1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, báo cáo tài chính, international financial reporting standards, financial statement

124 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, báo cáo tài chính, International Financial Reporting Standards, Financial Statement
Tác giả Võ Quốc Phong
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Xuân Hưng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (13)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
  • 3. Câu hỏi nghiên cứu (15)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (16)
  • 6. Ý nghĩa của nghiên cứu (16)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU (18)
    • 1.1 Nghiên cứu trong nước (18)
    • 1.2 Nghiên cứu ngoài nước (20)
    • 1.3 Kết quả nghiên cứu đã đạt được và những hạn chế (23)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (26)
    • 2.1 Sơ lược về IFRS (26)
    • 2.3 Sơ lược công ty đại chúng (28)
    • 2.4 Thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991) (29)
    • 2.5 Thuyết đại diện (Agency Theory) (30)
    • 2.6 Thuyết dự phòng (31)
    • 2.7 Thuyết khuếch tán cải tiến (Diffusion of Innovation) (31)
    • 2.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến sẵn sàng áp dụng IFRS (31)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1 Quy trình và phương pháp nghiên cứu (36)
    • 3.2. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu (48)
    • 3.3. Dữ liệu thu thập (48)
    • 3.4. Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu (49)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (54)
    • 4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (54)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu thực tế (58)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý (80)
    • 5.1. Ý nghĩa (80)
    • 5.2 Các Hàm ý (80)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và sự mở rộng hợp tác giữa các quốc gia đã tạo ra nhu cầu cần thiết về một bộ CMBCTC thống nhất Bộ CMBCTC này sẽ giúp các nhà đầu tư quốc tế dễ dàng nắm bắt tình hình tài chính của các doanh nghiệp tiềm năng, từ đó thúc đẩy sự hợp tác và đầu tư giữa các vùng lãnh thổ khác nhau trên toàn cầu.

Trong giai đoạn 1973-2000, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) đã ban hành 41 chuẩn mực kế toán quốc tế Năm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) được thành lập để thay thế IASC trong việc ban hành tiêu chuẩn kế toán Đến nay, IASB đã ban hành 27 IAS và 16 IFRS Theo thống kê của IASB, hiện có hơn 131 quốc gia áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau.

Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, Bộ Tài chính đã xây dựng đề án áp dụng chính thức IFRS cho các loại hình doanh nghiệp.

Nhiều nghiên cứu trên toàn cầu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS ở các quốc gia khác nhau, như nghiên cứu của Wallace và cộng sự.

In 1994, a study titled "The relationship between the comprehensiveness of Corporate Annual Reports and Firm Characteristics in Spain" was conducted, alongside another research by Wallace and Naser focusing on "Firm-specific determinants of the."

Comprehensiveness of mandatory disclosure in Corporate Annual reports of Firm listed on the stock exchange of Hong Kong” Tiếp đến là El-Gazzar và cộng sự

(1999), với đề tài nghiên cứu “An Empirical Investigation of Multinational Firms’

Research on compliance with International Accounting Standards has been conducted by various scholars, including Murphy (1999), who examined the firm characteristics of Swiss companies utilizing these standards Tagesson et al (2003) explored the relationship between attitudes towards harmonization and the internationalization of corporations, focusing on Swedish listed companies' implementation of IASB standards Alsaeed (2006) investigated the association between firm-specific characteristics and disclosure practices in Saudi Arabia Guerreiro (2008) assessed the preparedness of companies in Portugal to adopt International Financial Reporting Standards Khlif and Souissi (2008) provided a meta-analysis on the determinants of corporate disclosure, while Rouf (2011) studied corporate characteristics and governance attributes in relation to voluntary disclosure in Bangladesh Notably, Kolapo, T Funso contributed to this body of research as well.

Ayeni, R Kolade và Oke, M Ojo (2017) đã thực hiện nghiên cứu với đề tài "Tác động của các tiêu chuẩn IFRS trong ngành công nghiệp tại Nigeria: Một phương pháp mô hình bảng" Tại Việt Nam, có những nghiên cứu tiêu biểu như Đặng Ngọc Hùng (2017) với đề tài nghiên cứu tương tự.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam Huỳnh Thị Thùy Dung (2017) đã phân tích các yếu tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán thông qua mô hình SEM Nguyễn Đăng Dung (2017) tập trung vào chất lượng thông tin trong báo cáo của các công ty niêm yết trên sàn HOSE, trong khi Nguyễn Văn Dũng (2017) đánh giá mức độ vận dụng IFRS tại các công ty điện máy ở Quảng Ninh Gần đây, Nguyễn Minh Cương (2018) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp xây lắp ở Đồng Nai Nguyễn Thị Kim Phụng (2018) xem xét khả năng áp dụng IFRS 10 & IFRS 12 tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Tp Hồ Chí Minh, và Nguyễn Thị Thu Hoàn (2018) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.

Năm 2018, nghiên cứu của Nguyễn Thị đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi báo cáo tài chính từ Chuẩn mực kế toán Việt Nam sang Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế.

Ngọc Diệp (2019) đã đưa ra những nhận định về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực kế toán của các quốc gia Dương Hoàng Ngọc Khuê và cộng sự (2019) cũng đã thực hiện nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các yếu tố này trong quá trình thực hiện.

Hầu hết các nghiên cứu hiện nay đều tập trung vào các yếu tố của môi trường vi mô ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam, đặc biệt là trong các công ty vừa và nhỏ Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào các yếu tố này liên quan đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam, đối tượng sẽ bắt buộc áp dụng IFRS từ năm 2025.

Tác giả đã quyết định nghiên cứu về "Nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của các công ty đại chúng tại Việt Nam" Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc áp dụng IFRS, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình và xu hướng của các công ty trong việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam.

- Xác định mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam hiện nay

Khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam là rất quan trọng Những yếu tố này bao gồm nhận thức về tiêu chuẩn IFRS, khả năng tài chính, và sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý Việc hiểu rõ những yếu tố này sẽ giúp các công ty chuẩn bị tốt hơn cho quá trình chuyển đổi sang IFRS, từ đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong báo cáo tài chính.

Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu:

- Các công ty đại chúng tại Việt Nam đã sẵn sàng áp dụng IFRS chưa?

Các yếu tố đặc trưng của công ty có thể ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam bao gồm quy mô công ty, mức độ phức tạp trong hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính, và sự hiểu biết về chuẩn mực kế toán quốc tế Ngoài ra, sự hỗ trợ từ ban lãnh đạo và cam kết trong việc đào tạo nhân viên cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi này.

Mức độ tác động của các yếu tố đặc tính đã được khám phá trong nghiên cứu này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu:

Mức độ sẵn sàng và các yếu tố đặc trưng của các công ty đại chúng tại Việt Nam ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS Nghiên cứu này sẽ tập trung vào phạm vi ảnh hưởng của những yếu tố này đối với quá trình chuyển đổi sang chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế.

Các công ty đại chúng trong phạm vi cả nước c Thời gian nghiên cứu:

Em khảo sát thông qua bảng câu hỏi vào năm 2019

Kết hợp với việc thu thập báo cáo tài chính của các công ty đại chúng qua các năm 2016, 2017 và 2018

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả áp dụng các phương pháp mô tả, thống kê, phân tích và so sánh trong nghiên cứu của mình Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.

Nghiên cứu định tính được tác giả áp dụng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đã xác định đến sự chuẩn bị áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam.

Ý nghĩa của nghiên cứu

Bài nghiên cứu cho thấy khoảng 35% công ty đại chúng tại Việt Nam đã hoàn thành quy trình chuyển đổi và đánh giá ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS, trong khi 65% còn lại chưa chuẩn bị cho việc này Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố môi trường bên trong công ty ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS, bao gồm quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, quy mô công ty kiểm toán, hoạt động thương mại quốc tế, đòn bẩy tài chính và trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ Bộ Tài chính trong việc xây dựng lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam và đề xuất các chính sách hỗ trợ cho các công ty trong giai đoạn chuyển đổi.

Cấu trúc của luận văn

Luận văn có kết cấu 5 chương và được bố cục như sau:

+ Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu + Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, Chương 4 tổng hợp kết quả nghiên cứu, và Chương 5 đưa ra kết luận cùng hàm ý Tải luận văn tốt nghiệp mới nhất qua email: vbhtj mk gmail.com.

TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu trong nước

Nhiều nghiên cứu về IFRS tại Việt Nam đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán Đặc biệt, Đặng Ngọc Hùng (2017) đã thực hiện nghiên cứu với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam thông qua mô hình SEM” Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng, với bảng thang đo được kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả cho thấy ba yếu tố chính tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán ở Việt Nam, bao gồm đặc điểm doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu vốn, và đặc điểm hệ thống văn bản pháp luật cùng tổ chức tư vấn nghề nghiệp.

Nghiên cứu “Đánh giá mức độ sẵn sàng vận dụng của Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại các công ty con thuộc tổng công ty xây dựng công trình giao thông 134” (2017) của Nguyễn Văn Dũng đã chỉ ra sự chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS tại các công ty con Tác giả cũng đã nêu rõ các nhân tố tác động đến mức độ áp dụng IFRS trong các công ty này.

Hơn nữa, phạm vi nghiên cứu của tác giả chỉ trong phạm vi nội bộ các thành viên trực thuộc tổng công ty 134

Nguyễn Lê Vân Khánh (2018) đã nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự nguyện áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam”, tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tác giả chỉ ra rằng các yếu tố như cơ cấu vốn đầu tư, quy mô doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng đáng kể đến việc tự nguyện áp dụng IFRS của các doanh nghiệp này.

Bài nghiên cứu chưa xem xét các yếu tố khác như trình độ của nhân viên phòng tài chính kế toán và loại hình doanh nghiệp kiểm toán.

Nguyễn Thị Kim Phụng (2018) trong nghiên cứu của mình về “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán IFRS 10 & IFRS 12 tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh” đã chỉ ra 6 nhân tố quan trọng tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán IFRS 10.

IFRS 12 tại các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí

Nhu cầu cung cấp thông tin của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của chuẩn mực, và các yếu tố như lợi ích áp dụng, tính minh bạch, tính kỷ luật và chế tài trong IFRS 10 & IFRS 12 là rất quan trọng Bài nghiên cứu chỉ tập trung vào hai chuẩn mực kế toán IFRS 10 và IFRS 12, do đó chưa thể tổng quát hóa mức ảnh hưởng của các yếu tố đã khám phá đến việc áp dụng IFRS của các doanh nghiệp tại Việt Nam.

Nguyễn Thị Thu Hoàn (2018) đã nghiên cứu về "Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán", tập trung vào chuẩn mực kế toán thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam Bài nghiên cứu này đã chỉ ra những đặc điểm của doanh nghiệp có tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán trong bối cảnh Việt Nam.

Bài nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố vi mô ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán, đặc biệt là chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên, bài viết chưa làm rõ liệu các yếu tố này có tác động đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam hay không.

Hà Xuân Thạch và cộng sự (2018) trong nghiên cứu “Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi báo cáo tài chính từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế” đã áp dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, với mẫu khảo sát gồm 300 chuyên gia kế toán-kiểm toán Kết quả nghiên cứu chỉ ra năm nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS.

Gần đây, Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2019) đã thực hiện nghiên cứu với đề tài “Nhận định các nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán của các quốc gia” Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuẩn mực kế toán quốc tế, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình áp dụng chuẩn mực này ở các quốc gia khác nhau.

Bằng cách kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng, tác giả đã đưa ra một luận văn tốt nghiệp mới nhất Luận văn này xem xét các yếu tố như quy mô công ty, năng lực nhân viên kế toán và yêu cầu bắt buộc của bộ tài chính, từ đó phân tích tác động của chúng đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán.

Nổi bật hơn nữa là Dương Hoàng Ngọc Khuê và Nguyễn Thị Ngọc Oanh

Nghiên cứu năm 2019 về "Nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS" đã sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Kết quả cho thấy các yếu tố văn hóa, pháp lý, tăng trưởng kinh tế, trình độ giao dịch và thị trường vốn đều ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực IAS và IFRS.

Lê Trần Hạnh Phương (2019) đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) tại Việt Nam, xác định 17 nhân tố thông qua phương pháp định tính và định lượng, trong đó có 7 nhân tố chính ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS Nghiên cứu chỉ ra rằng bên cạnh các yếu tố vĩ mô, các yếu tố vi mô như đầu tư nước ngoài, chất lượng kiểm toán và sự tham gia quản lý của người nước ngoài trong Ban lãnh đạo cũng có tác động đáng kể Tuy nhiên, tác giả chưa xem xét các nhân tố vi mô khác như đòn bẩy tài chính và tỷ suất lợi nhuận của công ty.

Nghiên cứu ngoài nước

Wallace và cộng sự (1994) đã nghiên cứu "Mối quan hệ giữa tính toàn diện của Báo cáo Tài chính Hàng năm và Đặc điểm Công ty tại Tây Ban Nha" với hai mục tiêu chính Thứ nhất, họ xem xét sự khác biệt trong thông tin công bố trong báo cáo tài chính hàng năm và các tài khoản của công ty, nhằm xác định xem có hệ thống hay không và các đặc tính nội tại của công ty có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin hay không Thứ hai, nghiên cứu cũng đánh giá tính khả thi của các đặc tính công ty đã được công bố trong các nghiên cứu trước đây đối với bối cảnh Tây Ban Nha Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các đặc tính đã được chứng minh như tài sản, doanh thu, cơ cấu tổ chức, lợi tức, lợi nhuận, tính thanh khoản, lĩnh vực kinh doanh, niêm yết trên sàn chứng khoán và quy mô công ty để phục vụ cho nghiên cứu.

Wallace và cộng sự đã chỉ ra sự khác biệt trong báo cáo tài chính của các công ty Tây Ban Nha, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như quy mô công ty, tính thanh khoản và tình trạng niêm yết Mặc dù chưa tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa các đặc tính khác với mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên, nghiên cứu cũng đã xác định một số yếu tố vi mô như quy mô công ty và quy mô công ty kiểm toán có tác động đến việc áp dụng IFRS Do đó, các yếu tố vi mô này có thể được vận dụng trong nghiên cứu của bạn.

Wallace và cộng sự (1995) đã nghiên cứu "Các yếu tố đặc thù của công ty ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch Hong Kong" Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin toàn diện trong báo cáo tài chính Các tác giả đã sử dụng các đặc tính của công ty từ nghiên cứu tại Tây Ban Nha và bổ sung thêm các yếu tố mới như đòn bẩy tài chính và tỷ lệ cổ phiếu sở hữu bởi cổ đông nước ngoài Kết quả cho thấy các đặc tính như tài sản, tỷ suất lợi nhuận, loại công ty kiểm toán và lĩnh vực kinh doanh có tác động đến chỉ số công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên Tuy nhiên, các yếu tố như tình trạng niêm yết, tính thanh khoản, lợi tức và tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài lại có tác động không rõ ràng đến mức độ công bố thông tin toàn diện.

El-Gazzar và cộng sự (1999) đã thực hiện nghiên cứu "Khảo sát thực nghiệm về việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế của các công ty đa quốc gia" Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá mức độ tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) của các công ty đa quốc gia, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ này Các tác giả đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến mức độ tuân thủ IAS cao ở các công ty này và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trong báo cáo tài chính của họ.

Murphy (1999) trong nghiên cứu “Đặc điểm của các công ty Thụy Sĩ sử dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế” đã tập trung vào các đặc điểm nội tại của các công ty tại Thụy Sĩ Nghiên cứu xác định các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại quốc gia này Tác giả chỉ ra rằng mức độ hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của các công ty Thụy Sĩ có tác động mạnh mẽ và đồng hướng đến việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế.

Sỹ, các nhân tố khác như quy mô công ty, quy mô công ty kiểm toán… thì ảnh hưởng không đáng kể

Tagesson và cộng sự (2003) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thái độ đối với quốc tế hóa và sự đồng hóa trong việc áp dụng các chuẩn mực của IASB tại các công ty niêm yết ở Thụy Sĩ Nghiên cứu cho thấy rằng hầu hết các nhà quản lý tài chính đều có thái độ thận trọng đối với việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cho các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thụy Sĩ.

Nghiên cứu của Alsaeed (2006) về mối liên hệ giữa các đặc điểm cụ thể của công ty và mức độ công khai thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty phi lợi nhuận tại Ả Rập Xê Út cho thấy quy mô công ty là yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ công khai thông tin Các đặc điểm khác như đòn bẩy tài chính, sự đa dạng chủ sở hữu, tuổi của công ty, lợi nhuận biên, tính thanh khoản, lĩnh vực kinh doanh và quy mô công ty kiểm toán có ít ảnh hưởng đến mức độ công khai thông tin trong báo cáo tài chính thường niên của các công ty này.

In his 2008 study titled "The Preparedness of Companies to Adopt International Financial Reporting Standards: Portuguese Evidence," Guerreiro examined the readiness of public companies in Portugal to implement IFRS.

Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS bao gồm quy mô công ty và chủ thể kiểm toán.

Nghiên cứu của Khlif và cộng sự (2008) về "Các yếu tố quyết định sự công bố thông tin doanh nghiệp" đã chỉ ra rằng quy mô công ty kiểm toán có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính hàng năm Tuy nhiên, các yếu tố khác như sự phân tán cổ đông, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, hoạt động đa quốc gia và sự theo dõi của các nhà phân tích không có tác động đáng kể đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính.

Rouf (2011) trong nghiên cứu “Đặc điểm công ty, thuộc tính quản trị và mức độ công bố tự nguyện tại Bangladesh” đã phân tích mối liên hệ giữa các đặc tính của công ty, thuộc tính quản trị và phạm vi công bố tự nguyện Kết quả từ phân tích tương quan Pearson cho thấy cấu trúc ban lãnh đạo, quy mô ban lãnh đạo, ủy ban kiểm toán, tổng tài sản và tỷ lệ các giám đốc độc lập có mối quan hệ thuận hướng với sự công bố thông tin tự nguyện Ngược lại, tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được sở hữu bởi nội bộ công ty lại có mối quan hệ nghịch hướng với sự công bố tự nguyện Tuy nhiên, tổng tài sản và tổng doanh thu, đại diện cho đặc tính quy mô và đặc tính lợi nhuận, không có mối quan hệ rõ ràng với sự công bố tự nguyện.

Kết quả nghiên cứu đã đạt được và những hạn chế

1.3.1 Kết quả nghiên cứu đã đạt được: Đặc điểm chung các các nghiên cứu em đã nêu là tập trung vào đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố vi mô đến sự vận dụng IFRS tại mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới Hầu hết kết quả của các nghiên trước trước đây đều cho thấy được ảnh hưởng thuận chiều của các nhân tố như quy mô công ty (size), tỷ suất lợi nhuận tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg trên tổng tài sản (ROA), cấu trúc sở hữu vốn, tình hình hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp, quy mô công ty kiểm toán… đến sự áp dụng IFRS

Em có thể tiếp tục sử dụng các yếu tố vi mô để nghiên cứu tác động của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam, đặc biệt là đối với các công ty đại chúng trong nước.

1.3.2 Hạn chế của của các nghiên cứu:

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố đặc trưng của doanh nghiệp và sự sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), hầu hết các nghiên cứu đều được thực hiện ở nước ngoài hoặc chỉ tập trung vào doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam Chưa có nghiên cứu nào xem xét ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng của các công ty đại chúng tại Việt Nam đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS Việt Nam, với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thể có những khác biệt trong ảnh hưởng của các yếu tố này so với các quốc gia khác trên thế giới.

Hiện nay, các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam đang chuẩn bị như thế nào cho việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế? Có những yếu tố nội tại nào ảnh hưởng đến sự sẵn sàng này?

Thông qua chương này, tác giả đã trình bày những đặc điểm tổng quát về đề tài nghiên cứu, bao gồm lý do lựa chọn đề tài, các câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Tác giả cũng đã tổng quan các bài nghiên cứu trong và ngoài nước để xác định các yếu tố đặc trưng của doanh nghiệp như quy mô, tỷ lệ sinh lời, đòn bẩy tài chính, quy mô công ty kiểm toán, và chi phí-lợi ích, từ đó phân tích ảnh hưởng của chúng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên Qua đó, tác giả nhận định được khe hở và xây dựng mục tiêu cần nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Sơ lược về IFRS

IFRS, viết tắt của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế, được phát triển bởi IASB (Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế) IASB được thành lập vào năm 1973 tại London với tên gọi ban đầu là IASC (Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế) và đã đổi tên thành IASB vào năm 2001 Sau nhiều năm cải tiến và hoàn thiện, IASB đã ban hành một bộ khái niệm khung báo cáo tài chính và 16 bộ IFRS.

Harrison và cộng sự (1999) cho rằng IFRS tạo ra sự minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình bằng cách giảm bớt lỗ hổng thông tin giữa nội bộ và bên ngoài công ty Ngoài ra, IFRS giúp các doanh nghiệp và thị trường hoạt động hiệu quả hơn nhờ vào chuẩn mực toàn cầu và đáng tin cậy, áp dụng cho cả các nền kinh tế Hơn nữa, IFRS cũng hỗ trợ giảm thiểu chi phí về vốn và chi phí báo cáo.

Nhiệm vụ chính của IFRS là xây dựng bộ khung chuẩn quốc tế cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty IFRS tập trung vào các hướng dẫn và diễn giải chung nhất về cách lập báo cáo tài chính, thay vì thiết lập các quy tắc cụ thể Điều này tạo ra sự khác biệt rõ nét so với VAS của Việt Nam.

Hiện IASB đã ban hành 16 IFRS như sau:

IFRS 1 (First-time adoption of International Financial Reporting Standards): áp dụng lần đầu IFRS

IFRS 2 (Share-based payments): Thông tin dựa trên cổ phiếu IFRS 3 (Business combinations): Hợp nhất kinh doanh

IFRS 5 (Non-current assets held for sale and Discontinued operations): Tài sản dài hạn chờ để bán và hoạt động gián đoạn tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

IFRS 6 (Exploration for and Evaluation of Mineral Resources): Thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản

IFRS 7 (Financial instruments: Disclosures): Công cụ tài chính: Trình bày

IFRS 8 (Operation segments): Bộ phận kinh doanh IFRS 9 (Financial instruments): Công cụ tài chính IFRS 10 (Consolidated Financial statements): Báo cáo tài chính hợp nhất

IFRS 11 (Joint Arrangements): Cam kết về sự liên kết

IFRS 12 (Disclosure of Interests in other Entities): Công bố lợi ích giữa các bên liên quan

IFRS 13 (Fair value measurement): Đo lường giá trị hợp lý

IFRS 14 (Regulatory Deferral Accounts): Các khoản hoãn lại theo luật định

IFRS 15 (Revenue from Contracts with Customers): Doanh thu từ các hợp đồng với khách hàng

IFRS 16 (Lease): Thuê tài sản IFRS 17 (Insurance contracts): Hợp đồng bảo hiểm

Hiện nay, hơn 131 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã áp dụng IFRS, và xu hướng này đang ngày càng được mở rộng toàn cầu.

2.2 Sơ lược về hệ thống kế toán của Việt Nam:

Hệ thống kế toán tài chính tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng, phản ánh quá trình hình thành và tiến bộ của kế toán Việt Nam.

Trước năm 1975, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền, dẫn đến sự khác biệt trong hệ thống kế toán Miền Nam áp dụng hệ thống kế toán của Mỹ, trong khi Miền Bắc sử dụng chuẩn mực kế toán của Liên Xô.

Giai đoạn 1976 đến 1990: Việt Nam áp dụng chuẩn mực kế toán của Liên

Xô trong cơ chế tập trung là một giai đoạn quan trọng trong nền kinh tế bao cấp của nước ta Trong thời kỳ này, kế toán chủ yếu được sử dụng như một công cụ phản ánh tình hình hoàn thành kế hoạch của Nhà nước, thể hiện sự quản lý và kiểm soát kinh tế một cách chặt chẽ.

Giai đoạn 1991 đến 1994 đánh dấu sự chuyển đổi của đất nước từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, dẫn đến sự xuất hiện của nền kinh tế nhiều thành phần Sự thay đổi này đã làm thay đổi đặc thù của nghề kế toán, với nhiều định nghĩa mới như lãi, lỗ, và lợi nhuận, mà trước đây nhiều kế toán viên theo chế độ cũ cảm thấy khá trừu tượng.

Giai đoạn từ 1995 đến nay, hệ thống kế toán Việt Nam đã được hoàn thiện với việc Bộ Tài chính ban hành 26 chuẩn mực kế toán, gọi là VAS (Vietnam Accounting Standards) Các chuẩn mực này nhấn mạnh tính tuân thủ nguyên tắc, quy định chi tiết cho từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh VAS yêu cầu các công ty trình bày số liệu kế toán theo đúng quy tắc đã được hướng dẫn, nhằm chuẩn hóa việc ghi chép và trình bày thông tin tài chính trong báo cáo hàng năm.

Bộ Tài chính đang xây dựng lộ trình áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) cho các doanh nghiệp tại Việt Nam Quyết định số 345/QĐ-BTC đã được ban hành để phê duyệt đề án này, trong đó các công ty đại chúng sẽ bắt buộc lập báo cáo tài chính theo IFRS từ sau năm 2025.

Sơ lược công ty đại chúng

Theo Điều 25 của Luật Chứng khoán, một công ty được xem là công ty đại chúng nếu là công ty cổ phần và đáp ứng một trong ba điều kiện sau đây.

Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng.

+ Công ty có cổ phiểu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán

Công ty phải có ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu, không bao gồm các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp Ngoài ra, vốn điều lệ của công ty cần phải đạt từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên.

Công ty đại chúng cần có báo cáo tài chính minh bạch, rõ ràng và dễ hiểu do nguồn vốn hoạt động đến từ việc huy động vốn của các nhà đầu tư khác nhau Mục tiêu của IASB trong việc xây dựng các bộ chuẩn mực IFRS là hướng tới tính thống nhất cao trong báo cáo tài chính Việc áp dụng IFRS tại Việt Nam không chỉ phù hợp với chính sách của Bộ Tài chính mà còn đáp ứng nhu cầu thiết yếu của các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài IFRS, được viết bằng tiếng Anh, giúp các nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng tiếp cận và nắm bắt thông tin quan trọng trong báo cáo tài chính.

Thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991)

Ajzen (1991) cho rằng hành vi có thể được dự đoán hoặc giải thích thông qua các xu hướng hành vi liên quan đến việc thực hiện hành vi đó Những xu hướng này bao gồm các yếu tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi, được định nghĩa là mức độ nỗ lực mà mỗi người bỏ ra để thực hiện hành vi.

Theo Ajzen và Fishbein (1975) xác định rằng xu hướng hành vi phụ thuộc vào ba yếu tố chính: (1) Các thái độ được hiểu là đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về hành vi thực hiện; (2) Sự ảnh hưởng xã hội liên quan đến áp lực xã hội mà cá nhân cảm nhận để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi đó; (3) Thuyết hành vi dự định (TPB) được Ajzen phát triển bằng cách bổ sung yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA, trong đó yếu tố này phản ánh mức độ dễ dàng hoặc khó khăn khi thực hiện hành vi, phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và cơ hội để thực hiện hành vi.

Thông qua thuyết hành vi dự định, chúng ta có thể hiểu cách mà doanh nghiệp ứng phó với quy định mới từ nhà nước Các doanh nghiệp với nguồn lực khác nhau sẽ có những phản ứng khác nhau, điều này phản ánh sự chi phối của thuyết hành vi dự định.

Các công ty đại chúng tại Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng từ thuyết hành vi dự định khi áp dụng IFRS Dưới áp lực từ hoạt động kinh doanh và nhu cầu thu hút nhà đầu tư nước ngoài, việc trình bày báo cáo tài chính theo một chuẩn mực rõ ràng và có tính quốc tế cao trở thành yêu cầu thiết yếu.

Vận dụng thuyết hành vi dự định, bài viết xác định sự chuẩn bị của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam trong việc áp dụng IFRS Qua đó, có thể nhận diện các nhân tố nội tại ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại các công ty này.

Thuyết đại diện (Agency Theory)

Jensen và Meckling (1976) chỉ ra rằng xung đột xuất hiện do thông tin không đầy đủ và sự bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Hai bên có lợi ích khác nhau, và vấn đề này có thể được giảm thiểu bằng cách áp dụng các cơ chế thích hợp nhằm hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý Điều này bao gồm việc thiết lập các cơ chế đãi ngộ phù hợp cho các nhà quản trị và cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế hành vi không bình thường và tư lợi của người quản lý công ty.

Nhiều công ty đại chúng hiện nay không có ban lãnh đạo nắm giữ nhiều cổ phần, mà thay vào đó, họ được thuê làm quản lý và nhận lương cùng thưởng dựa trên lợi nhuận tạo ra Đặc biệt, ở những công ty lớn hoặc những công ty sử dụng đòn bẩy tài chính cao, ảnh hưởng của Thuyết đại diện trở nên rõ ràng hơn, khi tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản cao.

Thuyết đại diện là công cụ phù hợp để nghiên cứu tác động của các yếu tố như quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận và đòn bẩy tài chính đến việc áp dụng IFRS tại doanh nghiệp.

Thuyết dự phòng

Fayol và các cộng sự (1949) cho rằng có thể xác định cấu trúc tối ưu cho tất cả các tổ chức, tuy nhiên trong thực tế, cơ cấu tổ chức thường có sự thay đổi đáng kể.

Theo Chenhall (2007), không tồn tại một cơ cấu tổ chức tốt nhất cho mọi tổ chức Hiệu suất của một tổ chức phụ thuộc vào sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức và các yếu tố ngữ cảnh như môi trường, chiến lược, công nghệ, quy mô và văn hóa Các lý thuyết liên quan đến sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức và các yếu tố ngữ cảnh được gọi là lý thuyết dự phòng.

Với tính chất cẩn trọng, thuyết dự phòng được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu tài chính và kế toán Thuyết này hỗ trợ việc phân tích các đặc tính như quy mô công ty và loại hình kiểm toán được sử dụng.

Thuyết khuếch tán cải tiến (Diffusion of Innovation)

Everett Roger đã xây dựng nên thuyết khuếch tán cải tiến vào năm 1962

Theo Everett Roger, khuếch tán là quá trình truyền đạt sự đổi mới qua các kênh theo thời gian giữa các thành viên trong một hệ thống xã hội Mỗi cá nhân sẽ trải qua 5 bước để chấp nhận một sản phẩm mới Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, IFRS cũng giống như một sản phẩm mới Do đó, thuyết khuếch tán cải tiến sẽ hỗ trợ trong việc nhận diện các quy trình mà các công ty phải trải qua để tuân thủ quy định áp dụng IFRS của bộ tài chính.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sẵn sàng áp dụng IFRS

Các nhà nghiên cứu đã lý thuyết hóa nhiều đặc tính của công ty liên quan đến mức độ toàn diện của thông tin được công bố trong báo cáo tài chính Nhiều tác giả như Wallace và các cộng sự (1994), El-Gazzar và các cộng sự (1999), Tagesson và các cộng sự (2003), Alsaeed (2006), Guerreiro (2008), Khlif và Souissi (2008), Rouf (2011) đã kết hợp các yếu tố khám phá từ các nghiên cứu trước Đồng thời, họ cũng căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội đặc thù tại Việt Nam để đưa vào đề tài nghiên cứu của mình một số đặc tính quan trọng.

2.8.1 Quy mô công ty (SIZE):

Các công ty lớn ngày càng có nhu cầu huy động vốn cao và bị giám sát chặt chẽ bởi cơ quan quản lý nhà nước, do đó, thông tin trong báo cáo tài chính cần phải rõ ràng và minh bạch Chi phí đại diện cũng tăng theo quy mô công ty, vì vậy cần có báo cáo tài chính hoàn chỉnh, minh bạch và có độ chính xác cao (Alsaeed, 2006).

Giả thuyết được đặt ra là quy mô doanh nghiệp càng lớn thì mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS càng cao

Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mức báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng tăng lên tương ứng với quy mô công ty, cho thấy sự phát triển và cam kết của doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng báo cáo tài chính Việc áp dụng IFRS không chỉ giúp cải thiện tính minh bạch mà còn tăng cường niềm tin của nhà đầu tư và các bên liên quan.

Hỗ trợ cho giả thuyết này là lý thuyết hành vi dự định và lý thuyết đại diện

2.8.2 Thương mại quốc tế (COMINT)

Công ty hoạt động trên thị trường quốc tế ngày càng cần thiết phải hội nhập, đặc biệt khi có nhiều đối tác và nhà đầu tư chiến lược nước ngoài Việc áp dụng IFRS không chỉ cải thiện thông tin tài chính của doanh nghiệp mà còn giúp các nhà đầu tư dễ dàng so sánh, từ đó đưa ra quyết định chính xác hơn (a Gordon & P Loeb, 2012).

Giả thuyết cho rằng mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS sẽ tăng lên khi công ty có hoạt động kinh doanh quốc tế cao.

Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mức báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng đang gia tăng, đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của mức độ kinh doanh quốc tế Sự chuyển đổi này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch trong báo cáo tài chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư từ các thị trường quốc tế.

Lý thuyết dự phòng và lý thuyết hành vi dự định hỗ trợ cho giả thuyết này.

2.8.3 Loại công ty kiểm toán (AUD)

Trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán, các công ty kế toán kiểm toán quốc tế hàng đầu (Big 4) rất ủng hộ việc hội tụ giữa kế toán quốc gia và quốc tế Việc áp dụng một hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính chung giữa các quốc gia sẽ giúp các công ty Big 4 tiết kiệm chi phí khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng Các công ty kiểm toán này thường tư vấn cho khách hàng về việc áp dụng IFRS.

Giả thuyết cho rằng các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big 4 sẽ có mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS cao hơn.

Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của các công ty đại chúng được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big 4 cao hơn so với các công ty khác.

Hỗ trợ cho giả thuyết này là Lý thuyết khuếch tán cải tiến và Lý thuyết đại diện

2.8.4 Tỷ suất lợi nhuận (DEBT):

Các công ty có lợi nhuận cao thường có xu hướng trình bày thông tin tài chính một cách rõ ràng và đáng tin cậy Họ không chịu áp lực phải che giấu thông tin tài chính bất lợi, do đó việc báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế trở nên dễ dàng được chấp nhận Giả thuyết được đưa ra là các công ty sẵn sàng áp dụng IFRS khi tỷ suất lợi nhuận của họ càng cao.

Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng đang gia tăng, đồng thời tỷ lệ lợi nhuận cũng có xu hướng tăng theo.

Hỗ trợ cho giả thuyết này là lý thuyêt đại diện và lý thuyết hành vi dự định

2.8.5 Đòn bẩy tài chính (ROA)

Nhu cầu công bố thông tin tài chính minh bạch và chính xác ngày càng tăng, đặc biệt là khi tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các công ty cao (Alsaeed, 2006) Dưới áp lực từ chủ nợ, các công ty đại chúng với tỷ lệ nợ cao có xu hướng áp dụng chuẩn mực IFRS nhiều hơn.

Các công ty có xu hướng áp dụng IFRS nhiều hơn khi sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính.

Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng liên quan đến đòn bẩy tài chính là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch và hiệu quả tài chính Việc tuân thủ IFRS không chỉ giúp cải thiện khả năng tiếp cận vốn mà còn tăng cường niềm tin của nhà đầu tư.

Hỗ trợ cho giả thuyết này là lý thuyết đại diện và lý thuyết dự phòng

2.8.6 Năng lực chuyên môn của người làm kế toán (EDU)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy trình và phương pháp nghiên cứu

Tác giả thực hiện quy trình nghiên cứu như sau:

Bước 1 : Xác định mục tiêu nghiên cứu mà đề tài hướng tới

Bước 2 : Đưa ra lý thuyết nền và sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty đại chúng Việt Nam

Bước 3 : Từ cơ sở lý thuyết và căn cứ thực tiễn tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu sơ bộ, thông qua hai giai đoạn chính:

Giai đoạn 1 bao gồm việc áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm, nhằm điều chỉnh thang đo của các biến cần quan sát trong mô hình.

Giai đoạn 2 của nghiên cứu tập trung vào việc áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Tác giả tiến hành chọn mẫu và thực hiện khảo sát chính thức với bảng câu hỏi, thu thập dữ liệu từ 223 phiếu khảo sát Sau khi phỏng vấn, tác giả tiến hành sàng lọc và loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu, sau đó mã hóa và nhập liệu Cuối cùng, dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 để rút ra thông tin cần thiết.

Bước 4 : Sau khi mã hóa, làm sạch dữ liệu, tác giả tiến hành phân tích các bước như sau:

Phân tích độ tin cậy của thang đo được thực hiện thông qua phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, nhằm loại bỏ các biến không phù hợp Cụ thể, nếu hệ số tương quan biến - tổng "corrected – total correlation" nhỏ hơn 0.3, biến đó sẽ bị loại Thang đo được coi là chấp nhận được về mặt độ tin cậy khi hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6.

Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các biến thành phần trong mô hình.

+ Factor loading > 0.5 + 0.5 < kmo < 1 tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

+ Kiểm định bartlett n có sig < 0.5 + Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích (total variance explained) > 50%

+ Hệ số nhân tố trích eigenvalue có giá trị > 1

Bước 5: Kiểm định các giả thuyết trong mô hình, kiểm định mô hình hồi quy đa biến với mức ý nghĩa 5%

Bước 6: Kiểm định t-test và phân tích Anova

Sau đây là quy trình nghiên cứu của đề tài:

Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu

Xác định MTNC Đưa ra các cơ sở lý luận và các nhân tố ảnh hưởng đến IFRS

Sơ lược VAS, IFRS và công ty đại chúng

Xây dựng mô hình nghiên cứu:

+ Thang đo + Mô hình lý thuyết

NCĐL Khảo sát thực tế

Thu thập và xử lý số liệu n"3

Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích thông tin Tải xuống tài liệu luận văn thạc sĩ mới nhất qua email.

3.1.2 Phương pháp nghiên cứu Để nhất quán với nội dung, mục đích và yêu cầu của đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thống kê và phân tích dữ liệu sơ cấp từ kết quả khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi xây dựng theo thang đo Likert Mục tiêu là đánh giá và phân tích đề tài một cách khách quan và chính xác nhất.

Nguồn số liệu từ các tạp chí chuyên ngành và website của cơ quan nhà nước, cũng như các công ty đại chúng tại Việt Nam, được sử dụng làm dữ liệu thứ cấp cho nghiên cứu và thực hiện đề tài.

Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn: giai đoạn 1 là nghiên cứu định tính, giai đoạn 2 là nghiên cứu định lượng

• Nghiên cứu định tính:

Tác giả tiến hành nghiên cứu định tính nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty đại chúng tại Việt Nam, đồng thời xây dựng các biến quan sát cho thang đo nghiên cứu.

- NCĐT được thực hiện qua 2 bước:

Bước đầu tiên là tổ chức thảo luận nhóm với 10 chuyên gia, bao gồm các cán bộ và giảng viên đang công tác tại các trường đại học tại Tp Hồ Chí Minh, cùng với các đại diện từ công ty kiểm toán uy tín.

Bước 2 là tiến hành khảo sát thử tại 30 công ty đại chúng nhằm điều chỉnh các yếu tố trong thang đo của bảng câu hỏi khảo sát.

• Nghiên cứu định lượng:

Tác giả đã thực hiện khảo sát với 223 cán bộ kế toán đang làm việc tại các công ty thương mại dịch vụ (CTĐC) ở Việt Nam thông qua bảng câu hỏi khảo sát hoàn chỉnh Mục tiêu của khảo sát là thu thập, phân tích dữ liệu và ước lượng, kiểm tra mô hình Các cán bộ kế toán được khảo sát là những người đảm nhiệm vị trí kế toán trưởng, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán và chịu trách nhiệm chính về hoạt động của bộ phận kế toán trong công ty.

Tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích dữ liệu thu thập được, bao gồm các kỹ thuật như thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s alpha, phân tích hồi quy bội, kiểm định mô hình nghiên cứu, kiểm định các giả thuyết của mô hình, kiểm định phương sai ANOVA, và kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể độc lập (independent samples t-test).

3.1.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu:

• Mô hình nghiên cứu:

Tác giả đã dựa trên mô hình nghiên cứu của Guerreiro (2008) và điều chỉnh phương pháp xác định các yếu tố cho phù hợp với điều kiện thực tế Đồng thời, tác giả kết hợp với các yếu tố vi mô đã được khám phá trong các nghiên cứu trước đây để đề xuất các yếu tố chủ chốt ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty đại chúng tại Việt Nam.

(Nguồn: Guerreiro (2008) và tổng hợp của tác giả)

Nội dung các biến trong nghiên cứu:

- Biến phụ thuộc MĐSSADIFRS: Mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH (DEBT)

QUY MÔ CÔNG TY (SIZE)

LOẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN (AUD)

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (COMINT)

TĐCM CỦA KẾ TOÁN (EDU)

TỶ SUẤT LỢI NHUẬN (ROA)

The readiness to implement IFRS (International Financial Reporting Standards) in public companies is crucial for enhancing transparency and comparability in financial reporting This transition is essential for aligning with global accounting practices and improving investor confidence.

Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

Theo nghiên cứu của Hair và cộng sự (2008) trong cuốn "Multivariate Data Analysis", số lượng mẫu khảo sát cần thiết để đảm bảo độ tin cậy cao phải đáp ứng điều kiện: \$n = N \times 5 + m\$ (mẫu).

Trong đó: n: số lượng mẫu khảo sát

N: số lượng biến m: số mẫu dự phòng

Nghiên cứu có sử dụng 26 biến quan sát nên số lượng mẫu phải đạt tối thiểu là 180

Tác giả đã chọn mẫu khảo sát dựa trên phương pháp thuận tiện nhất, với đối tượng là các giám đốc tài chính, kế toán trưởng và kế toán tổng hợp Những người này đều có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại các công ty đại chúng ở Việt Nam vào năm 2019.

Bảng 3.9: Bảng tình trạng phát và thu hồi phiếu khảo sát

Chỉ tiêu Số phiếu Tỷ lệ

Số phiếu khảo sát phát ra 223 100%

Số phiếu khảo sát thu về 205 92,1%

Số phiếu khảo sát hợp lệ 200 90%

Số phiếu khảo sát không hợp lệ 05 2%

(nguồn: điều tra thực tế của tác giả)

Dữ liệu thu thập

Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi điều tra tại các CTĐC ở Việt Nam Mẫu nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cụ thể là kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện với 223 cán bộ quản lý kế toán Các cán bộ này đều có trình độ chuyên môn cao, thâm niên công tác đáng kể và đang đảm nhiệm các chức vụ quản lý trong bộ phận kế toán Do đó, thông tin từ bảng khảo sát có giá trị tương đối cao.

Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ Cục Thống kê và các báo cáo tổng kết, báo cáo tài chính của một số công ty đại chúng tại Việt Nam.

Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu

Tác giả tiến hành phân tích và xử lý dữ liệu thứ cấp để đánh giá và phân tích đề tài một cách khách quan và chính xác Nguồn dữ liệu này chủ yếu được thu thập từ báo cáo thường niên và báo cáo ngành của Tổng cục Thống kê Việt Nam, cùng với các hiệp hội các CTĐC tại Việt Nam Tác giả tổng hợp và xử lý dữ liệu theo yêu cầu của từng nội dung trong luận văn cần hướng tới.

Kỹ thuật đánh giá thang đo

Hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng để đánh giá độ tin cậy của các thang đo, giúp phân tích và loại bỏ những biến không phù hợp, từ đó hạn chế biến rác trong quá trình nghiên cứu Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, hệ số này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính chính xác của dữ liệu nghiên cứu.

Từ 0.8 đến gần gần bằng 1 là thang đo tốt

Từ 0.7 đến 0.8 là sử dụng được

Thang đo có độ tin cậy khi hệ số Cronbach's alpha lớn hơn 0,6 có thể được sử dụng, đặc biệt trong trường hợp thang đo lường là mới hoặc chưa quen thuộc với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu (theo Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995) Do đó, đề tài này áp dụng hệ số Cronbach’s alpha từ 0,6 trở lên.

Mặc dù hệ số Cronbach's alpha là một chỉ số quan trọng, nhưng nó không chỉ ra biến nào nên giữ lại và biến nào nên loại bỏ Do đó, bên cạnh hệ số này, người ta còn sử dụng hệ số tương quan biến tổng (item-total correlation) để xác định và loại bỏ các biến không cần thiết.

Hệ số này càng cao thì sự tương quan của các biến này với các biến khác trong nhóm càng cao

Các biến có hệ số biến tổng nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại khỏi thang đo Tốt nghiệp, tải luận văn đầy đủ mới nhất.

Vì vậy trong đánh giá độ tin cậy các biến có hệ số tương quan biến tổng (item – total correlation) < 0.3 sẽ bị loại (trích theo Nunnally, 1978; Peterson, 1994;

Kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá efa

Kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA) là phương pháp hiệu quả để thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu Phân tích nhân tố được thực hiện thông qua phương pháp thành phần chính (principal components) kết hợp với phép xoay "varimax".

Hệ số nhân tố tải (factor loading)>= 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn, dùng để xác định biến cần chọn lựa theo nhân tố

Mức ý nghĩa sig của kiểm định bartlett < 5%, là các biến có tương quan

Trị số KMO lớn trong khoảng “0.5

Ngày đăng: 28/07/2023, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w