Tính cấp thiết của đề tài
Tính kịp thời là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao tính hữu ích của báo cáo tài chính (BCTC) Thông tin tài chính được công bố kịp thời giúp minh bạch kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó hỗ trợ nhà đầu tư trong việc định giá và ra quyết định đầu tư Đối với thị trường chứng khoán, việc công khai thông tin kịp thời không chỉ tăng cường hiệu quả mà còn giảm thiểu giao dịch nội gián và tâm lý bầy đàn Do đó, việc công bố thông tin tài chính đúng hạn luôn được các cơ quan quản lý chú trọng và thực hiện các biện pháp để đảm bảo trách nhiệm của công ty trong việc phát hành BCTC.
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ, do đó việc công bố thông tin tài chính kịp thời rất quan trọng cho các nhà đầu tư Báo cáo tài chính kiểm toán là nguồn dữ liệu thiết yếu để đưa ra quyết định tài chính Các cơ quan nhà nước đã quy định rõ thời gian phát hành báo cáo tài chính trong Luật Kế toán, Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp Công ty niêm yết cũng phải tuân thủ quy định công bố thông tin theo Thông tư 155/2015/TT-BTC Tuy nhiên, vi phạm về chậm nộp báo cáo tài chính vẫn phổ biến, ảnh hưởng đến uy tín và tính minh bạch của doanh nghiệp Do đó, việc đảm bảo tính kịp thời trong công bố báo cáo tài chính là yêu cầu cấp thiết cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nhà đầu tư Các yếu tố quản trị là điều mà doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn, từ đó cần xem xét để công bố thông tin tài chính một cách hiệu quả hơn.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra tầm quan trọng của tính kịp thời trong báo cáo tài chính, điển hình là các nghiên cứu của Dyer và McHugh (1975) cũng như Davies và Whittred.
(1980), Givoly và Palmon (1982), Ashton và cộng sự (1989), Carslaw và Kaplan
Vấn đề này đã được nghiên cứu từ lâu, với các công trình của Bamber và cộng sự (1991), Henderson và Kaplan (2000), và Abernathy và cộng sự (2014) Tuy nhiên, tại Việt Nam, sự chú trọng đến vấn đề này chỉ mới bắt đầu gần đây, đặc biệt trong các nghiên cứu của Đặng Đình Tân (2013) và Nguyễn Trọng Nguyên.
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào dữ liệu chuỗi thời gian và sử dụng các kiểm định thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính Tuy nhiên, cần thực hiện một nghiên cứu toàn diện hơn với dữ liệu bảng và xem xét tổng hợp các yếu tố để nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá tính kịp thời của báo cáo tài chính.
Dựa vào tính cấp thiết của báo cáo tài chính kịp thời và vai trò của quản trị công ty, tác giả chọn đề tài “Ảnh hưởng của quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh” cho luận văn thạc sĩ.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tác động của các yếu tố quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh.
Mục tiêu cụ thể
Xác định các yếu tố quản trị công ty ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính là một nhiệm vụ quan trọng đối với các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Việc nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa quản trị và chất lượng báo cáo tài chính, từ đó nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính trên thị trường.
Đề xuất mô hình nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng của quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả quản trị công ty niêm yết nhằm nâng cao tính kịp thời của công bố thông tin tài chính.
Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố quản trị công ty đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính kịp thời của báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM Sự minh bạch và trách nhiệm của ban lãnh đạo ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình lập báo cáo tài chính, từ đó tác động đến khả năng công bố thông tin đúng hạn Việc áp dụng các quy định quản trị tốt giúp nâng cao chất lượng báo cáo, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty.
- Định hướng để tăng cường năng lực quản trị công ty nhằm nâng cao tính kịp thời của báo cáo tài chính?
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, cụ thể như sau:
Phương pháp thống kê được áp dụng để thu thập, xử lý và sắp xếp số liệu một cách hợp lý, nhằm phân tích ảnh hưởng của các yếu tố quản trị khác nhau đến tính kịp thời của báo cáo tài chính (BCTC).
Phương pháp tổng hợp trong nghiên cứu bao gồm việc kết hợp lý thuyết và thực nghiệm, đồng thời tham khảo các tài liệu từ các nghiên cứu trước đó Qua đó, nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp riêng để thực hiện và phân tích kết quả hồi quy.
Phương pháp định lượng được áp dụng trong nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của các yếu tố quản trị đến tính kịp thời của báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết trên sàn HOSE Kết quả phân tích sẽ giúp đưa ra những kiến nghị và giải pháp phù hợp với thực trạng tại Việt Nam.
Bài viết phân tích hồi quy dữ liệu bảng nhằm xác định mức độ tác động của các nhân tố quản trị đến tính kịp thời của báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết trên sàn HOSE Sử dụng các mô hình hồi quy như Pools, Fixed Effects Model (FEM) và Random Effects Model (REM), bài viết áp dụng kiểm định Redundant test để so sánh mô hình FEM và POOLS, cũng như kiểm định Hausman test để so sánh mô hình FEM và REM Phần mềm Stata được sử dụng để chọn ra mô hình hồi quy phù hợp nhất cho phân tích.
Ý nghĩa của nghiên cứu
Dựa trên lý thuyết đã trình bày, tính kịp thời của báo cáo tài chính (BCTC) đã được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chú trọng Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa khai thác sâu về ảnh hưởng của các nhân tố quản trị công ty đến tính kịp thời của BCTC Do đó, luận văn sẽ làm rõ vấn đề này.
Đánh giá tác động của quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính là một vấn đề quan trọng đối với các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp HCM Nghiên cứu này nhằm phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố quản trị và khả năng công bố báo cáo tài chính đúng hạn, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả quản trị trong bối cảnh thị trường chứng khoán.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả quản trị công ty niêm yết nhằm nâng cao tính kịp thời của công bố thông tin tài chính.
Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu liên quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, Chương 4 tổng hợp kết quả nghiên cứu, và Chương 5 đưa ra kết luận cùng với các gợi ý giải pháp Tải luận văn thạc sĩ mới nhất qua email vbhtj mk gmail.com để tham khảo.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trên toàn cầu, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc công bố báo cáo tài chính (BCTC), với sự đa dạng về bộ dữ liệu và phạm vi quốc gia Các yếu tố liên quan đến quản trị và đặc tính cơ bản của doanh nghiệp được xác định là có tác động đáng kể đến vấn đề này Dưới đây, tác giả sẽ tóm tắt một số công trình nghiên cứu tiêu biểu.
Mô hình nghiên cứu của Ziyad Mustafa M Al-Shwiyat (2013) được thực hiện trên 120 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Jordan vào năm 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy thời hạn công bố báo cáo tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến các yếu tố tài chính của các công ty này.
Sau 111 ngày kể từ khi kết thúc niên độ tài chính, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính ngân hàng công bố báo cáo tài chính nhanh chóng hơn so với các lĩnh vực khác Ngược lại, các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp cần nhiều thời gian hơn để hoàn thành báo cáo tương tự.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy rằng thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) không có mối quan hệ với tính kịp thời của việc công bố thông tin tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, các yếu tố như số năm hoạt động, quy mô doanh nghiệp, và tỷ suất nợ lại có mối tương quan thuận với tính kịp thời của việc công bố thông tin tài chính.
Nghiên cứu của Khalid Alkhatib và Qais Marji (2012) về 137 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Jordan vào năm 2010 cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, tỷ số sinh lời và chất lượng công ty kiểm toán không ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính Tuy nhiên, đối với các công ty trong ngành dịch vụ, tính kịp thời của báo cáo tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với đòn bẩy tài chính.
Nghiên cứu của Younes (2011) đã khảo sát mối quan hệ giữa loại hình doanh nghiệp, quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, đòn bẩy nợ, chất lượng thu nhập và tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Ai Cập trong giai đoạn 1998-2007 Kết quả cho thấy ngành công nghiệp có ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính, và các công ty lớn hơn thường phát hành báo cáo tài chính hàng năm nhanh hơn so với các công ty nhỏ Ngoài ra, các công ty có tỷ lệ nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu cao mất nhiều thời gian hơn để chuẩn bị và công bố báo cáo tài chính so với các công ty có tỷ lệ nợ thấp Cuối cùng, các công ty quản lý thu nhập hiệu quả có thời gian ngắn hơn đáng kể để phát hành báo cáo tài chính so với những công ty quản lý thu nhập kém hiệu quả.
Nghiên cứu của Asli (2010) chỉ ra rằng báo cáo tài chính kịp thời đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hoạt động của thị trường vốn Nghiên cứu này tập trung vào tính kịp thời của báo cáo tài chính của 211 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Istanbul Phân tích hồi quy đa biến cho thấy rằng các yếu tố như dấu hiệu thu nhập, ý kiến kiểm toán, công ty kiểm toán và ngành công nghiệp đều có ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính Cụ thể, các công ty có thu nhập ròng cao, nhận được ý kiến kiểm toán tích cực và hoạt động trong ngành sản xuất công nghiệp thường phát hành báo cáo tài chính sớm hơn, trong khi các công ty được kiểm toán bởi Big4 lại có xu hướng phát hành báo cáo tài chính muộn hơn.
Nghiên cứu của Hussein Ali Khasharmeh và Khaled Aljifri (2010) phân tích dữ liệu tài chính của 83 công ty niêm yết trong năm 2004, nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố đến tính kịp thời trong công bố thông tin tài chính Kết quả cho thấy rằng các yếu tố như loại hình công ty, tỷ suất nợ, khả năng sinh lời và tỷ lệ chi trả cổ tức có ảnh hưởng mạnh đến tính kịp thời, trong khi chất lượng công ty kiểm toán, quy mô công ty và tỷ số giá trên thu nhập cổ phần lại có tác động yếu hơn hoặc không có mối quan hệ rõ ràng.
Nghiên cứu của Amr Ezat và Ahmed El Masry (2008) trên 50 công ty niêm yết ở Ai Cập năm 2006 đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc công bố thông tin báo cáo tài chính qua mạng bao gồm quy mô công ty, quy mô và thành phần ban quản trị, cơ cấu cổ đông, lĩnh vực hoạt động và tính thanh khoản Kết quả cho thấy các công ty trong lĩnh vực dịch vụ công bố thông tin tài chính kịp thời hơn khi có quy mô lớn, tỷ lệ thanh khoản cao, sự độc lập cao của ban quản trị và số lượng thành viên trong hội đồng quản trị nhiều.
Nghiên cứu năm 2006 của Stephen Owusu-Anahsa và Stergios Leventis trên 95 công ty phi tài chính niêm yết tại Hy Lạp đã chỉ ra rằng tính kịp thời của việc công bố báo cáo tài chính (BCTC) bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Cụ thể, các công ty trong lĩnh vực dịch vụ, được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán hàng đầu, hoặc có quy mô lớn thường công bố BCTC nhanh hơn so với các công ty trong lĩnh vực xây dựng có ý kiến kiểm toán không tốt, hoặc những công ty có cổ phần do cổ đông nội bộ nắm giữ.
Các nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu về tính kịp thời của việc công bố báo cáo tài chính (BCTC) ở Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào mối liên hệ giữa các yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp Các nghiên cứu tiêu biểu như của Đặng Đình Tân (2013) và Nguyễn Trọng Nguyên (2015) đã chỉ ra rằng có sự khác biệt giữa tính kịp thời của BCTC hợp nhất và riêng lẻ, điều này có thể do quy định pháp luật hoặc tính phức tạp trong việc lập và kiểm toán BCTC hợp nhất Tuy nhiên, nghiên cứu của Đặng Đình Tân không tìm thấy sự khác biệt giữa loại kiểm toán viên và tính kịp thời của BCTC, điều này trái ngược với một số nghiên cứu trước đó cho rằng các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big4 có thời gian kiểm toán dài hơn và chất lượng cao hơn Cuối cùng, nghiên cứu cũng cho thấy tính kịp thời của BCTC năm 2011 kém hiệu quả hơn so với năm 2010.
Nguyễn Trọng Nguyên (2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị công ty đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của 195 công ty niêm yết tại Việt Nam Kết quả cho thấy, các yếu tố như số thành viên độc lập trong HĐQT, trình độ tài chính và kế toán của thành viên HĐQT, tần suất họp HĐQT, số lượng thành viên BKS, và sự tồn tại của bộ phận kiểm toán nội bộ đều có tác động tích cực đến chất lượng thông tin BCTC, bao gồm tính kịp thời của các báo cáo Tuy nhiên, sự độc lập của BKS không có mối tương quan với chất lượng thông tin BCTC do thực tế BKS thiếu độc lập và quyền hạn Ngoài ra, chất lượng thông tin BCTC còn bị ảnh hưởng bởi quy mô công ty và tỷ lệ vốn nhà nước trên vốn điều lệ.
Khe hổng nghiên cứu
Nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính chủ yếu tập trung vào các quốc gia đang phát triển, trong khi tại Việt Nam, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức Mặc dù cơ chế quản trị công ty đã được áp dụng tại nhiều công ty niêm yết, tính kịp thời của báo cáo tài chính vẫn là một vấn đề cấp thiết Hầu hết các nghiên cứu hiện tại chưa xem xét đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc lập và công bố báo cáo tài chính, đặc biệt là các yếu tố quản trị mà doanh nghiệp có thể kiểm soát Điều này tạo ra một khe hổng nghiên cứu, từ đó tác giả sẽ thực hiện một nghiên cứu tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính Mục tiêu là đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị công ty và cải thiện tính kịp thời của báo cáo tài chính tại Việt Nam, dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm từ nước ngoài để chọn lọc các biến phù hợp với tình hình tại Việt Nam.
CƠ SƠ LÝ THUYẾT
Lý thuyết nền tảng
2.1.1 Lý thuyết thông tin hữu ích
Lý thuyết này chỉ ra rằng có sự mất cân xứng thông tin giữa người lập báo cáo tài chính và người sử dụng thông tin (Godfrey và cộng sự, 2003) Phản hồi thông tin từ các bên liên quan là cần thiết để đánh giá tình hình tài chính của công ty Sự hữu ích của thông tin được xác định dựa trên mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích của hành vi đầu tư Do đó, các nhà đầu tư bên ngoài thường dựa vào thông tin kế toán để đưa ra quyết định đầu tư Các đặc tính chất lượng của báo cáo tài chính bao gồm việc cung cấp thông tin liên quan, giúp người sử dụng dự đoán tương lai kinh doanh từ thông tin quá khứ, và đảm bảo tính trung thực, phản ánh đúng bản chất tình hình tài chính của công ty.
Lý thuyết này nhấn mạnh các yêu cầu quản trị đối với chất lượng thông tin kế toán, bao gồm tính dễ hiểu, khả năng so sánh, khả năng kiểm toán và tính kịp thời Thông tin tài chính cần được báo cáo chính xác và kịp thời để hỗ trợ quyết định kinh tế của người sử dụng, đặc biệt là nhà đầu tư, chủ nợ và cổ đông Lý thuyết thông tin hữu ích đã tạo nền tảng cho nghiên cứu về vai trò của quản trị trong việc đảm bảo tính kịp thời của báo cáo tài chính, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhà đầu tư.
Lý thuyết ủy nhiệm, theo Charles W L Hill và Thomas M Jones (1992), phân tích hành vi của người sử dụng lao động và nhân viên thông qua hợp đồng lao động Nó mô tả mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và bên được ủy thác để quản lý doanh nghiệp, thực hiện các nhiệm vụ được giao Lý thuyết này nhấn mạnh sự khác biệt về mục tiêu giữa hai nhóm đối tượng này.
Bên được ủy thác thường tìm cách tối đa hóa lợi ích cá nhân, trong khi điều này có thể gây hại cho chủ sở hữu công ty Do đó, chủ nợ cần thực hiện các biện pháp để hạn chế quyền lợi của người được ủy nhiệm Hệ quả là sẽ phát sinh chi phí bổ sung để kiểm soát xung đột lợi ích giữa hai bên, bao gồm chi phí giám sát, chi phí liên kết và các chi phí khác.
Theo lý thuyết ủy nhiệm, xung đột giữa chủ sở hữu và người được ủy quyền là vấn đề quan trọng do cổ đông chỉ nắm giữ một phần nhỏ cổ phần của công ty Để giảm thiểu chi phí gián tiếp và cân bằng lợi ích giữa hai bên, công ty cần cung cấp thêm thông tin cho cổ đông.
Lý thuyết này chỉ ra rằng các đặc tính của công ty, như quy mô hoạt động và lợi nhuận, có ảnh hưởng đến việc tiết lộ thông tin tài chính kịp thời Cụ thể, các công ty có lợi nhuận cao thường có xu hướng tiết lộ thêm thông tin để thể hiện khả năng quản lý của họ Luận văn này sẽ nghiên cứu tác động của lợi nhuận đến tính kịp thời của báo cáo tài chính.
2.1.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng, được giới thiệu bởi George Akerlof, Michael Spence và Jose Stiglitz vào năm 2001, đề cập đến tình huống khi một hoặc nhiều nhà đầu tư nắm giữ thông tin vượt trội về một công ty so với các nhà đầu tư khác Thông tin bất đối xứng xảy ra khi người mua và người bán có những thông tin khác nhau Akerlof (1970) đã lập luận rằng trong các giao dịch, một bên thường có nhiều thông tin hơn bên còn lại, dẫn đến hiện tượng thông tin không đối xứng.
Trong các công ty, giám đốc điều hành và cổ đông lớn thường nắm giữ nhiều thông tin hơn so với các nhà đầu tư nhỏ lẻ, dẫn đến tình trạng thông tin bất cân xứng Điều này gây ra sự hiểu biết và đánh giá không đầy đủ từ phía các nhà đầu tư khác, ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định đầu tư của họ.
Lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ban giám đốc phải cung cấp thông tin rõ ràng và kịp thời cho cổ đông và nhà đầu tư Nó cũng xem xét lợi ích xung đột giữa nhà quản trị doanh nghiệp và cổ đông Do đó, luận văn sẽ phân tích ảnh hưởng của ban giám đốc đến tính kịp thời của báo cáo tài chính.
Thông tin tài chính đóng vai trò quan trọng trong quyết định của nhà đầu tư, theo các lý thuyết về thông tin hữu ích, ủy nhiệm và thông tin bất cân xứng Sự bất cân xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm ảnh hưởng đến tính kịp thời và chính xác của thông tin tài chính, từ đó tác động đến quyết định tài chính Các lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của tính kịp thời trong báo cáo tài chính và vai trò của các yếu tố quản trị đối với tính kịp thời này.
Tổng quan lý thuyết về báo cáo tài chính và tính kịp thời của báo cáo tài chính
2.2.1.1 Định nghĩa báo cáo tài chính
Theo Luật Kế toán số 88/2015/QH13, "Báo cáo tài chính" được định nghĩa là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán, được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Theo Khoản 1, Điều 97 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014, mục đích của Báo cáo tài chính (BCTC) là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Điều này nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu của người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế.
Báo cáo tài chính cung cấp thông tin quan trọng về doanh nghiệp, bao gồm tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác Ngoài ra, báo cáo cũng phản ánh lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh, cùng với các luồng tiền của doanh nghiệp.
Hệ thống Báo cáo tài chính bao gồm Báo cáo tài chính năm và Báo cáo tài chính giữa niên độ Theo Điều 100 của Thông tư 200/2014/TT-BTC, hệ thống BCTC gồm có Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, và Bản thuyết minh Báo cáo tài chính, trong đó báo cáo giữa niên độ có cả dạng đầy đủ và tóm lược.
Theo quy định, tất cả các doanh nghiệp đều phải lập và trình bày BCTC năm
Các doanh nghiệp có đơn vị trực thuộc cần lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất vào cuối kỳ kế toán năm, dựa trên báo cáo tài chính của các đơn vị trực thuộc.
Các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán cần lập báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ Ngoài ra, nếu các doanh nghiệp này có các đơn vị kế toán trực thuộc, họ cũng phải lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ.
Về thời hạn nộp báo cáo tài chính, Điều 109 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 quy định:
“1 Đối với doanh nghiệp nhà nước a) Thời hạn nộp Báo cáo tài chính quý:
Đơn vị kế toán cần nộp Báo cáo tài chính quý trong vòng 20 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán quý Đối với công ty mẹ và Tổng công ty Nhà nước, thời hạn nộp báo cáo là 45 ngày.
Đơn vị kế toán thuộc doanh nghiệp và Tổng công ty Nhà nước phải nộp Báo cáo tài chính quý cho công ty mẹ theo thời hạn quy định Thời hạn nộp Báo cáo tài chính năm cũng được xác định bởi công ty mẹ.
Đơn vị kế toán cần nộp Báo cáo tài chính năm trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm Đối với công ty mẹ và Tổng công ty nhà nước, thời hạn nộp báo cáo là 90 ngày.
Đơn vị kế toán thuộc Tổng công ty nhà nước phải nộp Báo cáo tài chính năm cho công ty mẹ theo thời hạn quy định.
2 Đối với các loại doanh nghiệp khác a) Đơn vị kế toán là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh phải nộp Báo cáo tài chính năm chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm; đối với các đơn vị kế toán khác, thời hạn nộp Báo cáo tài chính năm chậm nhất là 90 ngày; b) Đơn vị kế toán trực thuộc nộp Báo cáo tài chính năm cho đơn vị kế toán cấp trên theo thời hạn do đơn vị kế toán cấp trên quy định.”
Có thể khái quát thời hạn lập và nơi nhận BCTC qua bảng sau:
Bảng 2.1 Thời hạn lập và nơi nhận BCTC của các doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp Thời hạn lập báo cáo
DN nhà nước Quý, năm x x X x x
DN có vốn đầu tư nước ngoài Năm x x X x x
2.2.1.2 Ý nghĩa của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính đóng vai trò quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư, hội đồng quản trị, cổ đông, bên cho vay, chủ nợ, khách hàng, và các cơ quan quản lý Nó cũng là nguồn thông tin hữu ích cho toàn bộ cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính (BCTC) là các báo cáo kế toán cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kinh doanh và luồng tiền của doanh nghiệp BCTC tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế, phản ánh hệ thống tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, và tình hình lưu chuyển dòng tiền Do đó, BCTC không chỉ là phương pháp kế toán mà còn là hình thức thể hiện thông tin kế toán tài chính, giúp người sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế.
Trong hệ thống báo cáo tài chính, mỗi loại báo cáo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp từ các góc độ khác nhau, chủ yếu được thể hiện qua các báo cáo sau đây.
Bảng Cân đối kế toán cung cấp thông tin quan trọng về tình hình tài sản, các khoản nợ và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó giúp đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp, bao gồm tình hình biến động quy mô và cơ cấu tài sản, khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, cũng như khả năng huy động vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh trong tương lai.
Tổng quan lý thuyết về quản trị công ty
Theo Tổ chức tài chính quốc tế (IFC): “Quản trị công ty là những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty”
Theo OECD, quản trị công ty (QTCT) là các biện pháp nội bộ nhằm điều hành và kiểm soát công ty, liên quan đến mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị (HĐQT) và cổ đông với các bên liên quan QTCT thiết lập cơ cấu để xác định mục tiêu công ty và phương tiện đạt được những mục tiêu đó, đồng thời giám sát kết quả hoạt động QTCT hiệu quả khi khuyến khích ban giám đốc và HĐQT theo đuổi lợi ích của công ty và cổ đông, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động công ty, từ đó tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực.
Quản trị công ty là một hệ thống mối quan hệ được xác định bởi cơ cấu và quy trình, nhằm phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên trong công ty, bao gồm Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát, Cổ đông và các bên liên quan Quy trình quản trị công ty bao gồm các quy định và hướng dẫn để điều hành và kiểm soát hoạt động của công ty.
Quản trị công ty thiết lập quy trình, thủ tục và nguyên tắc ra quyết định nhằm ngăn chặn lạm dụng quyền lực, giảm thiểu rủi ro không cần thiết Những rủi ro này bao gồm giao dịch giữa các bên, xung đột lợi ích tiềm tàng, và việc thiếu chuẩn mực rõ ràng hoặc không tuân thủ quy định công bố thông tin.
2.3.2 Vai trò của quản trị công ty
Theo IFC, Cẩm nang quản trị công ty 11/2011, Quản trị công ty tốt mang lại những lợi thế như:
- Thúc đẩy hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh
- Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn
- Giảm chi phí vốn và tăng giá trị tài sản
2.3.3 Các nguyên tắc của quản trị công ty
Nhiều quốc gia và tổ chức chuyên nghiệp đã phát hành các bộ nguyên tắc quản trị công ty Trong số đó, bộ Các Nguyên tắc Quản trị Công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được xuất bản năm 2004 đang ngày càng trở nên phổ biến.
Để xây dựng một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả, cần đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, tuân thủ quy định pháp luật, và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát.
Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản rất quan trọng trong quản trị công ty Theo Bản dịch tiếng Việt của IFC 2010, "Khuôn khổ quản trị công ty phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông." Điều này nhấn mạnh vai trò thiết yếu của việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong quá trình quản lý và phát triển doanh nghiệp.
Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với tất cả cổ đông, bao gồm cả cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải được tạo điều kiện để khiếu nại hiệu quả khi quyền lợi của họ bị vi phạm.
Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty rất quan trọng, vì khuôn khổ quản trị phải công nhận quyền lợi của họ theo pháp luật và hợp đồng Điều này khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên liên quan, nhằm tạo dựng tài sản, việc làm và ổn định tài chính cho doanh nghiệp.
Công bố thông tin và tính minh bạch là yếu tố quan trọng trong quản trị công ty, đảm bảo thông tin được công bố kịp thời và chính xác về các vấn đề quan trọng như tình hình tài chính, hoạt động, sở hữu và quản trị công ty.
Hội đồng quản trị có trách nhiệm đảm bảo khuôn khổ quản trị công ty phù hợp với định hướng chiến lược, đồng thời giám sát hiệu quả công tác quản lý và chịu trách nhiệm trước công ty cũng như cổ đông.
(Mục VI, Phần một, Bản dịch tiếng Việt của IFC 2010)
2.3.4 Khuôn khổ quản trị công ty của Việt Nam
Khuôn khổ quản trị công ty tại Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển ban đầu và còn mới mẻ Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cơ sở pháp lý về quản trị công ty đã được cải thiện đáng kể với các quy định pháp lý ngày càng hoàn thiện.
Bảng 2.2 Các bộ luật và quy định chính ảnh hưởng đến QTCT
Luật/ Quy định Phạm vi áp dụng Diễn giải
Luật đầu tư quy định các hoạt động đầu tư, bao gồm việc thành lập, cấp phép và thanh lý các dự án do tất cả các loại hình doanh nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện.
Luật DN 2014 Tất cả các DN và hoạt động của DN
Quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động của doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và nhóm công ty.
Luật chứng khoán, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật chứng khoán
Các công ty cổ phần và nhà đầu tư cần điều chỉnh các hoạt động phát hành, chào bán, mua bán chứng khoán, cũng như các dịch vụ liên quan đến chứng khoán và việc công bố thông tin.
Quy chế QTCT Các công ty niêm yết
Bắt buộc áp dụng đối với các công ty niêm yết, không bắt buộc nhưng nên áp dụng đối với các công ty cổ phần không niêm yết
Các yêu cầu niêm yết tại các Sở giao dịch chứng khoán
Các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM và Hà Nội đang điều chỉnh cách tiếp cận giao dịch nhằm phục vụ tốt hơn cho công chúng đầu tư và các tổ chức phát hành.
Các công ty đại chúng và công ty niêm yết
Bắt buộc áp dụng đối với các công ty đại chúng và công ty niêm yết về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Công ty đại chúng, công ty chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán
Quy định chi tiết về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, thay thế thông tư 09/2010/TT-BTC
Công ty đại chúng, công ty chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán
Quy định chi tiết về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, thay thế thông tư 52/2012/TT-BTC
Các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán
Quy định về QTCT áp dụng đối với công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán
Các công ty đại chúng
Quy định về QTCT áp dụng đối với công ty đại chúng Thông tư này có hiệu lực từ ngày 17/9/2012, thay thế quyết định 12/2007/QĐ-BTC
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp dựa trên Cẩm nang QTCT, IFC (2010)