1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của viện kiểm sát nhân dân – lý luận và thực tiễn tại tỉnh tây ninh

67 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm Sát Việc Tuân Theo Pháp Luật Trong Xét Xử Sơ Thẩm Vụ Án Kinh Doanh Thương Mại Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân – Lý Luận Và Thực Tiễn Tại Tỉnh Tây Ninh
Tác giả Đặng Nguyên Khoa
Người hướng dẫn TS Viên Thế Giang
Trường học Trường đại học Kinh tế TP. HCM
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1................................................................................................................ 7 (19)
    • 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SÁT KINH DOANH THƯƠNG MẠI (19)
      • 1.1.1. Khái niệm của công tác kiểm sát kinh doanh thương mại (19)
      • 1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật (20)
    • 1.2. NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ CHỨC NĂNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN (21)
      • 1.2.1. Kiểm sát kinh doanh thương mại trước phiên tòa sơ thẩm (21)
        • 1.2.1.1. Kiểm sát việc thụ lý vụ án (21)
        • 1.2.1.2. Kiểm sát trả lại đơn khởi kiện, kiểm sát giải quyết kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện (22)
        • 1.2.1.4. Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án (25)
        • 1.2.1.5. Kiểm sát việc ra các quyết định có liên quan đến giải quyết vụ án (25)
      • 1.2.2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa xét xử vụ án kinh (27)
        • 1.2.2.1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa (27)
        • 1.2.2.2 Kiểm sát việc tranh tụng tại phiên tòa (28)
        • 1.2.2.3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp (28)
      • 1.2.3. Kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật sau phiên tòa (29)
  • CHƯƠNG 2.............................................................................................................. 20 (32)
    • 2.1. Đặc điểm địa lý, dân cư, tình hình kinh tế-xã hội (32)
    • 2.2. Tình hình kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại theo (34)
    • 2.3. Thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh (40)
      • 2.3.1. Thuận lợi trong thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật (40)
        • 2.3.2.1. Xác định quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp (41)
        • 2.3.2.2. Kiểm sát trả lại đơn khởi kiện (42)
        • 2.3.2.3. Kiểm sát việc thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan (44)
        • 2.3.2.4. Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm (47)
        • 2.3.2.5. Kiểm sát chủ thể ban hành và hình thức của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm (47)
        • 2.3.2.6. Kiểm sát quyết định, bản án và kháng nghị (49)
        • 2.3.2.7. Kiểm sát trình tự, thủ tục tố tụng trong giải quyết vụ án kinh (55)
  • CHƯƠNG 3.............................................................................................................. 46 (58)
    • 3.1. Kiến nghị đối với Quốc hội (58)
    • 3.2. Kiến nghị đối với Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh (59)
    • 3.3. Kiến nghị đối với lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh (0)
    • 3.4. Kiến nghị đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và cán bộ trong ngành Kiểm sát (61)

Nội dung

7

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SÁT KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Hiện tại, hệ thống pháp lý và quy định tại Việt Nam chưa đưa ra khái niệm chính thức về việc kiểm sát tuân thủ pháp luật trong giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại (KDTM) Để nắm rõ nội dung của việc kiểm sát này, chúng ta cần xem xét một số khía cạnh liên quan.

Tranh chấp kinh doanh thương mại (TCKDTM) hiện chưa có khái niệm chính thức, nhưng có thể hiểu rằng TCKDTM là những mâu thuẫn phát sinh trong hoạt động kinh doanh, dựa trên các quy định pháp luật liên quan.

Bất đồng hoặc xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động thương mại là vấn đề quan trọng Theo Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân được quy định rõ ràng.

Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại thường phát sinh giữa các chủ thể có mục đích lợi nhuận và đã đăng ký kinh doanh, bao gồm các vấn đề về quyền sở hữu công nghiệp và trí tuệ Ngoài ra, còn có tranh chấp liên quan đến vốn góp giữa các thành viên công ty và người chưa là thành viên Các tranh chấp cũng có thể xảy ra giữa các thành viên công ty và người quản lý trong Công ty TNHH, cũng như giữa giám đốc, tổng giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị với công ty Cuối cùng, các tranh chấp này có thể liên quan đến các hoạt động như chia, tách, sát nhập hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hoạt động theo dõi và thực thi việc chấp hành luật pháp Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) có nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp, bảo vệ pháp luật, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, và lợi ích của Nhà nước Điều này góp phần đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án KDTM là hoạt động tố tụng của VKSND nhằm đảm bảo tính hợp pháp của các hành vi của người tham gia tố tụng và các quyết định áp dụng pháp luật của TAND, cũng như các chủ thể khác trong quá trình giải quyết vụ án KDTM tại TAND.”

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

Mục đích của hoạt động kiểm sát kinh doanh thương mại là đảm bảo rằng các hành vi của Tòa án Nhân dân, đương sự và các chủ thể tham gia tố tụng khác, cũng như các quyết định áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, tuân thủ đúng quy định pháp luật Qua đó, hoạt động này góp phần bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan khác.

VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo mỗi vụ án được giải quyết đúng quy định Qua đó, VKSND có quyền yêu cầu, kiến nghị và kháng nghị để phát hiện và loại bỏ các hành vi vi phạm của cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia tố tụng, từ đó bảo vệ sự nghiêm chỉnh của pháp luật và các quan hệ kinh doanh thương mại theo quy định.

Sự tham gia của Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) trong tố tụng dân sự (TTDS) không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của ngành Kiểm sát mà còn góp phần vào quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền.

Tôi không biết!

Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại và dân sự, cần đảm bảo mọi vi phạm của cơ quan THTT và người THTT dân sự được phát hiện, chấn chỉnh và khắc phục kịp thời Điều này sẽ góp phần đảm bảo pháp luật kinh doanh thương mại được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Để đảm bảo việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tại TAND tuân thủ đúng quy định pháp luật, cần bảo đảm rằng mọi bản án và quyết định đều có căn cứ pháp lý vững chắc và được thi hành đúng cách Điều này không chỉ bảo vệ lợi ích của nhà nước mà còn bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân liên quan.

NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ CHỨC NĂNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN

Quá trình kiểm sát kinh doanh thương mại (KDTM) được chia thành ba giai đoạn chính, trong đó Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) thực hiện các hoạt động khác nhau nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của Tòa án Nhân dân (TAND) và các bên tham gia tố tụng Ba giai đoạn này bao gồm: (i) Kiểm sát giai đoạn trước phiên tòa sơ thẩm; (ii) Kiểm sát giai đoạn tại phiên tòa; và (iii) Kiểm sát giai đoạn sau phiên tòa.

1.2.1 Kiểm sát kinh doanh thương mại trước phiên tòa sơ thẩm

Trong giai đoạn này, sau khi nhận thông báo từ TAND, VKSND tiến hành kiểm sát theo quy định của Điều 58 BLTTDS năm 2015 và Điều 5 Quyết định số 458/QĐ-VKSTC Các vấn đề được kiểm sát bao gồm quyết định đưa vụ án ra xét xử, việc thụ lý vụ án, chấp hành pháp luật của người tiến hành và tham gia tố tụng, cũng như việc cung cấp tài liệu, chứng cứ Ngoài ra, VKSND cũng kiểm sát việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cùng với việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án.

Sau đây là một số nội dung kiểm sát giai đoạn trước phiên tòa

1.2.1.1 Kiểm sát việc thụ lý vụ án

Công tác kiểm sát việc thụ lý vụ án được thực hiện sau khi TAND thông báo bằng văn bản cho VKSND cùng cấp về việc thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 196 BLTTDS năm 2015 Việc kiểm sát này được thực hiện theo Điều 8 Quyết định số 458/QĐ-VKSTC Trong giai đoạn thụ lý vụ án KDTM, lãnh đạo VKSND phân công KSV tiến hành kiểm sát các nội dung liên quan.

Kiểm sát thời hạn ra thông báo thụ lý là rất quan trọng Theo Điều 196 và Điều 365 BLTTDS năm 2015, KSV cần chú ý đến thời hạn xử lý đơn khởi kiện và đơn yêu cầu theo khoản 3 Điều 191 BLTTDS năm 2015 Cụ thể, đối với đơn khởi kiện, KSV phải kiểm tra trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán có trách nhiệm xem xét đơn khởi kiện và tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo quy trình thông thường hoặc rút gọn.

Kiểm sát nội dung thông báo thụ lý vụ án bao gồm các bước quan trọng: (i) xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc thụ lý vụ án; (ii) kiểm tra thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại (KDTM); (iii) đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án KDTM; (iv) xác minh tư cách và năng lực hành vi dân sự của các bên đương sự; và (v) kiểm tra các nội dung khác như đối tượng bị khởi kiện và thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện từ Tòa án.

1.2.1.2 Kiểm sát trả lại đơn khởi kiện, kiểm sát giải quyết kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện Đối với kiểm sát trả lại đơn khởi kiện Tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm

Năm 2015, quy định một số trường hợp TAND có quyền trả lại đơn khởi kiện nhằm bảo vệ quyền lợi của đương sự Theo khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2015, khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Thẩm phán phải lập văn bản nêu rõ lý do và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Do đó, khi nhận thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện từ Tòa án, đương sự cần chú ý đến lý do được nêu trong văn bản.

VKSND dựa trên hướng dẫn tại Điều 8 Quyết định số 364/QĐ-VKSTC để xem xét nội dung và hình thức của thông báo, đồng thời so sánh với các quy định pháp luật hiện hành.

Cần kiểm tra ngày, tháng, năm mà TAND thông báo trả lại đơn khởi kiện và ngày, tháng, năm mà người khởi kiện nộp đơn để đảm bảo đúng thời hạn quy định là 08 ngày làm việc Thời hạn này bao gồm 03 ngày để phân công Thẩm phán và 05 ngày để Thẩm phán xem xét nội dung đơn khởi kiện nhằm ra quyết định và thông báo trả lại đơn.

Thông báo trả lại đơn khởi kiện sẽ được xem xét để xác định thẩm quyền giải quyết vụ án KDTM của TAND.

Vào thứ ba, cần xem xét xem lý do mà TAND trả lại đơn khởi kiện có phù hợp với 07 căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hay không.

Quy trình kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện được thực hiện bởi Viện kiểm sát trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận thông báo từ TAND Viện kiểm sát sẽ lập phiếu kiểm sát và hồ sơ liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện Nếu cần thiết, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án cung cấp bản sao đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ liên quan.

Khi TAND trả lại đơn khởi kiện không có căn cứ, Viện trưởng VKSND có quyền kiến nghị với TAND (Điều 8 Quyết định 364/QĐ-VKSNDTC) Sau khi nhận kiến nghị, Chánh án TAND phân công một Thẩm phán khác xem xét trong vòng 5 ngày làm việc (khoản 2 Điều 194 BLTTDS năm 2015) Phiên họp xem xét có sự tham gia của đại diện VKSND và đương sự có khiếu nại; nếu đương sự vắng mặt, Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp (khoản 3 Điều 194 BLTTDS năm 2015) Thẩm phán sẽ ra quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc nhận lại đơn để thụ lý vụ án (khoản 4 Điều 194 BLTTDS năm 2015) Nếu VKSND không đồng ý với quyết định của Thẩm phán, trong vòng 10 ngày, VKSND có quyền kiến nghị lần hai với Chánh án TAND cấp trên để xem xét TAND cấp trên sẽ xem xét kiến nghị trong thời hạn 10 ngày.

Chánh án TAND cấp trên có trách nhiệm ra quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc yêu cầu TAND cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện cùng tài liệu, chứng cứ để thụ lý vụ án theo Điều 194 BLTTDS năm 2015 Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và được gửi cho người khởi kiện, VKSND cùng cấp, và VKSND đã kiến nghị.

1.2.1.3 Kiểm sát việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án nhân dân

Công tác kiểm sát việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của TAND trong giải quyết vụ án KDTM là rất quan trọng, tạo tiền đề cho KSV tham gia giải quyết tranh chấp Khi tiếp nhận hồ sơ từ TAND, VKSND lập hồ sơ kiểm sát riêng, giúp KSV có cái nhìn tổng quan và xác định phương hướng giải quyết Hoạt động này là cơ sở để thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo khoản 1 Điều 21 BLTTDS 2015 Theo Điều 13 Quyết định số 458/QĐ-VKSTC, VKSND thực hiện các nhiệm vụ cụ thể khi kiểm sát hoạt động thu thập chứng cứ của TAND.

20

Đặc điểm địa lý, dân cư, tình hình kinh tế-xã hội

Tây Ninh, tỉnh nằm ở cực Tây miền Đông Nam Bộ, có diện tích tự nhiên 4.035,45 km² và bao gồm 09 đơn vị hành chính Tỉnh giáp biên giới Campuchia ở phía Bắc và phía Tây, với hai cửa khẩu quốc tế quan trọng là Mộc Bài và Xa Mát.

Tây Ninh nằm ở vị trí địa kinh tế quan trọng, giáp với tỉnh Bình Phước, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An Vị trí này giúp Tây Ninh phát triển kinh tế hướng ngoại, kết nối các nguồn lực kinh tế xuyên Á và thực hiện chương trình hợp tác tiểu vùng Điều này góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập sâu rộng trong khu vực Đông Nam Á.

Tỉnh Tây Ninh đang trải qua sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng với mức tăng trưởng trên 8% mỗi năm, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển kinh tế và lưu thông hàng hóa Năm 2019, chỉ số GRDP của tỉnh tăng 8,4%, đạt 3034 USD/người, tăng 8,87% so với năm 2018 Đầu tư phát triển chiếm 42,7% trong GRDP, tăng 22% so với cùng kỳ, đánh dấu năm có giá trị đầu tư phát triển cao nhất Cơ cấu kinh tế năm 2019 của tỉnh gồm ngành Công nghiệp – xây dựng, Dịch vụ và Nông – Lâm – Thủy sản tương ứng 41% - 33% - 21%, so với năm 2016 là 36,1% - 34,3% - 24,4% Tỉnh cũng thu hút được 34 dự án đầu tư nước ngoài.

Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-CP của Chính phủ vào ngày 22/01/2020 Tỉnh đã thu hút được vốn đầu tư nước ngoài lên đến 1.484 triệu USD, trở thành một trong những địa phương hàng đầu cả nước trong lĩnh vực này.

Biểu 2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Tây Ninh 6

Môi trường kinh doanh tại tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực, với chỉ số PCI năm 2017 đạt 63,2 điểm và tăng lên 64,54 điểm vào năm 2018, cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong môi trường đầu tư.

Địa lý tự nhiên thuận lợi và tình hình phát triển kinh tế, xã hội đã tạo cơ hội cho địa phương phát triển kinh tế thị trường đa thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, sự gia tăng chỉ số cạnh tranh của tỉnh Tây Ninh cùng với sự đa dạng và phức tạp trong các quan hệ kinh tế thị trường đã đặt ra thách thức cho việc xây dựng chính sách nhằm phát triển nhanh và bền vững, đặc biệt khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

The article discusses the latest updates on downloading thesis documents and provides a link for comparison It emphasizes the importance of accessing full and updated thesis materials, particularly for master's degree candidates.

Tình hình tranh chấp kinh doanh thương mại (KDTM) tại tỉnh Tây Ninh đang trở nên phong phú về hình thức và phức tạp về nội dung, đồng thời cũng gay gắt về mức độ Điều này đặt ra nhiều khó khăn và thách thức trong việc giải quyết các tranh chấp KDTM.

Văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh thương mại (KDTM) rất phong phú và thường xuyên thay đổi, dẫn đến nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu tính đồng bộ Việc ban hành văn bản dưới luật chậm trễ gây khó khăn cho công tác kiểm sát trong việc triển khai và áp dụng kịp thời Đối với các vụ án KDTM có giá trị tranh chấp lớn và diễn biến phức tạp, kiểm sát viên (KSV) cần nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều quy định pháp luật liên quan để đảm bảo giải quyết nhanh chóng, đầy đủ và chính xác.

Trong bối cảnh ngành Kiểm sát tỉnh Tây Ninh phải kiểm sát nhiều vụ án đồng thời, việc thiếu KSV, KTV và cán bộ có kinh nghiệm trong việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại đã tạo ra những khó khăn lớn cho công tác này.

Tình hình kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại theo

Ngành Kiểm sát tỉnh Tây Ninh đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện vi phạm pháp luật của TAND trong giải quyết các vụ án KDTM, đảm bảo tính công bằng, khách quan và chính xác VKSND hai cấp đã đưa ra nhiều bản kiến nghị và kháng nghị chỉ rõ sai phạm của TAND, kèm theo dẫn chứng cụ thể dựa trên quy định pháp luật, nhằm nâng cao tính chặt chẽ trong thực thi pháp luật.

7 Nội dung này Tác giả dựa vào kết quả của:

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm2017, Báo cáo số 216/BC-VKS ngày 05/12/2017 báo cáo tổng kết công tác năm 2017

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm 2018, Báo cáo số 266/BC-VKS ngày 05/12/2018 báo cáo tổng kết công tác năm 2018

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã công bố Báo cáo số 108/BC-VKS vào ngày 06/6/2019, sơ kết công tác năm 2019 Trong báo cáo, VKSND hai cấp ở Tây Ninh đã thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát các bản án và quyết định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như lợi ích của nhà nước.

Trong giai đoạn 2017 – 6 tháng đầu năm 2019, công tác kiểm sát hoạt động tư pháp đạt được một số kết quả nổi bật như sau:

Công tác kiểm sát thụ lý vụ án tại VKSND hai cấp Tây Ninh luôn được đảm bảo, với tất cả các vụ án thụ lý của TAND đều phải gửi thông báo thụ lý cho VKSND Hồ sơ được lập và tiến hành kiểm sát chặt chẽ theo quy định pháp luật.

Bảng 2.1 Số lượng vụ án KDTM tại tỉnh Tây Ninh được thụ lý kiểm sát trong năm 2017, năm 2018, 6 tháng đầu năm 2019 8

NỘI DUNG NĂM 2017 NĂM 2018 6 THÁNG ĐẦU

Số vụ án được thụ lý 120 79 30

Số vụ án được kiểm sát 120 79 30

Từ năm 2017, công tác kiểm sát quyết định, bản án và kháng nghị phúc thẩm tại VKSND hai cấp Tây Ninh đã đạt hiệu quả cao Sau khi phiên tòa xét xử kết thúc, TAND có trách nhiệm gửi bản án và quyết định cho VKSND cùng cấp để thực hiện kiểm sát.

VKSND cấp sơ thẩm gửi bản án cho VKSND cấp trên để xem xét, kèm theo văn bản kiến nghị và kháng nghị nếu có Qua việc thực hiện nghiêm túc, VKSND đã phát hiện một số bản án vi phạm tại cấp sơ thẩm.

8 Nội dung này Tác giả dựa vào kết quả của:

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm2017, Báo cáo số 216/BC-VKS ngày 05/12/2017 báo cáo tổng kết công tác năm 2017

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm 2018, Báo cáo số 266/BC-VKS ngày 05/12/2018 báo cáo tổng kết công tác năm 2018

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã công bố Báo cáo số 108/BC-VKS vào ngày 06/6/2019, sơ kết công tác năm 2019 Trong giai đoạn từ năm 2017 đến nửa đầu năm 2019, Viện đã ban hành một số kháng nghị phúc thẩm, đề nghị TAND cấp phúc thẩm xét xử các vụ án (Xin xem Bảng 2.2.)

Bảng 2.2 VKSND tỉnh Tây Ninh ban hành kháng nghị trong năm 2017 đến

Số vụ án VKSND kháng nghị 2 4 2 4 2 2

Số vụ án TAND chấp nhận kháng nghị

VKSND tỉnh Tây Ninh đã nỗ lực giảm thiểu số lượng án bị hủy và sửa có trách nhiệm qua các năm nhờ thực hiện quyền kháng nghị chất lượng và đúng pháp luật Tuy nhiên, vẫn còn một số vụ án bị hủy sửa do Viện Cấp cao, như thể hiện trong Bảng 2.3.

9 Nội dung này Tác giả dựa vào kết quả của:

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm2017, Báo cáo số 216/BC-VKS ngày 05/12/2017 báo cáo tổng kết công tác năm 2017

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm 2018, Báo cáo số 266/BC-VKS ngày 05/12/2018 báo cáo tổng kết công tác năm 2018

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã công bố Báo cáo số 108/BC-VKS vào ngày 06/6/2019, nhằm sơ kết công tác năm 2019.

Bảng 2.3 Số lượng vụ án bị hủy, sửa có trách nhiệm của VKSND tỉnh Tây Ninh 10

Số lượng án hủy, sửa có trách nhiệm của VKSND

Từ năm 2017 đến giữa năm 2019, VKSND tỉnh Tây Ninh đã đảm bảo 100% KSV tham gia phiên tòa giải quyết vụ án KDTM, đạt kết quả khả quan với chất lượng cao trong các kiến nghị và kháng nghị VKSND tỉnh đã ban hành nhiều thông báo rút kinh nghiệm và tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm, giúp nêu rõ ưu điểm và tồn tại của KSV trong quá trình xét xử Những phiên tòa này không chỉ mang lại kinh nghiệm cho KSV tham gia mà còn nâng cao nhận thức, kỹ năng và trình độ nghiệp vụ cho cán bộ, KSV khác trong đơn vị.

Thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đột phá từ năm 2017 đến nửa đầu năm 2019 là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát tuân thủ pháp luật trong giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại.

10 Nội dung này Tác giả dựa vào kết quả của:

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm2017, Báo cáo số 216/BC-VKS ngày 05/12/2017 báo cáo tổng kết công tác năm 2017

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm 2018, Báo cáo số 266/BC-VKS ngày 05/12/2018 báo cáo tổng kết công tác năm 2018

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã công bố Báo cáo số 108/BC-VKS vào ngày 06/6/2019, nhằm sơ kết công tác năm 2019.

Bảng 2.4 Nhiệm vụ đột phá giai đoạn 2017 - 6 tháng đầu năm 2019 11

NĂM NHIỆM VỤ ĐỘT PHÁ

Nâng cao chất lượng các phiên tòa rút kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự, dân sự và hành chính là mục tiêu quan trọng Đồng thời, cần tiếp tục giảm tỷ lệ án hủy và đảm bảo Viện kiểm sát thực hiện trách nhiệm sửa đổi một cách hiệu quả.

2018 Nâng cao chất lượng bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự, hành chính

Thực hiện các giải pháp nâng chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa

Chất lượng kiểm sát các vụ án kinh doanh thương mại (KDTM) ngày càng được cải thiện, với Kiểm sát viên (KSV) thực hiện đầy đủ thẩm quyền và giám sát chặt chẽ các bản án, quyết định của Tòa án KSV thường xuyên cập nhật văn bản pháp luật mới và tham gia các buổi sinh hoạt rút kinh nghiệm từ VKSND cấp trên để nâng cao kiến thức và kỹ năng Việc kịp thời phát hiện vi phạm giúp KSV có thể kháng nghị, kiến nghị, từ đó hạn chế tối đa án hủy và sửa có trách nhiệm của VKSND.

11 Nội dung này Tác giả dựa vào kết quả của:

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm2017, Báo cáo số 216/BC-VKS ngày 05/12/2017 báo cáo tổng kết công tác năm 2017

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm 2018, Báo cáo số 266/BC-VKS ngày 05/12/2018 báo cáo tổng kết công tác năm 2018

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã công bố Báo cáo số 108/BC-VKS vào ngày 06/6/2019, nhằm sơ kết công tác năm 2019.

Bảng 2.5 Thống kê một số chỉ tiêu công tác năm 2017, 2018 12

STT CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NĂM 2017 NĂM 2018

Số bản án, quyết định bị tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm xét xử tuyên hủy có trách nhiệm của VKSND

- Số lượng bản án, quyết định sơ thẩm được kiểm sát;

Tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm của Viện Kiểm sát Nhân dân cấp tỉnh đối với bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện là một yếu tố quan trọng trong quá trình xét xử Số lượng vụ án mà Tòa án cấp tỉnh xử lý theo thủ tục phúc thẩm, cùng với việc tuyên sửa hoặc hủy án, thường phản ánh trách nhiệm của Viện Kiểm sát Nhân dân cấp tỉnh trong việc đảm bảo tính chính xác và công bằng của các quyết định sơ thẩm.

Tỷ lệ vụ, việc VKSND bảo vệ kháng nghị phúc thẩm được Tòa án xét xử chấp nhận trên số vụ, việc VKSND nghị phúc thẩm được xét xử

05 Thông báo rút kinh nghiệm Số lượng 04 04

12 Nội dung này Tác giả dựa vào kết quả của:

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm2017, Báo cáo số 216/BC-VKS ngày 05/12/2017 báo cáo tổng kết công tác năm 2017

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, năm 2018, Báo cáo số 266/BC-VKS ngày 05/12/2018 báo cáo tổng kết công tác năm 2018

Thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh

2.3.1 Thuận lợi trong thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh

BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết vụ án KDTM của TAND, cũng như quyền năng pháp lý của VKSND trong việc kiểm sát các vụ án này VKSND tối cao cũng cung cấp hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong giải quyết vụ án KDTM, từ đó nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát trên toàn quốc.

VKSND các cấp lập kế hoạch công tác với chỉ tiêu cụ thể cho việc thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị và kháng nghị định kỳ hàng tháng, quý, năm Họ thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm để phát hiện vi phạm và hướng dẫn chung cho toàn Ngành Đồng thời, việc phổ biến thông tin cho KSV, KTV và chuyên viên trong quá trình kiểm sát là cần thiết để hỗ trợ lãnh đạo VKSND thực hiện quyền kháng nghị một cách chính xác và kịp thời trong giải quyết các vụ án KDTM.

Các cấp ủy Đảng và lãnh đạo VKSND luôn chú trọng đến việc kiểm sát tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự, đặc biệt là trong giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại Họ chỉ đạo KSV và KTV kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị và kháng nghị Đồng thời, lãnh đạo VKSND cũng chủ động rà soát, sắp xếp và kiện toàn bộ máy làm việc theo hướng tinh gọn, phù hợp với tình hình địa phương, nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ của KSV, KTV và cán bộ trong Ngành.

Trang thiết bị và phương tiện làm việc đã được trang bị đầy đủ để thực hiện số hóa hồ sơ khi Kiểm sát viên (KSV) tham gia phiên tòa Số hóa hồ sơ vụ án là bước đột phá lớn trong công tác phối hợp giữa Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) và Tòa án Nhân dân (TAND) Việc sử dụng hồ sơ bản án được số hóa và chứng cứ điện tử đã cho thấy hiệu quả rõ rệt, giúp TAND và VKSND dễ dàng nghiên cứu và khai thác thông tin, đảm bảo tính chính xác và nghiêm minh trong xét xử Số hóa hồ sơ vụ án không chỉ nâng cao tính thuyết phục đối với những người tham gia tố tụng mà còn được Hội đồng xét xử (HĐXX) ghi nhận và đánh giá cao về kỹ năng tranh tụng của KSV, đáp ứng tốt nhu cầu cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến quần chúng nhân dân.

2.3.2 Vướng mắc, bất cập khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh

2.3.2.1 Xác định quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp Để thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng, TAND phải dựa vào yêu cầu cụ thể của người khởi kiện để xác định quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp Từ đó, đối chiếu với các quy định về thẩm quyền của BLTTDS năm 2015 để xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự có thuộc thẩm quyền của TAND hay không Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự Tuy nhiên, trong thực tiễn việc phân biệt tranh chấp vụ án KDTM và tranh chấp dân sự vẫn còn có những quan điểm khác nhau Cụ thể:

Hiện nay, nhiều hộ gia đình và cá nhân không đăng ký kinh doanh đang gặp phải tranh chấp khi ký kết hợp đồng tín dụng với ngân hàng để vay vốn phát triển kinh tế, như chăn nuôi và trồng cây ăn quả Sự không hiệu quả trong kinh doanh dẫn đến việc không trả được nợ, từ đó phát sinh tranh chấp Tuy nhiên, việc xác định liệu những tranh chấp này thuộc loại tranh chấp kinh doanh thương mại hay tranh chấp dân sự vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.

Trong các vụ án mà Ngân hàng chính sách xã hội khởi kiện cá nhân có đăng ký kinh doanh, theo Điều 3 Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg, ngày 04/10/2002, hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội không nhằm mục đích lợi nhuận và được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán Do đó, tranh chấp này có thể được xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại hoặc tranh chấp dân sự.

Việc kiểm sát thụ lý và giải quyết vụ án cho thấy sự không thống nhất trong xác định tranh chấp do văn bản pháp luật thiếu rõ ràng và chồng chéo Cụ thể, Điều 30 BLTTDS năm 2015 quy định rằng tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền TAND là những tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với mục đích lợi nhuận Tuy nhiên, Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP lại cho phép Tòa kinh tế giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại ngay cả khi một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, miễn là có mục đích lợi nhuận.

Năm 2015, quy định rằng trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có sự khác biệt về cùng một vấn đề, văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được áp dụng Điều 30 BLTTDS năm 2015 được sử dụng để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, TAND đôi khi vẫn áp dụng Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP, dẫn đến sự không thống nhất giữa VKSND và TAND trong việc xác định quan hệ tranh chấp, gây khó khăn cho KSV trong quá trình kiểm sát KDTM.

2.3.2.2 Kiểm sát trả lại đơn khởi kiện

BLTTDS 2015 đã cập nhật nội dung mới về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, tạo điều kiện pháp lý cho VKSND nâng cao chất lượng kiểm sát Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chức năng này, vẫn tồn tại một số vướng mắc trong quy định pháp luật cần được sửa đổi và bổ sung để nâng cao hiệu quả kiểm sát.

Một là, về thời hạn gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện cho VKSND Khoản

Điều 192 BLTTDS năm 2015 quy định rằng Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện gửi cho VKSND cùng cấp, nhưng không quy định thời hạn TAND phải thông báo về việc này Việc thiếu quy định về thời gian gửi thông báo đã gây khó khăn cho công tác kiểm sát, dẫn đến việc kéo dài thời hạn giải quyết vụ án KDTM Nhiều vụ án thậm chí VKSND không nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, làm hạn chế chức năng kiểm sát của VKSND và ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ án cũng như quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong việc thu thập tài liệu liên quan đến đơn khởi kiện là rất quan trọng Để kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện, Kiểm sát viên cần nắm rõ nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán chỉ cần gửi văn bản trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát mà không bắt buộc phải cung cấp toàn bộ bản sao hồ sơ liên quan Điều này dẫn đến khó khăn trong việc kiểm sát, vì Viện kiểm sát chỉ có thể yêu cầu sao chụp tài liệu khi cần xem xét kiến nghị, theo khoản 1 Điều 21 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC Quy định này gây cản trở cho quá trình kiểm sát và ảnh hưởng đến thời gian cũng như chất lượng kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện.

Theo quy định tại khoản 3, Điều 194 BLTTDS năm 2015, phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại trả lại đơn khởi kiện phải có sự tham gia của đương sự và đại diện VKSND cùng cấp Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC cũng nêu rõ rằng Kiểm sát viên được phân công có trách nhiệm tham gia phiên họp này Nếu Kiểm sát viên vắng mặt, Thẩm phán vẫn có thể tiến hành phiên họp, trừ khi Viện kiểm sát có kiến nghị khác.

46

Ngày đăng: 28/07/2023, 16:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG  NỘI DUNG BẢNG  TRANG - (Luận văn) kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của viện kiểm sát nhân dân – lý luận và thực tiễn tại tỉnh tây ninh
BẢNG NỘI DUNG BẢNG TRANG (Trang 10)
Bảng  2.1.  Số  lượng  vụ  án  KDTM  tại  tỉnh  Tây  Ninh  được  thụ  lý  kiểm  sát  trong năm 2017, năm 2018, 6 tháng đầu năm 2019 8 - (Luận văn) kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của viện kiểm sát nhân dân – lý luận và thực tiễn tại tỉnh tây ninh
ng 2.1. Số lượng vụ án KDTM tại tỉnh Tây Ninh được thụ lý kiểm sát trong năm 2017, năm 2018, 6 tháng đầu năm 2019 8 (Trang 35)
Bảng 2.2. VKSND tỉnh Tây Ninh ban hành kháng nghị trong năm 2017 đến - (Luận văn) kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của viện kiểm sát nhân dân – lý luận và thực tiễn tại tỉnh tây ninh
Bảng 2.2. VKSND tỉnh Tây Ninh ban hành kháng nghị trong năm 2017 đến (Trang 36)
Bảng 2.3. Số lượng vụ án bị hủy, sửa có trách nhiệm của VKSND tỉnh Tây  Ninh 10 . - (Luận văn) kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của viện kiểm sát nhân dân – lý luận và thực tiễn tại tỉnh tây ninh
Bảng 2.3. Số lượng vụ án bị hủy, sửa có trách nhiệm của VKSND tỉnh Tây Ninh 10 (Trang 37)
Bảng 2.5. Thống kê một số chỉ tiêu công tác năm 2017, 2018 12 . - (Luận văn) kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại của viện kiểm sát nhân dân – lý luận và thực tiễn tại tỉnh tây ninh
Bảng 2.5. Thống kê một số chỉ tiêu công tác năm 2017, 2018 12 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm