường tin cậy, mọi người không chỉ chia sẻ nhiều kiến thức hơn mà còn làm cho việc chia sẻ đó trở nên hiệu quả hơn.
Một phát hiện đáng chú ý là sự kết hợp giữa phối hợp không chính thức và tin cậy đã thúc đẩy cường độ và hiệu quả chia sẻ tri thức, điều này mâu thuẫn với giả định ban đầu của chúng tôi Sự ngạc nhiên càng tăng lên khi xem xét các lập luận của O'Toole và Meier (2004), những người đã chỉ ra mối quan hệ giữa tin cậy và phối hợp không chính thức trong các tổ chức khu vực công.
Những người tham gia vào phối hợp không chính thức thường sở hữu kiến thức vượt trội so với những thành viên khác trong tổ chức (Krackhardt, 1990) Họ nắm rõ ai sẽ liên lạc với ai, hiểu biết của từng cá nhân, và cấu trúc không chính thức của tổ chức Thông tin này mang lại cho họ nhiều cơ hội để chia sẻ kiến thức hiệu quả hơn (Adler và Kwon, 2002).
Theo Krackhardt (1990) và Leana cùng Van Buren (1999), sự tương tác trong các trò chơi quyền lực có thể được giải thích bởi yếu tố tin cậy Cụ thể, mọi người chỉ chia sẻ kiến thức khi họ cảm thấy an toàn trước hành vi cơ hội Do đó, sự hiện diện của tin cậy có thể thúc đẩy sự phát triển của sự phối hợp không chính thức trong các tập thể hợp tác.
Có thể có những người tham gia hoặc xây dựng sự phối hợp không chính thức để đối phó với các trò chơi quyền lực (Gresov và Stephans, 1993) Nghiên cứu thêm là cần thiết để làm rõ vai trò bất ngờ của Tin cậy.