1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại việt nam , luận văn thạc sĩ

118 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam
Tác giả Phan Thanh Trúc
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Thị Giang Tân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN VÀ KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN (17)
    • 1.1 Tổng quan về chất lượng hoạt động kiểm toán trong kiểm toán BCTC (17)
      • 1.1.1 Định nghĩa chất lượng, chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC (17)
        • 1.1.1.1 Định nghĩa về chất lượng (17)
        • 1.1.1.2 Định nghĩa chất lượng hoạt động kiểm toán (18)
      • 1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC (21)
        • 1.1.2.1. Quy mô công ty kiểm toán (21)
        • 1.1.2.2. Nguồn nhân lực công ty kiểm toán (22)
        • 1.1.2.3. Quy trình kiểm soát chất lượng bên trong công ty kiểm toán (23)
        • 1.1.2.4. Tính độc lập (24)
    • 1.2 Khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC (27)
      • 1.2.1 Khái niệm khoảng cách mong đợi kiểm toán (27)
        • 1.2.1.1. Khái niệm về “khoảng cách mong đợi” (27)
        • 1.2.1.2. Khái niệm về “Khoảng cách mong đợi kiểm toán” (27)
      • 1.2.2 Các công trình nghiên cứu về khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC (29)
        • 1.2.2.1. Vai trò và trách nhiệm của KTV đối với BCTC trong việc cảnh báo tình hình hoạt động kinh doanh của công ty được kiểm toán tạo ra khoảng cách mong đợi toán (29)
        • 1.2.2.2. Trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận, sai sót trên BCTC và thông báo về các phát hiện này cho những đối tượng liên quan tạo ra khoảng cách (31)
        • 1.2.2.3. Bản chất và ý nghĩa thông điệp của Báo cáo kiểm toán và các khoảng cách (33)
      • 1.2.3 Cơ sở lý luận về nguyên nhân hình thành khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC và khả năng thu hẹp khoảng cách này (36)
        • 1.2.3.1. Nguyên nhân hình thành khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC (0)
        • 1.2.3.2. Khả năng thu hẹp khoảng cách mong đợi để nâng cao chất lượng kiểm toán 29 Kết luận chương I (39)
  • Chương II: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ KHOẢNG CÁCH GIỮA MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VỚI KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM (45)
    • 2.1 Đặc điểm hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam (45)
      • 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển nghề nghiệp kiểm toán độc lập tại Việt Nam (45)
      • 2.1.2 Số lượng và hình thức pháp lý công ty kiểm toán (45)
      • 2.1.3 Các dịch vụ do kiểm toán độc lập cung cấp (47)
      • 2.1.4 Đội ngũ nhân viên kiểm toán chuyên nghiệp (47)
      • 2.1.5 Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) (48)
    • 2.2 Các quy định liên quan chất lượng kiểm toán BCTC tại Việt Nam (49)
      • 2.2.1 Các quy định liên quan hoạt động kiểm toán độc lập (49)
      • 2.2.2 Các quy định có liên quan về chất lượng kiểm toán độc lập (51)
        • 2.2.2.1. Chuẩn mực kiểm toán số 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán (51)
        • 2.2.2.2. Chuẩn mực kiểm toán số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính (51)
        • 2.2.2.3. Chuẩn mực kiểm toán số 240 - Gian lận và sai sót (52)
        • 2.2.2.4. Chuẩn mực kiểm toán số 700 - Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính (52)
    • 2.3 Khảo sát ý kiến về nhân tố ảnh hưởng chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập và khoảng cách mong đợi xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam (53)
      • 2.3.1 Mục tiêu khảo sát (53)
      • 2.3.2 Phương pháp và nội dung khảo sát (53)
      • 2.3.3 Đối tượng khảo sát (54)
      • 2.3.4 Kết quả khảo sát (56)
        • 2.3.4.1. Các yếu tố đánh giá chất lượng kiểm toán (56)
        • 2.3.4.2. Khoảng cách mong đợi về chất lượng kiểm toán (60)
    • 2.4. Tổng hợp đánh giá về chất lượng hoạt động kiểm toán và khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Việt Nam (72)
      • 2.4.1 Đánh giá chung về chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam (72)
        • 2.4.1.1. Thành quả đạt được (73)
        • 2.4.1.2. Những tồn tại liên quan đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán (73)
      • 2.4.2 Đánh giá chung về khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Việt Nam (74)
        • 2.4.2.1. Điểm thống nhất (74)
        • 2.4.2.2. Những khác biệt về nhận thức đưa đến khoảng cách mong đợi kiểm toán (75)
    • 3.1 Quan điểm của các giải pháp (79)
      • 3.1.1 Các giải pháp cần phù hợp với thông lệ chung của quốc tế và phù hợp đặc điểm Việt Nam (79)
      • 3.1.2 Các giải pháp phải giúp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam (79)
    • 3.2 Giải pháp chung nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi kiểm toán và góp phần nâng (80)
      • 3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý để thu hẹp khoảng cách mong đợi do khiếm khuyết chuẩn mực (81)
        • 3.2.1.1. Ban hành đầy đủ các quy định pháp lý; cập nhật, sửa đổi thường xuyên hệ thống CMKiT Việt Nam (82)
        • 3.2.1.2. Ban hành đầy đủ và kịp thời hướng dẫn chi tiết về văn bản pháp luật liên (83)
      • 3.2.2 Nâng cao năng lực, trình độ của KTV, hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng để giảm thiểu khoảng cách về năng lực (84)
      • 3.2.3 Thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền kiến thức về kiểm toán đối với người sử dụng BCTC để giảm thiểu khoảng cách từ những mong đợi chưa hợp lý (84)
    • 3.3 Giải pháp cụ thể (85)
      • 3.3.1 Giải pháp đối với Cơ quan chức năng Nhà nước (85)
        • 3.3.1.1. Điều chỉnh quy mô công ty kiểm toán: tăng công ty kiểm toán có quy mô lớn, giảm công ty có quy mô nhỏ (85)
        • 3.3.1.2. Xây dựng khung giá phí kiểm toán, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh từ việc thỏa thuận giá phí giữa công ty kiểm toán với khách hàng (87)
        • 3.3.1.3. Nâng cao công tác kiểm tra, giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán từ Bộ Tài Chính, Hội nghề nghiệp và Ủy ban chứng khoán (88)
        • 3.3.1.5. Đổi mới việc đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề hướng đến quốc tế hóa chứng chỉ KTV hành nghề Việt Nam (92)
      • 3.3.2 Giải pháp đối với công ty kiểm toán (94)
        • 3.3.2.1. Phát triển đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ KTV (94)
        • 3.3.2.2. Giám sát chặt chẽ việc tuân thủ CMKiT, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của KTV (96)
        • 3.3.2.3. Hoàn thiện công tác kiểm soát chất lượng bên trong của công ty kiểm toán . 88 3.3.2.4. Nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán và hiệu quả hoạt động quản lý (98)
      • 3.3.3 Giải pháp đối với bản thân người sử dụng BCTC (101)
  • KẾT LUẬN (16)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (16)
  • PHỤ LỤC (110)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN VÀ KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN

Tổng quan về chất lượng hoạt động kiểm toán trong kiểm toán BCTC

1.1.1 Định nghĩa chất lượng, chất lượng hoạt động kiểm toán

1.1.1.1 Định nghĩa về chất lượng Đã từ lâu chất lượng trở thành một khái niệm quen thuộc với con người, nhưng cũng có không ít những tranh cãi phát sinh xoay quanh khái niệm này Nguyên nhân là do dưới nhiều góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, các khái niệm về chất lượng sẽ khác nhau

Theo triết học, chất lượng được định nghĩa là sự hoàn hảo tuyệt đối, gợi lên hình ảnh về sự hoàn mỹ và không khuyết tật Đây là một khái niệm trừu tượng, không thể định lượng hay đo lường, và do đó không thể áp dụng trực tiếp trong kinh doanh.

Walte.A Shemart, một nhà quản lý người Mỹ, đã khởi xướng quan điểm về chất lượng và quản lý chất lượng, cho rằng chất lượng sản phẩm trong sản xuất công nghiệp là tập hợp các đặc tính phản ánh giá trị sử dụng của sản phẩm Định nghĩa này liên quan đến đặc tính sản phẩm nhưng không xem xét nhu cầu và sở thích đa dạng của người tiêu dùng.

Một quan điểm từ góc độ nhà sản xuất cho rằng chất lượng sản phẩm được xác định bởi việc đạt và tuân thủ các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật đã được thiết kế trước Theo quan điểm này, các nhà sản xuất cần thiết lập và sản xuất theo các tiêu chuẩn đó để tạo ra sản phẩm chất lượng Tuy nhiên, quan điểm này chỉ tập trung vào các tiêu chuẩn mà không xem xét tác động của môi trường xung quanh và nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm.

Vào thế kỷ 20, bên cạnh những quan điểm chỉ chú trọng vào quy trình sản xuất, các quốc gia phát triển đã bắt đầu hình thành những quan niệm về chất lượng từ góc độ người sử dụng, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều quan điểm khác nhau.

 Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng (European Organization for Quality Control )

 Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu (Philip B.Crosby)

 Chất lượng là phù hợp với mục đích sử dụng (J.M.Juran)

Chất lượng được định nghĩa là tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng yêu cầu của người sử dụng, theo tiêu chuẩn ISO 9000-2005 (TCVN 9000-2007) Yêu cầu này bao gồm những nhu cầu, mong đợi đã được công bố, cũng như những hiểu biết chung hoặc bắt buộc.

Từ nhiều góc nhìn khác nhau, có nhiều định nghĩa về một khái niệm, nhưng tất cả đều chung một điểm: đó là tập hợp các đặc tính cần thiết để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Những yêu cầu này có thể liên quan đến kỹ thuật, công nghệ, nhu cầu của người tiêu dùng, hoặc các yêu cầu pháp lý khác Các quan điểm và khái niệm này không chỉ không đối lập mà còn bổ sung cho nhau.

Trong nền kinh tế hiện đại, chất lượng là thách thức lớn và mối quan tâm hàng đầu của mọi tổ chức Sản phẩm và dịch vụ cần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm và dịch vụ phải nỗ lực hơn nữa để đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động, góp phần vào lợi ích chung của xã hội.

1.1.1.2 Định nghĩa chất lượng hoạt động kiểm toán

Xuất phát từ nhu cầu giải quyết xung đột lợi ích giữa người sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) và các nhà quản lý doanh nghiệp, xã hội yêu cầu một bên thứ ba độc lập để đánh giá tính trung thực và độ tin cậy của thông tin trên BCTC Kiểm toán độc lập, với chức năng xác minh và trình bày ý kiến của kiểm toán viên thông qua báo cáo kiểm toán, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính chính xác của thông tin tài chính.

Ban giám đốc các doanh nghiệp đã cung cấp thông tin hợp lý trên báo cáo tài chính (BCTC), giúp người sử dụng tự tin tiếp nhận và sử dụng thông tin này Chất lượng và tính hữu dụng của cuộc kiểm toán là mục tiêu hàng đầu nhằm xác nhận tính trung thực và hợp lý của BCTC, thu hẹp khoảng cách giữa người sử dụng thông tin và nhà quản lý doanh nghiệp Theo Dang (2004), các báo cáo tài chính đã được kiểm toán đóng vai trò như một cơ chế giám sát để đảm bảo thông tin tài chính đến tay người sử dụng Định nghĩa về chất lượng hoạt động kiểm toán phức tạp hơn so với chất lượng sản phẩm thông thường, do sản phẩm kiểm toán mang tính đặc thù Nhiều nhà nghiên cứu đã nỗ lực đưa ra định nghĩa về chất lượng của hoạt động này.

Chất lượng kiểm toán, theo DeAngelo (1981), được định nghĩa là khả năng của kiểm toán viên trong việc phát hiện các sai sót trọng yếu, thể hiện qua khả năng kỹ thuật, cùng với việc báo cáo các phát hiện này, phản ánh tính độc lập của kiểm toán viên.

Theo Palmrose (1988), chất lượng kiểm toán được định nghĩa dựa trên mức độ đảm bảo, vì mục tiêu của kiểm toán là cung cấp sự đảm bảo cho báo cáo tài chính Do đó, chất lượng kiểm toán được hiểu là xác suất mà báo cáo tài chính không có những sai sót trọng yếu.

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 220, chất lượng hoạt động kiểm toán được định nghĩa là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, độ tin cậy và ý kiến của kiểm toán viên Mục tiêu của chất lượng kiểm toán là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong thời gian định trước với mức phí hợp lý.

Các định nghĩa này có thể được xem xét ở hai góc nhìn cụ thể:

Chất lượng kiểm toán từ góc nhìn của công ty kiểm toán được xác định bởi sự tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán và nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua ý kiến kiểm toán khách quan và đáng tin cậy Kiểm toán viên (KTV) cần đảm bảo tính trung thực và hợp lý của thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) bằng cách tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực và nguyên tắc, đồng thời duy trì tính độc lập và sự hoài nghi nghề nghiệp để phát hiện gian lận và sai sót Ngoài việc cung cấp ý kiến đảm bảo về thông tin tài chính, KTV còn thực hiện chức năng tư vấn để nâng cao hiệu quả kinh doanh cho khách hàng với mức phí hợp lý, đảm bảo lợi ích cho cả hai bên Hơn nữa, chất lượng kiểm toán còn được thể hiện qua việc các dịch vụ luôn được thực hiện bởi đội ngũ KTV độc lập, có năng lực chuyên môn và hiểu biết cần thiết về đơn vị được kiểm toán.

Từ góc nhìn của người sử dụng dịch vụ kiểm toán, việc dựa vào thông tin không đáng tin cậy trong báo cáo tài chính có thể dẫn đến những hậu quả tài chính nghiêm trọng cho các nhà đầu tư Do đó, họ luôn mong muốn nhận được thông tin trung thực và đáng tin cậy Trách nhiệm của kiểm toán viên là nâng cao độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, giúp người sử dụng đưa ra quyết định chính xác Người sử dụng cũng kỳ vọng kiểm toán viên sẽ phát hiện và thông báo tất cả các gian lận, sai sót, đồng thời đưa ra cảnh báo về tình hình kinh doanh sắp tới Chất lượng kiểm toán còn được thể hiện qua những tư vấn của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty với mức phí hợp lý.

Khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC

1.2.1 Khái niệm khoảng cách mong đợi kiểm toán

1.2.1.1 Khái niệm về “khoảng cách mong đợi” Đây là thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả tình trạng, theo đó có một sự khác biệt trong mong đợi tồn tại giữa một nhóm với một chuyên môn nhất định và một nhóm dựa vào chuyên môn đó Chẳng hạn nhận thức công chúng về trách nhiệm của kiểm toán viên thì khác với nhận thức của kiểm toán viên về trách nhiệm của mình trong cuộc kiểm toán Sự khác biệt này được gọi là khoảng cách mong đợi

Thuật ngữ này không chỉ xuất hiện trong tài liệu kế toán mà còn được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác Chẳng hạn, các nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt trong nhận thức về ngành hệ thống thông tin của sinh viên tốt nghiệp (Trauth và cộng sự, 1993), cũng như sự khác biệt trong mong đợi giữa đại diện quảng cáo và khách hàng về giá trị của các chiến dịch (Murphy và Maynard, 1996) Hơn nữa, còn có sự khác biệt trong các phương pháp kiểm toán giữa thời đại công nghiệp và thời đại thông tin trong lĩnh vực ngân hàng (Singh, 2004).

1.2.1.2 Khái niệm về “Khoảng cách mong đợi kiểm toán”

Nhiều tác giả đã nghiên cứu khoảng cách mong đợi và đưa ra các khái niệm dựa trên kết quả nghiên cứu của mình như sau:

Liggio (1974) đã giới thiệu khái niệm “khoảng cách mong đợi trong kiểm toán”, định nghĩa nó là sự khác biệt giữa hai mức độ mong đợi về hiệu quả công việc kiểm toán giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính.

Ủy ban Cohen (1978) đã định nghĩa khoảng cách mong đợi là sự chênh lệch giữa kỳ vọng của công chúng về những gì mà kiểm toán viên có thể và nên thực hiện một cách hợp lý.

Khoảng cách mong đợi, theo Guy và Sullivan (1988), là sự khác biệt giữa những gì công chúng và người sử dụng báo cáo tài chính kỳ vọng từ kế toán và kiểm toán viên, và những gì mà các chuyên gia này tin rằng họ phải chịu trách nhiệm.

Khoảng cách mong đợi giữa kiểm toán viên và công chúng được Godsell (1992) mô tả là do sự khác biệt trong nhận thức về nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên, cũng như những thông điệp được truyền tải qua các báo cáo kiểm toán.

Theo AICPA (1993), khoảng cách mong đợi kiểm toán là sự khác biệt giữa niềm tin của công chúng và người sử dụng báo cáo tài chính về trách nhiệm của kiểm toán viên, so với niềm tin của chính các kiểm toán viên về trách nhiệm của họ.

Khoảng cách mong đợi, theo định nghĩa của Porter (1993), là sự chênh lệch giữa kỳ vọng của xã hội đối với kiểm toán viên và các hoạt động thực tế mà kiểm toán viên thực hiện.

Epstein và Geiger (1994) định nghĩa khoảng cách mong đợi kiểm toán là sự khác biệt trong nhận thức giữa người sử dụng và kiểm toán viên, đặc biệt liên quan đến các dịch vụ đảm bảo mà họ cung cấp.

Khoảng cách mong đợi, theo Monroe và Woodliff (1994), là sự khác biệt trong niềm tin giữa kiểm toán viên và công chúng về nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận, sai sót và thông tin trong báo cáo kiểm toán Các định nghĩa này đều nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu rõ vai trò của kiểm toán viên trong việc đảm bảo tính chính xác và minh bạch của báo cáo tài chính.

(i) Sự khác biệt trong nhận thức về năng lực thực tế và năng lực được mong đợi của kiểm toán viên

Sự khác biệt giữa khả năng thực hiện của kiểm toán viên và kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính liên quan đến việc phát hiện gian lận và thông tin trong báo cáo kiểm toán là một vấn đề quan trọng Người sử dụng báo cáo thường mong đợi kiểm toán viên có thể phát hiện mọi sai sót và gian lận, trong khi thực tế khả năng của họ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố.

Khoảng cách mong đợi là sự chênh lệch giữa kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính và nhận thức của kiểm toán viên về nhiệm vụ và trách nhiệm của mình.

Mong đợi và hiểu biết của công chúng về nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên

= Nhận thức của kiểm toán viên về nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên +

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC

Trong hai thập kỷ qua, nhiều vụ bê bối tài chính và thất bại của các công ty kiểm toán, đặc biệt là các vụ như Enron, Worldcom và Parmalat, đã chỉ ra sự không đáp ứng kỳ vọng của nghề kiểm toán Những sự kiện này đã làm gia tăng khoảng cách giữa mong đợi và thực tế của hoạt động kiểm toán.

Nhiều nghiên cứu toàn cầu đã chỉ ra rằng khoảng cách mong đợi kiểm toán có sự khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia, bao gồm cả Hoa Kỳ, New Zealand và Đức.

Trong hơn 30 năm qua, Singapore, Malaysia, Ấn Độ và Iran đã tiến hành nhiều nghiên cứu liên quan đến chất lượng kiểm toán Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào ba vấn đề chính: (a) cảnh báo sớm của kiểm toán viên về nguy cơ thất bại trong kinh doanh của công ty; (b) trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện và báo cáo gian lận; và (c) bản chất cũng như ý nghĩa của thông điệp trong báo cáo kiểm toán.

THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ KHOẢNG CÁCH GIỮA MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VỚI KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM

Ngày đăng: 28/07/2023, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đề tài Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại các doanh nghiệp niêm yết. Đề tài tham dự cuộc thi SVNCKH 2012 Đại học Ngoại thương YRC FTU Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại các doanh nghiệp niêm yết
4. Hội nghề nghiệp kiểm toán Việt Nam VACPA, 2013. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2012 và phương hướng hoạt động năm 2013 của các công ty kiểm toán. <http://www.vacpa.org.vn/upload/infodoc/2013baocaotongkethoatdong2012phuonghuonghoatdong2013.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2012 và phương hướng hoạt động năm 2013 của các công ty kiểm toán
Tác giả: Hội nghề nghiệp kiểm toán Việt Nam VACPA
Năm: 2013
5. Lê Thế Việt, CPA (Việt Nam, Úc) – Giám đốc Kiểm toán công ty kiểm toán và Tư vấn NEXIA ACPA, Chuyên gia Dự án CTKT mẫu. Để áp dụng thành công chương trình kiểm toán mẫu của VACPA. <http://www.taichinh247.com/2010/08/e-ap-dung-thanh-cong-chuong-trinh-kiem.html>, [ngày 18/08/2010] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để áp dụng thành công chương trình kiểm toán mẫu của VACPA
Tác giả: Lê Thế Việt
Nhà XB: NEXIA ACPA
Năm: 2010
6. Mai Thị Hoàng Minh, 2012. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập trong điều kiện Luật kiểm toán độc lập đã được ban hành và áp dụng. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập trong điều kiện Luật kiểm toán độc lập đã được ban hành và áp dụng
Tác giả: Mai Thị Hoàng Minh
Nhà XB: Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
7. Nguyễn Thị Bích Sơn, 2010. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Sơn
Nhà XB: Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
8. Nguyễn Văn Hương, 2010. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận văn thạc sĩ. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hương
Nhà XB: Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
9. Trần Khánh Lâm, 2011. Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Tác giả: Trần Khánh Lâm
Nhà XB: Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w