PHẦN MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tạo ra những thay đổi căn bản trong đời sống xã hội Đặc biệt, mô hình bệnh tật đã chuyển từ nhóm bệnh truyền nhiễm sang nhóm bệnh không lây nhiễm, với sự gia tăng đáng kể các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường và viêm xương khớp Sự gia tăng này đang tạo ra gánh nặng cho xã hội về chi phí chăm sóc sức khỏe, làm suy giảm chất lượng sống của người dân và gây áp lực lớn lên hệ thống y tế Việt Nam do tình trạng quá tải tại các bệnh viện.
Hiện nay, các bệnh mạn tính không lây nhiễm đã có hướng dẫn chuyên môn và phác đồ điều trị chuẩn hóa, nhằm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 33/2015/TT-BYT quy định chức năng của Trạm Y tế phường, xã trong việc quản lý và khám chữa bệnh cho các bệnh này Tuy nhiên, năng lực cung cấp dịch vụ và quản lý bệnh tại Trạm Y tế vẫn chưa đạt hiệu quả cao, với nhiều Trạm có bác sĩ nhưng chất lượng khám chữa bệnh còn hạn chế Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế tại nhiều Trạm cũng xuống cấp, không đủ điều kiện cho bác sĩ thực hành Hậu quả là một tỷ lệ lớn bệnh nhân vẫn phải chuyển lên tuyến trên, gây gia tăng chi phí và lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ của bệnh viện tuyến trên.
Theo thống kê của Bộ Y tế, hiện nay các trạm y tế phường, xã chỉ quản lý được khoảng 13% người bệnh tăng huyết áp và 28% người bệnh đái tháo đường Thực trạng này cho thấy còn nhiều khoảng trống trong quản lý và điều trị các bệnh lý này.
Tại Việt Nam, có đến 86% người mắc tăng huyết áp chưa được điều trị và 56% trong số họ không được phát hiện Tình trạng này cũng tương tự với bệnh đái tháo đường, khi mà 68% người bệnh không được phát hiện và 71% chưa được điều trị Nhiều bệnh nhân thường chọn cơ sở y tế tuyến trên ngay từ đầu hoặc đã từng đến trạm y tế nhưng sau đó lại chuyển lên các bệnh viện lớn ở thành phố hoặc trung ương.
Quận 3 là quận trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh, có nền kinh tế tăng trưởng, trật tự xã hội ổn định và chiếm một vị trí quan trọng trong các lĩnh vực hoạt động của Thành phố, là nơi tập trung nhiều cơ sở văn hóa, tín ngưỡng, y tế, giáo dục, thể dục thể thao lớn nên luôn thu hút người dân đến sinh sống, học tập và làm việc khiến cho dân số của Quận ngày một tăng, trong khi đó hệ quả của việc ô nhiễm môi trường sống, mất vệ sinh ATTP, áp lực cuộc sống làm cho tỷ lệ ệnh tật gia tăng nhanh chóng dẫn đến nhu cầu về chăm sóc sức khỏe an đầu của người dân ngày càng cao, điều này đòi hỏi hệ thống y tế cơ sở trên địa àn Quận phải nâng cao chất lượng khám, chữa ệnh để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và ảo vệ sức khỏe người dân trên địa bàn.Hiện nay, Quận 3 có tổng cộng 14 Trạm y tế phường, tất cả đều có trụ sở riêng iệt Trong những năm qua mặc d các trạm đã được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết ị, nguồn nhân lực…tuy nhiên, trên thực tế các trạm chỉ mớiđáp ứng được một số nhiệm vụ đơn giản về y tế dự phòng là chính như phòng chống dịch, ệnh, quản lý an toàn thực phẩm Đối với các hoạt động thuộc hệ điều trị như khám chữa ệnh Bảo hiểm y tế, phòng khám mô hình Bác sĩ gia đình, khám chữa ệnh Y học cổ truyền… thì công tác triển khai thực hiện chưa thật sự ổn định và ền vững, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.Theo áo cáo của ngành y tế Quận 3 thì số lượt người ệnh đến khám chữa ệnh tại các trạm y tế phường trên địa àn Quận rất khiêm tốn, chỉ dao động từ 01 đến 30 lượt khám/ ngày/ trạm Trong đó, tỷ lệ ệnh nhân mắc ệnh mạn tính không lây nhiễm chủ động đến trạm y tế rất thấp chỉ trên 50 người/ tháng (tỷ lệ chưa đến 1%) Hầu hết cơ sở vật chất và trang thiết ị của các Trạm y tế đều còn hạn chế, danh mục thuốc không đủ kể cả những thuốc thuộc BHYT, đội ngũ ác sỹ thiếu và không chuyên nghiệp Chính vì thế, người dân có tâm lý không tin cậy Trạm y tế phường, có xu hướng chuyển lên các ệnh viện tuyến trên, dẫn đến tình trạng quá tải tại các nơi đây tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Học viên đã chọn đề tài nghiên cứu về "các yếu tố tác động đến sự lựa chọn của bệnh nhân mắc bệnh mạn tính không lây đối với dịch vụ y tế khám chữa bệnh tại trạm y tế phường ở Quận 3" Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả bức tranh tổng thể nhằm đề xuất các giải pháp khuyến khích người dân đến trạm y tế phường và cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh tại các trạm y tế phường ở Quận 3, đặc biệt đối với bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính không lây nhiễm.
Để nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh mạn tính không lây tại trạm y tế phường ở Quận 3, cần đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm thu hút bệnh nhân đến khám và chữa bệnh.
Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến sự lựa chọn khám chữa bệnh tại trạm y tế phường của bệnh nhân mạn tính không lây bao gồm chất lượng dịch vụ, sự gần gũi về địa lý, và sự tin tưởng vào bác sĩ Mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này đến quyết định tham gia khám chữa bệnh của họ là rất lớn, vì chúng quyết định sự hài lòng và sự tiếp cận dịch vụ y tế hiệu quả.
- Các giải pháp nào nâng cao sự lựa chọn khám, chữa ệnh tại trạm y tế phường của các ệnh nhân mạn tính không lây.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn Trạm y tế phường của ệnh nhân mạn tính không lây nhiễm
- Đối tượng khảo sát: các ệnh nhân mắc ệnh mạn tính không lây nhiễm đang khám chữa ệnh tại Trạm y tế phường và ở các cơ sở y tế khác
+ Không gian thực hiện: Trên địa àn Quận 3
+ Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 06 năm 2019.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng đồng thời 02 phương pháp đó là: phương pháp nhiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp định tính được áp dụng thông qua phỏng vấn sâu với đội ngũ y tế và bệnh nhân mắc bệnh mạn tính không lây, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trạm y tế phường Nghiên cứu tìm hiểu lý do tại sao bệnh nhân chọn hoặc không chọn trạm y tế phường để khám chữa bệnh Sau khi xác định các yếu tố tác động, tác giả đã thiết lập các biến phụ thuộc và biến độc lập cần thiết cho phương trình hồi quy, phục vụ cho nghiên cứu định lượng Mục tiêu là trả lời câu hỏi nghiên cứu, kiểm định giả thuyết và tìm hiểu xu hướng tác động của các yếu tố đến hành vi lựa chọn trạm y tế phường của bệnh nhân mắc bệnh mạn tính không lây, cũng như mối tương tác giữa các yếu tố này.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ tổng hợp và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện việc lựa chọn trạm y tế phường cho bệnh nhân mắc bệnh mạn tính không lây Đây là mục tiêu thứ hai mà tác giả hướng đến trong nghiên cứu này.
Những ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu
Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn Trạm y tế phường của bệnh nhân mắc bệnh mạn tính không lây, từ đó cung cấp kết quả cụ thể và những đóng góp quan trọng cho lĩnh vực y tế.
Nghiên cứu này hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước và ngành y tế Quận 3 hiểu rõ các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn Trạm y tế của người dân, đồng thời cung cấp phương pháp đo lường mức độ tác động của những yếu tố này.
Đề xuất các hàm ý quản trị và tổ chức thực hiện phù hợp cho các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế của Quận 3 nhằm xây dựng giải pháp tối ưu Mục tiêu là cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đồng thời thu hút người dân tích cực tham gia lựa chọn Trạm y tế phường để khám chữa bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu của hệ thống y tế cơ sở.
Cấu trúc dự kiến của luận văn
Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm việc xác định vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đồng thời giới thiệu phương pháp và phạm vi nghiên cứu một cách ngắn gọn.
Chương 2: Cơ sở lý luận:
Chương này trình bày các khái niệm liên quan và cơ sở lý thuyết của đề tài, cùng với các nghiên cứu trước đó để xây dựng khung phân tích.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ trình ày lựa chọn các iến đại diện đã được nêu ở khung phân tích Trong chương này, mô hình của đề tài cũng được lựa chọn, sau đó là những trình ày về phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu:
Chương này tập trung vào việc mô tả dữ liệu thông qua các bảng thống kê mô tả, đồng thời đưa ra những nhận xét ban đầu về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn khám chữa bệnh của bệnh nhân mạn tính không lây tại các Trạm y tế phường ở Quận 3 Phân tích ý nghĩa của các hệ số trong mô hình hồi quy nhằm khẳng định mối quan hệ giữa các yếu tố này.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này sẽ tóm lược lại những kết quả quan trọng của đề tài, từ đó có những kiến nghị nhằm gia tăng sự chọn lựa, sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của ệnh nhân mạn tính không lây tại Trạm y tế phường, giúp giảm tải các cơ sở y tế tuyến trên
Chương này đánh giá những hạn chế của đề tài, từ đó mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Các khái niệm
2.1.1 Sự lựa chọn: là quá trình ra quyết định, đánh đổi giữa nguồn lực hạn chế để đạt được nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ mà người đưa ra quyết định cần ự lựa chọn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả các yếu tố thuộc về người ra quyết định lựa chọn và các yếu tố của nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ Khi đánh đổi một nguồn lực khan hiếm, người lựa chọn luôn mong muốn đạt được sự tối ưu hóa hữu dụng Tuy nhiên, xuất phát từ ảnh hưởng của nhận thức, thông tin, trình độ của người lựa chọn hoặc những yếu tố chất lượng, sự khan hiếm, độc quyền,… thuộc về ên cung ứng dịch vụ, sự lựa chọn có thể không đạt được tối đa hóa hữu dụng
2.1.2 Bệnh mạn tính không lây: là các ệnh không truyền nhiễm từ người sang người, không do vi khuẩn, vi rút…gây nên Chúng diễn ra trong thời gian dài, tiến triển thường chậm và hay tái phát trở lại Ví dụ: ệnh tim mạch, ung thư, các ệnh về đường hô hấp mạn tính và tiểu đường…
2.1.3 Dịch vụ y tế: “là dịch vụ chỉ toàn ộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người về chăm sóc sức khỏe
Dịch vụ y tế là một trong bốn dịch vụ xã hội cơ bản, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người và được xã hội công nhận Đây là một loại hàng hóa đặc biệt, trong đó người bệnh thường không thể tự chọn lựa dịch vụ theo ý muốn, mà phụ thuộc vào bên cung ứng, cụ thể là các trạm y tế phường, xã.
2.1.4 Khám, chữa bệnh: Theo quy định của Luật Khám chữa ệnh số 40/2009/QH12 của Quốc hội:
Khám bệnh là quá trình bao gồm việc hỏi bệnh nhân, thu thập tiền sử bệnh, thực hiện thăm khám lâm sàng, và nếu cần thiết, chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng và thăm dò chức năng để đưa ra chẩn đoán chính xác và phương pháp điều trị phù hợp.
Chữa bệnh là quá trình áp dụng các phương pháp kỹ thuật chuyên môn đã được công nhận cùng với thuốc hợp pháp để cấp cứu, điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân.
Hoạt động khám chữa bệnh của người dân trong các khu vực y tế chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố xã hội, bao gồm hệ thống chính sách y tế địa phương, mạng lưới y tế và nhân lực y tế, cũng như các yếu tố nhân khẩu xã hội, truyền thông y tế và văn hóa tộc người.
2.1.5 Cơ sở y tế: theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009: “là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh”,bao gồm các bệnh viện, viện nghiên cứu, trung tâm y tế, phòng khám, trạm y tế và các cơ sở khác đang hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ y tế công lập và tư nhân Như vậy theo định nghĩa trên thì cơ sở y tế là nơi khám chữa và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Khả năng cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế phụ thuộc vào việc tổ chức các yếu tố đầu vào như tiền bạc, thuốc men, chính sách y tế, trang thiết bị, cán bộ y tế, mạng lưới y tế để thực hiện những can thiệp và những chương trình chăm sóc sức khỏe cần thiết
2.1.6 Hệ thống y tế Việt Nam:
Hệ thống y tế bao gồm các cơ sở y tế, tạo thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế Theo tiêu chuẩn quốc tế, mạng lưới này được chia thành ba cấp độ khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng Cấp độ đầu tiên là chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm cả khám chữa bệnh và y tế dự phòng Cấp độ thứ hai cung cấp dịch vụ y tế chuyên khoa (secondary care), trong khi cấp độ thứ ba là dịch vụ y tế chuyên sâu tại các trung tâm chuyên sâu (tertiary care) Người bệnh sẽ được chuyển đến dịch vụ chuyên khoa và chuyên sâu thông qua cán bộ hoặc cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Hệ thống y tế Việt Nam được chia thành ba tuyến: y tế cơ sở (phường/xã/quận/huyện), y tế địa phương (tỉnh/thành/khu vực) và y tế trung ương Nó được định nghĩa là một hệ thống kinh tế liên quan đến sức khỏe con người, bao gồm các đơn vị, tác nhân và thể chế tương tác một cách gắn kết, thích nghi và điều chỉnh với môi trường.
Hệ thống y tế Việt Nam bao gồm cả y tế tư nhân và y tế Nhà nước, được tổ chức theo khu vực và các tuyến khác nhau dựa trên cấp quản lý.
Theo khu vực thì hệ thống y tế Việt Nam được phân thành 02 khu vực: y tế phổ cập và y tế chuyên sâu:
Khu vực y tế phổ cập có nhiệm vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ dịch vụ chăm sóc sức khỏe hàng ngày cho nhân dân, bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản với kỹ thuật thông thường nhưng hiệu quả Khu vực này bao gồm các tuyến y tế từ quận, huyện trở xuống.
Khu vực y tế chuyên sâu tập trung vào việc áp dụng các kỹ thuật cao mũi nhọn, đồng thời thực hiện nghiên cứu khoa học, chỉ đạo khoa học kỹ thuật và cung cấp hỗ trợ cho tuyến trước.
Hình 2.1: Nhu cầu KCB, mô hình chuyển tuyến với cơ cấu tổ chức KCB hiện nay ở
Việt Nam cần phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu từ cơ sở y tế thấp nhất, với sự chuyển tuyến hiệu quả giữa các cấp độ điều trị Các cơ sở y tế được thành lập theo đơn vị hành chính, nhằm xây dựng mạng lưới khám chữa bệnh không phân biệt địa giới Chăm sóc sức khỏe ban đầu chủ yếu diễn ra tại tuyến xã, với hầu hết các xã, phường đều có trạm y tế và các quận, huyện có bệnh viện đa khoa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.
Nhu cầu của người bệnh ngày càng tăng cao trong việc tải luận văn thạc sĩ mới nhất Hệ thống y tế hiện tại của nước ta đang gặp khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, chủ yếu thực hiện theo hình thức hàng ngang Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Rubinfeld (2000)
Trong bối cảnh thu nhập hạn chế, người tiêu dùng thường bắt đầu bằng việc nhận thức nhu cầu của bản thân Họ thu thập thông tin sản phẩm dựa trên kinh nghiệm cá nhân và các yếu tố bên ngoài để đánh giá xem hàng hóa có đáp ứng nhu cầu của họ hay không Quyết định mua sắm được đưa ra dựa trên các tiêu chí phù hợp với nhu cầu, sở thích và khả năng chi tiêu của cá nhân Kinh tế học nghiên cứu và giải thích hành vi lựa chọn này, được mô tả trong lý thuyết hành vi người tiêu dùng của Pindyck và Daniel L Rubinfeld.
Lý thuyết hành vi người tiêu dùng của Pindyck và Daniel L Rubinfeld bắt đầu với giả thiết cơ bản về thị hiếu con người trong việc so sánh các giỏ hàng hóa Lý thuyết này sử dụng đường đồng mức và đường ngân sách để mô tả sự lựa chọn cuối cùng của người tiêu dùng giữa các mặt hàng trong thị trường Trong giới hạn ngân sách và nhu cầu vô hạn, khách hàng luôn tìm kiếm giỏ hàng tối đa hóa hữu dụng, thể hiện qua điểm tiếp xúc giữa đường ngân sách và đường đồng mức.
Bàng quan trong kinh tế học thể hiện các kết hợp khác nhau của người tiêu dùng trong việc lựa chọn rổ hàng hóa, tất cả đều mang lại tổng độ thỏa dụng như nhau Đường bàng quan là tập hợp các lựa chọn về lượng giữa hai hàng hóa, cho một mức hiệu dụng bằng nhau, thường có hình dạng đường cong dốc xuống và lồi về phía gốc tọa độ Tính chất này được giải thích bởi quy luật giảm dần của tỷ lệ thay thế biên, tức là tỷ lệ mà người tiêu dùng sẵn lòng giảm lượng hàng hóa này để tăng một đơn vị hàng hóa kia, nhằm tối đa hóa hữu dụng trong giới hạn ngân sách Hành vi con người là duy lý, do đó họ sẽ lựa chọn sản phẩm phù hợp để tối đa hóa độ thỏa dụng, ngay cả khi có nhiều sản phẩm, họ vẫn dựa vào mức hữu dụng của từng sản phẩm để đưa ra quyết định.
Đường ngân sách, hay còn gọi là đường giới hạn tiêu dùng, thể hiện các phối hợp khả thi giữa hai hoặc nhiều sản phẩm, hoặc giữa các đặc tính của cùng một sản phẩm mà người tiêu dùng có thể mua trong một thời điểm nhất định với mức giá và thu nhập cố định Sự thay đổi về thu nhập và giá cả sẽ làm dịch chuyển đường ngân sách, từ đó ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng.
Từ đường cầu và đường giới hạn ngân sách, giả định rằng người tiêu dùng luôn tối ưu hóa độ thỏa dụng của mình, quyết định tiêu dùng của họ được thể hiện qua sự cân bằng giữa đường cầu và đường ngân sách (Pindyk và L Rubinfield, 2000) [43], [76].
Hình 2.4: Tối đa hóa mức hữu dụng iên của người tiêu d ng g ồn: o ert Pindyck và Daniel L u in eld, 2000
Ngoài thu nhập và giá cả, quyết định lựa chọn hàng hóa và dịch vụ của khách hàng còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác như chất lượng, thương hiệu của nhà cung cấp, và đặc điểm cá nhân như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, và nơi cư trú Bên cạnh đó, thể chế và chính sách cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến quyết định mua sắm cuối cùng của khách hàng Sự khác biệt trong những đặc điểm này sẽ dẫn đến sự khác biệt trong quyết định lựa chọn hàng hóa và dịch vụ.
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng khách hàng thường không thể định lượng chính xác giá trị mà họ nhận được Thay vào đó, họ thường ước tính giá trị này bằng cách so sánh lợi ích và chi phí một cách trực giác.
Giá trị dành cho khách hàng chủ yếu là giá trị cảm nhận, được hình thành từ sự so sánh giữa lợi ích mà họ nhận được và chi phí đã bỏ ra Điều này cũng phụ thuộc vào ý kiến từ người thân, bạn bè và đồng nghiệp, cũng như thông tin từ các chiến dịch marketing, đặc biệt là đối với những sản phẩm và dịch vụ mà khách hàng thường xuyên mua sắm.
Dịch vụ y tế là một loại hàng hóa đặc biệt, gắn liền với sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân Trong tình trạng ốm đau, đặc biệt là cấp cứu, bệnh nhân không thể chờ đợi hay lựa chọn, mà buộc phải sử dụng dịch vụ y tế kịp thời Hơn nữa, chi phí khám chữa bệnh thường không thể được lên kế hoạch do tính chất không lường trước của bệnh tật, khiến bệnh nhân phụ thuộc nhiều vào thầy thuốc Do đó, sự lựa chọn dịch vụ y tế của bệnh nhân còn bị ảnh hưởng bởi tính sẵn có, tính kịp thời và mạng lưới cung cấp dịch vụ.
Người bệnh thường thiếu thông tin và hiểu biết để đánh giá chất lượng dịch vụ y tế, dẫn đến việc lựa chọn không tối ưu, gây tổn thất về sức khỏe và kinh tế Khi đến cơ sở y tế, họ chỉ có thể dựa vào cảm nhận như thái độ phục vụ và thời gian chờ đợi, mà không thể đánh giá chuyên môn của việc khám và điều trị Điều này dẫn đến tình trạng người bệnh chi tiêu nhiều tiền cho việc vượt tuyến hoặc điều trị ở nước ngoài mà không đạt được kết quả mong muốn Tâm lý lo lắng và tác động từ bên ngoài càng làm cho người bệnh khó có sự lựa chọn hợp lý.
2.2.2 Lý thuyết hành vi lựa chọn rời rạc của McFadden (1980):
Khởi nguồn từ nền tảng lý thuyết kinh tế vi mô về hành vi người tiêu d ng của Lancaster (1966) và lý thuyết thỏa dụng ngẫu nhiên của Thurstonee (1927), McFadden
Theo quan điểm của năm 1980, mỗi cá nhân sẽ chọn một trong những khả năng hữu hạn để tối đa hóa thỏa dụng của mình Độ thỏa dụng của người tiêu dùng bao gồm hai phần: phần có thể quan sát và đo lường dựa trên đánh giá của họ về thuộc tính sản phẩm, và phần không thể quan sát, mang tính ngẫu nhiên, phụ thuộc vào sở thích cá nhân.
Hàm thỏa dụng Unj của một cá nhân n khi tiêu d ng sản phẩm j là:
Unj = Vnj + ɛnj Với V là phần có thể quan sát được và ɛ là phần không thể quan sát được
Các nhà nghiên cứu chỉ có thể quan sát một số thuộc tính của các lựa chọn mà người quyết định phải đối mặt, cùng với một số đặc điểm của chính người ra quyết định, chứ không thể thấy được sự hữu dụng thực sự của họ (Train, 2009).
Lý thuyết hành vi lựa chọn rời rạc là nền tảng trong nghiên cứu hành vi con người, được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như marketing, kinh tế học giao thông, kinh tế tài nguyên và môi trường, cũng như kinh tế học sức khỏe Trong lĩnh vực này, độ thỏa dụng mà bệnh nhân mong muốn đạt được sau khi sử dụng dịch vụ y tế chính là sức khỏe của họ Các thuộc tính quan sát được như giới tính, tuổi tác, giáo dục, thu nhập và bảo hiểm ảnh hưởng đến lựa chọn của bệnh nhân, trong khi các thuộc tính không quan sát được bao gồm nhận thức về chất lượng dịch vụ và ưu đãi cho các thủ tục y tế Đối với các cơ sở y tế, thuộc tính quan sát được có thể là mức giá khám chữa bệnh và khoảng cách từ bệnh nhân đến cơ sở y tế, trong khi các thuộc tính không quan sát được bao gồm uy tín, danh tiếng và mức độ sạch sẽ của cơ sở.
Theo McFadden và Manshi (1983), tối đa hóa hữu dụng về sự chọn lựa cơ sở y tế j của ệnh nhân i, được xác định như sau:
Uij = Vij(Hi + Zi + Ei+ Mj)+ ɛij Trong đó, Vij ao gồm:
Hi là vector về tình trạng sức khỏe của ệnh nhân
Zi là những đặc điểm của ệnh nhân
Ei là tình trạng kinh tế của ệnh nhân
Mj là vector về các đặc điểm của cơ sở y tế
Giá trị ɛij là những sai số không đo được trong mô hình
Công thức của McFadden được coi là toàn diện nhất khi kết hợp thông tin từ cả bệnh nhân và cơ sở y tế để khảo sát mức độ tối ưu hóa trong lựa chọn cơ sở y tế Sự khác biệt về đặc điểm bệnh nhân và năng lực chuyên môn của từng cơ sở y tế dẫn đến giá trị tối ưu trong việc sử dụng dịch vụ y tế cũng khác nhau Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu, như của Arjun Bedi và các cộng sự (2003) trong nghiên cứu “Viện phí và tối ưu hóa hữu dụng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Kenya”, chỉ dựa vào các yếu tố quan sát được như đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện sống và chính sách ưu đãi của chính phủ trong việc sử dụng dịch vụ y tế.
Theo McFadden, khi bệnh nhân phải lựa chọn giữa nhiều cơ sở y tế, họ sẽ chọn cơ sở nào mang lại độ thỏa dụng cao nhất Cụ thể, một bệnh nhân i sẽ chọn cơ sở y tế j nếu độ hữu dụng từ cơ sở này lớn hơn độ hữu dụng từ cơ sở k Xác suất lựa chọn cơ sở y tế j được tính bằng công thức: \$P_{ij} = P(U_{ij} > U_{ik}) = P(V_{ij} + \epsilon_{ij} > V_{ik} + \epsilon_{ik})\$ với mọi k khác j.
2.2.3 Lý thuyết về hành vi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏ :