1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) hoàn thiện pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại việt nam

120 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam
Tác giả Diệp Hồng Khôn
Người hướng dẫn TS. Lê Văn Hưng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết nghiên cứu Cơ chế bảo hộ đối với NHNT mang đặc trưng khác biệt so với nhãn hiệu thông thường, theo đó nếu như một nhãn hiệu thông thường là đăng ký để được bảo hộ thì một NHN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ VĂN HƯNG

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi, tác giả của luận văn “Hoàn thiện pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam” xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

từ sự tìm tòi, thu thập và vận dụng các lý thuyết, dữ liệu và thông tin đã được công

bố dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Lê Văn Hưng

Các kết quả nghiên cứu, quan điểm học thuật cũng như ý tưởng và kết quả nghiên cứu của tác giả khác, nếu có đều được tôn trọng và trích dẫn nguồn cụ thể

Ý tưởng và nội dung đề tài luận văn này cho đến nay chưa được được công bố trên bất kỳ một phương tiện nào

Tôi xin đảm bảo về những lời cam đoan trên, nếu sai sẽ chịu trách nhiệm theo quy chế của nhà trường và pháp luật về sở hữu trí tuệ Việt Nam./

Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2018

Người cam đoan

Diệp Hồng Khôn

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN 3

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu 1

3 Tình hình nghiên cứu 2

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 6

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng 7

1.1 Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu và nhãn hiệu nổi tiếng 7

1.1.1 Lý luận về nhãn hiệu 7

1.1.2 Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu nổi tiếng 13

1.2 Pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại các Điều ước quốc tế 29

1.3 Bản khuyến nghị của Tổ chức Sở Hữu Trí Tuệ Thế Giới (WIPO) 32

1.4 Pháp luật đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại một số quốc gia trên thế giới 34

1.4.1 Hoa Kỳ 34

1.4.2 Liên Minh Châu Âu 35

1.4.3 Trung Quốc 36

1.4.4 Nhật Bản 45

1.5 Thực trạng pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 47

1.5.1 Lịch sử chế định pháp luật về nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 47

1.5.2 Đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 49

Chương 2: Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 52

2.1 Đánh giá chung về kết quả thực thi các quy định pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam qua các thời kỳ 52

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 5

2.1.1 Trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ 52

2.1.2 Sau khi có Luật Sở hữu trí tuệ 54

2.2 Những vướng mắc trong đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 59

2.2.1 Dưới góc độ cơ sở lý luận 59

2.2.2 Dưới góc độ thực tiễn thực thi 62

2.3 Đề xuất hoàn thiện 63

2.3.1 Các nguyên tắc đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng 63

2.3.2 Các đề xuất cụ thể 70

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

INTA Hiệp hội nhãn hiệu hàng hóa quốc tế

Luật SHTT Luật số 50/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005, hiệu lực ngày

01/07/2006 và đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19/06/2009, hiệu lực ngày 01/01/2010

SAIC Cơ quan quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại Trung Quốc

TRAB Ban giải quyết tranh chấp và khiếu nại nhãn hiệu

WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhãn hiệu là một đối tượng SHCN gắn liền với hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế Trong quá trình phát triển, cùng với việc ngày càng phổ biến của một loại hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã dẫn đến nhãn hiệu đó dần trở nên quen thuộc đối với người tiêu dùng Khi đạt đến mức độ được biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ quốc gia và có danh tiếng, uy tín nhất định thì nhãn hiệu đó trở thành NHNT NHNT là một tình trạng đặc biệt của một nhãn hiệu, vì vậy tất yếu dẫn đến phát sinh nhu cầu bảo hộ đối với NHNT nhằm hướng đến một số mục tiêu, lợi ích kinh tế - xã hội nói chung và bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của các chủ thể có liên quan

Tuy nhiên, đánh giá để công nhận một NHNT là một nghiệp vụ phức tạp và gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện ở nước ta, từ đó ảnh hưởng đến việc thực thi bảo hộ NHNT Trong khi đó, việc bảo hộ NHNT là một nghĩa

vụ pháp lý của một quốc gia trong các Điều ước quốc tế về SHTT, đồng thời cũng là một yêu cầu khách quan của thực tiễn

2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu 2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Cơ chế bảo hộ đối với NHNT mang đặc trưng khác biệt so với nhãn hiệu thông thường, theo đó nếu như một nhãn hiệu thông thường là đăng ký để được bảo hộ thì một NHNT được muốn bảo hộ, trước hết phải công nhận nhãn hiệu đó đạt tình trạng nổi tiếng thông qua việc đánh giá các tiêu chí do pháp luật quy định

Tiêu chí đánh giá NHNT là một tập hợp các tính chất, dấu hiệu do pháp luật quy định làm căn cứ để nhận biết một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng trên thị trường

Thông qua các tài liệu, thông tin cụ thể được cung cấp và chứng minh bởi chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc do cơ quan có thẩm quyền tập hợp, thống kê để làm căn cứ xem xét, đánh giá, từ đó đưa ra kết luận nhãn hiệu đó có đạt tình trạng nổi tiếng hay không?

Tuy nhiên, để thực hiện đánh giá và công nhận một NHNT trên thực tiễn thì cần phải

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 8

làm sáng tỏ vấn đề cơ bản liên quan đến NHNT Trong phạm vi của đề tài này, tác giả đã đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cụ thể, trước hết là những câu hỏi giải quyết những vấn đề cơ bản của NHNT đến những câu hỏi nghiên cứu trực tiếp giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra, đó là đánh giá và công nhận NHNT

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể bao gồm:

(1) NHNT có đặc điểm và vai trò gì (trong mối quan hệ so sánh với nhãn hiệu thông thường)?

(2) Cơ chế bảo hộ đối với NHNT mang đặc trưng và có khác biệt như thế nào

so với nhãn hiệu thông thường?

(3) Việc đánh giá và công nhận NHNT được các Điều ước quốc tế, cộng đồng quốc tế về SHTT, pháp luật một số nước và tại Việt Nam được quy định như thế nào?

(4) Việc đánh giá và công nhận NHNT tại Việt Nam còn tồn tại những vướng mắc, bất cập nào dưới góc độ cơ sở lý luận và thực tiễn thực thi cần phải được hoàn thiện?

3 Tình hình nghiên cứu

NHNT không phải là một đề tài mới vì đã được nhiều học giả trong và ngoài nước khai thác ở nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn khác nhau Trong đó các đề tài được nhiều học giả nghiên cứu nhất là cơ chế pháp lý về bảo hộ đối với NHNT

Các công trình trong nước, có Luận án Tiến sỹ “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng – Nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam” của tác giả Phan Ngọc Tâm Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về cơ chế bảo hộ NHNT trên quan điểm pháp luật Việt Nam và Liên minh Châu Âu Công trình nghiên cứu mới nhất về bảo hộ NHNT là Báo cáo nghiên cứu “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện” Đây là công trình nghiên cứu công phu của hai tác giả Phan Ngọc Tâm và Lê Quang Vinh trong khuôn khổ của “Dự án nhãn hiệu nổi tiếng” do Thanh tra Bộ KHCN phối hợp với Hiệp hội nhãn hiệu hàng hóa quốc tế (INTA) tổ chức nhằm đánh giá các quy định

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 9

pháp luật hiện hành, các vướng mắc thực tiễn đối với việc bảo hộ và thực thi quyền đối với NHNT tại Việt Nam và đề xuất phương hướng điều chỉnh Luật SHTT

Các công trình nước ngoài tiêu biểu có tác phẩm “Famous and well-known marks – An international analysis” của tác giả Frederick W Mostert, cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc thực thi cơ chế bảo hộ NHNT, đặc biệt tác giả có đề cập đến các tiêu chí đánh giá NHNT Công trình nghiên cứu “The protection of well-known marks in Asia” của tác giả Christopher Heath và Kung – Chung Liu, trong đó những vấn đề liên quan đến bảo hộ NHNT được công trình nghiên cứu này giải quyết trên cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó góp phần quan trọng trong việc so sánh về cơ chế pháp lý bảo hộ NHNT giữa các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới Bên cạnh đó, các bài báo, bài viết và công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới góp phần hoàn thiện lý luận chung và phản ánh thực tiễn trong việc bảo hộ NHNT nói chung và vấn đề đánh giá và công nhận NHNT nói riêng

Như vậy, có thể thấy vấn đề về đánh giá và công nhận NHNT, mặc dù là một phần trong tổng thể của cơ chế bảo hộ NHNT nhưng chưa được chú trọng khai thác nghiên cứu chuyên sâu

Để giải quyết vấn đề đặt ra của đối tượng nghiên cứu, tác giả đi từ giải quyết những vấn đề cơ bản của nhãn hiệu và NHNT (Chương 1 và 2) đến những vấn đề trực tiếp làm sáng tỏ nội dung đề tài (Chương 3)

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Như đã trình bày tại mục 3, NHNT đã được nhiều học giả trong và ngoài nước khai thác ở nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn khác nhau Trong đó các đề tài được nhiều học giả nghiên cứu nhất là cơ chế pháp lý về bảo hộ đối với NHNT Tuy vậy, vấn đề về đánh giá và công nhận NHNT, mặc dù là một phần trong tổng thể của cơ chế bảo hộ NHNT nhưng chưa được chú trọng khai thác nghiên cứu chuyên sâu

Chính vì vậy, đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là việc đánh giá và công nhận NHNT nhằm làm rõ các quan điểm về NHNT, các tiêu chí đánh giá để công nhận một NHNT, cơ quan có thẩm quyền đánh giá, công nhận; giá trị pháp lý của việc công

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 10

nhận NHNT và các vấn đề pháp lý khác có liên quan Từ đó đóng góp vào hệ thống

lý luận về NHNT thông qua nghiên cứu các quy định của các Điều ước quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới điều chỉnh về NHNT Cuối cùng là đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về đánh giá và công nhận NHNT phù hợp với bối cảnh và mục đích của việc công nhận NHNT ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quan điểm về NHNT, các tiêu chí đánh giá

để công nhận NHNT trong các Điều ước quốc tế như Công ước Paris1, Hiệp định TRIPs2, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các khuyến nghị không mang tính ràng buộc của Tổ chức SHTT thế giới Đồng thời nghiên cứu và so sánh quan điểm của một số hệ thống pháp luật như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam để có cái nhìn tổng quan về bản chất, ý nghĩa của đánh giá và công nhận NHNT; cơ chế công nhận NHNT, các tiêu chí và phương pháp đánh giá để công nhận NHNT; cơ quan có thẩm quyền trong việc công nhận NHNT và một số vấn đề pháp lý liên quan

Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu pháp luật bao gồm:

5.1 Phương pháp pháp lý truyền thống

Đây là phương pháp nghiên cứu pháp luật được thực hiện thông qua việc phân tích, đánh giá và diễn giải nội dung của quy định của pháp luật liên quan đến đánh giá và công nhận NHNT để từ đó làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận và thực tiễn của đối tượng nghiên cứu

2 Hiệp định TRIPs về các khía cạnh liên quan tới thương mại của Quyền SHTT 1994 (sau đây gọi tắt là Hiệp định TRIPs)

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 11

đánh giá và công nhận NHNT ở các hệ thống pháp luật để thấy được sự khác biệt và tương đồng một cách khái quát nhất

5.3 Phương pháp pháp lý lịch sử

Đây là phương pháp nghiên cứu pháp luật được thực hiện trên cơ sở tìm hiểu

sự phát triển của một chế định pháp luật trong lịch sử lập pháp của một hệ thống pháp luật quốc gia hay ở phạm vi quốc tế tại các điều ước quốc tế Phương pháp pháp lý lịch sử giúp các nhà nghiên cứu hiểu được nguồn gốc, quá trình và quy luật phát triển

để từ đó có thể dự báo xu hướng phát triển của chúng trong tương lai Đồng thời, phương pháp pháp lý lịch sử còn giúp nhà nghiên cứu tìm ra những sự giải thích hợp

lý và khoa học cho những vấn đề pháp lý được đặt ra của đối tượng nghiên cứu

5.4 Phương pháp pháp lý kinh tế

Phương pháp pháp lý kinh tế là sự kết hợp giữa nghiên cứu pháp luật với kinh

tế xuất phát từ mối liên hệ chặt chẽ của chúng với nhau Nghiên cứu lĩnh vực pháp luật về SHTT càng không thể tách khỏi các yếu tố kinh tế Các nguyên tắc, học thuyết kinh tế cho phép giải thích một cách hiệu quả, thuyết phục những vấn đề pháp lý liên quan đến quyền và thực thi quyền SHTT để từ đó thấy được giá trị kinh tế cũng như vai trò, tầm quan trọng của chúng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp

Phương pháp pháp lý xã hội được xác lập dựa trên việc giải quyết mối quan hệ tương tác biện chứng giữa pháp luật và xã hội Sự tác động của các quy phạm pháp luật sau khi được ban hành đến đời sống xã hội và ngược lại, các thực trạng và các điều kiện xã hội sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tính khả thi, hiệu quả của các quy phạm pháp luật, đặc biệt là những vấn đề pháp lý có khuynh hướng định tính hơn là định lượng như việc đánh giá và công nhận NHNT

Các phương pháp nghiên cứu nêu trên còn được tác giả sử dụng kết hợp với phương pháp nghiên cứu đọc hiểu, tổng hợp, phân tích, đánh giá, suy luận trực tiếp

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 12

trên tài liệu, sách vở, các trang thông tin điện tử (internet) nhằm giải quyết một cách hiệu quả nhất đối với các câu hỏi nghiên cứu mà đề tài đặt ra

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, việc đánh giá và công nhận NHNT

có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu Trong khi đó pháp luật về đánh giá và công nhận NHNT tại Việt Nam đã tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, có thể kể một vài điển hình như: (1) Nhiều tiêu chí đánh giá để công nhận NHNT chưa được cụ thể và còn định tính3; (2) Chưa xác định các trường hợp cụ thể được công nhận NHNT; (3) Chưa phân định rõ ràng

cơ quan có thẩm quyền công nhận NHNT

Chính vì vậy, luận văn này sẽ đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của ý nghĩa, bản chất pháp lý, kinh tế - xã hội, cơ chế công nhận NHNT, các tiêu chí

và phương pháp đánh giá để công nhận một NHNT, cơ quan có thẩm quyền trong việc công nhận NHNT và các vấn đề pháp lý khác có liên quan, từ đó đề xuất các hướng hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam trên cơ sở phù hợp với bản chất khách quan và yêu cầu thực tiễn ở nước ta

Trang 13

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về đánh giá và công

nhận nhãn hiệu nổi tiếng 1.1 Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu và nhãn hiệu nổi tiếng 1.1.1 Lý luận về nhãn hiệu

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nhãn hiệu

Trước khi thuật ngữ “nhãn hiệu” được sử dụng rộng rãi và điều chỉnh bởi pháp luật thì hình thức biểu hiện và cách thức tồn tại của nó đã xuất hiện từ khá sớm

Những người thợ Ấn Độ, thương nhân Trung Quốc thời cổ đại cách nay khoảng 2000 ngàn năm đã sử dụng các biểu tượng, ký hiệu dưới dạng hình vẽ, chữ viết, chữ số…

chạm khắc, đục… trên các sản phẩm mà mình tạo ra hoặc buôn bán nhằm mục đích phân biệt các sản phẩm trên thị trường Tuy nhiên, khi đó việc tạo ra và sử dụng chúng chỉ mang tính chất tự phát mà chưa thành một nhu cầu phổ biến

Với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế thị trường được vận hành, sản phẩm hàng hóa không ngừng tăng về số lượng và chủng loại, người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn dẫn đến sự cạnh tranh giữa các thương nhân trên thị trường

Trong đó có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, phổ biến và sớm nhất là hành vi làm giả các sản phẩm được sử dụng phổ biến, vốn quen thuộc với người tiêu dùng Tại nước Anh, vào thế kỷ XVIII, các thương nhân lớn đã phản ánh tình trạng các sản phẩm của họ bị làm giả, vì vậy để tránh tình trạng này, nước Anh được cho

là quốc gia đầu tiên ban hành luật về bảo hộ độc quyền nhãn hiệu4 Từ đó khởi đầu cho việc sử dụng rộng rãi và phổ biến của thuật ngữ “nhãn hiệu” trên thị trường và lịch sử pháp luật về quyền SHTT đối với nhãn hiệu

Ngày nay, nhãn hiệu, cùng với quyền tác giả và các đối tượng khác của quyền SHCN

là những tài sản quan trọng của các doanh nghiệp và khái niệm nhãn hiệu đã dần trở nên quen thuộc trong đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một nội dung thống nhất nào để diễn giải nội hàm của thuật ngữ “nhãn hiệu”, chẳng hạn:

Trang 14

Theo Điều 15.1 của Hiệp định TRIPs định nghĩa về nhãn hiệu như sau:

“Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu, bao gồm các dấu hiệu nhìn thấy được như chữ cái, chữ số, hình họa và dấu hiệu không nhìn thấy được như

âm thanh, mùi, vị nếu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể được đăng ký làm nhãn hiệu”

Tại Hoa Kỳ, Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) cho rằng nhãn hiệu, bao gồm nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ được hiểu là bất kỳ từ ngữ, tên gọi, dấu hiệu, hình vẽ hoặc sự kết hợp của chúng được sử dụng hoặc sẽ được

sử dụng trong thương mại nhằm xác định nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể kinh doanh với hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác5;

Theo Liên minh Châu Âu, luật nhãn hiệu quy định “nhãn hiệu có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào có thể được thể hiện một cách cụ thể và rõ ràng dưới dạng các

từ, bao gồm tên riêng, hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng hoặc bao bì của hàng hóa, với điều kiện là chúng có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác”6;

Tại Khoản 16 Điều 4 của Luật SHTT Việt Nam quy định: “nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”

Mặc dù, hiện nay có nhiều định nghĩa về nhãn hiệu, nhưng các định nghĩa về nhãn hiệu đều thống nhất những nội dung cơ bản của nhãn hiệu, đây cũng là những đặc điểm của nhãn hiệu:

Một là, nhãn hiệu là dấu hiệu có thể nhìn thấy được như chữ cái, từ ngữ, hình

vẽ, hình ảnh,… đến cả những nhãn hiệu không nhìn thấy được như âm thanh, mùi,

Tùy vào mỗi quốc gia mà việc mở rộng các dấu hiệu có thể đăng ký nhãn hiệu là khác nhau, chẳng hạn tại Hoa Kỳ, cho phép mở rộng đăng ký nhãn hiệu âm thanh, mùi

5 Xem thêm tại http://www.uspto.gov/web/menu/intro.html

6 Điều 2, Chỉ thị 89/104/EEC năm 1988

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 15

Trong khi đó, pháp luật SHTT Việt Nam chưa có quy định nào liên quan đến xem xét

và đăng ký các nhãn hiệu dưới dạng các dấu hiệu này

Hai là, nhãn hiệu là dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ

sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác trên thị trường Đặc điểm này của nhãn hiệu mang đến rất nhiều ý nghĩa trong thực tiễn, khả năng phân biệt của nhãn hiệu càng mạnh, kết hợp với các yếu tố nội tại của hàng hóa, dịch vụ và khả năng kinh doanh chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ mang lại sự thu hút, chú ý của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu đó Ngoài ra, khả năng phân biệt của nhãn hiệu còn có ý nghĩa trong việc chống lại những hành vi cố ý gây nhầm lẫn của cá nhân, tổ chức khác nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu để cạnh tranh không lành mạnh, qua đó bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và chủ sở hữu nhãn hiệu

Ba là, nhãn hiệu là một tài sản vô hình của chủ thể kinh doanh có khả năng định giá được để lưu thông trên thị trường Giá trị của nhãn hiệu thể hiện rõ nhất khi chúng được chuyển nhượng trên thị trường

Bốn là, quyền SHTT đối với nhãn hiệu chỉ được phát sinh khi nó đã được đăng

ký bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định

Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hầu hết các quốc gia theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (first to file), bên cạnh đó cũng có một số quốc gia áp dụng thêm nguyên tắc ưu tiên cho quyền sử dụng trước (first to use) Tuy nhiên, đối với NHNT, cơ chế bảo hộ có

sự khác biệt và mang đặc trưng riêng so với nhãn hiệu thông thường, vấn đề này sẽ được nghiên cứu, làm rõ trong phần sau của luận văn này

1.1.1.2 Vai trò của nhãn hiệu

Vai trò của nhãn hiệu được biểu hiện bởi các chức năng của một nhãn hiệu, hiện nay với sự phát triển của nền thương mại hàng hóa, dịch vụ thì nhãn hiệu càng giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống tài sản trí tuệ của doanh nghiệp cũng như thỏa mãn các yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Nhìn chung, nhãn hiệu thể hiện các vai trò như sau:

Tạo cầu nối giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ:

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 16

Vai trò này của nhãn hiệu xuất phát từ chức năng xác định nguồn gốc hàng hóa của nhãn hiệu Nhãn hiệu mang đến những thông tin chỉ dẫn về xuất xứ, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ Đồng thời nhãn hiệu cũng cho người tiêu dùng biết rằng nhãn hiệu đó thuộc về một nhà sản xuất hoặc nhà cung ứng dịch vụ cụ thể chứ không phải bất cứ chủ thể nào khác kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Bất

kỳ các vấn đề liên quan đến sản phẩm, dịch vụ, người tiêu dùng đều có thể trực tiếp liên hệ hoặc phản ánh thông qua bên thứ ba đến nhà sản xuất Ở chiều ngược lại, thông qua các thông tin phản ánh, dư luận xã hội đối nhãn hiệu, nhà sản xuất sẽ có nguồn thông tin khách quan để xây dựng các chiến lược phát triển sản phẩm, dịch vụ

để tiếp tục phục vụ thị hiếu người tiêu dùng, từ đó phát triển nhãn hiệu của mình ở một tầm vóc mới

Tạo ấn tượng về hàng hóa, dịch vụ trên thị trường:

Khi nhãn hiệu được gắn và sử dụng với một loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể sẽ tạo nên sự cạnh tranh trên thị trường đối với các chủ thể kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch vụ Môi trường cạnh tranh hoàn hảo luôn là môi trường mà có nhiều chủ thể kinh doanh cùng loại hàng hóa, lĩnh vực dịch vụ Vì vậy, một thị trường mà người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn thay thế thì lúc đó nhãn hiệu sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định vị trí của nó trong tâm trí người tiêu dùng Nhãn hiệu có thể gây sự chú ý đến người tiêu dùng bằng nhiều cách thức khác nhau, chẳng hạn như yếu tố thẩm mỹ, hình thức đặc trưng của nhãn hiệu Tuy nhiên, hầu hết hiện nay các chủ thể kinh doanh cho rằng một nhãn hiệu có mức độ danh tiếng cao (thông qua các

số liệu về sức mua hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu) mới là yếu tố để lại ấn tượng sâu đậm, bền vững đối với người tiêu dùng Có nhiều yếu tố để tạo nên uy tín, danh tiếng cho nhãn hiệu, tuy nhiên yếu tố cơ bản là chất lượng của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó, bởi vì đây là một trong các yếu tố kích thích người tiêu dùng tiếp tục mua thêm hàng hóa, sử dụng dịch vụ, và cũng từ đây nhãn hiệu ngày càng trở thành một ấn tượng mạnh mẽ của người tiêu dùng khi lựa chọn hàng hóa, dịch vụ

Ngày càng trở thành một tài sản quan trọng của doanh nghiệp:

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 17

Vai trò của nhãn hiệu ngày nay, cũng như các tài sản trí tuệ khác của doanh nghiệp trong cách mạng công nghệ 4.0 đang ngày một trở nên quan trọng, nhất là đối với những nhãn hiệu mạnh đã khẳng định được uy tín trên thị trường Đặc biệt, đối với các NHNT thì giá trị của nhãn hiệu không chỉ đại diện cho tài sản của doanh nghiệp, thậm chí trong một số trường hợp còn trở thành một biểu tượng kinh doanh, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc gia nơi có nhãn hiệu đó được sử dụng và kinh doanh Việc định giá một nhãn hiệu đã trở thành một nghiệp vụ quen thuộc và

là một phần không thể thiếu trong quá trình đánh giá tài sản doanh nghiệp

1.1.1.3 Khái quát chung pháp luật về nhãn hiệu

Pháp luật về nhãn hiệu ra đời một tất yếu của lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, bản chất pháp luật về nhãn hiệu nói riêng và quyền SHTT nói chung là một chế định pháp luật về tài sản và quyền sở hữu Do đó, pháp luật về nhãn hiệu ra đời trước hết nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu nhãn hiệu, tiếp đó là nhằm đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể có liên quan và lợi ích chung của xã hội

Thực tiễn đã cho thấy, pháp luật về nhãn hiệu ra đời trong xã hội tư hữu đã phát triển nền kinh tế thị trường, cụ thể các nghiên cứu chỉ ra rằng, luật về nhãn hiệu đã xuất hiện vào những năm 1800 tại nước Anh với đạo luật nền tảng là Đạo Luật đăng

ký nhãn hiệu (1875) và Đạo Luật về Nhãn hiệu thương mại (1862)7 sau khi tại nước Anh đã phát sinh một số vụ kiện tụng liên quan đến nhãn hiệu8 Tại Hoa Kỳ cũng có những vụ việc nổi tiếng tạo thành án lệ về bảo hộ nhãn hiệu được giải quyết bởi Tòa

án tối cao Hoa Kỳ9 Pháp luật về nhãn hiệu sơ khai ra đời dựa trên thực trạng giả mạo hàng hóa của các chủ thể kinh doanh hoặc tình trạng cố tình gây ra nhầm lẫn hàng hóa của một bộ phận thương nhân để trục lợi, vì vậy luật về nhãn hiệu sơ khai nhằm mục đích ngăn chặn sự nhầm lẫn hàng hóa của các chủ thể kinh doanh trên thị trường

7 David I Bainbridge (2007, trang 586)

8 Một số vụ kiện nổi bật như Southern v How năm 1618, vụ Blanchard v Hill năm 1742, vụ Sykes v Sykes năm

1824, theo Mark P.MC Kenna (2007, Vol 82:5)

9 Một số vụ nổi bật như: United States v Steffens, United States v Wittemean and United States v Johnson, xem tại: <http://caselaw.lp.findlaw.com/cgi-bin/getcas.pl?count=us&vol=100&invol=82>

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 18

Từ nền tảng hệ thống thông luật, các chế định pháp luật thành văn về nhãn hiệu cũng được ra đời, cho đến nay, pháp luật về nhãn hiệu không ngừng hoàn thiện và trở nên phổ biến ở mọi quốc gia Sự ra đời và phát triển của pháp luật về nhãn hiệu góp phần giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội, cụ thể:

Góp phần ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

Bảo hộ nhãn hiệu sẽ giúp cho chủ sở hữu nhãn hiệu được độc quyền sử dụng nhãn hiệu của mình đối với các hàng hóa, dịch vụ được cung cấp trên thị trường bởi chủ sở hữu đó Từ đó, chủ sở hữu nhãn hiệu ngăn chặn các hành vi cố tình bắt chước hay gây nhầm lẫn hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác trong cùng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Trong thời gian đầu của pháp luật nhãn hiệu, giải quyết vấn đề này được coi trọng nhất, bởi lẽ, việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm nhãn hiệu để cạnh tranh không lành mạnh là nguyên nhân đầu tiên cho sự ra đời của pháp luật về nhãn hiệu

Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng:

Quyền lợi người tiêu dùng đôi khi là một cơ sở để đánh giá, chứng minh một hành vi cạnh không lành mạnh của một chủ thể kinh doanh khi hậu quả của việc giả mạo, gây nhầm lẫn nhãn hiệu khác làm cho người tiêu dùng mua phải những sản phẩm kém chất lượng không phù hợp với mong đợi của họ Cùng với sự phát triển của pháp luật về nhãn hiệu, quyền lợi của người tiêu dùng đã trở thành một mối quan tâm tất yếu của pháp luật về nhãn hiệu

Tạo tâm lý an toàn cho nhà đầu tư:

Thông qua việc bảo hộ nhãn hiệu, “nhà đầu tư có thể an tâm đầu tư nhãn hiệu vào thị trường với sự tin tưởng rằng không ai có thể chiếm đoạt nó”10 Từ đó làm cho nhà đầu tư có ý thức hơn trong việc sử dụng nhãn hiệu của mình và gián tiếp tạo sự ràng buộc đảm bảo hoặc thậm chí trở thành động lực để tăng chất lượng hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh

10 Robert G.Bone, (2004, trang 2108)

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 19

1.1.2 Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu nổi tiếng 1.1.2.1 Định nghĩa nhãn hiệu nổi tiếng

NHNT trước hết là một nhãn hiệu cụ thể, theo cách hiểu thông thường, đó là nhãn hiệu đã trải qua quá trình sử dụng liên tục cho hàng hóa, dịch vụ và được nhiều người tiêu dùng biết đến Xét về mặt bản chất đây là một tình trạng đặc biệt của nhãn hiệu – đó là sự nổi tiếng của nhãn hiệu Mặc dù khái niệm về NHNT đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội, tuy nhiên thuật ngữ “NHNT” chỉ được chính thức hóa bởi Công ước Paris, thông qua việc đề cập đến nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc từ chối đăng ký, hủy bỏ đăng ký và ngăn cấm sử dụng đối với một nhãn hiệu mà nó có khả năng gây nhầm lẫn với một NHNT11 Công ước Paris không đưa ra bất kỳ một định nghĩa pháp lý chính thức nào về NHNT, tương tự như vậy đối với Hiệp định TRIPs, mặc dù Hiệp định này mở rộng bảo hộ NHNT đối với dịch vụ, đồng thời quy định một số căn cứ chung để xác định một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng, trong khi

đó cũng không có một định nghĩa pháp lý chính thức về NHNT

Các Điều ước quốc tế đều không định nghĩa về NHNT, do vậy định nghĩa NHNT được đưa ra dưới góc nhìn của mỗi quốc gia Tuy nhiên, không phải pháp luật quốc gia nào cũng có định nghĩa về NHNT, thậm chí một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và luật chung của Liên minh Châu Âu cũng không đưa ra một định nghĩa chính thức về NHNT Nhìn chung, định nghĩa về NHNT tại các quốc gia dưới hai hình thức cơ bản:

Các định nghĩa NHNT tập trung vào giải thích nội hàm của khái niệm nổi tiếng của nhãn hiệu, chẳng hạn Bộ Luật SHTT của Pháp đưa ra định nghĩa NHNT là nhãn hiệu được công nhận bởi một tỷ lệ lớn người tiêu dùng hay bộ phận công chúng có liên quan đến quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng hàng hóa mang nhãn hiệu và được nhận biết một cách rõ ràng như là một sự xác định đối với nguồn gốc riêng biệt của những sản phẩm này Hay theo luật Trung Quốc, tại Bản quy định về xác định và bảo hộ NHNT ban hành ngày 7/3/2014 của Cơ quan quản lý Nhà nước về công nghiệp

11 Đoạn 1 - Điều 6bis, Công ước Paris

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 20

và thương mại Trung Quốc (SAIC)12 nhằm hướng dẫn Điều 13 và Điều 14 của Luật nhãn hiệu năm 2013 liên quan đến NHNT kèm theo Lệnh số 66 đã định nghĩa NHNT

ở Điều 2 như sau: “NHNT là nhãn hiệu được biết đến rộng rãi bởi bộ phận người tiêu dùng có liên quan tại Trung Quốc” Tại Luật SHTT Việt Nam, theo Khoản 20, Điều

4 thì “nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến một cách rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”

Các định nghĩa NHNT tập trung vào đặc trưng của NHNT, chẳng hạn Luật nhãn hiệu của Ấn Độ thì nhấn mạnh ở tính chất dễ bị xâm phạm của NHNT, cụ thể “Một nhãn hiệu nổi tiếng có nghĩa là nhãn hiệu trở nên nổi tiếng trong một bộ phận đáng

kể của công chúng sử dụng hàng hóa hay dịch vụ mang nhãn hiệu mà sự sử dụng nhãn hiệu như thế cho các hàng hóa hay dịch vụ khác sẽ có nguy cơ tạo ra một sự kết nối trong lĩnh vực thương mại giữa những hàng hóa hay dịch vụ đó với chủ thể sử dụng nhãn hiệu cho hàng hóa hay dịch vụ được đề cập trước đó”13

Như vậy có thể thấy cho đến nay vẫn chưa có cách hiểu duy nhất và cuối cùng đối với NHNT, tuy nhiên, cách tiếp cận cách hiểu về NHNT ở các quốc gia, các hệ thống pháp luật là tương đồng nhau nếu xét về bản chất của NHNT khi thống nhất điểm cơ bản của chúng, đó là các đặc trưng hay đặc điểm của NHNT, cho dù pháp luật quốc gia đó có đề cập hay không đề cập đến định nghĩa NHNT

1.1.2.2 Đặc trưng của nhãn hiệu nổi tiếng

Nhãn hiệu có uy tín và danh tiếng được bộ phận người tiêu dùng hoặc công chúng có liên quan biết đến rộng rãi:

Đây là đặc điểm quan trọng nhất của NHNT, sự nổi tiếng của một nhãn hiệu đầu tiên phải được nhiều người biết đến Sự nổi tiếng của một nhãn hiệu là một quá trình sử dụng nhãn hiệu lâu dài, liên tục trên hàng hóa, dịch vụ để định hình, khắc sâu

và trở nên quen thuộc trong tâm trí người tiêu dùng, thông thường những NHNT trên thế giới phần lớn là có một thời gian tồn tại từ rất lâu và là những nhãn hiệu mạnh

12 State Administration for Industry and Commerce

13 Bộ KHCN và Hiệp Hội nhãn hiệu quốc tế (INTA), (2017, trang 23)

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 21

hay nói cách khác là những nhãn hiệu có giá trị thương mại cao Tìm hiểu quá trình phát triển của một nhãn hiệu sẽ thấy có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan dẫn đến khả năng một nhãn hiệu được biết đến một cách rộng rãi Tuy nhiên, trong đó yếu tố chủ quan là nhân tố quyết định để một nhãn hiệu đạt được sự được nổi tiếng, đó là tập hợp các nhân tố thuộc về nội lực như tài chính, trí tuệ trong kinh doanh cũng như

uy tín, chất lượng sản phẩm, cách thức phục vụ… Chẳng hạn có thể thấy ở trường hợp của nhãn hiệu COCA-COLA14, nguồn gốc sự nổi tiếng của nhãn hiệu này trên toàn thế giới đã thể hiện một trí tuệ kinh doanh sắc sảo đó là tạo ra sự khác biệt đối với sản phẩm Trước khi COCA-COLA ra đời, thị trường nước giải khát thời kỳ đó bao gồm bia tươi, nước thổ phục linh, nước gừng, nước cam, nước chanh và các loại nước pha chế thủ công khác COCA-COLA là nhãn hiệu tiên phong trên thị trường với sản phẩm nước giải khát từ nước cola với công thức độc đáo Nhãn hiệu này đã

có thời gian độc quyền trên thị trường khá lâu và được người tiêu dùng biết đến không chỉ ở quốc gia nó ra đời mà đến người tiêu dùng trên toàn thế giới Có thể thấy, cách thức COCA-COLA trở nên nổi tiếng không phải là việc tập trung xây dựng nhãn hiệu cho những chủng loại hàng hóa hiện tại mà là nhà đầu tiên cung cấp cho thị trường một sản phẩm mới và định hình một tiêu chuẩn mới cho nước giải khát, hay nói cách khác yếu tố làm nên sự nổi tiếng của nhãn hiệu này là sự sáng tạo và chất lượng đặc trưng của sản phẩm

Như vậy, có thể thấy, sự khác biệt giữa nhãn hiệu thông thường và NHNT là khả năng gây ấn tượng mạnh với người tiêu dùng không phải chỉ là hình thức bên ngoài của nhãn hiệu mà các yếu tố bên trong của nhãn hiệu như chất lượng sản phẩm, cách thức phục vụ, trí tuệ trong kinh doanh… Các yếu tố này đã trở thành một biểu tượng của uy tín, danh tiếng gắn liền với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu Đây cũng là yếu tố quyết định trong việc hình thành và duy trì khả năng phân

14 Năm 2006, Coca-Cola được định giá là nhãn hiệu hàng đầu thế giới với giá trị 67 tỷ USD, theo Al Ries

và Laura Ries (2007, trang 40)

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 22

biệt của người tiêu dùng giữa NHNT với nhãn hiệu khác cho các nhóm hàng hóa, dịch vụ cùng loại15

Tuy nhiên, đặc điểm sự nổi tiếng của nhãn hiệu không đồng nghĩa với việc phải được toàn bộ hay phần lớn người tiêu dùng trên thị trường biết đến như quan điểm của một số quốc gia trước đây Quan điểm phổ biến hiện nay về vấn đề này đó là nhãn hiệu được coi là nổi tiếng chỉ cần đạt tình trạng nổi tiếng trong cộng đồng người tiêu dùng có liên quan Điều này xuất phát từ một thực tế hợp lý theo nguyên tắc thị trường cung và cầu, khi người tiêu dùng có nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ nào thì sẽ

có nhà cung cấp tương ứng Vì vậy NHNT cũng như nhãn hiệu thông thường luôn có đối tượng khách hàng cụ thể Khi được số lượng hoặc tỷ lệ đáng kể người tiêu dùng

có liên quan biết đến nhãn hiệu đó thì sẽ trở nên nổi tiếng Có thể thấy điều này tại

Bộ Quy tắc Công nhận và Bảo hộ NHNT của Trung Quốc, so với Bộ Quy tắc cũ trước năm 1996, nhà làm luật đã thay đổi cụm từ “được biết đến rộng rãi trong thị trường”

thành “được biết đến rộng rãi trong bộ phận người tiêu dùng có liên quan” Trong các tiêu chí đánh giá cần xem xét một nhãn hiệu là nổi tiếng, Luật SHTT Việt Nam cũng

đề cập đến tiêu chí liên quan đến “người tiêu dùng có liên quan”, cụ thể tại Khoản 1 Điều 75 quy định: “Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo” Đến nay, quy định pháp luật các nước cũng như ở bình diện quốc tế đều khẳng định “người tiêu dùng có liên quan” biết đến hoặc thừa nhận nhãn hiệu là nổi tiếng là một trong những căn cứ quan trọng để xác định NHNT, điều này có thể nhận thấy trong Bản khuyến nghị chung tháng 09/1999 được ban hành bởi Đại hội đồng của

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 23

Công ước Paris và Tổ chức SHTT Thế Giới (WIPO) về bảo hộ NHNT (sau đây gọi tắt là Bản khuyến nghị WIPO)16

NHNT là nhãn hiệu có căn cứ xác lập quyền trên cơ sở thực tiễn sử dụng liên tục, lâu dài và phổ biến của nhãn hiệu đó:

Đây có thể xem là một đặc điểm ngoại lệ của nguyên tắc xác lập quyền đối với quyền SHCN nói chung và đối với nhãn hiệu nói riêng Thay vì nguyên tắc chung là cần phải đăng ký để được cấp văn bằng bảo hộ thì quyền SHCN đối với NHNT được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng liên tục, lâu dài và phổ biến của nhãn hiệu đó mà không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký Luật SHTT Việt Nam, tại Điểm a Khoản 3 Điều 6 đã khẳng định nguyên tắc này: “Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký” Quy định này phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Điều 6bis Công ước Paris, Điều 16(2) – Hiệp định TRIPs Đặc điểm này là hệ quả tất yếu của quá trình một nhãn hiệu trở nên nổi tiếng, thông thường một nhãn hiệu được

sử dụng liên tục thì sẽ trở nên quen thuộc (hay trở nên phổ biến) với người tiêu dùng và khi nhãn hiệu đó càng được sử dụng lâu dài, sự nổi tiếng của nhãn hiệu

đó càng được củng cố

Có thể thấy, quá trình một nhãn hiệu trở nên nổi tiếng là một quá trình phát triển của nhãn hiệu, đầu tiên một nhãn hiệu mới phải có một bộ phận người tiêu dùng thừa nhận và chấp nhận nó, để làm sao một nhãn hiệu được người tiêu dùng chấp nhận và lựa chọn là cả một chiến lược kinh doanh và tiếp thị của doanh nghiệp, theo hai học giả nghiên cứu về chiến lược tiếp thị và phát triển nhãn hiệu người Mỹ - Al Ries và Laura Ries trong cuốn sách “Nguồn gốc nhãn hiệu – Sự tiến hóa của sản phẩm liên tục tạo nên cơ hội xuất hiện cho các nhãn hiệu mới như thế nào?” (2007, trang 49) đã nhận định: “Mục tiêu ban đầu của chương trình xây dựng nhãn hiệu không phải là thị trường cho một sản phẩm hay dịch vụ nào cả mà là đưa sản phẩm vào tâm trí mọi

16 Theo Điểm b, Khoản 1 Điều 2 của Bản Khuyến nghị WIPO, một trong các tiêu chí khuyến nghị áp dụng đối với các Quốc gia thành viên khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng là: “Mức độ nhận biết hay thừa nhận của nhãn hiệu trong bộ phận người tiêu dùng có liên quan”

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 24

người” Các chủ sở hữu nhãn hiệu có nhiều cách thức khác nhau để thuyết phục người tiêu dùng quyết định lựa chọn sản phẩm cho mình, từ việc không ngừng cải tiến chất lượng hàng hóa, cung cách phục vụ cho đến việc sáng tạo ra các hàng hóa, dịch vụ mới chưa từng kinh doanh trên thị trường hoặc khai thác những mảng, phân khúc khác nhau của những hàng hóa, dịch vụ vốn đã phổ biến, ví dụ có thể thấy trong trường hợp này đó là nhãn hiệu đồng hồ Rolex, ra đời vào năm 1908 khi mà khá nhiều nhãn hiệu đồng hồ đeo tay đã có mặt trên thị trường, tuy nhiên trong tâm trí người tiêu dùng khi đó không hề có khái niệm “đồng hồ cao cấp” và tất nhiên không hề có bất kỳ một nhãn hiệu nào của chủng loại hàng này, như vậy với việc giới thiệu Rolex

đã tạo ra quan niệm về một phân khúc sản phẩm đồng hồ đeo tay mới, đến ngày nay

nó đã chiếm một phần quan trọng trên thị trường đồng hồ Khi một nhãn hiệu đã được một bộ phận người tiêu dùng lựa chọn thì để bộ phận người tiêu dùng đó tiếp tục lựa chọn lại hàng hóa, dịch vụ mà không tìm kiếm một nhãn hiệu của doanh nghiệp khác thay thế, cũng như không ngừng tiếp tục mở rộng thị trường để tiếp cận những người tiêu dùng tiềm năng khác là yếu tố sống còn của một nhãn hiệu và nhiệm vụ của doanh nghiệp không gì khác ngoài việc tiếp duy trì sản xuất, cung ứng dịch vụ liên tục đảm bảo phục vụ khách hàng hiện hữu kết hợp với các chiến lược tiếp thị, quảng cáo để giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến các khách hàng tiềm năng

Ngày nay quảng cáo, tiếp thị giữ vai trò rất quan trọng trong việc khẳng định sự tồn tại của một nhãn hiệu, nó vừa đóng vai trò “nhắc lại” với người tiêu dùng hiện hữu vừa giới thiệu đến khách hàng tiềm năng Đồng thời, quảng cáo và tiếp thị còn

là kênh phổ biến để kết nối người tiêu dùng với doanh nghiệp, từ đó góp phần làm cho hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu trở nên quen thuộc với người tiêu dùng và ngày càng được sử dụng phổ biến, thậm chí có những trường hợp nhãn hiệu đó trở thành một biểu tượng đại diện cho một hàng hóa, dịch vụ cụ thể từ đó làm mất đi tính phân biệt của nhãn hiệu đó Chẳng hạn tại Việt Nam, đã có thời gian dài, xe gắn máy cũng thường được gọi chung là xe Honda bởi mức độ quá phổ biến của

nó trên thị trường

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 25

Như vậy có thể thấy, hầu như các nhãn hiệu trên thế giới đều là những nhãn hiệu được sử dụng liên tục, trở nên phổ biến với người tiêu dùng trong một khoảng thời gian rất dài, hàng năm, hàng chục hoặc thậm chí là lâu hơn Chẳng hạn, nhãn hiệu BUDWEISER được sử dụng từ năm 1876 tại Cộng hòa Séc, nhãn hiệu kẹo sô-cô-la nổi tiếng và lâu đời nhất ở Hoa Kỳ là HERSHEY có từ năm 1894 hay nhãn hiệu HONDA, TOYOTA của Nhật Bản đã xuất hiện từ những năm 30, 40 của thế kỷ trước… Tính liên tục, lâu dài và phổ biến trong quá trình sử dụng là một đặc trưng quan trọng để xác định một NHNT trên thực tiễn

Tuy nhiên, chính vì đặc điểm xác lập quyền này nên khi thực hiện quyền và giải quyết tranh chấp đối với NHNT, chủ sở hữu nhãn hiệu phải chứng minh nhãn hiệu của mình là nổi tiếng thông qua các tiêu chí đánh giá NHNT và nếu đáp ứng sẽ được công nhận bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, khi đó quyền của chủ sở hữu hay việc lựa chọn các biện pháp bảo hộ cần thiết đối với NHNT trong vụ việc cụ thể mới được áp dụng và thực thi

Là tài sản trí tuệ có giá trị rất lớn của doanh nghiệp:

Để đo lường giá trị của các tài sản trí tuệ nói chung và nhãn hiệu, cũng như NHNT nói riêng hiện nay phổ biến với hoạt động định giá Thông qua hoạt động định giá, giá trị của NHNT được quy đổi ra tiền là một thước đo cơ bản nhất để đánh giá giá trị của một NHNH trên thị trường Hiện nay có rất nhiều tổ chức định giá tài sản trí tuệ, tuy nhiên phổ biến và có uy tín nhất vẫn là kết quả xếp hạng hàng năm trên trang thông tin điện tử chính thức của tổ chức Interbard17 Hầu như các nhãn hiệu có tên trên bảng xếp hạng hàng năm của Interband là những NHNT, quen thuộc trong các lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, đồng thời giá trị của những nhãn hiệu này đều cao hoặc rất cao Thậm chí, không ít trường hợp, giá trị của các nhãn hiệu này còn cao hơn cả GDP của một quốc gia, chẳng hạn năm 2012, theo một so sánh thì giá trị

17 Interbrand là một tổ chức có uy tín hàng đầu thế giới về định giá các thương hiệu, có trụ sở tại New York, Hoa

Kỳ Kết quả định giá các thương hiệu hàng đầu thế giới của Interbrand được Tạp chí BusinessWeek công nhận, phát hành chính thức và được sử dụng rộng rãi trên thế giới Xem tại:

<http://www.lantabrand.com/cat1news2432.html>

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 26

thương hiệu của Apple cao hơn tổng sản lượng nội địa (GDP) của Ba Lan, Bỉ, Thụy Điển và Saudi Arabia, hay Đài Loan18

Giá trị của các NHNT không chỉ là một tài sản quan trọng của chủ sở hữu mà còn tạo nên một giá thương mại cao của các nhãn hiệu trong các hoạt động đầu tư như góp vốn, định giá, mua bán, sáp nhập Giữa giá trị và tính nổi tiếng của nhãn hiệu là yếu tố gần như tồn tại song song và không thể tách rời với nhau của một NHNT Vì vậy, trên thực tiễn, giá trị của nhãn hiệu là một những tiêu chí quan trọng quy định trong pháp luật của các quốc gia để đánh giá sự nổi tiếng của nhãn hiệu, chẳng hạn, tại Khoản 8 Điều 75 Luật SHTT Việt Nam hoặc Điều 8(2) Luật Nhãn hiệu năm 1994 của Anh Như vậy, có thể thấy đặc điểm này của NHNT cũng đồng thời là một dấu hiệu nhận biết tương đối cụ thể, dễ thấy của một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng

1.1.2.3 Các nguyên tắc của pháp luật về bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng

Pháp luật về bảo hộ NHNT là một trường hợp cụ thể và đặc biệt của pháp luật

về bảo hộ nhãn hiệu, do vậy ngoài những vấn đề chung về bảo hộ nhãn hiệu, pháp luật về bảo hộ NHNT có những nội dung đặc thù riêng nhằm đảm bảo phù hợp với đặc điểm của đối tượng được bảo hộ Qua nghiên cứu các quy định về bảo hộ NHNT của các thiết chế pháp luật quốc tế như Công ước Paris năm 1883, Hiệp định TRIPs năm 1994, Thỏa ước Madrid, Nghị định thư Madrid, Hiệp định CPTPP, Bản khuyến nghị WIPO và một số hệ thống pháp luật lớn như Luật chung Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản… và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, có thể nhận thấy một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo hộ NHNT như sau: Một là, đảm bảo công bằng trong việc bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu NHNT với lợi ích của người tiêu dùng, các chủ thể khác cũng như lợi ích công cộng:

Tương tự với nhãn hiệu, trước hết việc bảo hộ đối với NHNT nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu Tuy nhiên, pháp luật nhãn hiệu hiện đại nói chung ngày càng xem xét đáng kể đến quyền và lợi ích của người tiêu dùng,

18 Xem tại: <https://ictpress.vn/Chuyen-dong-nganh/500-ty-USD-gia-tri-cua-Apple-da-vuot-ca-Ba-Lan>

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 27

và do đó pháp luật về bảo hộ NHNT cũng hướng đến đảm bảo công bằng trong việc bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu NHNT với lợi ích của người tiêu dùng, các chủ thể khác cũng như lợi ích công cộng

Trước hết là bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu NHNT, nguyên tắc này có thể nhận thấy ở các quy định về điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ sở hữu NHNT với các chủ thể kinh doanh đang cạnh tranh trên thị trường:

Quan hệ này bao gồm các quy định liên quan đến việc sử dụng và khai thác NHNT trong các hoạt động thương mại, tuy nhiên vấn đề này không chỉ là đối tượng điều chỉnh của pháp luật về nhãn hiệu mà còn chịu sự kiểm soát của pháp luật về cạnh tranh Như đã phân tích, thông qua các đặc điểm của NHNT đã cho thấy lợi ích lớn

về thương mại của việc khai thác và sử dụng NHNT, tuy nhiên lợi ích này không chỉ thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu mà còn ở cả những tổ chức, cá nhân sử dụng bất hợp pháp Đây là động cơ thúc đẩy các tổ chức, cá nhân, vốn không phải là chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc được chủ sở hữu cho phép thực hiện các hành vi xâm phạm đối với NHNT Thực tiễn cho thấy, ở các quốc gia đang phát triển là nơi phổ biến các hành

vi xâm phạm NHNT, hiện tượng dễ nhận biết nhất đó việc sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với NHNT trên các hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương

tự với hàng hóa, dịch vụ mang NHNT Hành vi này thông thường xuất hiện ở những quốc gia, thị trường nơi mà hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu mang NHNT chưa từng sản xuất và đưa ra thị trường Ngoài ra, khi xem xét các quy định điều chỉnh về mối quan hệ giữa chủ sở hữu NHNT với các chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ không tương tự cũng nhận thấy nguyên tắc bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu NHNT

Việc bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu NHNT trong trường hợp này xuất phát

từ vai trò và chức năng của NHNT, là một biểu tượng quen thuộc với người tiêu dùng, thông thường một NHNT thường được sử dụng cho một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể Vì vậy, tất yếu sẽ đặt ra một nghi vấn cho người tiêu dùng liên tưởng đến chủ sở hữu NHNT nếu trên thị trường xuất hiện một hoặc

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 28

nhóm hàng hóa “phi truyền thống” của chủ sở hữu NHNT nhưng mang NHNT

đó Trong trường hợp này, người thứ ba bất kỳ sử dụng NHNT hoặc có dấu hiệu tương tự với NHNT cho mục đích thương mại nhưng chỉ trong phạm vi các sản phẩm khác biệt và không cạnh tranh trực tiếp với NHNT Tuy nhiên, xét về bản chất, hành vi sử dụng NHNT hoặc sử dụng dấu hiệu tương tự với NHNT dù vô tình hay có chủ ý thì vẫn gây ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của NHNT, từ

đó xâm phạm đến danh tiếng hoặc uy tín của NHNT Tại Hoa Kỳ, đây có thể được xem vấn đề trọng tâm của việc bảo hộ NHNT với thuật ngữ được sử dụng

là “sự lu mờ nhãn hiệu”19 Sự lu mờ nhãn hiệu được hiểu theo pháp luật Hoa Kỳ

là việc làm giảm đi khả năng nhận biết và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của NHNT bất kể có tồn tại hay không tồn tại việc cạnh tranh giữa chủ sở hữu NHNT với bên thứ ba khác, hay khả năng gây nhầm lẫn, lỗi lầm hay lừa dối20 Khi một nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền yêu cầu Tòa án ban hành một lệnh ngăn chặn chống lại việc sử dụng cho mục đích thương mại hoặc phi thương mại đối với NHNT đó nếu việc sử dụng đó có khả năng làm “lu mờ” đối với NHNT Nguyên tắc này cũng áp dụng đối với trường hợp ngăn cấm việc đăng ký nhãn hiệu có dấu hiệu tương tự với NHNT của bên thứ ba khác

Tuy nhiên, quyền của chủ sở hữu đối với NHNT sẽ bị giới hạn trong một số trường hợp cụ thể, hay nói cách khác, chủ sở hữu không thể ngăn cấm việc sử dụng NHNT trong các trường hợp sau:

(1) Việc sử dụng một cách công bằng NHNT bởi người khác trong hoạt động quảng cáo hay xúc tiến thương mại so sánh để nhận biết những hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh với hàng hóa, dịch vụ mang NHNT; chẳng hạn một cửa hàng trang trí sử dụng một mẫu quảng cáo có nội dung “more colors than Revlon” (nhiều màu sắc hơn Revlon) sẽ không bị xem là làm lu mờ nhãn hiệu Revlon theo ngoại lệ này21

19 Thuật ngữ tiếng Anh gọi là “Dilution”

20 Điều 4, Đạo Luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu năm 1995

21 Jeffrey M.Samuels and Linda B.Samuels (1996, p 310)

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 29

(2) Việc sử dụng những NHNT không nhằm mục đích thương mại; chẳng hạn việc sử dụng, viện dẫn, nghiên cứu một NHNT trong một bài báo hay một công trình nghiên cứu khoa học

(3) Tất cả những hình thức báo cáo, thông tin hay bình luận tin tức Việc thông tin thuần túy báo chí trong phạm vi luật định sẽ không bị ngăn cấm bởi pháp luật hay chủ sở hữu NHNT

Như vậy, thông qua chế định “sự lu mờ nhãn hiệu” của pháp luật Hoa Kỳ đã cho thấy mối quan hệ giữa chủ sở hữu NHNT với chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ không tương tự có thể thấy pháp luật Hoa Kỳ đã cố gắng giải quyết hài hòa lợi ích của các bên liên quan ở mức độ hợp lý nhất trên cơ sở nguyên tắc luật công bằng và đây cũng là nguyên tắc chung của pháp luật Liên minh Châu Âu

Pháp luật Việt Nam mặc dù không sử dụng trực tiếp thuật ngữ “sự lu mờ nhãn hiệu” nhưng thông qua các quy định về đăng ký nhãn hiệu và sử dụng dấu hiệu tương tự với NHNT của bên thứ ba khác đã cho thấy vấn đề lu mờ nhãn hiệu cũng là vấn đề quan trọng trong việc đánh giá hành vi xâm phạm NHNT Cụ thể một nhãn hiệu mới không thể được đăng ký có dấu hiệu tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một NHNT cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự nếu việc sử dụng nhãn hiệu đó xâm phạm đến sự phân biệt đối với NHNT, hoặc việc đăng ký dấu hiệu đó nhằm lợi dụng uy tín của NHNT22 Bên thứ ba khác có thể bị xem là có hành vi xâm phạm NHNT nếu sử dụng dấu hiệu tương tự với NHNT hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ NHNT cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch

vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang NHNT, nếu việc sử dụng đó có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan

hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở NHNT nổi tiếng23

22 Điểm i Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT

23 Theo Điểm d Khoản 1 Điều 129 Luật SHTT

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 30

Pháp luật về bảo hộ NHNT ngoài việc hướng đến bảo vệ quyền lợi chủ sở hữu, lợi ích của các chủ thể có liên quan khác như đã phân tích ở trên thì còn hướng đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng với mục tiêu cốt lõi là đảm bảo người tiêu dùng không bị lừa dối hay nhầm lẫn trong việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, đồng thời mang lại những lợi ích kinh tế nhất định trong tiêu dùng Pháp luật hiện đại

về bảo hộ NHNT ngày càng xem xét đáng kể đến quyền và lợi ích của người tiêu dùng bởi xuất phát từ học thuyết về chi phí tìm kiếm trong luật về nhãn hiệu24 Học thuyết này cho rằng pháp luật về nhãn hiệu có thể giúp người tiêu dùng dễ dàng và ít tốn kém hơn trong việc xác định để lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đúng với mong đợi của họ thông qua việc làm giảm thiểu chi phí tìm kiếm của người tiêu dùng Người tiêu dùng có thể coi NHNT như là một con đường tắt giúp cho họ nhận biết về nguồn gốc và chất lượng hàng hóa, dịch vụ để nhanh chóng lựa chọn thay vì phải bỏ công sức, chi phí để tìm hiểu chi tiết Đồng thời, thông qua đó cũng góp phần đảm bảo cho người tiêu dùng không bị lừa dối hay nhầm lẫn khi lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của mình

Hai là, xác lập cơ chế bảo hộ phù hợp với đặc điểm của NHNT:

Như đã phân tích, NHNT là một tình trạng đặc biệt của nhãn hiệu, vì vậy các thiết chế pháp lý quốc tế cũng như pháp luật quốc gia đều xây dựng một cơ chế bảo

hộ phù hợp với đặc điểm của NHNT, cụ thể:

Quyền SHCN đối với NHNT được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký

Trước khi thống nhất nguyên tắc này trên bình diện quốc tế thì pháp luật một số quốc gia đã tiếp cận ngược lại, chẳng hạn ở Trung Quốc trước khi Hiệp định TRIPs

có hiệu lực, để xác định và công nhận NHNT, Cơ quan quản lý Nhà nước về công nghiệp và thương mại Trung Quốc (SAIC) đã ban hành Bản quy định tạm thời về bảo

hộ NHNT ngày 14/08/1996, tại Điều 2 của Bản quy định tạm thời này định nghĩa NHNT là “nhãn hiệu đã đăng ký” điều này có nghĩa là NHNT không đăng ký đương

24 Stacey L Dogan and Mark A.Lemley (2007, p.1223)

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 31

nhiên không được hưởng các quyền lợi về bảo hộ đối với NHNT, điều này thực sự chưa phù hợp với đặc điểm của NHNT là được sử dụng liên tục, lâu dài để đạt được tình trạng nổi tiếng như đã phân tích Tuy nhiên, sau khi TRIPs có hiệu lực, quan điểm bảo hộ NHNT tại Trung Quốc có thay đổi với Luật nhãn hiệu năm 2001, theo

đó NHNT được phân chia thành hai loại là NHNT có đăng ký và NHNT không đăng ký ở Trung Quốc, tuy nhiên điều kiện bảo hộ của hai dạng NHNT này khác nhau ở chỗ đối với NHNT chưa đăng ký thì phạm vi bảo hộ chỉ giới hạn đối với các nhãn hiệu nộp sau hoặc sử dụng sau mà gắn liền với hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang NHNT, trong khi đó đối với NHNT đã đăng ký thì phạm vi bảo hộ có thể mở rộng đến cả hàng hóa, dịch không trùng hoặc không tương tự25

NHNT phải được công nhận để hưởng cơ chế bảo hộ thông qua việc đánh giá các tiêu chí do pháp luật quy định:

Đây là vấn đề trọng tâm trong cơ chế bảo hộ đối với NHNT nhằm mục đích nhận diện NHNT, bởi lẽ nếu không xác định được một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không thì không đặt ra vấn đề bảo hộ nó Một nhãn hiệu được nhận diện là nổi tiếng khi nó thỏa mãn các tiêu chí của NHNT do pháp luật quy định Để xác định có thỏa mãn các tiêu chí của NHNT hay không thì cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành đánh giá dựa trên việc chủ sở hữu nhãn hiệu cung cấp các tài liệu, bằng chứng chứng minh thỏa mãn theo các tiêu chí xác định Kết quả của hoạt động đánh giá này là cơ sở để công nhận NHNT của cơ quan có thẩm quyền Công nhận NHNT là điều kiện bắt buộc thực thi bảo hộ đối với NHNT, theo Điều 6bis của Công ước Paris để được bảo

hộ là NHNT, trước hết nhãn hiệu đó phải được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên công nhận là nổi tiếng

Hiện nay, các tiêu chí đánh giá, trình tự, thủ tục công nhận, thẩm quyền công nhận cũng như các vấn đề pháp lý có liên quan khác về đánh giá và công nhận NHNT

do pháp luật của từng quốc gia quy định cụ thể Các thiết chế pháp lý quốc tế đóng

25 Xem Điều 13, 14 và 41 của Luật nhãn hiệu Trung Quốc năm 2001

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 32

vai trò định hướng các nguyên tắc hoặc khuyến nghị, chẳng hạn các tiêu chí đánh giá NHNT tại Hiệp định TRIPs yêu cầu các quốc gia thành viên phải xem xét đến yếu tố

về sự nhận biết của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu trong lĩnh vực liên quan, bao gồm sự nhận biết của người tiêu dùng thuộc quốc gia thành viên có liên quan mà sự nhận biết đó có được do hệ quả của việc quảng bá nhãn hiệu26 hoặc Bản khuyến nghị WIPO đã đưa ra các tiêu chí đánh giá NHNT mà được coi là chi tiết và cụ thể nhất hiện nay Mặc dù không đề cập trực tiếp nhưng Hiệp định CPTTP yêu cầu các quốc gia thành viên thừa nhận tầm quan trọng của Bản khuyến nghị WIPO về xác định các tiêu chí đánh giá để công nhận một NHNT tại quốc gia mình Trong Chương 2 của Luận văn này sẽ đi sâu vào nghiên cứu việc đánh giá các tiêu chí để công nhận NHNT cũng như các vấn đề pháp lý có liên quan đến các hoạt động này của các thiết chế pháp lý quốc tế và pháp luật một số quốc gia tiêu biểu như: Hoa Kỳ, Liên minh Châu

Âu, Trung Quốc, Nhật Bản để làm rõ những quan điểm về quy chế pháp lý của đánh giá và công nhận NHNT từ đó liên hệ đến quy định pháp luật và thực tiễn thực thi vấn đề này tại Việt Nam

NHNT có phạm vi bảo hộ rộng hơn nhãn hiệu thông thường và bao quát lên cả các sản phẩm, dịch vụ không cùng loại trên thị trường:

Đây có thể xem là một cơ chế bảo hộ rất đặc biệt của NHNT tạo cho chủ sở hữu của NHNT có quyền hạn vượt trội so với chủ sở hữu nhãn hiệu thông thường

Việc mở rộng phạm vi bảo hộ của NHNT là quá trình phát triển của học thuyết về NHNT, trước đây, quan điểm về phạm vi bảo hộ đối với NHNT không khác biệt

so với nhãn hiệu thông thường, có thể thấy quan điểm này tại Điều 6bis của Công ước Paris, theo đó phạm vi bảo hộ của NHNT bị giới hạn ở việc bên thứ ba sử dụng hoặc đăng ký nhãn hiệu đó cho hàng hóa trùng hoặc tương tự với NHNT, hay nói cách khác, hàng hoá mang nhãn hiệu đang được xem xét phải có phạm vi trùng hoặc tương tự với NHNT, ngoài ra Công ước Paris cũng không xem xét đến nhãn hiệu dịch vụ Những hạn chế của Điều 6bis Công ước Paris đã được Khoản

26 Hiệp định TRIPs, Đoạn 2 - Phần II , Mục 2, Điều 16

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 33

2 và 3, Điều 16 của Hiệp định TRIPs hoàn thiện, đánh dấu bước phát triển của học thuyết về NHNT, theo đó đã mở rộng phạm vi bảo hộ NHNT cho cả hàng hoá, dịch vụ không tương tự nhưng với điều kiện việc sử dụng nhãn hiệu trên những hàng hóa, dịch vụ đó sẽ dẫn đến việc người tiêu dùng nghĩ rằng có mối liên hệ với hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu NHNT và do đó làm cho quyền lợi của chủ sở hữu NHNT có khả năng bị thiệt hại

Phù hợp với các thiết chế quốc tế, pháp luật Việt Nam27 cũng như các nước hiện nay đã xác lập cơ chế bảo hộ này như là một biện pháp nhằm ngăn chặn làm suy giảm tính phân biệt của NHNT hoặc nhằm làm phương hại đến danh tiếng của NHNT, đồng thời cũng ngăn chặn sự nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch của người tiêu dùng về mối liên hệ giữa chủ thể sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu NHNT

NHNT được bảo hộ vô hạn định:

Một NHNT phải đảm bảo đáp ứng các tiêu chí được đặt ra để duy trì sự nổi tiếng của mình, do đó sẽ không có một mốc thời gian hay một khoảng thời gian xác định cụ thể khi nào nhãn hiệu đó bị chấm dứt tư cách NHNT, vì vậy hầu như pháp luật các nước áp dụng theo nguyên tắc chung là bảo hộ vô hạn định, nghĩa là việc bảo

hộ sẽ đương nhiên được tiếp diễn cho đến khi nào nhãn hiệu đó không còn được thừa nhận là nổi tiếng nữa, hay nói cách khác NHNT được bảo hộ vô thời hạn kể từ thời điểm nhãn hiệu đó được công nhận là NHNT Trước đây, pháp luật Việt Nam quy định nguyên tắc bảo hộ vô thời hạn đối NHNT tại Nghị định 63/CP năm 1996 được

bổ sung sửa đổi bởi Nghị định 06/2001/NĐ-CP Hiện nay Luật SHTT cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành lại không có bất kỳ quy định nào đề cập đến vấn đề này

Tuy nhiên, nguyên tắc bảo hộ vô hạn định vẫn được hiểu và thừa nhận mặc nhiên áp dụng đối với NHNT

Ngoài ra, với tư cách là một nhãn hiệu thì NHNT cũng có cơ chế bảo hộ giống như nhãn hiệu ở tính lãnh thổ Đối với một nhãn hiệu thông thường phải được đăng

27 Xem quy định tại Điểm i, Khoản 2, Điều 74 của Luật SHTT

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 34

ký bảo hộ ở một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định thì mới phát sinh quyền SHTT đối với nhãn hiệu đó Nguyên tắc này cũng áp dụng tương tự với NHNT, theo

đó một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng ở quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ nào đó thì không mặc nhiên được coi là nổi tiếng ở các quốc gia, vùng lãnh thổ khác Mặc dù,

về mặt lý thuyết, khi một nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng thì sự nổi tiếng của

nó sẽ được bao trùm lên một khu vực rộng lớn của thế giới Điều này có nghĩa là một nhãn hiệu vẫn có thể được coi là nổi tiếng ở một quốc gia hay vùng lãnh thổ mà nhãn hiệu đó chưa từng được sử dụng Đặc biệt là trong bối cảnh bùng nổ thông tin và mức

độ thương mại hóa không biên giới như hiện nay, các nguồn dữ liệu tra cứu về một nhãn hiệu để thấy được sự nổi tiếng của nó cũng như các thông tin liên quan chứng minh cho nhãn hiệu đó là nổi tiếng dễ dàng được tiếp cận và tìm hiểu trên môi trường mạng Tuy nhiên, do mang đặc trưng về tính lãnh thổ, đồng thời do sự nổi tiếng của nhãn hiệu có được chỉ có thể thông qua quá trình sử dụng liên tục, lâu dài Vì vậy, phạm vi nổi tiếng của nhãn hiệu chỉ được công nhận trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ xác định, nếu NHNT ở ngoài phạm vi đó, sự nổi tiếng đó sẽ không mặc nhiên được công nhận và bảo hộ, lúc này để thực thi quyền với NHNT tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó, chủ sở hữu nhãn hiệu phải chứng minh mình đáp ứng các tiêu chí đánh giá của NHNT theo pháp luật nước sở tại để được công nhận NHNT tại đó, và thực tiễn cho thấy việc này thực sự không đơn giản Có thể dẫn chứng đến trường hợp của “Elle” là một tạp chí rất nổi tiếng ở nhiều nơi trên thế giới, thế nhưng chủ sở hữu nhãn hiệu “Elle” đã thất bại trong việc chứng minh rằng nhãn hiệu này đạt các tiêu chí NHNT tại Ba Lan trong một vụ tranh chấp vào năm 1984, dẫn đến không thể ngăn chặn việc đăng ký của một nhãn hiệu tương tự cho mỹ phẩm28

28 Jeremy Phillips (2003, p.406) tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 35

1.2 Pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại các Điều ước quốc tế

1.2.1 Công ước Paris và Hiệp định TRIPs

Công ước Paris được coi là Công ước quốc tế đầu tiên đề cập đến việc bảo hộ đối với NHNT cụ thể tại Điều 6bis, nội dung chính của Điều 6bis bao gồm các quy định đã trở thành nguồn luật quan trọng và nền tảng điều chỉnh về lĩnh vực này, để từ

đó tiếp tục được quy định và cụ thể hóa bởi các điều ước quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia thành viên Các vấn đề pháp lý về bảo hộ đối với NHNT tại Điều 6bis Công ước Paris bao gồm: (1) không bắt buộc NHNT phải thực hiện thủ tục đăng

ký mới được bảo hộ, (2) nhãn hiệu đó phải được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên công nhận là nổi tiếng, (3) “bất kỳ nhãn hiệu nào trùng hoặc tương tự với một NHNT và có khả năng gây nhầm lẫn rằng nó là biến thể, bản sao hoặc bản dịch của NHNT thì sẽ bị từ chối bảo hộ, bị huỷ bỏ hiệu lực hoặc nếu đang được sử dụng thì sẽ bị yêu cầu chấm dứt việc sử dụng”; (4) phạm vi bảo hộ của NHNT giới hạn ở việc sử dụng hoặc đăng ký nhãn hiệu đó của người thứ ba cho sản phẩm trùng hoặc tương tự, (5) các chủ sở hữu NHNT có năm năm để yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ do bất kỳ bên thứ ba nào đăng ký, trừ trường hợp nhãn hiệu được đăng ký nhằm mục đích lợi dụng sự nổi tiếng của NHNT Như vậy, có thể thấy, Điều 6bis của Công ước Paris có quy định về điều kiện để được hưởng cơ chế bảo hộ đối với NHNT

là một nhãn hiệu phải được công nhận là nổi tiếng ở nước thành viên đó Tuy nhiên, Công ước này lại không xác định khi nào thì một nhãn hiệu trở nên nổi tiếng hay nói cách khác đó là các tiêu chí để đánh giá NHNT

Hiệp định TRIPs trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã có những đóng góp đáng kể cho hệ thống pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền SHTT đặc biệt là đối với việc bảo hộ NHNT Tại Điều 16 của Hiệp định TRIPs đưa ra những vấn đề pháp lý quan trọng trong bảo hộ NHNT trên cơ sở phát triển quy định của Điều 6bis Công ước Paris, trong đó vấn đề đầu tiên là việc bảo hộ NHNT mở rộng đối với nhãn hiệu dịch vụ để phù hợp với sự phát triển và không ngừng lớn mạnh của các nhãn hiệu dịch vụ đối với thương mại quốc tế Đồng thời, Hiệp định TRIPs cũng

mở rộng phạm vi bảo hộ NHNT đến các nhóm hàng hóa, dịch vụ không trùng hoặc

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 36

tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang NHNT Điều này có nghĩa là các quốc gia thành viên phải từ chối cấp văn bằng bảo hộ hoặc hủy bỏ đơn đăng ký nhãn hiệu của bên thứ ba nếu việc đăng ký đó có khả năng gây thiệt hại lợi ích cho chủ sở hữu NHNT hoặc nhằm lợi dụng uy tín của NHNT ngay cả trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ đó không trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu NHNT, ví dụ: nhãn hiệu TOYOTA gắn với xe gắn máy, nhãn hiệu TOSHIBA gắn với quần áo hoặc nhãn hiệu HEINEKEN cho sản phẩm nước uống đóng chai… Đặc biệt, Hiệp định TRIPs

đã ghi nhận các tiêu chí cơ bản để xác định một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, hay nói cách khác đã có tiêu chí đánh giá NHNT, cụ thể Hiệp định TRIPs yêu cầu các quốc gia thành viên phải “xem xét đến yếu tố về sự nhận biết của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu trong lĩnh vực liên quan, bao gồm sự nhận biết của người tiêu dùng thuộc quốc gia thành viên có liên quan mà sự nhận biết đó có được do hệ quả của việc quảng bá thương hiệu”29

Như vậy, có thể thấy tiêu chí của Hiệp định TRIPs khá cơ bản và mang tính nguyên tắc nền tảng để đánh giá một NHNT, tùy thuộc vào mỗi quốc gia mà có thể

mở rộng hoặc bổ sung thêm để xác định NHNT

1.2.2 Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid

Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu được ký kết ngày 14/04/1891 dưới sự bảo trợ của Liên minh Paris nhằm thiết lập sự thống nhất trong phạm vi quốc

tế về thủ tục nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu, thỏa ước không có quy định liên quan đến bảo hộ NHNT Để đảm bảo một thủ tục đăng ký nhãn hiệu quốc tế hiệu quả hơn Thỏa ước Madrid, dưới sự ủng hộ của Tổ chức SHTT Thế Giới (WIPO), các quốc gia Châu Âu đã ban hành Nghị định thư Madrid vào năm 1989 Tuy nhiên, cũng tương như Thỏa ước Madrid cũng không đưa ra các quy định về pháp luật nội dung đối với bảo hộ NHNT mà nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi trong thủ tục đăng ký nhãn hiệu ở các quốc gia thành viên với các quốc gia thành viên còn lại

29 Hiệp định TRIPs năm 1994, Đoạn 2 - Phần II, Điều 16

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 37

1.2.3 Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP30 tiền thân là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là Hiệp định TPP31) quy định Chương 18 về SHTT nhằm ràng buộc các cam kết của các nước thành viên liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền SHTT nhằm “đóng góp vào việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, vào việc chuyển giao và phổ biến công nghệ, vào lợi ích chung giữa nhà sản xuất và người sử dụng tri thức công nghệ theo cách thức có lợi cho phúc lợi kinh tế và xã hội, và cho sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”32 Đối với bảo hộ NHNT, CPTPP quy định như sau33:

Một NHNT được xác định không phụ thuộc vào việc: (1) nhãn hiệu đó đã được đăng ký hay chưa tại một quốc gia thành viên hoặc một vùng lãnh thổ khác; (2) có tên trong danh sách NHNT hoặc (3) đã được công nhận là một NHNT

Các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ áp dụng Điều 6bis của Công ước Paris trong cơ chế bảo hộ NHNT nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu NHNT đối với hành vi sử dụng nhãn hiệu trùng với NHNT cho “những hàng hóa hoặc dịch vụ không trùng hoặc tương tự với những hàng hóa hoặc dịch vụ được xác định bởi NHNT, dù được đăng ký hay không, với điều kiện việc sử dụng nhãn hiệu đó liên quan đến những hàng hóa và dịch vụ đó có thể biểu thị mối liên hệ giữa hàng hóa và dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu, và với điều kiện lợi ích của chủ sở hữu nhãn

hiệu có khả năng bị tổn hại bởi việc sử dụng như vậy”

30 Tên tiếng Anh đầy đủ là Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership

31 Tên tiếng Anh đầy đủ là Trans-Pacific Partnership Agreement TTP là Hiệp định thương mại tự do được đàm phán từ tháng 03/2010, bao gồm 12 nước thành viên là Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam TPP được chính thức ký ngày 04/02/2016 và được dự kiến có hiệu lực từ 2018 Tuy nhiên, ngày 23/01/2017, Hoa kỳ tuyên bố rút khỏi TTP làm cho Hiệp định này không đủ điều kiện để có hiệu lực như dự kiến, theo đó TPP chỉ có hiệu lực được ít nhất sáu nước phê chuẩn trước tháng 02/2018 và các nước này phải đóng góp ít nhất 85% GDP trong khối Vì vậy Tháng 11/2017, mười một nước thành viên còn lại của TPP đổi tên thành Hiệp định CPTPP CPTPP được chính thức

ký kết vào tháng 03/2018 bởi mười một nước thành viên còn lại của TPP CPTPP sẽ có hiệu lực nếu ít nhất sáu nước hoặc một nửa số thành viên CPTPP phê chuẩn Hiệp định này “CPTPP giữ nguyên gần như toàn bộ các cam kết của TPP ngoại trừ (1) các cam kết của Hoa Kỳ hoặc với Hoa Kỳ; (2) hai mươi hai điểm tạm hoãn (có Danh mục chi tiết) và (3) một số sửa đổi trong các Thư song phương giữa các Bên của CPTPP”, xem tại:

http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/tpp

32 Điều 18.2 Chương 18, Hiệp định CPTPP, bản dịch của Cục SHTT tại:

http://www.trungtamwto.vn/sites/default/files/18_chuong_so_huu_tri_tue_-_vie.pdf

33 Được quy định tại Điều 18.22

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 38

Các quốc gia thành viên phải thừa nhận tầm quan trọng của Bản khuyến nghị của Tổ chức SHTT thế giới tháng 09/1999 (Bản khuyến nghị WIPO);

Yêu cầu các quốc gia thành viên phải quy định các biện pháp thích hợp để từ chối đơn hoặc hủy bỏ đăng ký cũng như ngăn cấm việc sử dụng một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với NHNT cho những hàng hóa hoặc dịch vụ trùng hoặc tương tự, nếu việc sử dụng nhãn hiệu đó có khả năng gây nhầm lẫn với NHNT có trước hoặc việc đăng ký, sử dụng nhãn hiệu có sau có khả năng lừa dối

Như vậy, Hiệp định CPTTP cũng quy định các vấn đề cơ bản trong việc bảo

hộ NHNT trên cơ sở khẳng định lại Công ước Paris và các nguyên tắc đã được thừa nhận rộng rãi Đối với việc đánh giá và công nhận NHNT, CPTTP không

có quy định cụ thể, tuy nhiên thông qua việc yêu cầu các quốc gia thành viên thừa nhận tầm quan trọng của Bản khuyến nghị WIPO đã cho thấy CPTTP khuyến khích các quốc gia thành viên cần tham chiếu đầy đủ các các tiêu chí đánh giá đã được khuyến nghị bởi WIPO khi thực hiện việc đánh giá và công nhận một NHNT tại quốc gia mình

Trong lĩnh vực bảo hộ NHNT có sự đóng góp lớn của Tổ chức SHTT thế giới, đây là tổ chức được thành lập bởi Công ước WIPO năm 1967 điều chỉnh việc bảo hộ quyền SHTT nhằm thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc thúc đẩy bảo hộ quyền SHTT trên toàn thế giới Trước thực trạng Công ước Paris và Hiệp định TRIPs chỉ quy định những nguyên tắc cơ bản về bảo hộ NHNT, đặc biệt là các tiêu chí đánh giá cũng như việc công nhận NHNT còn mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, từ đó dẫn đến thực trạng các quy định pháp luật quốc gia về vấn đề này rất đa dạng và rất khó tìm thấy sự thống nhất giữa các quốc gia Vì vậy, năm 1995, WIPO đã thành lập một Ủy ban chuyên gia về NHNT và sau đó là Ủy ban thường trực chuyên trách về pháp luật nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý, trong đó mục tiêu của

Ủy ban này có việc xem xét, đánh giá về các tiêu chí dùng để xác định một NHNT

Đến tháng 09/1999, Đại hội đồng của Liên minh Công ước Paris và WIPO đã ban

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 39

hành một bản khuyến nghị chung34 gồm sáu điều khoản nhằm mục đích làm rõ, bổ sung những nội dung về bảo hộ NHNT mà Công ước Paris và Hiệp định TRIPs còn chưa quy định cụ thể, trong đó đã xác định được các tiêu chí cần được xem xét, đánh giá bởi cơ quan có thẩm quyền của mỗi nước nhằm xác định một nhãn hiệu có được coi là nổi tiếng hay không để thực hiện công nhận, theo Điểm b, Khoản 1 Điều 2 của Bản khuyến nghị, các tiêu chí này là:

“1 Mức độ nhận biết hoặc thừa nhận của nhãn hiệu trong bộ phận người tiêu dùng có liên quan;

2 Thời hạn, phạm vi và khu vực địa lý của bất kỳ việc sử dụng nhãn hiệu đó;

3 Thời hạn, phạm vi và khu vực địa lý của bất kỳ hoạt động xúc tiến thương mại, bao gồm quảng cáo, trưng bày tại hội chợ hoặc triển lãm của hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu;

4 Thời hạn và khu vực địa lý của bất kỳ sự đăng ký và/hoặc bất kỳ đơn đăng ký nào của nhãn hiệu;

5 Sự ghi nhận thành công của việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu liên quan đến nhãn hiệu bởi cơ quan có thẩm quyền;

6 Giá trị gắn liền với nhãn hiệu”

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các tiêu chí cần xem xét đánh giá liệu một nhãn hiệu có phải là NHNT hay không theo Bản Khuyến nghị WIPO phải được hiểu rằng chúng chỉ mang tính chất là tập hợp các tiêu chí cần phải được đánh giá một cách cẩn trọng, toàn diện, nghĩa là không được bỏ qua bất kỳ tiêu chí nào trong số

đó nhưng không có nghĩa là bằng chứng chứng minh NHNT phải có và phải thỏa mãn từng tiêu chí đó

Bên cạnh các hướng dẫn về các tiêu chí đánh giá NHNT, Bản khuyến nghị WIPO đưa ra những căn cứ không được xem xét là các tiêu chí khi đánh giá NHNT:

34 Khuyến nghị chung liên quan tới các quy định về bảo hộ NHNT được Hội đồng Liên hiệp Paris về bảo hộ SHCN và Đại Hội đồng WIPO thông qua tại Phiên thứ ba mươi tư Hội nghị các Hội đồng thành viên WIPO diễn ra từ ngày 20 đến ngày 29/09/1999

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Trang 40

“Nhãn hiệu đã và đang được sử dụng, hoặc nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc

đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp hoặc đối với quốc gia thành viên;

NHNT, hoặc nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp hoặc đối với, bất kỳ cơ quan có thẩm quyền ngoài quốc gia thành viên;

Nhãn hiệu được coi là nổi tiếng bởi đại đa số người tiêu dùng tại quốc

gia thành viên”35

Mặc dù chỉ có giá trị khuyến nghị nhưng Bản khuyến nghị WIPO thật sự có ý nghĩa lớn trong việc định hướng cho các quốc gia trong việc quy định cụ thể các tiêu chí đánh giá để công nhận NHNT

1.4 Pháp luật đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại một số quốc gia

trên thế giới 1.4.1 Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều NHNT được biết đến trên toàn thế giới ở các lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ có kể là nhãn hiệu nước giải khát COCA-COLA, PEPSI; trong lĩnh vực công nghiệp ô tô nổi bật là nhãn hiệu của các hãng như FORD, General Motors (hay GM); trong lĩnh vực công nghệ thông tin và thiết bị điện tử có Google, Microsoft, Apple và kể cả trong dịch vụ, Hoa Kỳ có Amazon là nhãn hiệu giá trị nhất trên thế giới trong lĩnh vực thương mại điện tử Sự phát triển và lớn mạnh của các NHNT ở Hoa Kỳ có sự đóng góp không nhỏ của pháp luật về bảo hộ NHNT, mặc dù được đánh giá là khá phức tạp nhưng với bề dày kinh nghiệm trong thực tiễn xét xử mà pháp luật về bảo hộ NHNT của Hoa Kỳ đã phát huy hiệu quả trong việc bảo hộ NHNT, trong đó có việc đánh giá và công nhận NHNT Cơ sở pháp lý quan trọng của việc đánh giá và công nhận NHNT ở Hoa Kỳ

là Đạo luật Liên bang về sự lu mờ nhãn hiệu36 Để kết luận công nhận một nhãn hiệu

có nổi tiếng hay không, thẩm quyền này được trao Tòa án, Tòa án sẽ cân nhắc, xem

35 Khoản 3 Điều 2 của Bản Khuyến nghị WIPO

36 Federal Trademark Dilution Act (FTDA) được Hạ viện Hoa Kỳ thông qua ngày 16/12/1995 và Thượng viện thông qua vào ngày 29/12/1995

tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Ngày đăng: 28/07/2023, 16:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w