1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

102 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Huỳnh Kim Phương
Người hướng dẫn GS.TS Sử Đình Thành
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI (0)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (9)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (10)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (10)
    • 1.4. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu (0)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (11)
    • 1.6. Kết cấu đề tài (12)
  • CHƯƠNG 2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY (13)
    • 2.1. Cơ sở lý thuyết (13)
    • 2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế (0)
      • 2.2.1. Quy mô doanh nghiệp (15)
      • 2.2.2. Đòn bẩy (17)
      • 2.2.3. Lợi nhuận (18)
      • 2.2.4. Quyết định đầu tư (19)
      • 2.2.5. Sở hữu nhà nước (0)
      • 2.2.6. Sự kiêm nhiệm (20)
    • 2.3. Tổng quan các nghiên cứu trước đây (21)
  • CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. Dữ liệu nghiên cứu (32)
    • 3.2. Mô hình nghiên cứu (33)
    • 3.3. Đo lường biến và kỳ vọng dấu (35)
      • 3.3.1. Quy mô doanh nghiệp (35)
      • 3.3.2. Đòn bẩy (37)
      • 3.3.3. Tài sản hữu hình (38)
      • 3.3.4. Lợi nhuận doanh nghiệp (38)
      • 3.3.5. Cơ hội tăng trưởng (39)
      • 3.3.6. Sự kiêm nhiệm (40)
      • 3.3.7. Sở hữu nhà nước (0)
    • 3.4. Phương pháp hồi quy (43)
  • CHƯƠNG 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (46)
    • 4.1. Thống kê mô tả và ma trận tương quan (0)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu (52)
      • 4.2.1. Kết quả kiểm định mô hình phù hợp (52)
      • 4.2.2. Kết quả hồi quy (54)
  • CHƯƠNG 5.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (0)
    • 5.1. Kết luận (68)
    • 5.2. Kiến nghị (69)
    • 5.3. Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ............................................ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (83)

Nội dung

THIỆU ĐỀ TÀI

Lý do chọn đề tài

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (ETR) là công cụ quan trọng cho các nhà đầu tư, nhà quản trị và cổ đông trong việc đánh giá hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp ETR cung cấp thống kê tóm tắt về ảnh hưởng của các ưu đãi thuế và sự thay đổi trong mức thuế thu nhập doanh nghiệp, như đã được chỉ ra trong các nghiên cứu của Kern và Morris (1992) cũng như Gupta và Newberry (1997).

Theo Omer và các cộng sự (1993) cùng với Zimmerman (1983), ETR có hai phương pháp đo lường: phương pháp đầu tiên tính toán tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trên thu nhập trước thuế, trong khi phương pháp thứ hai dựa vào tỷ lệ phần thuế thu nhập doanh nghiệp phải trả trên thu nhập trước thuế Ngoài ra, Shevlin và Porter (1992) chỉ ra rằng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có sự khác biệt giữa các công ty và thay đổi theo thời gian.

(1992) nhận định rằng hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp không phù hợp và đây là lý do tốt cho sự cải cách thuế

Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng trong chính sách tài khóa của chính phủ, đóng vai trò then chốt trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương và quốc gia Chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc xác định mức thuế này, vì nguồn thu từ thuế không chỉ giúp bù đắp chi ngân sách mà còn hỗ trợ các chính sách phát triển quốc gia Tuy nhiên, việc tăng thuế suất cần được xem xét cẩn thận để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Tỷ lệ ETR cao cho thấy doanh nghiệp nộp nhiều thuế thu nhập doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp ít tránh thuế Tuy nhiên, việc tối ưu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác, như mức độ hấp dẫn của thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài Do đó, nghiên cứu các yếu tố tác động đến thuế thu nhập doanh nghiệp và vấn đề tránh thuế sẽ mang lại lợi ích cho các nhà hoạch định chính sách.

Chủ đề phân tích các yếu tố quyết định đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp tại Việt Nam chưa được nghiên cứu và quan tâm đầy đủ Do đó, học viên nhận thấy cần thiết phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này Đây là lý do học viên lựa chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM”.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM Để đạt được mục tiêu này, luận văn sẽ tiến hành phân tích các vấn đề liên quan.

- Phân tích tác động của các yếu tố này đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

- Đề xuất các hàm ý chính sách dành cho các nhà quản lý của các công ty và các nhà hoạch định chính sách.

Câu hỏi nghiên cứu

Dựa trên các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn này đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu nhằm giải quyết những mục tiêu đó.

- Yếu tố nào được các nghiên cứu trước đây cho rằng có tác động đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp?

Tác động của các yếu tố này đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp là rất đáng kể Nếu có sự ảnh hưởng, thì tác động này thường diễn ra theo chiều hướng tích cực (+), tức là các yếu tố này thúc đẩy hành vi tránh thuế của doanh nghiệp.

1.4 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Luận văn này thu thập dữ liệu từ 169 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn 2010 – 2016.

Nghiên cứu này phân tích dữ liệu tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn 2010 – 2016 Mục tiêu chính là đánh giá mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp thông qua tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trên thu nhập trước thuế và tỷ lệ phần thuế thu nhập doanh nghiệp phải trả trên thu nhập trước thuế, cùng với các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp này.

Luận văn này áp dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng các mô hình OLS gộp, mô hình ảnh hưởng cố định và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, tương tự như các nghiên cứu trước đây về hành vi tránh thuế của doanh nghiệp Tuy nhiên, sự hiện diện của biến trễ có thể gây ra hiện tượng nội sinh, dẫn đến kết quả bị chệch và không hiệu quả khi sử dụng OLS Do đó, luận văn sẽ áp dụng phương pháp hồi quy hai bước (2SLS) và phương pháp hồi quy GMM, hai phương pháp thường được sử dụng để khắc phục hiện tượng nội sinh Phương pháp 2SLS yêu cầu không có tự tương quan và phương sai thay đổi, trong khi GMM không có điều kiện này Luận văn sẽ kiểm tra hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi bằng các kiểm định Wooldridge và Modified Wald Nếu phát hiện hiện tượng này, phương pháp GMM sẽ được sử dụng; ngược lại, phương pháp 2SLS sẽ được áp dụng cho mô hình nghiên cứu.

Luận văn bao gồm 05 chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu đề tài Chương 2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương 5 Kết luận và khuyến nghị tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này dự kiến áp dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng các mô hình OLS gộp, mô hình ảnh hưởng cố định và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, tương tự như các nghiên cứu trước đây về hành vi tránh thuế của doanh nghiệp Tuy nhiên, sự hiện diện của biến trễ có thể gây ra hiện tượng nội sinh, dẫn đến kết quả bị chệch và không hiệu quả khi sử dụng OLS Do đó, luận văn sẽ áp dụng phương pháp hồi quy hai bước (2SLS) và phương pháp hồi quy GMM, hai phương pháp thường được sử dụng để khắc phục hiện tượng nội sinh Phương pháp 2SLS yêu cầu không có tự tương quan và phương sai thay đổi, trong khi GMM không có điều kiện này Luận văn sẽ kiểm định hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi bằng kiểm định Wooldridge và Modified Wald Nếu có hiện tượng này, phương pháp GMM sẽ được sử dụng, ngược lại, phương pháp 2SLS sẽ được áp dụng cho mô hình nghiên cứu.

Kết cấu đề tài

Luận văn bao gồm 05 chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu đề tài Chương 2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương 5 Kết luận và khuyến nghị tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Cơ sở lý thuyết

Liên quan đến lý thuyết giải thích hành vi tránh thuế của doanh nghiệp, có hai quan điểm chính Quan điểm đầu tiên cho rằng hành vi tránh thuế là việc sử dụng các chiến lược nhằm tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp mà không liên quan đến vấn đề đại diện Các nhà quản trị thực hiện hành vi này để giảm thiểu gánh nặng thuế, trong khi nhà đầu tư tin rằng nó nâng cao giá trị doanh nghiệp Do đó, các nhà quản trị có động lực thực hiện hành vi tránh thuế và được thưởng cho các hoạt động này Nghiên cứu của Graham và Tucker (2006) cho thấy quy mô và lợi nhuận có tương quan với hành vi tránh thuế, đồng thời các doanh nghiệp nhận được ưu đãi từ các khoản khấu trừ liên quan đến cấu trúc vốn Philips và John (2003) cũng chỉ ra rằng cơ chế thưởng cho các nhà quản lý có thể thúc đẩy hành vi tránh thuế trong doanh nghiệp.

Quan điểm về hành vi tránh thuế của doanh nghiệp liên quan đến sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát Nghiên cứu mô hình người đại diện cho thấy rằng các nhà quản trị thực hiện hoạt động tránh thuế chủ yếu do hai động cơ: lý thuyết hợp tác và lý thuyết đại diện Trước đây, các nghiên cứu về tránh thuế thường tập trung vào hành vi cá nhân hơn là hành vi của doanh nghiệp.

Slemord (2004) đã chỉ ra sự khác biệt giữa việc tuân thủ thuế của cá nhân và doanh nghiệp, cho rằng sự khác biệt này có thể được phân tích qua mô hình lý thuyết đại diện Mô hình này khẳng định rằng quyết định tránh thuế của doanh nghiệp chủ yếu do các nhà quản lý công ty thực hiện.

Theo lý thuyết hợp tác, các nhà quản lý công ty cần thực hiện theo mong muốn của cổ đông để gia tăng giá trị công ty Nếu các hoạt động tránh thuế được thực hiện với động cơ hợp tác giữa nhà quản lý và cổ đông, chúng có thể tạo ra hoặc gia tăng giá trị tài sản cho cổ đông.

Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng lợi ích của cổ đông và nhà quản lý không nhất thiết phải giống nhau, với giả định rằng nhà quản lý có thể tối đa hóa lợi ích cá nhân, dẫn đến việc giảm giá trị tài sản của cổ đông Họ có thể tránh thuế để nâng cao uy tín và triển vọng nghề nghiệp thông qua việc gia tăng giá trị công ty, mặc dù điều này có thể trái ngược với lợi ích của cổ đông Theo Alchian và Demsetz (1972), Jensen và Meckling (1976), cùng với Eisenhardt (1989), nếu không có cơ chế giám sát thích hợp, nhà quản lý có thể thực hiện các hành vi có hại cho cổ đông Điều này cho thấy cổ đông mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, nhưng nhà quản lý lại không có động cơ chung để thực hiện điều đó.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế

Quy mô doanh nghiệp được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chính sách kế toán và hành vi tránh thuế của doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế, tuy nhiên, kết quả vẫn chưa đồng nhất Một số nghiên cứu, như của Janssen và Buinjink (1998), Holland (1998), và Porcano, đã phát hiện mối quan hệ cùng chiều giữa hai biến số này.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế Cụ thể, các nghiên cứu của Rego (2003), Omer và các cộng sự (1993), cùng với Zimmerman (1983) cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa hai yếu tố này Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác như của Millis và các cộng sự (1998), Gupta và Newberry (1997), và Jacob (1996) lại không phát hiện tác động đáng kể của quy mô doanh nghiệp đến hành vi tránh thuế.

Zimmerman (1983) đã chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế có mối quan hệ ngược chiều, với các công ty lớn thường phải chịu mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn do sự giám sát chặt chẽ từ chính phủ và thị trường tài chính Nghiên cứu của Omer và các cộng sự (1993) cũng hỗ trợ phát hiện này, khẳng định giả thuyết lý thuyết chi phí chính trị Rego (2003) đã nghiên cứu hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Mỹ từ 1990 đến 1997 và phát hiện rằng các ngân hàng lớn có tỷ lệ thuế suất hiệu lực cao hơn Kết luận cho thấy các công ty lớn phải đối mặt với chi phí chính trị cao hơn, dẫn đến tỷ lệ thuế suất hiệu lực gia tăng Lý thuyết này cho rằng tỷ lệ thuế suất hiệu lực phản ánh chi phí chính trị mà doanh nghiệp phải gánh chịu, đồng thời cũng thể hiện sự thành công của doanh nghiệp Do đó, các doanh nghiệp lớn thường thành công hơn và phải chịu sự kiểm soát chính trị nhiều hơn, dẫn đến gánh nặng thuế cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ.

Nghiên cứu của Siegfried (1972) chỉ ra mối tương quan tích cực giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế, cho rằng các công ty lớn có khả năng tránh thuế tốt hơn nhờ vào nguồn lực và chuyên môn trong lập kế hoạch thuế Salamon và Siegfried (1977) cũng nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp lớn có quyền lực chính trị và kinh tế cao hơn, giúp họ tránh thuế hiệu quả hơn Porcano (1986) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm ủng hộ mối quan hệ này Tại Châu Âu, Janssen và Buinjink (1998) đã sử dụng dữ liệu từ Hà Lan để xác nhận mối tương quan giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế Cuối cùng, Holland (1998) là người đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ này ở các doanh nghiệp phi tài chính tại Anh trong 26 năm và cũng tìm thấy rằng doanh nghiệp lớn có xu hướng tránh thuế nhiều hơn.

Tuy nhiên, Jacob (1996), Gupta và Newberry (1997), Millis và các cộng sự

Nghiên cứu năm 1998 không phát hiện mối quan hệ đáng kể nào giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp.

2.2.2 Đòn bẩy Để trang trải cho các dự án đầu tư của mình, cũng như phục vụ cho chiến lược tăng trưởng, các doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu về vốn và bằng cách vay nợ hoặc phát hành vốn cổ phần mới, các doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu về vốn Bên cạnh đó, khi đưa ra quyết định tài trợ, các doanh nghiệp thường xem xét chi phí và lợi ích có liên quan đến các phương thức tài trợ Theo đó, để giải thích cho quyết định tài trợ liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây dựa vào nhiều lý thuyết khác nhau, bao gồm lý thuyết đánh đổi (Brennan và Schwartz, 1978), lý thuyết trật tự phân hạng (Myers, 1984; Myers và Majluf, 1984), lý thuyết chi phí đại diện (Jensen, 1986; Jensen và Meckling, 1976) và lý thuyết tấm chắn thuế (Lasfer, 1995; Chatterjee và Scott, 1989; Ross, 1985;

Nghiên cứu của DeAngelo và Masulis (1980) chỉ ra rằng thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí đại diện là những yếu tố quan trọng quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp Barclay và Smith (1995), Harris và Raviv (1990), cùng với Stulz (1990) cũng nhấn mạnh vai trò của các yếu tố này Graham (2000) cho rằng lợi ích thuế là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp, trong đó lợi ích thuế được hình thành từ lý thuyết tấm chắn thuế của nợ do Modigliani và Miller (1985) đề xuất.

Lý thuyết này cho rằng việc các công ty sử dụng nhiều nợ vay sẽ giúp giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, vì chi phí lãi vay được coi là khoản khấu trừ thuế.

Khi một công ty chọn nguồn tài trợ bên ngoài bằng vốn cổ phần, mặc dù chi phí tương đối thấp, nhưng doanh nghiệp phải trả thù lao cho các nhà đầu tư như cổ tức, và các khoản này không được khấu trừ thuế Ngược lại, khi sử dụng nợ, doanh nghiệp có thể tận dụng lợi ích từ việc khấu trừ chi phí lãi vay, giúp giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Do đó, các công ty thường ưa chuộng tài trợ bằng nợ hơn so với vốn cổ phần, phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng.

Quyết định tài trợ của công ty có thể giúp giảm thiểu mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản trị, như được chỉ ra bởi Kraft (2014) Các nhà quản trị của doanh nghiệp có đòn bẩy cao phải tuân theo các điều kiện tài trợ đã ký kết với chủ nợ, bao gồm việc hoàn trả khoản vay và lãi vay đúng hạn Do đó, đòn bẩy có mối quan hệ âm với tỷ lệ thuế suất hiệu lực Nghiên cứu của Richardson và Lanis (2007) cùng với Kraft (2014) cho thấy mối quan hệ tích cực giữa đòn bẩy và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp.

Lợi nhuận của các doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế Tuy nhiên, mối quan hệ giữa lợi nhuận và hành vi này vẫn chưa được làm rõ Manzon và Plesko đã chỉ ra rằng cần có thêm nghiên cứu để hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Các công ty có lợi nhuận cao có khả năng sử dụng hiệu quả các khoản khấu trừ thuế như khấu hao và chi phí lãi vay, dẫn đến hành vi tránh thuế cao (2001) Ngoài ra, quyết định đầu tư và lợi nhuận cũng có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp (Spooner, 1986).

Siegfried (1972) cho rằng các công ty có đủ nguồn lực sẽ nâng cao khả năng phát triển chuyên môn trong lập kế hoạch thuế và quản trị chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp Nghiên cứu của Rego (2003) chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp cho thấy các công ty nhỏ, có lợi nhuận cao và các công ty đa quốc gia có xu hướng tránh thuế nhiều hơn so với các doanh nghiệp khác.

Các doanh nghiệp có lợi nhuận cao thường phải đối mặt với sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan thuế, nhằm ngăn chặn việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Điều này dẫn đến việc các doanh nghiệp này chịu tỷ lệ thuế suất hiệu lực cao hơn so với các doanh nghiệp khác.

Previous studies by Wilkie (1998) and Gupta and Newberry (1997) have explored significant findings in their respective fields.

Richardson và Lanis (2007), Minick và Noga (2010) và Armstrong và các cộng sự

Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Gupta và Newberry (1997) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thuế suất có hiệu lực, từ đó phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp.

Trong giai đoạn 1982 – 1990, nghiên cứu cho thấy rằng quy mô, đòn bẩy, tài sản hữu hình, chi phí nghiên cứu và phát triển, cùng với lợi nhuận doanh nghiệp là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các công ty Áp dụng mô hình ảnh hưởng cố định, các tác giả phát hiện rằng tài sản hữu hình và chi phí nghiên cứu và phát triển có mối tương quan dương với hành vi tránh thuế, nghĩa là doanh nghiệp đầu tư nhiều vào những lĩnh vực này sẽ có xu hướng tránh thuế cao hơn Ngược lại, hàng tồn kho và lợi nhuận lại cho thấy mối tương quan âm với hành vi tránh thuế của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho lớn và lợi nhuận cao thường có xu hướng tránh thuế nhiều hơn so với các doanh nghiệp khác Hơn nữa, tác động của quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính đến hành vi tránh thuế vẫn chưa được làm rõ, phụ thuộc vào phương pháp đo lường và giai đoạn nghiên cứu.

Kim và Limpaphayom (1998) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thuế suất có hiệu lực và hành vi tránh thuế của doanh nghiệp tại Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan trong giai đoạn 1975 – 1992 Nghiên cứu sử dụng các biến như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận làm biến độc lập Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp có tương quan dương với hành vi tránh thuế, nghĩa là doanh nghiệp lớn hơn có xu hướng tránh thuế nhiều hơn Ngược lại, cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận có tương quan âm với hành vi tránh thuế, cho thấy doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận ít có hành vi tránh thuế Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu có sự khác biệt giữa các quốc gia và đòn bẩy có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hành vi tránh thuế tùy thuộc vào cách đo lường.

Derashid và Zhang (2003) đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thuế suất có hiệu lực và phân tích hành vi tránh thuế của doanh nghiệp ở Malaysia Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ các doanh nghiệp niêm yết tại Malaysia trong giai đoạn 1990 – 1999, với các biến độc lập như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, lợi nhuận, cơ hội tăng trưởng và sở hữu nhà nước Kết quả từ phương pháp hồi quy OLS cho thấy quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình và lợi nhuận có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10%, cho thấy doanh nghiệp lớn hơn, sử dụng nhiều nợ vay, đầu tư vào tài sản hữu hình và có lợi nhuận cao có xu hướng tránh thuế nhiều hơn Ngược lại, cơ hội tăng trưởng có tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1%, cho thấy doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng ít có hành vi tránh thuế hơn Hàng tồn kho và sở hữu nhà nước không có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp.

Harris và Feeny (2003) đã nghiên cứu mô hình xác định tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của doanh nghiệp và phân tích hành vi tránh thuế thông qua dữ liệu doanh nghiệp ở Úc từ 1993 – 1997 Họ đã xây dựng mô hình với các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, hoạt động nước ngoài, lợi nhuận và chi phí nghiên cứu và phát triển Kết quả từ phương pháp hồi quy OLS cho thấy đòn bẩy và lợi nhuận có mối tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực, ngụ ý rằng doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay và có lợi nhuận cao sẽ ít có hành vi tránh thuế Ngược lại, quy mô doanh nghiệp, hoạt động nước ngoài và chi phí nghiên cứu và phát triển lại có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất, cho thấy doanh nghiệp lớn hơn, có thu nhập nước ngoài nhiều hơn và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sẽ có hành vi tránh thuế cao hơn Tài sản hữu hình không có ảnh hưởng rõ ràng đến hành vi tránh thuế của doanh nghiệp.

Rego (2003) phân tích hành vi tránh thuế ở các doanh nghiệp đa quốc gia ở

Nghiên cứu sử dụng 5379 công ty trong giai đoạn 1990 – 1997 để phân tích hành vi tránh thuế của doanh nghiệp thông qua các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, hoạt động nước ngoài và ngành nghề kinh doanh Kết quả hồi quy OLS cho thấy quy mô doanh nghiệp có mối tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực, nghĩa là các doanh nghiệp lớn ít có hành vi tránh thuế hơn Ngược lại, tỷ lệ thuế suất có hiệu lực lại tương quan âm với lợi nhuận và hoạt động ở nước ngoài, cho thấy doanh nghiệp có lợi nhuận cao và hoạt động quốc tế có xu hướng tránh thuế nhiều hơn Các công ty này thường có chi phí thấp nhờ vào khả năng đầu tư vào quản trị thuế, dẫn đến giảm thuế suất hiệu lực và gia tăng hành vi tránh thuế.

Nghiên cứu của Janssen (2005) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thuế suất có hiệu lực và hành vi tránh thuế của doanh nghiệp Tác giả đã thu thập dữ liệu từ 1592 doanh nghiệp tại Hà Lan trong giai đoạn 1994 – 1999 Mô hình nghiên cứu sử dụng các biến như quy mô doanh nghiệp, tài sản hữu hình, thu nhập từ hoạt động nước ngoài, lợi nhuận và đòn bẩy để giải thích hành vi tránh thuế Kết quả hồi quy OLS cho thấy quy mô doanh nghiệp và tài sản hữu hình có mối quan hệ âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1%, cho thấy doanh nghiệp lớn và đầu tư nhiều vào tài sản hữu hình có xu hướng tránh thuế nhiều hơn Ngược lại, lợi nhuận và đòn bẩy có mối quan hệ dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 5%, ngụ ý rằng doanh nghiệp có lợi nhuận cao và sử dụng nợ vay nhiều ít có hành vi tránh thuế hơn.

Liu và Cao (2007) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của doanh nghiệp tại Trung Quốc, từ đó phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Các tác giả đã thu thập dữ liệu để hỗ trợ cho nghiên cứu này.

425 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc trong giai đoạn

Giai đoạn 1998 – 2004, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tài sản hữu hình và lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp.

Bằng cách áp dụng mô hình OLS gộp, mô hình ảnh hưởng cố định và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, các tác giả đã phát hiện ra rằng đòn bẩy có mối tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% trong cả ba mô hình hồi quy Kết quả này cho thấy rằng các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ vay cao trong cấu trúc vốn có xu hướng tránh thuế nhiều hơn so với các doanh nghiệp khác.

Lợi nhuận có mối tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có ý nghĩa 1% trong cả ba mô hình hồi quy, cho thấy rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận cao hơn thường ít có xu hướng tránh thuế hơn so với các doanh nghiệp khác.

Ngoài ra, tài sản hữu hình và quy mô doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

Richardson và Lanis (2007) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp tại Úc, đồng thời phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 92 doanh nghiệp niêm yết ở Úc trong giai đoạn 1997 – 2003, với tổng số quan sát công ty-năm là 552 Các tác giả đã xem xét các biến độc lập như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, hàng tồn kho, chi phí nghiên cứu và phát triển, và lợi nhuận trong mô hình nghiên cứu.

Nghiên cứu áp dụng mô hình hồi quy OLS gộp cho thấy quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình và chi phí nghiên cứu và phát triển có mối tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp lớn, sử dụng nhiều nợ vay, đầu tư vào tài sản hữu hình và chi phí R&D cao có xu hướng tránh thuế nhiều hơn Ngược lại, hàng tồn kho và lợi nhuận lại có mối tương quan dương với tỷ lệ thuế suất, cho thấy doanh nghiệp nắm giữ nhiều hàng tồn kho và có lợi nhuận cao thì ít có hành vi tránh thuế hơn.

Nghiên cứu của Md Noor và các cộng sự (2008) về hành vi tránh thuế của doanh nghiệp tại Malaysia đã thu thập dữ liệu từ 294 doanh nghiệp trong giai đoạn 2000 – 2004 Các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, lợi nhuận, hàng tồn kho và thu nhập nước ngoài được xem xét Mô hình OLS gộp, mô hình ảnh hưởng cố định và ảnh hưởng ngẫu nhiên đã được sử dụng để ước lượng hành vi tránh thuế Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp có mối tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1%, cho thấy doanh nghiệp lớn ít có hành vi tránh thuế hơn Ngược lại, đòn bẩy, tài sản hữu hình và lợi nhuận lại có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1%.

PHÁP NGHIÊN CỨU

QUẢ NGHIÊN CỨU

LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Ngày đăng: 28/07/2023, 16:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm