Tình hình nghiên cứu
Trong bối cảnh hiện nay, nghiên cứu về việc thực hiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người và quyền công dân đang thu hút sự chú ý lớn, vì nó phản ánh bản chất "dân chủ" mà Nhà nước hướng tới, dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật Các tài liệu tham khảo liên quan đến chủ đề này rất phong phú và đa dạng.
Cuốn sách “Tiếp công dân, Xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại tố cáo trong tình hình mới” do Thanh tra Chính phủ và Nhà xuất bản Hà Nội phát hành năm 2006, trình bày những kinh nghiệm thực tiễn từ các ngành và địa phương Đồng thời, sách cũng chỉ ra những vấn đề cần được giải quyết để cải thiện hoạt động tiếp công dân và xử lý đơn thư trong bối cảnh hiện nay.
Cuốn “Cẩm nang tiếp công dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân” do Ban Dân nguyện thuộc UBTVQH biên soạn năm 2015, cung cấp hướng dẫn rõ ràng về quy trình tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại Với hình thức tổng hợp các câu hỏi và trả lời, cuốn sách trình bày các tình huống pháp lý liên quan và cách giải quyết một cách dễ hiểu Tài liệu này là nguồn thông tin hữu ích cho đại biểu dân cử trong việc giám sát và xử lý đơn thư của công dân.
Bài viết của Trần Thị Minh Tâm trên Tạp chí tập trung vào việc nâng cao hiệu quả trong công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Luật Tiếp công dân năm 2013 Nội dung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện quy trình tiếp nhận và xử lý khiếu nại để đảm bảo quyền lợi của công dân, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Quản lý Nhà nước năm 2015, số 230 (3/2015), đã phân tích kết quả và hiệu quả của Luật Tiếp công dân, góp phần nâng cao việc giải quyết đơn thư của công dân Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ ra một số khó khăn và bất cập trong thực hiện luật này, từ đó nhấn mạnh sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định liên quan.
Trong nghiên cứu khoa học về khiếu nại và tố cáo, có hai đề tài tiêu biểu: Luận án tiến sĩ của Ngô Mạnh Toan, “Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2008), nêu thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền Đề tài “Đổi mới công tác tiếp dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo” của Trần Thị Thúy Mai (2010) tập trung vào việc cải tiến hoạt động tiếp công dân để giải quyết đơn thư hành chính, từ đó đưa ra giải pháp đổi mới cho công tác này, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước.
Luận án tiến sĩ Quản lý Hành chính với đề tài về “Giải quyết khiếu nại, tố cáo
- phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở
Bài viết "Việt Nam hiện nay" của tác giả Vũ Duy Duẩn, bảo vệ năm 2014, tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo Tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này, góp phần đảm bảo kỷ luật trong quản lý hành chính Nhà nước và duy trì pháp chế.
Luận văn thạc sĩ Luật của Nguyễn Mai Hạnh năm 2009 tập trung vào việc thực hiện pháp luật của Đại biểu Quốc hội trong việc tiếp nhận, xử lý, theo dõi và đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ chú trọng đến việc xử lý đơn thư mà chưa đi sâu vào hoạt động tiếp công dân của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội, mặc dù các hoạt động này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Tôi chọn nghiên cứu sâu về ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận trong việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư của công dân từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV đến hết năm 2019 Bài viết sẽ phân tích và đánh giá thực tiễn hoạt động tại địa phương, chỉ ra những bất cập phát sinh, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này.
Câu hỏi nghiên cứu đề tài
Đề tài này được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu như sau:
3.1 Pháp luật quy định như thế nào về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH?
Trong thời gian qua, việc thực hiện pháp luật của ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận đã gặp nhiều thách thức Cần xem xét những bất cập trong thực tiễn thực hiện so với các quy định pháp luật liên quan để cải thiện hiệu quả hoạt động.
3.3 Cần thực hiện các giải pháp nào để ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh thực hiện hiệu quả hơn đối với hoạt động này?
Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên đề tài luận văn đã chọn và các câu hỏi nghiên cứu, tôi đưa ra giả thuyết cho nghiên cứu này như sau:
Quy định pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Thực tiễn thực hiện pháp luật liên quan đến hoạt động tiếp công dân và xử lý đơn thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tại địa phương chưa đạt được kết quả mong đợi Điều này cho thấy sự chưa tương xứng với quy định pháp luật về vai trò của ĐBQH và Đoàn ĐBQH trong hoạt động này.
Nhận thức pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền và công dân về hoạt động tiếp công dân, xử lý đơn thư còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động này.
Phương ph p nghiên cứu
Tác giả áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp trong Chương 1 để làm rõ các cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý liên quan đến hoạt động tiếp công dân, cũng như việc xử lý đơn thư của công dân gửi đến Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội.
Chương 2 sẽ áp dụng các phương pháp tổng hợp, so sánh, quan sát và phân tích để làm rõ mối quan hệ giữa quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động tiếp công dân, xử lý đơn thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận Bài viết sẽ đánh giá kết quả đạt được trong những năm qua cũng như những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của chúng.
Trong Chương 3, tác giả áp dụng phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa các quy định pháp luật cùng với thực tiễn, nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp.
Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, ba chương nội dung và kết luận, kèm theo danh mục tài liệu tham khảo Nội dung chính của ba chương sẽ được trình bày chi tiết, giúp người đọc hiểu rõ hơn về đề tài nghiên cứu.
Chương 1 trình bày cơ sở pháp lý liên quan đến hoạt động tiếp công dân, bao gồm quy trình xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và phản ánh của công dân gửi đến Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và Đoàn ĐBQH Nội dung này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công dân trong việc tiếp cận và phản ánh ý kiến đến cơ quan nhà nước.
Chương 2 trình bày thực tiễn hoạt động tiếp công dân và quy trình xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận Nội dung này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lắng nghe ý kiến của công dân và đảm bảo rằng các phản ánh được xử lý một cách kịp thời và hiệu quả, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phục vụ nhân dân.
Chương 3 đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc tiếp nhận và giải quyết các vấn đề của công dân, từ đó tăng cường sự tin tưởng của người dân đối với cơ quan nhà nước.
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƢ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Hệ thống c c quy định ph p luật điều chỉnh hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố c o, kiến nghị, phản nh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
THƢ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN
GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH
Ninh Thuận có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tiếp công dân, bao gồm việc xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tiếp nhận và giải quyết các vấn đề của người dân.
2.1.1 Về cơ cấu của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV
2.1.1.1 Khái quát về cơ cấu của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV ĐBQH khóa XIV, nhiệm kỳ 2016 - 2021 được cử tri cả nước tiến hành bầu cử vào ngày 22/5/2016 với 494 người đã trúng cử và đã được Hội đồng bầu cử quốc gia xác nhận có đủ tư cách ĐBQH theo quy định của pháp luật 38 Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận (đơn vị bầu cử tại tỉnh Ninh Thuận) gồm có 06 ĐBQH trúng cử nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, với cơ cấu như sau: Về độ tuổi: từ
Tại kỳ bầu cử này, độ tuổi của các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được phân bố như sau: từ 40 đến 45 tuổi có 01 ĐBQH, từ 50 đến 55 tuổi có 04 ĐBQH, và trên 55 tuổi có 01 ĐBQH Tỷ lệ ĐBQH tái cử là 4/6, trong đó có 04 ĐBQH thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận tái cử từ khóa XIII sang khóa XIV, bao gồm 01 ĐBQH tái cử lần thứ 3 Về thành phần dân tộc, có 01 ĐBQH là người dân tộc Chăm và 05 ĐBQH là người dân tộc Kinh Về giới tính, có 02/06 ĐBQH là đại biểu nữ.
02 đại biểu nữ có 01 đại biểu là người dân tộc Chăm); Về trình độ chuyên môn: Có
01 ĐBQH có trình độ Tiến sĩ khoa học (cơ khí chế tạo máy), 02 ĐBQH có trình độ
Thạc sĩ (Thạc sĩ Lịch sử, Thạc sĩ Quản lý Giáo dục), 03 ĐBQH có trình độ đại học
(02 cử nhân Luật, 01 Đại học An Ninh); Về chức vụ Đảng: có 01 ĐBQH là Ủy viên
Trung ương Đảng, 03 ĐBQH là Ủy viên Ủy Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Thuận,
Tỉnh Ninh Thuận có 03 đại biểu Quốc hội (ĐBQH) hoạt động chuyên trách, trong đó có 02 đại biểu làm việc tại Trung ương Một trong số đó là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Ninh Thuận.
Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG, ngày 19/7/2016 của Hội đồng Bầu cử Quốc gia tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 Tài liệu này cung cấp thông tin chi tiết về quá trình và kết quả bầu cử, đồng thời nêu rõ những điểm nổi bật và bài học kinh nghiệm cho các kỳ bầu cử tiếp theo.
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƢ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH NINH THUẬN
KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƢ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH NINH THUẬN
Hoàn thiện c c quy định của ph p luật
ĐBQH và Đoàn ĐBQH thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư của công dân dựa trên các quy định pháp luật chung và các quy định riêng liên quan đến hoạt động của Quốc hội Để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc tiếp công dân và xử lý đơn thư, cần hoàn thiện cả các quy định chung và các quy định pháp luật đặc thù liên quan đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH.
3.1.1 Hoàn thiện c c quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
3.1.1.1.Hoàn thiện pháp luật về đại biểu Quốc hội
Chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội (ĐBQH) ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của Quốc hội Hiện nay, việc lựa chọn ĐBQH chủ yếu dựa vào cơ cấu và thành phần ứng cử viên theo tiêu chuẩn pháp luật, trong khi năng lực thực tiễn của ứng cử viên chưa được ưu tiên hàng đầu Cơ cấu của ĐBQH thường xuyên thay đổi, khiến cho việc xác định khả năng trở thành ĐBQH trở nên khó khăn Do đó, chất lượng hoạt động của các ĐBQH thường không đạt yêu cầu mong đợi.
80 Điều 8, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015
81 Điều 22, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
Bài viết của Nguyễn Sĩ Dũng (2003) trong Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp nhấn mạnh rằng sự chuyên nghiệp của đại biểu Quốc hội (ĐBQH) không đồng đều và phụ thuộc chủ yếu vào trình độ chuyên môn cũng như năng lực cá nhân của từng ĐBQH.
Pháp luật quy định rằng đại biểu Quốc hội (ĐBQH) bao gồm hai loại: đại biểu hoạt động chuyên trách và đại biểu hoạt động không chuyên trách Số lượng đại biểu chuyên trách phải chiếm ít nhất 35% tổng số ĐBQH Đại biểu hoạt động chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc cho nhiệm vụ và quyền hạn của mình tại Quốc hội hoặc Đoàn ĐBQH ở địa phương, trong khi đại biểu không chuyên trách phải dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH.
Chất lượng và thời gian hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách và không chuyên trách có sự khác biệt, tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa phân biệt rõ ràng về nhiệm vụ và quyền hạn giữa hai loại đại biểu này Điều này dẫn đến sự cần thiết phải xem xét và điều chỉnh các quy định liên quan để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của Quốc hội.
Các nhà lập pháp Việt Nam đã quyết định sử dụng thuật ngữ “chuyên trách” để chỉ những đại biểu làm việc toàn thời gian cho Quốc hội, thay vì “chuyên nghiệp” Đây là một sự lựa chọn tinh tế và chính xác.
Hiện nay, nhiều đại biểu không chuyên trách là cán bộ, công chức đang làm việc trong các cơ quan hành pháp và tư pháp, trong đó nhiều người giữ vị trí lãnh đạo Do đó, họ phải dành phần lớn thời gian cho công việc thường xuyên tại nơi công tác, dẫn đến việc không thể tránh khỏi ảnh hưởng từ quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến vị trí của mình Sự ảnh hưởng này thể hiện rõ ràng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội.
Nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Việt Nam kéo dài 5 năm, dẫn đến nhiều đại biểu kiêm nhiệm vẫn trong độ tuổi công tác sau khi kết thúc nhiệm kỳ Nếu một đại biểu thực hiện công tâm nhưng gây thiệt hại cho cơ quan, bộ, ngành của mình, họ có thể gặp khó khăn ngay cả khi nhiệm kỳ đã kết thúc.
83 Điều 23, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
84 Điều 24, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
Trong bài viết của Nguyễn Sĩ Dũng (2003), tác giả nhấn mạnh rằng đại biểu Quốc hội chuyên trách gặp khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng công việc do phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau cho sự nghiệp lâu dài Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của đại biểu không chuyên trách, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng pháp luật và giám sát, bao gồm cả việc giải quyết đơn thư của công dân Do đó, nhu cầu xây dựng một "Quốc hội chuyên nghiệp" trở nên cấp thiết, vì nếu không có cơ chế hoạt động chuyên nghiệp, đại biểu sẽ luôn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, dẫn đến việc không thể phát biểu chính kiến một cách độc lập.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của ĐBQH, đặc biệt trong việc tiếp công dân và xử lý đơn thư, cần thiết phải sửa đổi và bổ sung pháp luật liên quan đến ĐBQH.
Để đảm bảo hiệu quả hoạt động của Quốc hội, cần phải có đủ số lượng đại biểu chuyên trách theo quy định của pháp luật Tính đến nay, số lượng đại biểu chuyên trách vẫn chưa đạt yêu cầu, với Quốc hội khóa IX chỉ có 37 đại biểu (9,44%), khóa X có 45 đại biểu (10%), khóa XI có 121 đại biểu (24,3%), khóa XII có 145 đại biểu (29,4%), và khóa XIII có 164 đại biểu (32,8%) Việc tăng cường số lượng đại biểu chuyên trách là cần thiết để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc của Quốc hội.
Trong tổng số 484 đại biểu Quốc hội (ĐBQH), có 167 đại biểu chuyên trách, chiếm 34.5% Việc có đại biểu chuyên trách là cần thiết, vì "không có chuyên trách thì không thể có chuyên nghiệp" Do đó, cần sửa đổi quy định pháp luật để tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách.
Bài viết của Cao Việt Thăng và Phạm Tuấn Anh (2011) trong Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2011, trang 26, đề cập đến cơ cấu đại biểu và những vấn đề liên quan đến việc thực hiện các chức năng của Quốc hội.
Lại Trọng Tình đã viết bài "Quốc hội chuyên nghiệp" trên Báo điện tử VnExpress.net vào ngày 26/11/2019, trong đó trích dẫn phát biểu của ĐBQH Nguyễn Thị Quyết Tâm từ Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh Bài viết tập trung vào những nội dung quan trọng trong phiên thảo luận về Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của Quốc hội trong việc nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động.
Theo báo cáo số 258b/BC-BST, ngày 19/7/2019 của Ban soạn thảo Dự án Luật SĐBSMSĐ, nội dung báo cáo tổng kết việc thi hành một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội.
C c giải ph p nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố c o, kiến nghị, phản nh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận
Nhà nước cần nghiên cứu việc thành lập cơ quan định giá đất chuyên nghiệp và độc lập, có vị trí pháp lý rõ ràng, nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc định giá đất Điều này sẽ hỗ trợ công dân, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp khi họ cho rằng giá trị đất do cơ quan nhà nước định giá không hợp lý, từ đó tạo cơ sở cho việc thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai.
3.2 Các giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu
Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH, cần hoàn thiện các quy định pháp luật và đảm bảo các cơ chế hỗ trợ phù hợp.
3.2.1 Giải pháp nhằm đảm bảo và hỗ trợ cho hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận
3.2.1.1 Cơ chế về chế độ, chính sách nhằm đảm bảo các hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
Khi xem xét sửa đổi, bổ sung, một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội năm
Năm 2014, đã có đề xuất quy định về kinh phí hoạt động của Đoàn ĐBQH, chế độ lương và phụ cấp cho ĐBQH chuyên trách, cũng như lương cho bộ máy tham mưu Việc ngân sách địa phương đảm bảo các khoản này có thể dẫn đến bất cập và ảnh hưởng lớn đến hoạt động của Đoàn ĐBQH, do sự phụ thuộc vào khả năng thu ngân sách thực tế của từng địa phương.
Việc phân bổ kinh phí hoạt động cho Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận sẽ bị ảnh hưởng do tình hình kinh tế khó khăn, dẫn đến thiếu hụt kinh phí thực hiện và hạn chế các hoạt động như tiếp xúc cử tri.
Báo cáo Tổng hợp ý kiến của ĐBQH về dự án Luật SĐBSMSĐ nhấn mạnh rằng hoạt động giám sát và tiếp công dân của ĐBQH có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội Tuy nhiên, chế độ chính sách và kinh phí hoạt động của ĐBQH cần được đảm bảo từ ngân sách trung ương, đồng thời cần nghiên cứu các chính sách đặc thù để thu hút những người có uy tín và năng lực tham gia vào ĐBQH Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của ĐBQH và Quốc hội.
Cần rà soát và tăng cường các cơ chế bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH, bao gồm việc thiết lập rõ ràng các quy định về khen thưởng, kỷ luật và quy hoạch đối với ĐBQH chuyên trách tại địa phương Điều này nhằm đảm bảo vai trò và tầm ảnh hưởng của họ, tạo động lực phấn đấu và nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn ĐBQH Hơn nữa, cần chú trọng đến cơ chế đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng cho các ĐBQH, đặc biệt là những người mới trúng cử, để nâng cao khả năng tiếp công dân, xử lý đơn thư và giám sát khiếu nại Cuối cùng, cần quy định cơ chế đánh giá chất lượng hoạt động của các ĐBQH, đặc biệt là ĐBQH chuyên trách, nhằm nâng cao trách nhiệm và năng lực hoạt động của họ.
The 135th Law on the Organization of the National Assembly was enacted in 2014 For the latest updates and full downloads of related documents, please contact us via email at vbhtjmk@gmail.com.
3.2.1.2 Cơ chế về bộ máy tham mưu, giúp việc cho hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
Vai trò của bộ máy tham mưu trong hoạt động của các ĐBQH và Đoàn ĐBQH là rất quan trọng, giúp đảm bảo chất lượng hoạt động của họ Văn phòng Đoàn ĐBQH là cơ quan tham mưu, phục vụ cho các ĐBQH tại địa phương, với chức năng và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Sự có mặt của bộ máy tham mưu giúp ĐBQH và Đoàn ĐBQH chủ động triển khai kế hoạch và bồi dưỡng đội ngũ nhân sự phù hợp với năng lực Thực tế cho thấy, đội ngũ này đã phát huy hiệu quả trong công tác tham mưu, đặc biệt trong việc tiếp công dân và xử lý đơn thư gửi đến.
Trong hoạt động tiếp công dân và xử lý đơn thư của công dân gửi đến Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và Đoàn ĐBQH, vai trò tham mưu và hỗ trợ cho các ĐBQH và Đoàn ĐBQH là rất quan trọng.
Văn phòng Đoàn ĐBQH cần có đội ngũ chuyên môn vững vàng để xử lý đơn thư của công dân, đặc biệt trong công tác giám sát Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Đoàn ĐBQH tại các tỉnh/thành phố vẫn chưa hoàn thiện, thiếu động lực và sức hút đối với những người có năng lực cao.
136 Khoản 4, Điều 43, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
Nghị quyết số 1097/2015/UBTVQH13, ban hành ngày 22/12/2015, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về việc thành lập và chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội tại các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.
Theo Nghị quyết số 1097/2015/UBTVQH13, biên chế công chức và lao động hợp đồng tại Văn phòng Quốc hội được quản lý chặt chẽ, dẫn đến việc quy hoạch, đào tạo và luân chuyển không gắn với địa phương Việc thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh với Văn phòng HĐND và UBND cấp tỉnh cũng ảnh hưởng đến tâm lý và hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức và người lao động tại Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh.
Mục tiêu sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn và hiệu quả là cần thiết Tuy nhiên, việc nghiên cứu kỹ về cơ sở pháp lý và thực tiễn hoạt động của đội ngũ này là rất quan trọng để quy định mô hình tổ chức, chức năng và nhiệm vụ phù hợp Nếu thực hiện hợp nhất Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh với Văn phòng HĐND và Văn phòng UBND cấp tỉnh, có thể dẫn đến tình trạng bộ máy “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, tức là vừa tham mưu cho việc xây dựng chính sách vừa giám sát việc thực hiện chính sách Điều này sẽ làm khó khăn trong việc đảm bảo tính khách quan và logic trong quá trình thực hiện.
Để nâng cao chất lượng hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, đặc biệt trong việc tiếp công dân và xử lý đơn thư, cần chú trọng đến cơ chế bộ máy tham mưu Đội ngũ này cần có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, chức năng và nhiệm vụ rõ ràng, cùng với chế độ, chính sách phù hợp và thường xuyên được đào tạo chuyên môn Việc tổ chức Văn phòng Đoàn ĐBQH các tỉnh/thành phố không bố trí các phòng chuyên môn và thiếu chức danh Trưởng, Phó phòng chuyên môn đã ảnh hưởng đến mục tiêu nghề nghiệp và định hướng phấn đấu của công chức trong Văn phòng Đoàn ĐBQH.