TỔNG QUAN
Đặt vấn đề
Đồng Nai, một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao tại Vùng kinh tế Trọng điểm phía Nam, sở hữu nhiều tiềm năng và thế mạnh cùng vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp hiện đại Sự phát triển này đã mang lại những chuyển biến tích cực trong các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những chuyển biến tích cực là hiệu quả trong việc huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là từ các nước Đông Bắc Á vào các dự án tại khu công nghiệp Đồng Nai Khu vực này tập trung nhiều nền kinh tế năng động, có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động kinh tế toàn cầu, bao gồm các nền kinh tế phát triển vượt bậc như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc (Đài Loan).
Trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp từ khu vực Đông Bắc Á vào Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt là từ Nhật Bản Kim ngạch ngoại thương song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản đã đạt 25,9 tỷ đô la Mỹ vào năm 2012, tăng 5,6 lần so với một thập kỷ trước.
Hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ, với 234 dự án đầu tư mới được triển khai trong năm qua.
Năm 2012, số dự án được cấp phép đã tăng lên 317, chiếm 51% tổng vốn đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 7,8 tỷ đô la Mỹ Đặc biệt, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo, lĩnh vực mà các doanh nghiệp Nhật Bản có thế mạnh và phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam.
1 Tạp chí cộng sản, 2013 Đầu tƣ trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam sau khủng hoảng tài chính toàn cầu
I'm sorry, but I cannot access external content or URLs However, if you provide me with the main points or sections of the article, I can help you rewrite it into a coherent paragraph while adhering to SEO rules.
Việt Nam coi Hàn Quốc là đối tác thương mại đầu tư quan trọng, với kim ngạch thương mại hai chiều tăng gần 42 lần từ 0,5 tỷ đô la Mỹ năm 1992 lên 21 tỷ đô la Mỹ năm 2012, vượt mục tiêu 20 tỷ đô la Mỹ vào năm 2015 Đến năm 2012, Hàn Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam Trong số 52 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam tính đến tháng 10 năm 2013, Hàn Quốc đứng thứ hai với 3.480 dự án và tổng vốn đầu tư đạt 4,019 tỷ đô la Mỹ, chiếm 20,9% tổng vốn đầu tư, chỉ sau Nhật Bản Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc dự kiến sẽ chuyển sang giai đoạn hợp tác phát triển mới, với mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 70 tỷ đô la Mỹ vào năm 2020.
Trung Quốc hiện là một trong những đối tác thương mại và đầu tư lớn của Việt Nam, bên cạnh Nhật Bản và Hàn Quốc Tính đến tháng 9 năm 2013, Trung Quốc đã đầu tư gần 940 dự án vào Việt Nam, với tổng vốn đầu tư đạt gần 5 tỷ đô la Mỹ.
Các nhà đầu tư Trung Quốc (Đài Loan) đã đăng ký tổng vốn đầu tư lên tới 28,5 tỷ đô la Mỹ, với 41 dự án chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực gia công chế biến và sản xuất chế tạo, đặc biệt là trong ngành dệt may, công nghiệp da giày và mộc gia dụng.
Trong 6 tháng đầu năm 2013, Đồng Nai xếp thứ năm cả nước về tổng vốn đầu tư đăng ký, đạt 18.378,11 triệu đô la Mỹ, với 1.136 dự án đang triển khai tại 31 Khu Công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Nguồn vốn đầu tư cho các dự án được đăng ký chủ yếu đến từ các quốc gia châu Á, với sự tập trung đặc biệt từ các nhà đầu tư ở khu vực Đông Bắc Á.
Từ năm 2007 đến tháng 6 năm 2013, số lượng dự án đầu tư mới và mở rộng tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai không ngừng tăng lên, với 85 dự án được Nhật Bản đăng ký thành lập.
Cục Xúc tiến thương mại (2013) đã chỉ ra những dấu hiệu tích cực trong quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy tại trang web của Cục Xúc tiến thương mại.
Việt Nam và Trung Quốc đang tích cực thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực thương mại và đầu tư Sự hợp tác này không chỉ nhằm tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa hai nước mà còn tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho cả hai bên Các hoạt động thương mại và đầu tư sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong khu vực.
Đài Loan đã chủ động đón đầu Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Việt Nam, thể hiện sự quan tâm đến việc mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực Việc này không chỉ giúp Đài Loan tăng cường vị thế thương mại mà còn tạo cơ hội cho Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài **Nguồn thông tin**Bài viết được đăng trên Báo Người lao động vào năm 2013, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của TPP đối với nền kinh tế Việt Nam và vai trò của Đài Loan trong bối cảnh này.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là nhận diện và khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nhà đầu tư Đông Bắc Á vào các khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai.
Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư Đông Bắc Á vào các khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai.
Đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nhà đầu tư Đông Bắc Á vào các Khu Công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai.
Đối tượng khảo sát bao gồm các chủ đầu tư và ban lãnh đạo của các doanh nghiệp, dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nhà đầu tư Đông Bắc Á, đang hoạt động tại các Khu Công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai.
Nghiên cứu này tập trung vào việc điều tra và thu thập thông tin sơ cấp từ các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nhà đầu tư đến từ Đông Bắc Á tại các khu công nghiệp Đồng Nai, với quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu được thực hiện trong năm 2013.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp này nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư bằng cách thu thập ý kiến từ các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư Đồng thời, nó cũng tổ chức thảo luận trực tiếp với đại diện các doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nhà đầu tư Đông Bắc Á đang hoạt động tại các khu công nghiệp ở Đồng Nai.
Kết quả thu được sẽ được kết hợp với cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu, từ đó điều chỉnh các biến quan sát trong thang đo cho phù hợp với nghiên cứu định lượng ở giai đoạn tiếp theo.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm kiểm định mô hình lý thuyết đã được xây dựng và hiệu chỉnh qua nghiên cứu sơ bộ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp được áp dụng với các nhà đầu tư và đại diện chủ đầu tư - nhà điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước Đông Bắc Á Nghiên cứu tập trung vào các nhà đầu tư đang hoạt động tại các khu công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai, sử dụng bảng câu hỏi thiết kế dựa trên kết quả của các bước nghiên cứu trước đó.
Kết quả khảo sát sẽ được thu thập, làm sạch và mã hóa trước khi nhập vào phần mềm SPSS 16.0 để phân tích dữ liệu Các phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả mẫu, đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố, và hồi quy mô hình với biến giả.
Ý nghĩa của đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của quốc gia và địa phương, dẫn đến nhiều nghiên cứu từ các tác giả và nhà kinh tế học Các nghiên cứu này tập trung vào việc thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI, đề xuất giải pháp tăng cường thu hút FDI vào các khu công nghiệp địa phương, và phân tích tác động của FDI đến sự phát triển địa phương Đặc biệt, nhiều nghiên cứu về thu hút FDI tại Đồng Nai đã được thực hiện trong những năm gần đây.
Nguyễn Đình Thái (2008) đã thực hiện luận văn cao học tại Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh với đề tài “Chiến lược thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp Đồng Nai đến năm 2020”, trong đó đánh giá và phân tích tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các khu công nghiệp Đồng Nai qua các năm Tác giả đã áp dụng các lý thuyết kinh tế và hoạch định chiến lược để xây dựng các chiến lược thu hút đầu tư vào khu công nghiệp Đồng Nai Đào Thị Quế Chi (2009) cũng thực hiện luận văn cao học tại Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh với đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Đồng Nai đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”, trong đó nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đồng Nai trong thời gian tới.
Nguyễn Thị Bích Thùy (2013) đã thực hiện luận văn cao học tại Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh với đề tài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các khu công nghiệp Đồng Nai Nghiên cứu này đã xác định các yếu tố cụ thể tác động đến FDI tại tỉnh Đồng Nai và đề xuất các giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách hiệu quả hơn.
Đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước Đông Bắc Á vào các Khu Công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” tập trung vào việc phân tích sâu sắc các yếu tố quyết định đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ Đông Bắc Á Nghiên cứu này không chỉ xác định phạm vi cụ thể mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của các dự án đầu tư trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương tại Đồng Nai Đây là một hướng đi mới, khác biệt so với các nghiên cứu tổng quát trước đây về môi trường đầu tư và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Nghiên cứu đã xác định các nhân tố quyết định đến nguồn FDI của các nhà đầu tư Đông Bắc Á tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, mang lại điểm mới so với các nghiên cứu trước đây.
Tác giả hy vọng rằng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước Đông Bắc Á vào các khu công nghiệp Đồng Nai sẽ cung cấp thông tin hữu ích Nghiên cứu này nhằm hình thành các giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư không chỉ từ các nhà đầu tư Đông Bắc Á mà còn từ các quốc gia, vùng lãnh thổ khác tại địa phương trong tương lai.
Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương và các phần tài liệu tham khảo, phụ lục được trình bày cụ thể nhƣ sau:
Chương 1 : Tổng quan - Trình bày về sự cần thiết, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu – Trình bày các khái niệm khái niệm có liên quan đến đề tài; đồng thời phân tích tổng quan các lý thuyết, kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở đề xuất mô hình và các giả thuyết của nghiên cứu
Chương 3 : Thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu - Trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu, cách thiết kế, đánh giá thang đo, chọn mẫu và xử lý dữ liệu nghiên cứu
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả của nghiên cứu định lượng, bao gồm thống kê mô tả mẫu, kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy, phân tích hồi quy với các biến giả
Chương 5 : Kiến nghị và kết luận – Nêu lên những kiến nghị, kết quả cũng như những hạn chế của nghiên cứu và hướng thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
Reference materials include the latest thesis downloads and full master's thesis documents For inquiries, please contact via email at vbhtj mk gmail.com.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Các khái niệm và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khu công nghiệp là khu vực chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp và cung cấp dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, với ranh giới địa lý rõ ràng, được thành lập theo quy định của Chính phủ theo Khoản 20 Điều 3 của Luật Đầu tư năm 2005.
Khu chế xuất là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung cấp dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý rõ ràng và được thành lập theo quy định của Nghị định Khu công nghiệp và khu chế xuất thường được gọi chung là khu công nghiệp, trừ những trường hợp được quy định cụ thể.
Khu công nghiệp là khu vực được ưu đãi đầu tư, áp dụng chính sách ưu đãi cho các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Đặc biệt, các khu công nghiệp được thành lập tại những địa bàn thuộc danh mục có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhiều cơ quan và tổ chức đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra các khái niệm, định nghĩa về FDI từ nhiều góc độ khác nhau Điều này nhằm tạo cơ sở cho việc thống kê, đo lường, phân tích và đánh giá ảnh hưởng của FDI đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo Luật Đầu tư 2005, đầu tư trực tiếp là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm tổ chức và cá nhân, là những người bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam Đầu tư nước ngoài được hiểu là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn và tài sản hợp pháp vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tư và quản lý chúng.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) định nghĩa FDI là sự kiện khi một nhà đầu tư từ một quốc gia (nước chủ đầu tư) sở hữu tài sản tại một quốc gia khác (nước thu hút đầu tư) và có quyền quản lý tài sản đó Khía cạnh quản lý là yếu tố phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Thông thường, cả nhà đầu tư và tài sản mà họ quản lý ở nước ngoài đều là các cơ sở kinh doanh.
Trong lĩnh vực đầu tư quốc tế, nhà đầu tư thường được gọi là "công ty mẹ", trong khi các tài sản được gọi là "công ty con" hoặc "chi nhánh công ty" (WTO, 1996) Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là một loại đầu tư quốc tế, phản ánh mục tiêu của một thực thể thường trú trong một nền kinh tế nhằm đạt được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp trong nền kinh tế khác (IMF, 1993).
FDI, hay đầu tư trực tiếp nước ngoài, là hình thức đầu tư xuyên biên giới, trong đó một thực thể kinh tế kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động quản lý của một doanh nghiệp thuộc nền kinh tế khác (IMF, 2009).
Uỷ ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) định nghĩa FDI là khoản đầu tư thể hiện mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích lâu dài và quyền kiểm soát của một thực thể thường trú tại một nền kinh tế Điều này liên quan đến nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ trong một doanh nghiệp tại nền kinh tế khác, khác với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khác như doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên doanh hoặc liên doanh nước ngoài.
FDI ám chỉ rằng các nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn đến quản lý của các doanh nghiệp trong một nền kinh tế khác, và sự đầu tư này có thể đến từ cả cá nhân lẫn tổ chức kinh doanh.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư vốn và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài vào tổ chức hoặc doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư Mục tiêu của FDI là nắm quyền kiểm soát hoặc tạo ảnh hưởng đáng kể đến quản lý và điều hành, từ đó đạt được lợi ích dài hạn trong quá trình hoạt động tại nước nhận đầu tư.
2.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1.2.1 Tích cực
Một là, FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư trong nước
Các nghiên cứu của Freeman (2000) và Sida-CIEM (2006) chỉ ra rằng khu vực đầu tư nước ngoài đã có đóng góp quan trọng vào GDP, với tỷ trọng ngày càng tăng Khu vực này không chỉ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ, đóng góp cho ngân sách nhà nước, gia tăng tổng vốn đầu tư xã hội và tạo ra nhiều cơ hội việc làm.
Hai là, FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Hiện nay, 58,4% vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng với công nghệ cao hơn mức trung bình cả nước Tốc độ tăng trưởng của khu vực này đạt gần 18%/năm, vượt qua tốc độ tăng trưởng toàn ngành Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoài đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành các ngành công nghiệp chủ lực như viễn thông, khai thác và chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, và xi măng Đầu tư nước ngoài cũng đã hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tập trung vào các dự án phát triển vùng nguyên liệu, tạo nguồn cung ứng chất lượng và ổn định cho sản xuất.
Ba là, FDI tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động
Khu vực có vốn FDI đang tạo ra nhiều cơ hội việc làm trực tiếp và gián tiếp Các doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực, cả tại chỗ lẫn ở nước ngoài, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý, giúp nhân viên đủ khả năng đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong doanh nghiệp.
Bốn là, FDI góp phần chuyển giao các công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến trên thế giới
Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã phê duyệt 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó 605 hợp đồng thuộc về doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, chiếm 63,6% Hoạt động đầu tư nước ngoài đã đóng góp quan trọng vào việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực tại Việt Nam.
Năm là, FDI góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm sản xuất tại Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
Sự hình thành các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu bắt nguồn từ sự xuất hiện của các công ty đa quốc gia Nghiên cứu về vấn đề này được thể hiện qua lý thuyết tổ chức công nghiệp, hay lý thuyết thị trường độc quyền, do các nhà kinh tế học Stephen Hymer và Charles Kindleberger phát triển vào năm 1960.
Lý thuyết được đề xướng vào năm 1969 nhấn mạnh ba nhân tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển và thành công của đầu tư liên kết theo chiều dọc: (1) liên kết các giai đoạn sản xuất để giảm chi phí; (2) phát triển và ứng dụng công nghệ mới; (3) mở rộng đầu tư ra nước ngoài nhờ tiến bộ trong giao thông và thông tin Những yếu tố này giải thích sự hình thành các công ty đa quốc gia, đầu tư và xây dựng nhà máy tại nhiều quốc gia, nhằm tận dụng lợi thế so sánh và chuyên môn hóa sản xuất, từ đó giảm giá thành và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường.
Nghiên cứu này ảnh hưởng đến nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là lý thuyết chiết trung về sản xuất quốc tế của Dunning (1977) Dunning đã tổng hợp kết quả từ nhiều nghiên cứu trước đó và đưa ra ba điều kiện quyết định cho doanh nghiệp khi đầu tư trực tiếp nước ngoài, được gọi là mô hình OLI, bao gồm: lợi thế sở hữu, lợi thế địa điểm và lợi thế về nội bộ hóa sản xuất.
Lợi thế sở hữu của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hoặc quy trình công nghệ vượt trội mà chỉ doanh nghiệp đó có, trong khi các đối thủ không thể sở hữu hoặc tiếp cận được.
Lợi thế về địa điểm bao gồm các nguồn lực kinh tế-xã hội của quốc gia nhận đầu tư, như điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, quy mô và cơ cấu thị trường, cùng với môi trường văn hóa và chính trị.
Nội bộ hóa sản xuất mang lại lợi thế cho doanh nghiệp khi họ có quyền kiểm soát và điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất, từ nguyên liệu đầu vào cho đến sản phẩm đầu ra.
Sau nghiên cứu của Dunning, nhiều nghiên cứu khác đã được thực hiện để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư FDI ở nhiều quốc gia và khu vực khác nhau Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tiềm năng thị trường, nguồn lao động, cơ sở hạ tầng, cũng như chế độ và chính sách đầu tư.
Nghiên cứu của L.K.Cheng & Y.K.Kwan (2000) thực hiện bằng cách ƣớc tính các tác động của các yếu tố quyết định FDI trong 29 khu vực của Trung Quốc 1985-
Năm 1995, các yếu tố như quy mô thị trường lớn, cơ sở hạ tầng phát triển và chính sách ưu đãi đã có ảnh hưởng tích cực đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong khi chi phí tiền lương lại tác động tiêu cực.
Các nghiên cứu của Asiedu (2002, 2003) chỉ ra rằng, để thu hút FDI vào khu vực Châu Phi, các yếu tố quan trọng bao gồm nguồn lợi từ đầu tư, tài nguyên thiên nhiên phong phú, cơ sở hạ tầng tốt và chính sách ưu đãi địa phương Tuy nhiên, tham nhũng và bất ổn chính trị lại là những rào cản lớn đối với hoạt động FDI trong khu vực này.
Nghiên cứu của Ali, Shaukat & Wei Guo (2005) chỉ ra rằng các yếu tố quyết định đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc bao gồm quy mô thị trường lớn, chi phí lao động thấp, cơ chế và chính sách khuyến khích đầu tư, dân số đông, nền kinh tế phát triển nhanh, và lợi nhuận đầu tư cao.
Nghiên cứu của Craig Young (2005) đã chỉ ra rằng hoạt động tiếp thị địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại các nước Trung và Đông Âu Kết quả cho thấy tiếp thị địa phương không chỉ giúp các công ty đa quốc gia tạo ra sự khác biệt mà còn là yếu tố then chốt để nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút FDI.
Nghiên cứu của N.Karim (2012) đã phân tích dòng vốn FDI tại 13 tiểu bang và 01 vùng lãnh thổ liên bang ở Malaysia trong các năm 1990, 1995, 2000 và 2005 Kết quả cho thấy có 05 nhân tố tích cực ảnh hưởng đến FDI, bao gồm mức độ tập trung sản xuất, năng suất và chất lượng lao động, chỉ số đánh giá năng lực điều hành, tổng sản phẩm quốc nội, và điều kiện cơ sở hạ tầng.
2.2.2 Các công trình nghiên cứu Việt Nam
Nghiên cứu của Junichi Mori (2005) chỉ ra rằng phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ có vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam Kết quả cho thấy việc hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ không chỉ thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp mà còn thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này.
Nghiên cứu của Juan Du (2011) đã phân tích các yếu tố quyết định FDI tại Việt Nam từ 1986 đến 2009, xác định rằng quy mô và tốc độ tăng trưởng của thị trường, tỷ giá hối đoái, thương mại quốc tế, chất lượng và chi phí lao động, cùng với chính sách mở cửa thương mại là những nhân tố quan trọng kích thích FDI tại Việt Nam.
Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Toàn (2010) chỉ ra rằng có ba nhân tố chính ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào các địa phương tại Việt Nam Qua việc phỏng vấn 300 công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, tác giả xác định rằng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chế độ và chính sách ưu đãi đầu tư, cùng với chi phí hoạt động thấp là những yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư.
Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư FDI của các nhà đầu tư Đông Bắc Á vào các khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai Cụ thể, bài viết sẽ phân tích tác động của các yếu tố như cơ sở hạ tầng, chế độ và chính sách đầu tư, chi phí đầu tư, công nghiệp phụ trợ, dịch vụ hỗ trợ đầu tư, nguồn nhân lực và xúc tiến đầu tư đến mô hình nghiên cứu đề xuất.
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề nghị
X2: Chế độ, chính sách đầu tƣ
X5: Dịch vụ hỗ trợ đầu tƣ
D1: Ngành nghề đầu tƣ D2: Quy mô đầu tƣ D3: Quốc gia đầu tƣ
Quyết định đầu tƣ tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
2.3.2 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI, vì nó đảm bảo các yêu cầu cơ bản cho sự ổn định của dự án đầu tư Sự đầy đủ và phát triển của cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư, như đã được nêu trong các nghiên cứu của L.K.Cheng.
Y.K.Kwan (2000), E.Asiedu (2002, 2003), N.Karim (2012), Nguyễn Mạnh Toàn
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sang (2011) chỉ ra rằng các yếu tố như điện, nước, giao thông vận tải, viễn thông và dịch vụ môi trường đóng vai trò quan trọng Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là
H1: Cơ sở hạ tầng đầy đủ tác động tích cực đến quyết định đầu tư
Chế độ và chính sách đầu tư là yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư nước ngoài rất chú ý, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và thời gian đầu tư cho việc thực hiện dự án Nghiên cứu của L.K.Cheng và Y.K.Kwan đã chỉ ra tầm quan trọng của yếu tố này trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.
(2000), Ali, Shaukat & Wei Guo (2005), Juan Du (2011), Nguyễn Mạnh Toàn
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sang (2011) chỉ ra rằng, sự ổn định trong quy hoạch và phát triển kinh tế xã hội của chính quyền là yếu tố chiến lược quan trọng Việc hỗ trợ các dự án thông qua ưu đãi đầu tư và cải cách thủ tục hành chính sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài Các yếu tố như quy hoạch phát triển dài hạn, sự quan tâm của lãnh đạo địa phương đối với nhà đầu tư, và tính minh bạch trong thông tin đầu tư là những điều kiện cần thiết để thu hút vốn đầu tư Điều này đặt ra giả thuyết rằng sự ổn định và hỗ trợ từ chính quyền có thể thúc đẩy đầu tư tại địa phương.
H2: Chế độ, chính sách khuyến khích đầu tư tác động tích cực đến quyết định đầu tư
Chi phí đầu tư là các khoản chi cần thiết để triển khai dự án, bao gồm chi phí thuê đất, lắp ráp và vận hành máy móc, cũng như chi phí chạy thử Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Toàn (2010) và Nguyễn Thanh Sang (2011) chỉ ra rằng mức chi phí đầu tư hợp lý trong giai đoạn chuẩn bị sẽ ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư trong việc thực hiện dự án tại địa phương Do đó, giả thuyết được đặt ra là:
H3: Chi phí đầu tư hợp lý tác động tích cực đến quyết định đầu tư
Sự phát triển của công nghiệp phụ trợ đang thu hút sự chú ý từ chính phủ trung ương, các địa phương và doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực như cơ khí, điện, điện tử, may mặc, giày da và công nghệ cao Junichi Mori (2005) đã nghiên cứu về sự phát triển này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có nhiều đối tác hỗ trợ cung ứng cho các dự án, cũng như chất lượng và giá cả của các dịch vụ cung ứng, và khoảng cách giữa các đối tác địa phương Do đó, chúng ta có thể đưa ra giả thuyết về sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến sự phát triển của công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam.
H4: Sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ tác động tích cực đến quyết định đầu tư
Dịch vụ hỗ trợ và tư vấn đầu tư ngày càng trở nên quan trọng trong quá trình thu hút đầu tư, đặc biệt đối với các dự án và doanh nghiệp vừa và nhỏ Các dịch vụ như khai báo thuế, hải quan, kiểm toán và lập thủ tục đầu tư không chỉ giúp các nhà đầu tư nước ngoài mà còn thúc đẩy nhanh tiến độ đầu tư và triển khai hoạt động của các dự án FDI Nghiên cứu của L.K.Cheng & Y.K.Kwan (2000) và E.Asiedu (2002) cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của các dịch vụ này trong việc hỗ trợ đầu tư.
Nghiên cứu của N.Karim (2012), Nguyễn Mạnh Toàn (2010) và Nguyễn Thanh Sang (2011) chỉ ra rằng chất lượng và chi phí của các dịch vụ, cũng như sự phong phú hay khan hiếm của các nhà cung cấp dịch vụ tại địa phương, là những yếu tố quan trọng Do đó, giả thuyết của mô hình nghiên cứu được đề xuất dựa trên những yếu tố này.
H5: Chất lượng dịch vụ hỗ trợ, tư vấn đầu tư tác động tích cực đến quyết định đầu tư
Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả hoạt động của các dự án đầu tư tại địa phương, như đã được chứng minh qua các nghiên cứu của L.K.Cheng & Y.K.Kwan (2000), Ali, Shaukat & Wei Guo (2005), N.Karim (2012), Juan Du (2011) và Nguyễn Mạnh Toàn (2010) Nhân lực được đào tạo bài bản và chất lượng sẽ nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới, từ đó nâng cao hiệu quả vận hành Các yếu tố liên quan đến nguồn nhân lực bao gồm sự dồi dào hay khan hiếm của nguồn nhân lực địa phương, thuận lợi hay khó khăn trong tuyển dụng, và chất lượng đào tạo có đáp ứng yêu cầu chuyên môn của doanh nghiệp hay không.
H6: Chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương tác động tích cực đến quyết định đầu tư
Hoạt động xúc tiến đầu tư thông qua việc quảng bá thương hiệu địa phương là phương pháp hiệu quả nhất để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư Nghiên cứu của Craig Young (2005) chỉ ra rằng yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong đầu tư trực tiếp nước ngoài Các yếu tố cần xem xét bao gồm nội dung quảng bá, sự hỗ trợ và cung cấp thông tin cần thiết cho nhà đầu tư, cũng như hiệu quả của chương trình xúc tiến đối với các nhà đầu tư tiềm năng.
H7: Chất lượng hoạt động xúc tiến đầu tư tác động tích cực đến quyết định đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư vốn và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài vào tổ chức hoặc doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư, nhằm nắm quyền kiểm soát hoặc tạo ảnh hưởng đáng kể đến quản lý và điều hành FDI đóng vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển, và Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong 25 năm qua nhờ vào sự gia tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Chương này giới thiệu các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài, cùng với các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Nó cũng hình thành ý tưởng, mô hình và giả thuyết cho nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư Đông Bắc Á vào các khu công nghiệp Đồng Nai.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với lý thuyết để phát triển mô hình nghiên cứu và hoàn thiện bảng câu hỏi cho nghiên cứu chính thức Các phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng bao gồm:
Phỏng vấn các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư và các cán bộ lãnh đạo, chuyên viên tại các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư tại tỉnh Đồng Nai để thu thập ý kiến chuyên môn.
Kết quả phỏng vấn sẽ là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu và điều chỉnh bảng câu hỏi, nhằm phù hợp với thực tế hoạt động đầu tư tại các khu công nghiệp.
Thảo luận tay đôi với nhóm 10 người đại diện từ các doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư từ Đông Bắc Á tại Đồng Nai nhằm thu thập ý kiến qua gặp mặt, phỏng vấn điện thoại hoặc thư điện tử Mục tiêu là đánh giá sự hài lòng về các biến quan sát trong bảng câu hỏi Nội dung tổng hợp sẽ là cơ sở để điều chỉnh các biến quan sát trong thang đo, phục vụ cho nghiên cứu định lượng ở giai đoạn tiếp theo.
Nghiên cứu chính thức nhằm kiểm định mô hình lý thuyết đã được xây dựng và hiệu chỉnh qua nghiên cứu sơ bộ Phương pháp nghiên cứu bao gồm phỏng vấn trực tiếp các nhà đầu tư và đại diện chủ đầu tư - nhà điều hành doanh nghiệp FDI từ các nước Đông Bắc Á, đang hoạt động tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi thiết kế dựa trên kết quả nghiên cứu trước đó Sau khi khảo sát, dữ liệu sẽ được làm sạch, mã hóa và nhập vào phần mềm SPSS 16.0 để xử lý thống kê.
Quy trình nghiên cứu đƣợc xây dựng, dựa theo mô hình của Nguyen (2007,
373) 7 , bao gồm 2 bước chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, trình bày tại Hình 3.1
Hình 3.1 Qui trình nghiên cứu
Trong nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng, các thang đo được đánh giá qua hai công cụ chính: hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phương pháp phân tích.
7 Trích Nguyễn Đình Thọ, 2012 Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh Hà Nội: Nhà xuất bản Lao động Xã hội Trang 301
Thang đo nháp ban đầu
Nghiên cứu sơ bộ (định tính)
Thang đo sơ bộ (hiệu chỉnh) Đánh giá thang đo hiệu chỉnh (nU) Độ tin cậy
Tương quan biến – tổng Cronbach’s Alpha
Trọng số nhân tố EFA Phương sai trích Đánh giá thang đo hiệu chỉnh (nU)
The article discusses the results of a graduation research report, focusing on the latest full thesis available for download It emphasizes the use of exploratory factor analysis (EFA) as a key methodological approach in the research.
Hệ số Cronbach’s Alpha là chỉ số quan trọng để đánh giá độ tin cậy của thang đo, với giá trị từ 0,7 đến 0,8 cho thấy độ tin cậy tốt Nếu hệ số này lớn hơn hoặc bằng 0,6, thang đo được coi là chấp nhận được Ngoài ra, SPSS sử dụng hệ số tương quan biến - tổng hiệu chỉnh để đánh giá mối tương quan giữa biến đo lường và tổng các biến còn lại, với yêu cầu hệ số này phải lớn hơn hoặc bằng 0,3 để đảm bảo tính hợp lệ của biến đo lường (Nunnally & Bernstein, 1994).
Phương pháp phân tích EFA giúp rút gọn tập k biến quan sát thành tập F (F