Câu hỏi nghiên cứu
1 Nghề LSC và mô hình LSC ở các nước quy định ra sao?
2 Pháp luật hiện nay quy định về TGVPL như thế nào?
3 Thực tiễn tại Bến Tre TGVPL gặp khó khăn, vướng mắc gì?
Pháp luật về TGVPL cần được hoàn thiện để phù hợp hơn với mô hình LSC, nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi trong thực tiễn Việc cập nhật và điều chỉnh các quy định pháp lý sẽ giúp tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách liên quan.
Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích và đánh giá hiệu quả thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) theo mô hình LSC tại một số quốc gia trên thế giới Qua đó, nghiên cứu sẽ rút ra những kinh nghiệm quý báu nhằm hoàn thiện và xây dựng văn bản luật TGPL phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam.
Xây dựng đội ngũ TGVPL để từ “Trợ giúp viên pháp lý” thành “Luật sư công”.
Đối tượng nghiên cứu
Các văn bản pháp luật quy định TGPL (Luật TGPL năm 2006, Luật TGPL năm
2017, Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật
Tố tụng hành chính năm 2015).
Phạm vi nghiên cứu
- Mô hình LSC thực hiện TGPL ở nước Canada, Israel, Argentina
- TGVPL thực hiện TGPL ở Việt Nam và thực tiễn tại tỉnh Bến Tre.
Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát, nghiên cứu nghề LSC và mô hình LSC nước Canada, Israel, Argentina
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện TGPL của các TGVPL tại Bến Tre
- Hoàn thiện pháp luật về TGPL để chuyển từ TGVPL có đủ điều kiện trở thành LSC.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa ứng dụng của đề tài
Ý nghĩa về mặt khoa học
Luận văn này nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến Luật Trợ Giúp Pháp Lý (TGPL) năm 2006 và 2017, cùng với các văn bản quy phạm pháp luật khác Bài viết so sánh hoạt động TGPL theo mô hình LSC của một số quốc gia trên thế giới, từ đó xác định những điểm tương đồng và khác biệt một cách hệ thống Qua đó, luận văn rút ra những kinh nghiệm thực tiễn để áp dụng nhằm hoàn thiện pháp luật TGPL tại Việt Nam, đồng thời xây dựng đội ngũ TGVPL đủ điều kiện chuyển đổi thành LSC.
Ý nghĩa về mặt ứng dụng
Các quốc gia trên thế giới thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) thông qua các Trung tâm Trợ giúp Pháp lý (LSC), với mô hình LSC phát triển mạnh mẽ và hoạt động hiệu quả hơn so với luật sư tư Chính phủ luôn hỗ trợ về vật chất và kinh phí cho hoạt động của LSC Luật LSC được quy định rõ ràng và chặt chẽ, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tham gia tố tụng.
Việt Nam nên học hỏi các mô hình luật sư từ nước ngoài, do đó cần điều chỉnh Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) để chuyển đổi sang mô hình Luật sư cộng đồng (LSC) thay vì mô hình Trợ giúp viên pháp lý (TGVPL) cùng với một số văn bản luật khác Điều này sẽ tạo ra hai loại hình luật sư tại Việt Nam: LSC và luật sư tư Cả hai hình thức này đều có hoạt động tương tự, nhằm phục vụ cho những người dân có hoàn cảnh khó khăn về tài chính và yếu thế trong xã hội Chức danh LSC sẽ được nhiều người dân biết đến và hiểu rõ hơn về chức năng và nhiệm vụ của nó so với chức danh TGVPL.
Luận văn này nhằm mục đích học hỏi từ thực tiễn mô hình LSC của một số quốc gia trên thế giới để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TGVPL tại Việt Nam Bài viết sẽ điều chỉnh một số quy định pháp luật Việt Nam về TGPL nhằm chuyển đổi thành mô hình LSC, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của TGPL.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ CÔNG VÀ MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
KHÁI NIỆM NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ CÔNG
Sự phát triển không đồng đều trong xã hội dẫn đến tình trạng ức hiếp và đối xử bất công, đặc biệt đối với những người nghèo và có vị thế yếu kém Họ thường không được bảo vệ và khi bị xâm phạm quyền lợi hoặc bị buộc tội, họ cần sự hỗ trợ từ những người am hiểu pháp luật Để đảm bảo quyền bào chữa và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về luật sư, đánh dấu sự ra đời của nghề luật sư nhằm đáp ứng nhu cầu tư vấn pháp luật ngày càng tăng của cá nhân và tổ chức.
Pháp lệnh luật sư năm 1987 và Nghị định số 15/HĐBT ngày 21 tháng 12 năm
1989 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy chế Đoàn luật sư đã xác định luật sư thực hiện TGPL không thu phí
Bộ luật hình sự năm 1988, được Quốc hội thông qua vào ngày 29/6/1988, quy định rằng trong các trường hợp bị can hoặc bị cáo đối mặt với án tử hình, hoặc là người chưa thành niên, người có khuyết tật về thể chất hoặc tâm thần, nếu họ hoặc người đại diện hợp pháp không thể mời luật sư, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người tham gia bào chữa.
Ngày 25 tháng 7 năm 2001, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10 quy định luật sư Từ khi Pháp lệnh luật sư ban hành cho đến nay Quốc Hội đã ban hành và sửa đổi nhiều văn bản pháp luật quy định về nghề luật sư như Luật Luật sư năm 2006, Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 và văn bản hợp nhất của Văn phòng Quốc hội Luật Luật sư năm 2015 Kể từ thời điểm này nghề luật sư đóng vai trò quan trọng và phát triển mạnh mẽ trong xã hội Góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg hội chủ nghĩa Luật Luật sư năm 2006 và văn bản hợp nhất của Văn phòng Quốc hội có quy định: Điều 10 Tiêu chuẩn luật sư Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư 4 Điều kiện để bổ nhiệm luật sư cũng quy định rõ là người phải có bằng cử nhân luật và đăng ký đào tạo tại một khóa đào tạo nghề luật sư Sau khi hoàn thành khóa học và được cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư thì phải đăng ký tập sự tại một tổ chức hành nghề luật sư Hết thời gian tập sự phải được Liên đoàn luật sư Việt Nam tổ chức kiểm tra nếu đạt yêu cầu thì mới được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư Luật Luật sư cũng có quy định rõ quyền của luật sư là được ký hợp đồng thực hiện dịch vụ pháp lý với các đương sự và được hưởng phí dịch vụ từ hợp đồng vụ việc chỉ trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải có luật sư tham gia bào chữa Hình thức hoạt động pháp lý của Luật sư là thực hiện tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức Luật sư hoạt động dịch vụ pháp lý phải luôn tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, trung thực, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của mình Đối với khách hàng luôn tận tâm trong công việc và hạn chế rủi ro cho khách hàng Đối với quy định luật sư ở các nước trên thế giới nhìn chung cũng không khác gì quy định luật sư ở tại Việt Nam Luật sư thực hiện pháp lý là tư vấn pháp luật, bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người dân Luật sư được quyền ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với người yêu cầu cần luật sư bảo vệ, bào chữa Sau khi kết thúc vụ việc luật sư được nhận thù lao do người có yêu cầu chi trả (Thù lao của luật sư nhận theo khung giá quy định mà pháp luật tại nước sở tại cho phép) Luật sư hoạt động luôn tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp và pháp luật quy định nghề luật sư Mục tiêu chung luật sư là phục vụ dịch vụ pháp lý cho người có nhu cầu trợ giúp pháp luật
Điều 10 của Luật Luật sư năm 2006 quy định về "Tiêu chuẩn luật sư" Để tìm hiểu chi tiết, bạn có thể tải xuống tài liệu mới nhất qua email.
1.1.2 Luật sư công Ở Việt Nam nghề LSC chưa có quy định chức danh này mà chỉ có Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm TGPL Nhà nước làm cộng tác viên thực hiện TGPL miễn phí cho người dân thuộc đối tượng được hưởng dịch vụ pháp lý theo quy định Luật TGPL (Điều 17 Luật TGPL năm 2017) Luật sư cộng tác viên Trung tâm sau khi thực hiện xong vụ việc thì được nhà nước trả thù lao trích từ nguồn ngân sách và người dân không phải trả bất kỳ khoảng phí nào cho luật sư 5
Theo quy định của một số quốc gia như Canada, Israel và Argentina, LSC (Luật sư công) là những người thực hiện trợ giúp pháp lý, làm việc tại các cơ quan nhà nước với biên chế hoặc hợp đồng lao động Họ phải tuân thủ việc báo cáo công việc với thủ trưởng cơ quan và hoạt động của họ mang tính chất từ thiện, miễn phí cho người thụ hưởng dịch vụ LSC là công chức nhà nước, nhận lương ổn định từ ngân sách và các chính sách khác Họ hoạt động theo quy định của Luật LSC và tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp, đồng thời chịu sự quản lý và giám sát của Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp.
VAI TRÒ CHẾ ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ CÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
Nhu cầu tiếp cận dịch vụ pháp lý của những người có trình độ dân trí thấp và gặp khó khăn về tài chính là rất lớn, nhưng họ thường phải chi trả phí hợp đồng với luật sư, điều này gây khó khăn cho họ trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp Để hỗ trợ những đối tượng yếu thế này, một số quốc gia như Israel, Canada và Argentina đã triển khai mô hình LSC, cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những người cần thiết.
5 Trích Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 “Người thực hiện trợ giúp pháp lý”
LSC (Trung tâm Trợ giúp Pháp lý) đã chứng minh hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân, đặc biệt là những người nghèo và có khó khăn tài chính Hoạt động của LSC đã góp phần cải cách hệ thống tư pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho những người yếu thế trong xã hội tiếp cận dịch vụ pháp lý một cách nhanh chóng và kịp thời LSC không chỉ tiết kiệm chi phí và thời gian mà còn hợp tác chặt chẽ với các cơ quan Tòa án và Tư pháp, từ đó mở rộng ảnh hưởng đối với hệ thống pháp luật Chi phí cho hoạt động của LSC luôn thấp hơn so với luật sư tư, nhưng chất lượng dịch vụ không hề kém cạnh Mỗi quốc gia có LSC đều tuân thủ các quy định của Luật địa phương, như Luật LSC tại Israel năm 1995 và Luật về văn phòng LSC Liên bang Argentina năm 1988.
LSC là công chức nhà nước, nhận lương từ ngân sách và có trách nhiệm trong công việc Họ được đào tạo chuyên môn và hưởng nhiều chính sách như bảo hiểm y tế và phụ cấp LSC thực hiện TGPL cho những đối tượng yếu thế, không có khả năng tiếp cận thông tin pháp lý, giúp họ không phải chờ đợi hay chi tiền thuê luật sư Sự tham gia của LSC trong các cơ quan tố tụng góp phần ngăn chặn lạm quyền và sai lệch sự thật trong hoạt động tư pháp, khẳng định trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân.
Bài viết trích dẫn từ Phan Hà (2013) về chế định luật sư nhà nước ở một số quốc gia, nhấn mạnh vai trò quan trọng của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Luật sư không chỉ thực hiện nhiệm vụ được giao mà còn nỗ lực hoàn thành tốt công việc, đảm bảo sự công bằng và chính xác trong quá trình tư vấn pháp lý **Tóm tắt ý chính**- Luật sư nhà nước có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.- Họ luôn nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và thực hiện công việc một cách tốt nhất.
MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1 Luật sư công tại Israel
Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý về trợ giúp pháp lý (TGPL) tại Israel, tương tự như ở Việt Nam Bộ này chịu trách nhiệm về ngân sách nhà nước và quản lý nguồn lực cho việc thực hiện TGPL Ở Israel, TGPL chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực hình sự và dân sự, trong khi Việt Nam mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác, ngoại trừ kinh doanh và thương mại.
Mô hình LSC tại Israel hoạt động theo luật LSC được ban hành năm 1995 Các tổ chức Văn phòng LSC, do Văn phòng LSC cấp quốc gia thành lập, thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) Văn phòng này có trách nhiệm tuyển dụng và chi trả phí cho những người thực hiện TGPL trong các vụ án hình sự Các ban trong tổ chức Văn phòng LSC đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, bao gồm Ban vị thành niên, Ban trại giam và tù nhân, Ban tranh tụng, và Ban tạm giam.
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) của LSC diễn ra ngay khi đương sự bị bắt tại đồn cảnh sát, không yêu cầu xuất trình giấy tờ chứng minh quyền lợi TGPL miễn phí Dịch vụ TGPL được cung cấp 24/24h, tất cả các ngày trong tuần, bao gồm tư vấn tại nơi tạm giam, tham gia phiên tòa, hỗ trợ kháng cáo và thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến vụ án LSC thường xuyên thực hiện TGPL cho các tù nhân, với lịch vào nhà tù hai lần mỗi tuần để theo dõi và đảm bảo quyền lợi của họ Họ cũng hướng dẫn tù nhân gửi yêu cầu TGPL thông qua nhân viên tại nhà tù.
Nguyên tắc thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) tại Israel đảm bảo tính độc lập giữa công tố viên và luật sư công (LSC), với vị trí ngang bằng nhau, không có sự phân biệt LSC cam kết trung thành với khách hàng và bảo vệ lợi ích của thân chủ, đồng thời chịu trách nhiệm về các công việc đã thực hiện Tại Israel, LSC là công chức nhà nước, nhận lương từ ngân sách và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, trong khi ở Việt Nam, phần lớn trợ giúp pháp lý do viên chức đảm nhiệm, chỉ có giám đốc trung tâm TGPL là công chức.
Đối tượng được nhận sự trợ giúp pháp lý (TGPL) của LSC bao gồm những người thiệt thòi và dễ bị tổn thương, như trẻ vị thành niên, người có nguy cơ bị phạt tù, người khuyết tật, người gặp vấn đề về tâm thần, và những người có khó khăn về tài chính.
Những đối tượng được TGPL này cũng được quy định tương tự tại Điều 7 Luật TGPL năm 2017 của Việt Nam
Ngoài LSC, luật sư tư cũng tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) thông qua hợp đồng với Văn phòng LSC và nhận thù lao theo quy định pháp luật LSC chỉ thực hiện một số vụ án nhất định, trong khi phần còn lại được chỉ định cho luật sư tư, người sẽ được giám sát trong quá trình TGPL Cả LSC và luật sư tư đều nhận lương hàng tháng hoặc thù lao cho từng vụ án cụ thể.
Năm 1972, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) trong lĩnh vực dân sự được quy định bởi Luật TGPL và Quy chế TGPL năm 1973 Để quản lý và theo dõi hoạt động này, Bộ Tư pháp đã thành lập Cục TGPL, có nhiệm vụ quản lý các vụ án dân sự và các vấn đề liên quan đến TGPL Cục TGPL thực hiện các công việc TGPL, bảo vệ quyền lợi cho các đương sự như công ty và văn phòng luật sư tư Ngoài ra, Cục còn nghiên cứu và xây dựng các văn bản luật về chính sách TGPL, cũng như xét duyệt đơn xin yêu cầu TGPL của người dân.
Cục TGPL chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động trợ giúp pháp lý và xét duyệt đơn yêu cầu TGPL Người đứng đầu Cục TGPL là Cục trưởng cùng với các phòng ban liên quan.
Theo Phan Hà (2013) đã nghiên cứu về "Trợ giúp pháp lý ở Israel" trên trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam Bài viết nhấn mạnh vai trò của các phòng ban nghiệp vụ trong việc nhận và phân công án, đồng thời cung cấp thông tin hữu ích cho những người cần trợ giúp pháp lý.
Hình thức hoạt động của trợ giúp pháp lý (TGPL) chỉ dành cho những người có nhu cầu và gặp khó khăn về tài chính trong các vấn đề pháp luật theo quy định của luật TGPL dân sự Để được hưởng dịch vụ TGPL, người yêu cầu cần có nơi cư trú, nội dung yêu cầu rõ ràng, cơ sở pháp lý vững chắc (khả năng thắng kiện) và phải chứng minh tình trạng tài chính khó khăn thông qua việc kiểm tra thu nhập và tài sản.
Người thực hiện TGPL là LSC và luật sư tư ký hợp đồng với cơ quan TGPL
Văn phòng TGPL khu vực có quyền ký hợp đồng với các luật sư tư, và quá trình thực hiện TGPL của họ luôn được giám sát chặt chẽ Điều này đảm bảo rằng sự tham gia của luật sư tư vào vụ việc sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ cho người được TGPL Luật sư tư ký hợp đồng sẽ nhận thù lao cùng các chi phí liên quan như photo, in ấn tài liệu và thu thập chứng cứ Mô hình LSC của Israel tương tự với hoạt động TGPL tại Việt Nam, được điều chỉnh bởi Luật TGPL và có sự quản lý của Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp.
Chức năng trợ giúp pháp lý (TGPL) tại Argentina thuộc hệ thống cơ quan tư pháp, được điều chỉnh bởi Luật về văn phòng LSC Liên bang năm 1988 và thay thế bởi Luật Tổ chức về Văn phòng LSC Liên bang năm 2015 Cơ quan này thực hiện bào chữa và bảo vệ quyền con người, đảm bảo tiếp cận pháp lý hiệu quả Mục tiêu của TGPL là bảo vệ và bào chữa cho các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là những người yếu thế, tương tự như quy định của Luật TGPL tại Việt Nam.
Văn phòng LSC Liên bang đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nhân quyền cho những cá nhân dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực hình sự, dân sự và hành chính Các dịch vụ mà văn phòng cung cấp hoàn toàn miễn phí cho những người đủ điều kiện.
Văn phòng LSC Liên bang có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho những người có thu nhập thấp và dễ bị tổn thương, bao gồm cả lĩnh vực nhà ở và y tế Chủ tịch văn phòng phải là người Argentina, tốt nghiệp luật sư và có ít nhất 8 năm kinh nghiệm, được bổ nhiệm bởi Thượng viện quốc gia LSC Liên bang cũng thành lập các Ủy ban hỗ trợ để tiếp cận hiệu quả với các nhóm người khác nhau, như tù nhân, trẻ em, nạn nhân bạo lực giới và người tị nạn Hiện tại, có 16 Ủy ban hoạt động với chức năng hỗ trợ, và nhân viên tại các Ủy ban này được trả lương từ văn phòng LSC Liên bang.
Các LSC được tuyển dụng qua thi tuyển, với quy định bổ nhiệm, lương và chế độ chính sách tương tự như Thẩm phán và công tố viên Họ được bổ nhiệm đến 75 tuổi, trừ khi vi phạm đạo đức nghề nghiệp hoặc pháp luật nghiêm trọng Mỗi LSC có văn phòng làm việc riêng và được hỗ trợ bởi nhân viên, phân bố rải rác theo các khu vực nhất định.
SO SÁNH GIỮA MÔ HÌNH LUẬT SƯ CÔNG VÀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
Mô hình trợ giúp pháp lý (TGPL) tại Việt Nam tương đồng với mô hình của một số nước như Israel và Argentina, với mục đích chính là hỗ trợ pháp lý cho các đối tượng yếu thế, có trình độ văn hóa thấp và gặp khó khăn về tài chính, không đủ điều kiện tiếp cận pháp lý Cả hai mô hình đều được điều chỉnh bởi Luật TGPL, cho thấy sự nhất quán trong việc bảo vệ quyền lợi của những người cần trợ giúp pháp lý.
Người thực hiện TGPL LSC và TGVPL được tuyển dụng và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, cùng với nhiều chế độ phúc lợi khác như bảo hiểm và tham gia các khóa học nâng cao chuyên môn LSC hoạt động thông qua tư vấn, bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người dân, đồng thời thu thập tài liệu và chứng cứ để làm sáng tỏ vụ án TGVPL tham gia bào chữa và bảo vệ cho các đối tượng được TGPL tại các cơ quan tố tụng, và sau khi tiếp nhận vụ việc, họ tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, cũng như tiếp xúc với các đối tượng liên quan như bị can, bị cáo và đương sự.
Trợ giúp pháp lý ở Canada được thực hiện bởi các luật sư công, mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân Theo báo Pháp luật TP.Hồ Chí Minh, các luật sư này tham gia vào toàn bộ quá trình tố tụng, từ giai đoạn chuẩn bị cho đến khi kết thúc vụ án Đặc biệt, họ được trả lương từ ngân sách nhà nước, do đó không thu phí từ người dân, giúp đảm bảo quyền truy cập công bằng vào dịch vụ pháp lý.
TGVPL tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL), đã hỗ trợ hàng ngàn vụ án và tạo niềm tin cho người dân kể từ khi có quy định và Luật TGPL Tương tự như LSC, TGVPL thực hiện TGPL với chi phí và thời gian thấp, đồng thời chất lượng vụ việc cao hơn so với luật sư tư TGVPL được đào tạo bài bản và có đủ năng lực tham gia TGPL, tương tự như các luật sư đã qua đào tạo chuyên môn Cơ quan chịu trách nhiệm về hoạt động TGPL là Cục TGPL, được thành lập bởi Bộ Tư pháp.
Trong mô hình LSC, người thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) chủ yếu là công chức nhà nước, trong khi ở Việt Nam, hầu hết là viên chức nhà nước, ngoại trừ Giám Đốc Trung tâm TGPL Nhà nước là công chức Việt Nam có Trung tâm TGPL Nhà nước, với cơ quan quản lý trực tiếp là Sở.
Tư pháp của mỗi tỉnh và Cục Trợ giúp pháp lý (TGPL) thuộc Bộ Tư pháp theo dõi hoạt động TGPL Ở nước ngoài, mô hình LSC thường được quản lý trực tiếp bởi Cục TGPL hoặc Bộ Tư pháp Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hai mô hình luật sư: luật sư tư và LSC, trong khi Việt Nam chỉ có một mô hình luật sư và một hình thức TGPL.
Cả hai mô hình LSC và TGVPL tại Việt Nam đều có hình thức và mục đích hoạt động tương tự nhau Đối tượng được hưởng dịch vụ TGPL theo quy định của Luật TGPL năm 2017 cũng giống nhau Cả hai mô hình đều thực hiện tư vấn và tố tụng tại các cơ quan pháp luật, đồng thời thu thập chứng cứ và tài liệu cho từng vụ án Kết quả hoạt động của cả hai mô hình đều hiệu quả, tiết kiệm chi phí và chất lượng vụ việc không thua kém so với luật sư tư Đối tượng gặp khó khăn về pháp luật được hưởng TGPL miễn phí có thể tiếp cận pháp luật một cách nhanh chóng và thường xuyên.
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI VIỆT NAM
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ
2.1.1 Sự ra đời văn bản pháp luật quy định trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Trước năm 1975, mặc dù không có luật riêng về chức danh TGVPL hay LSC, nhưng hoạt động TGPL miễn phí cho người nghèo và các đối tượng khó khăn đã được quy định trong Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 Theo đó, bị can có thể nhờ một công dân không phải luật sư bào chữa, và nếu không có ai bênh vực, Chánh án có thể chỉ định người bào chữa mà không nhận thù lao Đến năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự quy định rõ về quyền bào chữa miễn phí cho bị can, bị cáo, đặc biệt là những người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, với sự tham gia của Đoàn luật sư khi cần thiết.
Sắc lệnh năm 1949 và Bộ luật hình sự năm 1988 đã chứng minh rằng trước năm 1975, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) miễn phí cho người dân đã tồn tại, mặc dù chưa được Đảng và nhà nước quan tâm nghiên cứu cho đến năm 1995 TGPL bắt đầu được nghiên cứu vào năm 1995 và chỉ chính thức đi vào hoạt động vào năm 1997, muộn hơn so với sự ra đời của nền Tư pháp Việt Nam.
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) đã được chú trọng nhằm hỗ trợ những đối tượng yếu thế trong xã hội, đặc biệt là người nghèo và người có công với cách mạng, giúp họ tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã góp phần nâng cao ý thức pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, và giảm thiểu các vụ khiếu kiện trái pháp luật TGPL không chỉ thúc đẩy pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn gắn bó với cơ sở, huy động sự tham gia của các lực lượng xã hội Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, Văn phòng Trung ương Đảng đã chỉ đạo mở rộng tư vấn pháp luật phổ thông, cung cấp dịch vụ TGPL miễn phí, từ đó tạo điều kiện cho người dân sống và làm việc theo pháp luật.
Tổ chức trung ương đã triển khai thí điểm thành lập tổ chức Trợ giúp pháp lý (TGPL), với Trung tâm TGPL Nhà nước đầu tiên được thành lập tại tỉnh Cần Thơ vào tháng 7 năm 1996, và tiếp theo là tại Hà Tây vào tháng 1 năm 1997.
Hà Tây là nơi hoạt động của hai trung tâm từ thiện, nhân đạo, thể hiện chính sách lớn của nhà nước Dựa trên thí điểm hoạt động, nhà nước đã mở rộng nhiều Trung tâm TGPL ở các tỉnh khác Bộ Tư pháp và Ban tổ chức Trung ương đã đề xuất lập Đề án xây dựng hệ thống TGPL, nhanh chóng được Thủ Tướng Chính phủ đồng ý Ngoài tư vấn pháp luật, hệ thống còn bổ sung hình thức đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người được hưởng TGPL tại các cơ quan tố tụng.
Năm 1997, tại kỳ họp thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thành lập tổ chức tư vấn pháp luật phục vụ cho các cơ quan nhà nước và nhân dân, đặc biệt là người nghèo và đối tượng chính sách, để họ được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách, đồng thời thành lập Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp Cục này có chức năng quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và thực hiện trợ giúp pháp lý khi cần thiết, trong khi đó, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ thành lập Trung tâm Trợ giúp pháp lý do Sở Tư pháp địa phương quản lý.
Ngày 01/3/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 05/2000/CT-TTg và
Bộ Tư pháp đã ban hành 16 văn bản hướng dẫn nhằm tăng cường công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) và nâng cao hiệu quả hoạt động này, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí Ngày 21/5/2002, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đến năm 2010, với mục tiêu tạo ra môi trường tăng trưởng nhanh, bền vững và giảm nghèo, đồng thời hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.
Tôi không biết!
Vào ngày 06 tháng 6 năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2003/NĐ-CP, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và các đối tượng khác theo quy định pháp luật Để triển khai TGPL trên toàn quốc, vào tháng 6/2006, 63 Trung tâm TGPL đã được thành lập tại 63 tỉnh, cùng với 199 chi nhánh và 4.345 Câu lạc bộ TGPL ở cấp xã, phường, thị trấn Hiện tại, có 483 người thực hiện TGPL và 1.055 cộng tác viên là luật sư, luật gia, cũng như những người đã nghỉ hưu trong lĩnh vực pháp luật Hoạt động TGPL đã phát triển và dần ổn định trên toàn quốc.
Vào ngày 29/6/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Trợ Giúp Pháp Lý (TGPL), có hiệu lực từ 01/01/2007, quy định về đối tượng TGPL, tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm người thực hiện TGPL Luật này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động TGPL tại Việt Nam Sau 10 năm thực hiện, Đảng và Nhà nước nhận thấy còn nhiều đối tượng chưa được hưởng TGPL, do đó cần mở rộng đối tượng bao gồm hộ cận nghèo bị buộc tội, người cao tuổi gặp khó khăn về tài chính, và trẻ em từ 16 đến dưới 18 tuổi bị buộc tội.
Chất lượng thực hiện các vụ việc trợ giúp pháp lý (TGPL) còn thấp, với năng lực chuyên môn của các tổ chức và cá nhân ký hợp đồng TGPL chưa đạt yêu cầu, dẫn đến sự thiếu tin tưởng từ người được TGPL Để khắc phục tình trạng này, vào ngày 20/6/2017, Quốc hội đã ban hành Luật TGPL năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 Luật này quy định rõ về đối tượng được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, hoạt động TGPL, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động TGPL.
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) được quy định bởi một số văn bản luật quan trọng, bao gồm Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017, hướng dẫn chi tiết về các điều của Luật TGPL và các thủ tục liên quan Ngoài ra, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cũng quy định về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trong đó có người bảo vệ quyền lợi (TGVPL) thực hiện TGPL Bộ Luật Tố tụng dân sự cũng có những quy định liên quan đến hoạt động này.
Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 75 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có trách nhiệm thực hiện trợ giúp pháp lý Đồng thời, điểm d khoản 2 Điều 72 cũng nêu rõ vai trò của người bào chữa trong quá trình tố tụng.
2.1.2 Luật Trợ giúp pháp lý quy định về hoạt động trợ giúp pháp lý
Quy định về phạm vi và hình thức thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) chỉ áp dụng tại địa phương nơi xảy ra tranh chấp hoặc nơi cư trú của người được TGPL, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ và tổ chức thực hiện TGPL TGPL chỉ được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, không bao gồm lĩnh vực kinh doanh, thương mại, vì đối tượng này có khả năng tài chính để thuê luật sư Trụ sở của tổ chức TGPL phải được bố trí thuận tiện cho người được TGPL, với niêm yết lịch tiếp, nội quy, danh sách người thực hiện TGPL và thông tin liên lạc Để được cử người tham gia TGPL, người yêu cầu phải nộp đơn và cung cấp giấy tờ chứng minh tư cách, đảm bảo thông tin chính xác và không giả mạo.
TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ TRONG QUY ĐỊNH LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
2.2.1 Tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý (Điều 19) 2.2.1.1 Khái niệm
TGVPL, hay Trợ giúp viên, là chức danh tại Việt Nam dành cho những người tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý Họ là viên chức nhà nước làm việc tại Trung tâm TGPL, và chức danh này được quy định bởi các tiêu chuẩn, điều kiện, quyền và nghĩa vụ cụ thể trong Luật TGPL.
2.2.1.2 Điều kiện bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý
Tiêu chuẩn TGVPL được Luật TGPL năm 2017 quy định có một số điểm mới so Luật TGPL năm 2006
Luật TGPL năm 2006 Tiêu chuẩn TGVPL
Luật TGPL năm 2017 Tiêu chuẩn TGVPL
- Có bằng cử nhân lực;
- Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;
- Có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên;
- Có trình độ cử nhân luật trở lên;
- Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL;
The probation period for legal practice is 12 months For the latest full download of the thesis, please contact via email at vbhtj mk gmail.com for the master's thesis.
Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2017 đã nâng cao tiêu chuẩn đào tạo cho TGVPL, yêu cầu họ phải hoàn thành 12 tháng học nghề luật sư trước khi được bổ nhiệm Sự thay đổi này xuất phát từ việc đánh giá chất lượng TGPL trong 8 năm thi hành Luật TGPL năm 2006 còn thấp và thiếu chuyên nghiệp Trước đây, TGVPL chỉ được đào tạo ngắn hạn (không quá 30 ngày), dẫn đến sự lúng túng khi tham gia tố tụng Với quy định mới, TGVPL sẽ được trang bị nhiều kỹ năng và kinh nghiệm thực tế qua quá trình học và tập sự 12 tháng, giúp họ tự tin hơn khi thực hiện TGPL Điều này không chỉ nâng cao chất lượng vụ việc TGPL mà còn giúp TGVPL hoạt động chuyên nghiệp hơn, tương đương với tiêu chuẩn của luật sư.
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã có những điểm mới nổi bật, cần được triển khai để nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý Sự gia tăng số vụ việc cho thấy vị trí quan trọng của luật này trong xã hội, đồng thời củng cố niềm tin của người dân vào dịch vụ trợ giúp pháp lý.
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý (Điều 18) 2.2.2.1 Quyền Trợ giúp viên pháp lý
TGVPL thực hiện quyền TGPL khi có yêu cầu từ đối tượng cần trợ giúp Quá trình này phải đảm bảo tính độc lập, không ai được phép cản trở, đe dọa, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật vào vụ việc TGPL TGVPL có quyền từ chối thực hiện TGPL nếu nhận thấy việc này không mang lại hiệu quả cho người được TGPL Ngoài ra, TGVPL cũng có quyền từ chối nếu đã hoặc đang thực hiện pháp lý cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc và được hưởng chế độ, chính sách theo quy định.
2.2.2.2 Nghĩa vụ Trợ giúp viên pháp lý
Nghĩa vụ TGVPL bao gồm việc đảm bảo chất lượng vụ việc TGPL, tuân thủ nguyên tắc hoạt động TGPL và nghiêm chỉnh chấp hành nội quy tại nơi thực hiện TGPL.
TGVPL có trách nhiệm bồi thường hoặc hoàn trả khoản tiền cho tổ chức thực hiện TGPL đã chi trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình trong quá trình thực hiện TGPL theo quy định pháp luật Đồng thời, TGVPL cần thực hiện nhiệm vụ được phân công và tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ.
2.2.3 Mối quan hệ giữa Trợ giúp viên pháp lý với người được trợ giúp pháp lý
Mối quan hệ giữa TGVPL và đối tượng được TGPL cho phép người thuộc diện TGPL yêu cầu TGVPL mà họ tin tưởng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Người được TGPL có quyền yêu cầu TGVPL giữ bí mật thông tin vụ việc Nếu TGVPL gây thiệt hại cho quyền lợi của người được TGPL, họ có quyền khiếu nại và yêu cầu bồi thường theo quy định pháp luật Đồng thời, người được TGPL cần hợp tác, cung cấp đầy đủ thông tin và tài liệu liên quan cho TGVPL.
Theo Điều 9 của TGVPL, tổ chức thực hiện TGPL có quyền từ chối cung cấp dịch vụ cho người được TGPL trong các trường hợp như đã hoặc đang thực hiện TGPL cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc, khi có khả năng cho thấy việc TGPL không mang lại hiệu quả cho họ, hoặc khi người được TGPL đã qua đời.