Góp phần vào những thành tích chung của cả nước trong công tác xoá đói,giảm nghèo, Đảng bộ huyện Hoằng Hoá cũng đang tích cực đề ra những biệnpháp nhằm phấn đấu không còn hộ đói, giảm hộ
Trang 1trong “Báo cáo phát triển Việt Nam 2004” chỉ rõ: “Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế”, các đại biểu tham dự diễn đàn quốc tế ASEM 5 (2005) cho biết
rất “ấn tượng” trước những thành tựu của Việt Nam trong quá trình đổi mới, xoáđói, giảm nghèo và phát triển bền vững Chương trình phát triển Liên hợp quốc(UNDP) thường trú tại Việt Nam trong báo cáo gửi Chính phủ và cộng đồng các
tổ chức phát triển chỉ rõ: Việt Nam đang dẫn đầu thế giới về thành tích xoá đói,giảm nghèo
Góp phần vào những thành tích chung của cả nước trong công tác xoá đói,giảm nghèo, Đảng bộ huyện Hoằng Hoá cũng đang tích cực đề ra những biệnpháp nhằm phấn đấu không còn hộ đói, giảm hộ nghèo trong toàn huyện Đâythực sự là một vấn đề cấp bách và cần thiết trong hoàn cảnh nền kinh tế củahuyện còn nghèo
Xoá đói, giảm nghèo là vấn đề nan giải của cả nước Việt Nam và cũng làvấn đề được Đảng bộ huyện Hoằng Hoá - Thanh Hoá quan tâm Vì những lý do
trên, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá) lãnh đạo công tác xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1996 - 2006” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
Trang 22 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Công tác xoá đói, giảm nghèo ở huyện Hoằng Hoá và của tỉnh Thanh Hoátrong các năm qua đã được đề cập trong các Nghị quyết đại hội, chương trình,báo cáo công tác của Huyện uỷ, Tỉnh uỷ và Uỷ ban Nhân dân huyện, Uỷ banNhân dân tỉnh Thanh Hoá
- Chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo củahuyện Hoằng Hoá - Thanh Hoá
- Nghị quyết 09/NQ-HU của Ban chấp hành Đảng bộ huyện và Đề án củaUBND huyện về “Xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm, hộ có thu nhập 50triệu đồng/năm”
- Công văn số 25 BCĐ ngày 7/10/2005 của Ban chỉ đạo xoá đói giảmnghèo huyện Hoằng Hoá về Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêuQuốc gia xoá đói giảm nghèo 5 năm giai đoạn 2001 - 2005
- Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2009 của HĐND tỉnh Thanh Hoá
- Về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020
Đó là những tài liệu quan trọng nhưng không phải là những công trìnhkhoa học chuyên nghiên cứu và trình bày về công tác xoá đói giảm nghèo ởHoằng Hoá Ngoài việc kế thừa, chọn lọc từ các thành tựu đã có, đề tài cố gắng
đi sâu vào một số nội dung cụ thể, được thực tế kiểm chứng nhằm làm sáng tỏnhiều vấn đề thuộc về lý luận cũng như thực tiễn trong công tác xoá đói giảmnghèo của Đảng bộ huyện Hoằng Hoá
3 Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu
Trang 3quần chúng thực hiện cuộc vận động xoá đói giảm nghèo, trong việc chỉ đạotổng kết kinh nghiệm thực tiễn phong trào.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nêu lên một số giải pháp xoá đói, giảmnghèo ở huyện Hoằng Hoá trong những năm tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích đó, khoá luận tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,Đảng ta và một số quan điểm, chỉ tiêu đánh giá của các tổ chức quốc tế về đóinghèo và xoá đói giảm nghèo Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ởHoằng Hoá - Thanh Hoá trong bước chuyển sang kinh tế thị trường
- Tái hiện quá trình lãnh đạo thực hiện xoá đói giảm nghèo trên tất cả cácmặt: đánh giá những việc làm được, chưa được; rút ra các kinh nghiệm bước đầu
- Nêu lên mục tiêu, phương hướng và giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèocủa Đảng bộ huyện Hoằng Hoá trong những năm tiếp theo
3.3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Tập trung nghiên cứu các hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Hoằng Hoá vềcông tác xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1996 - 2006 Vấn đề xoá đói, giảm nghèođược nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau song khoá luận chỉ nghiên cứu ở góc
độ kinh tế, chính trị, xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử, trong đó có những phương pháp cơ bản sau:
Phương pháp lịch sử, lôgíc, thống kê, phân tích, đối chiếu, …
5 Đóng góp của khoá luận
Trên cơ sở trình bày một cách hệ thống và toàn diện hoạt động lãnh đạocủa Đảng bộ, bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc lãnh đạo củaĐảng bộ đối với công tác xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1996 - 2006 ở huyệnHoằng Hoá - Thanh Hoá
Trang 46.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần làm tăng thêm niềm tin của nhân dân huyện Hoằng Hoá vào sựlãnh đạo của Đảng bộ huyện và Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó phát huy đượcsức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xoá đói giảm nghèo
7 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm 2 chương
Chương 1: Xoá đói giảm nghèo - những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Đảng bộ huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá) lãnh đạo công tác xoá đói
giảm nghèo giai đoạn 1996 - 2006
Trang 51.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đói nghèo và xoá đói giảm nghèo
Xã hội loài người đã phát triển qua nhiều nấc thang lịch sử do trình độ sảnxuất vật chất quyết định Bằng lao động sản xuất, con người khai thác thiênnhiên để tạo ra vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở và những nhu cầukhác Năng suất lao động ngày càng cao thì của cải ngày càng nhiều, các nhucầu sống càng đáp ứng đầy đủ hơn; trái lại, năng suất lao động thấp, của cải vậtchất thu được ít, con người rơi vào tình cảnh đói nghèo
Đói nghèo không chỉ xuất hiện trong chế độ xã hội nguyên thuỷ, chế độ
nô lệ, chế độ phong kiến với trình độ sản xuất kém phát triển, mà ngay trongthời đại ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, với lựclượng sản xuất phát triển cao chưa từng thấy, trong từng quốc gia, kể cả cácquốc gia phát triển nhất trên thế giới, đói nghèo vẫn tồn tại một cách hiển nhiên
Do đó, loài người đã phải luôn luôn tìm mọi cách để nâng cao trình độ sản xuấtcủa mình, chống đỡ với thiên tai, địch hoạ và các rủi ro, bất hạnh để có cuộcsống ấm no, hạnh phúc
Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XIX, khi bắt đầu sáng lập học thuyếtcủa mình, C.Mác và Ph Ăngghen đã viết những tác phẩm nổi tiếng nghiên cứu
về tình trạng nghèo khổ của giai cấp vô sản và những người lao động Tiêu biểu
là tác phẩm: “Bản thảo kinh tế - triết học” năm 1844 của C.Mác [32, 47-129],
“Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh” năm 1845 của Ph Ăngghen [33, 537-577];
Bộ “Tư bản”, tác phẩm kinh tế học và triết học của C Mác được viết từ năm
1860 cho đến khi C Mác qua đời năm 1883 và Ph Ăngghen hoàn thành tiếpcông việc còn lại của C Mác (từ năm 1883 đến năm 1895)
Trang 6sự phân hoá giàu nghèo ấy thành sự phân hoá giai cấp, đối kháng giai cấp giữa
tư sản và vô sản không thể điều hoà được
Tiếp tục những kiến giải sâu sắc trên đây của C Mác và Ph Ăngghen,V.I Lênin đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế xã hội gay gắt trong thời kỳchủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền,lũng đoạn đầu thế kỷ XX, tức chủ nghĩa đế quốc Đây là thời kỳ tích tụ trầmtrọng hơn sự nghèo đói cùng cực của giai cấp vô sản và những người lao động ởkhắp các châu lục trên thế giới V.I Lênin vạch ra luận cương giải phóng toàn
bộ giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của chủ nghĩa tưbản bằng cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Sau Cáchmạng Tháng Mười Nga năm 1917, trong bước chuyển từ “Chính sách cộng sảnthời chiến” sang “Chính sách kinh tế mới” (NEP), V.I Lênin là người chủtrương phát triển kinh tế hàng hoá, dùng lợi ích vật chất, coi đó như một nhân tốkích thích, một đòn bẩy kinh tế để khuyến khích mọi người lao động, giải phóngsức sản xuất, phát triển kinh tế Đó là một trong những biện pháp để xoá bỏ cănbản tình trạng đói nghèo, nhất là ở nông thôn trong công cuộc xây dựng xã hộimới - xã hội xã hội chủ nghĩa [34, 400-403]
Trang 71.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đói nghèo và xoá đói giảm nghèo
Tiếp thu và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch HồChí Minh đã xây dựng nên lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc chống thựcdân, đế quốc Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa Mác
- Lênin, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Người chủ trương làmcách mạng để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc
Từ những ngày đầu của cách mạng, Người đã hết sức chăm lo đến đời sốngnhân dân, Người đã từng căn dặn: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hếtsức chăm nom tới đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi;nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi” và “Dân đủ ăn thì chính sách của Đảng
và Chính phủ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, bệnh tật thì chính sách củaChính phủ dù có hay đến mấy thì cũng không thực hiện được” [14, 572].
Ngay khi Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, Chính phủ Cách mạnglâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu vừa được thành lập, ngày đêm phải
lo đối phó với thù trong, giặc ngoài nhưng vẫn dành sự quan tâm sâu sắc đếnviệc chăm lo cuộc sống của người lao động nghèo khổ Chủ tịch Hồ Chí Minhđặc biệt quan tâm đến vấn đề xoá đói Người kêu gọi toàn dân và Chính phủ tậptrung toàn bộ lực lượng để chống ba thứ giặc là: “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoạixâm”, trong đó, giặc đói được Người đặt lên hàng đầu với lý do: “Ngày naychúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Nhưng nếu nước tađược độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập đó chẳng
có ý nghĩa gì” [14, 56]
Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kiến quốc ngày10/1/1946, Hồ Chí Minh lại một lần nữa nhấn mạnh bổn phận của Nhà nướcphải chăm lo cho dân có cơm ăn, áo mặc, chỗ ở và việc học hành Người nói:
“Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do,độc lập cũng không là gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dânđược ăn no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 - Làm cho dân có ăn,
Trang 81.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ở Việt Nam, sau 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn đặt vấn
đề xoá đói giảm nghèo là công việc hàng đầu, vừa bức xúc, gay gắt vừa có ýnghĩa cơ bản, lâu dài, nhất là đối với nông dân ở nông thôn cả nước nói chung
và huyện Hoằng Hoá - Thanh Hoá nói riêng
Đại hội VII của Đảng (24 27/6/1991) là Đại hội của “Trí tuệ Dân chủ
-Kỷ cương - Đoàn kết” Đại hội đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triểnkinh tế - xã hội tới năm 2000 Mục tiêu tổng quát của Chiến lược “Đưa đất nướcthoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội; phấn đấu vượt qua tình trạng nướcnghèo, nước kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân” [9, 157]
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VII - 6/1993) nêu rõ: “Tăng thêm diện giàu và đủ ăn, xoá đói, giảm nghèo nhất là ở vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng trước đây là căn cứ cách mạng” [13, 97]
Đại hội VIII (28/6 - 1/7/1996) Đại hội đã đánh giá tổng quát 10 năm thựchiện đường lối đổi mới và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII (1991):
“Qua thực tiễn 10 năm đổi mới, chúng ta nhận thức rõ là không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước và suốt trong quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn với tiến bộ và
Trang 9công bằng xã hội…Khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp
đi đôi với chăm lo xoá đói, giảm nghèo” [10, 31]
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã đề ra mục tiêu “Giảm tỷ lệnghèo đói trong tổng số hộ của cả nước từ 20% - 25% hiện nay xuống còn 10%
vào năm 2000, bình quân giảm 300.000 hộ/ năm Trong 2 - 3 năm đầu của kế
hoạch 5 năm, tập trung xoá cơ bản nạn đói kinh niên” [10]
Đại hội IX (4 - 2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối
và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho công tác xoá đói giảm nghèo là:
“Thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo Tiếp tục tăng tổng nguồn vốn xoá đói giảm nghèo, mở rộng các hình thức hỗ trợ giúp người nghèo sản xuất kinh doanh” [11, 106 ]
Đại hội cũng đề ra phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế
-xã hội 5 năm 2001 - 2005 Về định hướng phát triển các lĩnh vực -xã hội “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói, giảm nghèo Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với các trung tâm của những vùng khác, nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo vùng khó khăn để phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo ra nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập Phấn đấu đến năm 2005 về cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn khoảng 10% số hộ thuộc diện nghèo.” [11, 299].
Đại hội X (4 - 2006) của Đảng nêu phương hướng, nhiệm vụ phát triểnkinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 Về định hướng phát triển ngành, lĩnh vực và
vùng khẳng định cần tiếp tục đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo “Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức thực hiện xoá đói, giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự
Trang 10vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách của Nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo.” [12, 217]
Như vậy, qua Nghị quyết của các Đại hội và Hội nghị Đảng, quan điểmxoá đói giảm nghèo của Đảng tập trung vào các nội dung sau đây:
Thứ nhất, xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và của
toàn xã hội và của chính người nghèo, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè và cộngđồng quốc tế Xoá đói, giảm nghèo theo phương châm xã hội hoá, kết hợp sứcmạnh của Nhà nước, cộng đồng và bản thân mỗi người
Thứ hai, xoá đói giảm nghèo gắn liền với tăng trưởng kinh tế, khuyến
khích làm giàu hợp pháp Mỗi bước tăng trưởng kinh tế là một bước thực hiệnphát triển xã hội theo hướng tiến bộ và công bằng xã hội, không thể chờ tới khikinh tế phát triển cao rồi mới thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội
Thứ ba, xoá đói giảm nghèo gắn chặt với các chính sách xã hội, điều đó
được thể hiện trước hết ở việc ưu tiên các xã nghèo, đặc biệt là các xã vùng cao,biên giới, hải đảo,… Tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận tối
đa các nguồn lực, dịch vụ công cộng làm cho người nghèo nâng cao mức sốngthoát khỏi cảnh nghèo, đói
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình thế giới về đói nghèo và vấn đề xoá đói giảm nghèo
Trên thế giới, vấn đề đói nghèo có nhiều quan niệm khác nhau:
Trong “Báo cáo phát triển thế giới 1990” của Ngân hàng Thế giới (WB) đã
đưa ra định nghĩa “Nghèo khổ là không có khả năng đạt được mức sống tối thiểu”.
Những người có thu nhập dưới 1/3 mức sống trung bình của xã hội thìđược coi là nghèo khổ
Ngân hàng phát triển châu Á đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèotương đối
Nghèo tuyệt đối: Là không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu
nhằm duy trì sự sống của cơ thể con người
Trang 11Nghèo tương đối: Là không có khả năng đạt mức sống tối thiểu tại một
thời điểm nào đó
Khái niệm nghèo đói tuyệt đối ở đây có xu hướng đề cập tới những ngườiđang bị thiếu ăn theo nghĩa đen, còn khái niệm nghèo đói tương đối đề cập tớiviệc phân phối thu nhập ở một số nước nào đó và thừa nhận có một số nhu cầu ởnhững nước này được coi là thiết yếu, ở nước khác được coi là xa xỉ
Liên hợp quốc cũng đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo đói tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
những nhu cầu cơ bản tối thiểu để duy trì cuộc sống
Nghèo đói tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng
Như vậy, nghèo đói là một khái niệm có tính động, nó thay đổi tuỳ theotừng giai đoạn phát triển của xã hội và phụ thuộc vào quan niệm truyền thốngcủa mỗi dân tộc Những quan niệm về mức sống tối thiểu rất khác nhau, do đó,khó có thể đưa ra một định nghĩa chung về nghèo đói cho phù hợp với mọi dântộc, mọi thời đại
Tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực châu Á - Thái BìnhDương do ESCAD tổ chức tại Băng Cốc cuối tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm
về nghèo đói như sau “Nghèo đói là một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản của một con người được thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương” Có thể xem đây
là định nghĩa chung nhất về nghèo đói - một định nghĩa có tính chất hướng dẫn
về phương pháp đánh giá nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo đói
Tóm lại, không có một khái niệm chung về nghèo đói cho tất cả các quốcgia, cũng không thể có khái niệm nghèo đói cho tất cả các vùng lãnh thổ của mộtquốc gia, hoặc chung cho cả hai vùng, nông thôn và thành thị Do đó, mỗi nướcdựa trên thực tế của nước mình vạch ra các thước đo đói nghèo riêng, dựa trêncác tiêu chí khác nhau
Khi đánh giá nghèo đói, nước giàu, nước nghèo thì giới hạn nghèo đóiđược biểu hiện bằng chỉ tiêu chính là thu nhập bình quân trên người Khi đánh
Trang 12giá người giàu, người nghèo hoặc hộ giàu, hộ nghèo, giới hạn nghèo đói đượcbiểu hiện bằng thu nhập bình quân đầu người hoặc số calo bình quân đầu người
Quy mô nghèo đói của một vùng, một quốc gia được xác định bằng tỷ lệ
số hộ (hoặc số người) nghèo đói trên tổng số dân, hoặc tổng số hộ dân cư Nhưvậy, có nhiều chỉ tiêu khác nhau nhưng chỉ tiêu chính trong việc xoá đói, giảmnghèo xác định giới hạn nghèo đói vẫn là chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người,sau đó tới chỉ tiêu mức calo bình quân đầu người trong một ngày, còn các chỉtiêu khác sẽ cho phép nhìn nhận giàu nghèo hay đói nghèo ở các cấp khác nhaumột cách chính xác và khách quan hơn
Chỉ tiêu và thu nhập bình quân đầu người
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là cách viết tắt của các từ tiếng Anh GrossNational Product: là tổng giá trị tính bằng tiền của những hàng hoá và dịch vụ màmột nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù là sản xuất ở trong nướchay ở nước ngoài) trong một thời gian nhất định thường là một năm
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là cách viết tắt của các từ tiếng AnhGross Pome Stic: là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ
mà một nước sản xuất ra trên lãnh thỏ của nước mình (dù nó thuộc về ngườitrong nước hay nước ngoài) trong một thời gian nhất định thường là một năm
Như vậy, việc tính GNP hoặc GDP bình quân đầu người trong một quốcgia có ý nghĩa rất lớn Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được trình độ pháttriển kinh tế, mức sống lý thuyết của mỗi người dân trong từng nước và cũngthông qua chỉ tiêu này để đánh giá mức sống của nhân dân các nước khác nhautrên thế giới
Hiện nay Ngân hàng Thế giới đưa ra các cách tính thu nhập quốc dân bìnhquân đầu người đó là: Phương pháp theo tỷ giá hối đoái hay còn gọi là phươngpháp Atlas (tính theo USD) và phương pháp sức mua tương đương PPP cũngtính bằng USD
Theo phương pháp tỷ giá hối đoái, người ta phân ra làm 5 loại nước, lấymức thu nhập năm 1990:
Trên 25.000 USD / năm là nước cực giàu
Từ 20.000USD / năm đến 25.000 USD là nước giàu
Trang 13Từ 10.000 USD / năm đến 20.000 USD / năm là nước khá giàu.
Từ 2.500 USD / năm đến 10.000 USD / năm là nước trung bình
Dưới 500 USD / năm là nước cực nghèo
Theo phương pháp sức mua tương đương PPP, Ngân hàng Thế giới chiacác nhóm nước như sau:
Nhóm nước có thu nhập cao là nhóm nước có GDP bình quân đầu ngườitheo phương pháp PPP từ 7.190 USD trở lên
Nhóm nước có thu nhập trung bình là nhóm nước có GDP bình quân đầungười theo phương pháp PPP từ 636 USD đến 7.190 USD
Nhóm nước có thu nhập thấp là nhóm nước có GDP bình quân đầu ngườitheo phương pháp PPP từ 635 USD trở xuống
Như vậy, thu nhập bình quân đầu người chỉ là một trong những căn cứ để
đo mức độ, trình độ phát triển chung của một nước so với các nước khác Nó cótính chất tương đối và cũng có hạn chế, bởi lẽ không phải cứ thu nhập bình quânđầu người cao là hết đói nghèo Vấn đề là ở chỗ mức hưởng thụ thực tế củangười lao động và trình độ công bằng xã hội mà nước đó đạt được
Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số về phát triển con người (HDI), làm tiêuchí đánh giá sự phát triển và tiến bộ của một quốc gia Chỉ số HDI được xâydựng trên 3 tiêu chí cơ bản nhất để thể hiện sự phát triển, đó là: Tuổi thọ bìnhquân, thành tựu giáo dục (trình độ học vấn của người dân + số năm được giáodục bình quân), mức thu nhập bình quân đầu người GDP Như vậy, nếu xã hộiphát triển đồng bộ, hài hoà, cân đối cả 3 mặt trên thì chỉ số HDI sẽ cao và ngượclại, theo HDI nước giàu nhất không phải là nước có mức sống cao nhất
Chỉ tiêu về số calo/người/ngày
Người ta thường căn cứ vào số lượng calo tối thiểu cung cấp cho cơ thể
đủ sống để tìm ra giới hạn của nghèo đói (dưới mức đó là nghèo đói) Bởi vìtrong các nhu cầu cơ bản của con người, vấn đề ăn là quan trọng nhất, nếu thiếu
ăn dẫn tới suy dinh dưỡng, bệnh tật, nạn đói và chết sớm
Số calo bình quân đầu người là số calo tiêu dùng hàng ngày của mộtngười để duy trì sự sống và làm việc một cách bình thường
Trang 14Theo tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO) đãđưa ra mức calo tối thiểu cho một người một ngày là 2200 calo Trong khi đó tổchức Y tế Thế giới lại đưa ra con số 2100 calo làm ranh giới nghèo đói
Tóm lại, những quan niệm và chỉ tiêu chung về đói nghèo do cách tiếpcận khác nhau nên có những kiến giải khác nhau Nghèo đói là khái niệm tươngđối và có tính biến đổi Điều quan trọng là định ra được giới hạn của sự nghèokhổ từ lượng hoá bằng các chỉ số có giá trị xác định Các chỉ số đó không cứngnhắc bất biến mà luôn luôn biến đổi
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới
có 1,1 tỉ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 USD tính theo sứcmua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo (Năm 1987 là 1,227 tỉ ngườitương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỉ người tương đương với 29%)
Phần lớn những người này sống tại châu Á, thế nhưng thành phần nhữngngười nghèo trong dân cư tại châu Phi lại còn cao hơn nữa Các thành viên củaLiên Hợp Quốc trong cuộc họp Thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trívới mục tiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít hơn 1USD.(Điểm 1 của những mục đích phát triển thiên niên kỷ) Theo thông tin của Ngânhàng Thế giới vào tháng 4 năm 2004 thì có thể đạt được mục đích này nhưngkhông phải ở tất cả các nước Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại nhiềuvùng của châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58% xuống còn 16%tại Đông Á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi TạiĐông Âu và Trung Á con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân
số Nếu như đặt ranh giới nghèo là 2 USD mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉngười nghèo, gần một nửa dân số thế giới
Như vậy, tình trạng đói nghèo trên thế giới vẫn đang là một vấn nạn đòihỏi sự chung tay giúp sức của cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến chống đóinghèo nhằm xoá đói giảm nghèo một cách bền vững
1.2.2 Thực tiễn Việt Nam về đói nghèo và xoá đói giảm nghèo
Từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay, nhiều cơ quan và các nhàkhoa học đã nghiên cứu về tình trạng nghèo đói hoặc có liên quan tới nghèo đói
Trang 15Qua đó, cung cấp những thông tin quý giá về thực trạng nghèo đói trong đờisống nhân dân.
Năm 1991, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm tiến hành cuộcđiều tra về hộ giàu và hộ nghèo ở nông thôn trên phạm vi 7 tỉnh Liên tiếp trongcác năm 1992, 1993, 1994, 1995 - 1996, Tổng cục thống kê tiến hành điều tra về
sự giàu nghèo trên phạm vi cả nước
Ngoài các cuộc điều tra nói trên, một số cơ quan và các nhà nghiên cứu đã
có những công trình nghiên cứu về đói nghèo và xoá đói giảm nghèo, trong đónổi bật là nghiên cứu của các nhóm chuyên gia thuộc Bộ Lao động - Thươngbinh và xã hội như:
Đói nghèo ở Việt Nam: Diễn biến - Hiện trạng - Nhận định của NguyễnVăn Thiều và Nguyễn Thị Hằng (1993)
Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay (1995), côngtrình của PGS - TS Lê Trọng “Hướng dẫn kế hoạch làm ăn và xoá đói giảmnghèo bền vững cho hộ nông dân”
Từ đó các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm và phương pháp đolường như sau:
Nghèo: là tình trạng của một phần dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mứctrung bình của cộng đồng xét trên một phương diện nào đó (Nhu cầu tối thiểu:
là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở vànhu cầu sinh hoạt hằng ngày gồm văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp)
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức
trung bình của cộng đồng tại địa phương đang xét
Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu
và thu nhập không đủ để bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó
là những bộ phận dân cư hằng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 tới 2 tháng, thườngvay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả
Ngoài khái niệm nghèo, đói cấp hộ gia đình, cá nhân chúng ta còn sửdụng khái niệm vùng nghèo, xã nghèo
Trang 16Vùng nghèo: Là một vùng liên tục có làng, xã hoặc nhiều huyện ở đó
chứa đựng yếu tố khó khăn bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng; đất khô cằn,thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, trình độ dân cư thấp, sản xuất tựcung tự cấp và mức sống của dân cư trong vùng này rất thấp so với mức sốngcủa dân cư cả nước xét trong cùng một thời điểm
Xã nghèo: Là xã có từ 40% số hộ nghèo đói trở lên.
Quốc gia nghèo: Là một đất nước có bình quân thu nhập rất thấp, nguồn lực
(tài nguyên) cực kỳ hạn hẹp (về vật chất, lao động, tài chính) cơ sở hạ tầng môitrường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu với cộng đồng quốc tế
Các cuộc điều tra nghiên cứu đưa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau như: thu nhập,nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, việc làm, sức khoẻ, giáo dục và chỉ tiêu về calo…
Như vậy, chỉ tiêu về thu nhập luôn luôn là chỉ tiêu hàng đầu đồng thời đócũng là chỉ tiêu hiện nay đang được sử dụng trong việc hoạch định các chínhsách về xoá đói, giảm nghèo của cơ quan Chính phủ
Giới hạn nghèo cũng được các cơ quan, Chính phủ và các nhà nghiêncứu tính toán một cách khác nhau, tuy nhiên độ chênh lệch ở đây không lớn lắm.Chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố
đã điều chỉnh qua 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1993 - 1995
Hộ đói: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối với
hộ thành thị và dưới 8 kg đối với hộ nông thôn
Hộ nghèo: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20kg đối với khu vực thành thị và dưới 15kg đối với khu vực nông thôn
Giai đoạn 1995 - 1997
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong một tháng quy
ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập quy ra gạo theo mức quy định dưới đây:
- Vùng nông thôn miền núi hải đảo: dưới 13kg/người/tháng
Trang 17- Vùng thôn đồng bằng: dưới 20kg/người/tháng
- Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng
Giai đoạn 1997 - 2000
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập một người trong một tháng quy ra gạo dưới
13kg, tương đương 45 ngàn đồng (giá năm 1997) tính cho mọi vùng
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập quy ra gạo theo mức quy định dưới đây:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng (tương đương55.000 đồng)
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tươngđương 70.000 đồng)
- Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng)
Giai đoạn 2001 - 2005
- Nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng
- Nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng
Nguồn: Thời báo kinh tế
Tóm lại, ở Việt Nam hiện nay có nhiều cách nhìn nhận, nhiều tiêu chí vàchuẩn mực đánh giá đói nghèo, nó chỉ có giá trị tương đối theo không gian vàthời gian Việc đưa ra các chuẩn mực ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nướccho phù hợp thì mới có thể đưa ra những giải pháp thích ứng trong việc xoá đói,giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội
Qua các tiêu chí đánh giá về đói nghèo trong các giai đoạn, chúng ta cókết quả chung về tình hình đói nghèo ở Việt Nam như sau:
Từ năm 2001 đến 2005, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới
đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định Nhờ tăng
Trang 18trưởng GDP toàn nền kinh tế cao (bình quân 5 năm đạt 7,5%), tăng dần qua cácnăm và trong tất cả các nhóm ngành kinh tế cơ bản nên tốc độ giảm nghèo tronggiai đoạn 2001 - 2005 là khá nhanh Theo kết quả các đợt điều tra mức sống dân
cư toàn quốc, theo tiêu chuẩn quốc tế, nếu năm 1998 tỷ lệ nghèo chung của ViệtNam vẫn còn ở mức 37% và năm 2000 giảm còn 32%, thì năm 2002 còn 28,9%
và năm 2004 còn 24,1% Như vậy, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế vàgiảm nghèo ở Việt Nam đã được thể hiện rõ nét trong những năm vừa qua
Tính theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ nghèo chung cả nước trong 5 năm 2001
-2005 đã giảm được hơn một nửa Nếu so với mục tiêu giảm 20% đã được ghi trongvăn bản Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo cho giai đoạn 2001 -
2005, thì chúng ta đã đạt được kết quả hơn gấp đôi Đó là một thành tựu lớn
Song, để nhìn nhận rõ hơn những thành tựu đã đạt được của giai đoạn
2001 - 2005, nhất là trong việc phát huy những ưu điểm, cách làm tốt phục vụcho sự phát triển những năm tới, chúng ta cũng cần tính toán trên cơ sở chuẩnmới (được áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010) Theo đó, cả nước có khoảng 3,9triệu hộ nghèo, nghĩa là tỷ lệ nghèo theo chuẩn mới tính bình quân cả nước caohơn tỷ lệ nghèo (theo chuẩn cũ) khoảng 15% [4]
Đó là bức tranh chung về những thành tựu xoá đói giảm nghèo của ViệtNam trong những năm qua và được cộng đồng quốc tế ghi nhận là “một trongnhững câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế”
1.2.3 Thực trạng đói nghèo ở huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá)
Hoằng Hoá là huyện đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hoá thuộc 19,46 19,54độ vĩ Bắc và 105,58 độ kinh Đông Địa danh huyện thay đổi qua nhiềuthời kỳ lịch sử Ðầu thế kỷ XX, huyện Mỹ Hoá giải thể nhập về Hoằng Hoá Từ
-đó đến nay, địa giới Hoằng Hoá ổn định với diện tích tự nhiên là 226,94 km2
- Phía bắc giáp huyện Hậu Lộc
- Phía tây giáp huyện Đông Sơn và thành phố Thanh Hoá; tây bắc giáphuyện Vĩnh Lộc, huyện Hà Trung
- Phía nam và tây nam giáp huyện Quảng Xương, thị xã Sầm Sơn
- Phía đông là biển Đông
Trang 19Địa hình
Hoằng Hoá là một vùng châu thổ được bồi đắp bởi sự bào mòn của nềnđất cũ, của hiện tượng biển lùi và sự lắng đọng của phù sa sông Mã, sông Chu.Hoằng Hoá có 2 dãy núi chính thuộc 2 tuyến biên giới huyện Đó là dãy KunTra ở phía tây bắc còn gọi là núi Nghĩa Trang và dãy Kim Chuế thường gọi lànúi Hà Rô hay núi Trường
Bờ biển Hoằng Hoá dài 12km, giáp với 2 cửa lạch: lạch Trường rộngkhoảng 300m, làm ranh giới với Hậu Lộc và lạch Trào còn gọi là cửa Nối, rộngkhoảng 400 - 500m, làm ranh giới với Quảng Xương Hai lạch trên là chỗthuyền bè ra vào trú ngụ dễ dàng, là vùng tiềm năng sinh sản tôm, cá nước lợ
Hoằng Hoá có 10km đường quốc lộ 1A, song song với nó là 10km đườngsắt xuyên Bắc - Nam; có 81km đường sông Hệ thống giao thông đường bộ rấtthuận lợi, chưa kể quốc lộ 1A và 10km đường quốc lộ số 10, Hoằng Hoá có119km đường giao thông liên huyện
Khí hậu sông ngòi
Hoằng Hoá nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình: 23
-240C; lượng mưa trung bình: 1650mm/năm; độ ẩm trung bình: 85%; lượng bốchơi trung bình: 968mm Khí hậu Hoằng Hoá có thể chia thành vùng tiểu khí hậuđồng bằng và vùng tiểu khí hậu ven biển
Hoằng Hoá có hai con sông chính là sông Mã và sông Tuần Hằng năm,hai con sông lớn này bồi đắp một lượng phù sa màu mỡ cho vùng đồng bằng
Đất đai
Diện tích đất tự nhiên của Hoằng Hoá là 224,58km2, trong đó đất trồngcây công - nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản: 13.923 ha; đất lâm nghiệp:1.113,5 ha; đất chuyên dùng: 2.799,5 ha Đất đai của Hoằng Hoá chia làm bavùng rõ rệt: Vùng đất thấp thích hợp với thâm canh cây lúa nước, vùng đất cátpha thích hợp với thâm canh cây màu và vùng đất cát thích hợp với nghề nuôitrồng và khai thác thuỷ sản
Tài nguyên khoáng sản
Trang 20Tài nguyên khoáng sản của Hoằng Hoá nhiều nhất phải kể đến các mỏ sắt ởnúi Trà, nhôm amiăng, mica ở vùng núi Trường và thạch anh ở dải cát Hoằng Hải.Ngoài ra, còn có nhiều nguyên liệu để sản xuất ximăng và vật liệu xây dựng
Như vậy, về điều kiện tự nhiên, Hoằng Hoá là huyện có núi, sông, biển,cửa biển, có đồng lúa, có đường bộ, đường thuỷ, đường sắt và có các tuyến giaothông xuyên Việt, giáp thành phố Thanh Hoá là trung tâm kinh tế, chính trị, vănhoá, khoa học của tỉnh
Về đặc điểm kinh tế - xã hội: theo thống kê năm 2005, dân số Hoằng Hoá
có 249.594 người Mật độ dân số: 1.124 người/km2 Tổng số nhân khẩu thuộcvùng nông thôn: 247.502 người Số người trong độ tuổi lao động trên toànhuyện: 115.644 người (chiếm 46,7%)
Hoằng Hoá hiện có 59.192 hộ, trong đó vùng nông thôn (bao gồm laođộng nông nghiệp, thuỷ sản và các ngành khác) có 58.519 hộ Riêng số hộ nôngnghiệp chiếm 48,4% Bình quân mỗi xã, thị trấn có 1233 hộ Về tổ chức hànhchính, huyện có 47 xã và 2 thị trấn
Kinh tế Hoằng Hoá chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và khaithác hải sản Trong nông nghiệp, cây lúa luôn giữ vị trí chính
Bên cạnh đó, Hoằng Hoá còn có nhiều nghề truyền thống khác như: nghềmộc ở Đại Tài, Hà Vũ (thuộc xã Hoằng Hà, Hoằng Đạt), nghề dệt vải, trồng dâunuôi tằm, kéo sợi, mây tre đan ở Hà Đồ, An Hảo (Hoằng Trạch)…
Cho đến nay, nghề truyền thống đó đang được nhân dân phát huy, pháttriển trong điều kiện mới góp phần tạo thêm thu nhập cho gia đình
Hoằng Hoá nổi tiếng là đất khoa bảng Vì vậy, người xưa từng viết: “CơmNông Cống, cá Quảng Xương, văn chương Hoằng Hoá”.Và đến nay, dân cưHoằng Hoá vẫn coi đi học là một “nghề học” Do vậy, người dân rất chú ý tạođiều kiện cho con em được đến trường vì họ biết có học mới có thể thoát nghèo,
có thể làm giàu cho gia đình và quê hương
Nhìn chung, với địa thế thuận lợi như vậy, huyện có nhiều cơ hội pháttriển và giao lưu với các địa phương khác trong toàn tỉnh cũng như với các địa
Trang 21phương khác trong cả nước Tuy nhiên huyện cũng gặp không ít khó khăn vềđiều kiện tự nhiên như khí hậu của vùng đất Hoằng Hoá rất phức tạp Hằng nămmùa mưa đến sớm, bão lụt thường xuyên xảy ra, do vậy, thiệt hại về người vàcủa trong những mùa bão lụt là rất lớn
Mật độ dân số của huyện lớn hơn nhiều so với tỉnh (317 người/km²), hơnnữa tình hình gia tăng dân số hằng năm cũng là một nỗi lo ngại cho Huyện uỷtrong công tác xoá đói giảm nghèo
Thực trạng nền kinh tế - xã hội huyện Hoằng Hoá trước thời kỳ đổi mới củađất nước gặp rất nhiều khó khăn Theo kết quả báo cáo của Đại hội Đảng bộ huyện
Hoằng Hoá lần thứ 19 (1986), trong thời gian này, tăng trưởng kinh tế của huyện còn chậm, không vững chắc, chưa đồng đều, đời sống nhân dân còn nhiều khó
khăn nhất là bộ phận hưởng lương Đói nghèo vẫn chiếm tỷ lệ trên 18% dân số
Trong những năm 1986 - 1996, mặc dù Đảng bộ huyện đã có nhiều chủtrương, biện pháp tích cực nhằm khắc phục những hậu quả nặng nề trong nền kinh
tế còn yếu kém của huyện song kết quả đạt được chưa mấy khởi sắc Các nhu cầuthiết yếu hằng ngày của nhân dân như ăn, mặc, ở chưa được đáp ứng đầy đủ.Những năm 1988 - 1990, ở Hoằng Hoá, nhân dân còn khó khăn, thiếu thốn nhiều
Có những xã trong thời kỳ giáp hạt, số hộ thiếu lương thực lên đến 50%, rất nhiềugia đình phải ăn độn Số hộ khá chỉ chiếm khoảng 20%, số hộ nghèo lên đến 67%,
hộ đói 2,5% Bình quân lương thực 300 kg/người/năm Đến năm 1995, số hộ khágiả có tăng lên nhưng hộ nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao trong dân số toàn huyện Cụthể: hộ giàu chiếm 4,8%, hộ khá và trung bình chiếm 74,45% còn lại 20,75% hộđói nghèo Đáng lưu ý là những hộ đói nghèo này là những hộ đói ăn, thiếu mặc,nhà ở tạm bợ, không đảm bảo vệ sinh, tiện nghi sinh hoạt hầu như không có gì, ốmđau không có thuốc chữa trị, trẻ em thường bỏ học, thất học
Từ thực trạng đói nghèo trên của huyện Hoằng Hoá có thể rút ra một sốnguyên nhân cơ bản sau:
Do điều kiện tự nhiên
Trang 22Nằm trong vùng khí hậu khắc nghiệt chung của tỉnh Thanh Hoá, huyệnHoằng Hoá có mùa đông lạnh và khô Mùa mưa bão muộn hơn so với các vùngkhác của vùng Bắc bộ và Bắc Trung bộ Đồng thời nơi đây còn có những ngàykhô nóng do chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây - Nam từ Lào thổi sang Do tínhchất của khí hậu khắc nghiệt, gây sâu bệnh, hạn hán, địa hình lại đa dạng, phứctạp, có cả núi, sông, biến, đồng bằng… đã một phần kìm hãm sản xuất gây tìnhtrạng đói nghèo cho huyện trong những năm qua
Do hậu quả của chiến tranh để lại
Huyện Hoằng Hoá nằm trong xu hướng chung của cả nước có chiến tranh.Hơn nữa, địa bàn huyện còn chịu gần mười năm chiến tranh leo thang của giặc
Mỹ đã thiêu huỷ nhiều xóm làng, giết hại nhiều dân thường, phá hoại nhiều tàisản Hàng ngàn hố bom đạn trải khắp huyện Nhiều cánh đồng không còn bằngphẳng Nhiều đường sá, cầu cống, đê điều bị sụt lở…
Do chủ quan của người nghèo
Thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất, đông con, không
có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động,…
Do cơ chế chính sách
Một số chính sách của Đảng và Chính phủ chưa hợp lý trong cơ cấu đầu
tư cho lĩnh vực nông nghiệp, thiếu đồng bộ về chính sách đầu tư cho cơ sở hạtầng cho các vùng nghèo, xã nghèo, chính sách khuyến khích sản xuất, tín dụng,hướng dẫn cách làm ăn, giáo dục, đào tạo, y tế, chính sách đất đai, định canh,định cư, nguồn lực đầu tư hạn chế, quản lý phân tán, kém hiệu quả
Như vậy, chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta nói chung và của huyện Hoằng Hoá nói riêng với mục tiêu cao nhất củachế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là mang lại cuộc sống tự do, ấm
no, hạnh phúc cho tất cả mọi người vẫn chưa thực hiện được Cuộc đấu tranhchống lại đói nghèo vẫn còn lâu dài và hết sức cam go
Chương 2
Trang 23ĐẢNG BỘ HUYỆN HOẰNG HOÁ - THANH HOÁ LÃNH ĐẠO CÔNG
TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 1996 - 2006
2.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN HOẰNG HOÁ (THANH HOÁ) VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện về xoá đói giảm nghèo trong những năm 1996 - 2000
Xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội và tăngtrưởng bền vững, ngược lại, chỉ có tăng trưởng cao, bền vững mới có sức mạnhvật chất để hỗ trợ và tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát khỏi đói nghèo
Trong thời kỳ này, nhận thức quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềđói nghèo và xoá đói giảm nghèo và việc Chính phủ ban hành “Chương trìnhmục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000” theo Quyết định
số 133/1998/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/7/1998, gọi tắt làchương trình 133 Chương trình bao gồm một hệ thống chính sách có nội dungtrực tiếp hoặc gián tiếp hướng tới mục tiêu xoá đói giảm nghèo Cùng với quanđiểm chỉ đạo của Tỉnh uỷ Thanh Hoá với các chương trình hành động như:
“Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”,
“Quỹ tình thương”, “Quỹ ngày vì người nghèo”, “Phong trào thanh niên lậpnghiệp”, “Phong trào nông dân sản xuất giỏi” Từ những cơ sở đó, Đảng bộhuyện Hoằng Hoá đã có những chủ trương cụ thể trong công tác xoá đói giảmnghèo trên địa bàn huyện Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 22 (3/1996) đề raphương hướng và mục tiêu kinh tế - xã hội nhiệm kỳ 1996 - 2000, nhiệm kỳcuối cùng của thế kỷ XX tạo đà bước vào thiên niên kỷ mới Đó là: “Giữ vững
ổn định chính trị, phát triển mạnh mẽ kinh tế hàng hoá với cơ cấu nông - côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp - ngư nghiệp và dịch vụ thương mại, trong đónông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là mũinhọn; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiệnđại hoá… từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân” [2, 172] Đại hội cũng đề
ra những mục tiêu cụ thể “Sản lượng lương thực quy thóc đến năm 2000 từ 9,5
Trang 24vạn tấn đến 10 vạn tấn/ năm Thu ngân sách huyện 9 tỷ đồng, ngân sách xã 15 tỷđồng Tất cả thôn xóm có điện, cứng hoá và nhựa hoá các trục đường giao thôngchính; 90% diện tích đất canh tác được tưới tiêu Tất cả các xã, cơ quan có điệnthoại 80% số xã có trường học và trạm y tế kiên cố; cơ bản hoàn thành phổ cậptrung học cơ sở; xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%, tỷ lệ phát triển dân
số tự nhiên hàng năm dưới 1,5%” [2, 172] Nhằm tạo bước đột phá trong pháttriển kinh tế, ngày 3/4/1999, Huyện uỷ ra Nghị quyết số 04 - HU và Kế hoạch số
234 của Uỷ ban nhân dân huyện về phát triển công nghiệp, ngành nghề, nhằmthu hút nhiều lao động vào làm việc, giải quyết tình thế thất nghiệp trước mắt
Ngoài ra, Huyện uỷ còn có chủ trương “mỗi đoàn thể xây dựng điểm chỉđạo, có phong trào cụ thể trong việc thực hiện các mục tiêu xoá đói giảm nghèo,sản xuất hàng hoá và nâng cao dân trí” [2, 173] Trong thời kỳ này, Huyện uỷ đãchỉ đạo các ban ngành, đoàn thể trong huyện tiến hành nhiều hoạt động thiếtthực nhằm xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện về xoá đói giảm nghèo trong những năm 2001 - 2006
Tiếp thu nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các kỳ Đại hộicũng như các Hội nghị Trung ương và Quyết định số 143/2001/QĐ - TTg củaThủ tướng Chính phủ ngày 27/9/2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mụctiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005" Chiến lược xoá đóigiảm nghèo thời kỳ 2001 - 2005 nhằm đầu tư bổ trợ tạo điều kiện cho ngườinghèo có tư liệu và phương tiện để sản xuất, dịch vụ nâng cao thu nhập, gópphần thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo, thiết lập công bằng xã hội, bảo đảm
ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bảo đảm xoá đóigiảm nghèo bền vững
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xoá đói giảm nghèo, Tỉnh
uỷ Thanh Hoá đã xây dựng “Chương trình mục tiêu xoá đói giảm nghèo và việclàm của Tỉnh giai đoạn 2001 - 2005” và “Đề án phát triển công tác đào tạo nghềgiai đoạn 2001 - 2010”.Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra Nghị quyết về xuất khẩu lao
Trang 25động giai đoạn 2003 - 2005 và định hướng đến năm 2010; đồng thời ban hànhChỉ thị về cải thiện nhà ở cho hộ nghèo chưa có nhà ở và đang ở nhà xiêu vẹodột nát trên địa bàn tỉnh đến năm 2007 Từ đó đã đề ra nhiều chủ trương, giảipháp để xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; các cấp uỷ đảng, chính quyềncùng các tổ chức đoàn thể đã tập trung triển khai thực hiện các chương trìnhquốc gia về giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, đào tạo nghề và giới thiệuviệc làm cho một số lớn lao động trong những năm gần đây, góp phần tích cựcvào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từng bước ổn định đời sống nhân dân vớicác dự án, chính sách sau:
Chính sách hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo bao gồm: Hỗ trợ về y
tế, giáo dục, chính sách an sinh xã hội, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, trợgiúp đối tượng nghèo về nhà ở, công cụ lao động và đất đai sản xuất
Các dự án hỗ trợ trực tiếp xoá đói giảm nghèo bao gồm:
- Nhóm dự án xoá đói giảm nghèo chung
+ Dự án tín dụng cho hộ nghèo vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh.+ Dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, khuyến lâm,khuyến ngư
+ Dự án xây dựng mô hình xoá đói giảm nghèo ở các xã nghèo vùng sâu,vùng xa, bãi ngang ven biển và vùng cao biên giới
- Nhóm dự án xoá đói giảm nghèo cho các xã nghèo ngoài chương trình 135+ Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã nghèo (thuỷ lợi, trườnghọc, trạm y tế, đường dân sinh, nước sinh hoạt, chợ)
+ Dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề các xã nghèo
+ Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo vàcán bộ các xã nghèo
+ Dự án ổn định dân di cư và xây dựng kinh tế mới ở các xã nghèo
+ Dự án định canh, định cư ở các xã nghèo
Trang 26Quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng và của Tỉnh uỷ Thanh Hoá,Huyện uỷ đã đề ra những chủ trương cụ thể nhằm thực hiện công tác xoá đóigiảm nghèo có hiệu quả phù hợp với điều kiện thực tế của huyện
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 23 (11/2000) đã đề ra phương hướng vànhiệm vụ chủ yếu cho những năm đầu thế kỷ XXI là: “Tiếp tục đẩy mạnh côngcuộc đổi mới, phát huy sức mạnh tổng hợp, khai thác có hiệu quả tiềm năng vàthế mạnh của huyện, thu hút nguồn lực từ bên ngoài vượt qua nguy cơ tháchthức, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững Kết hợp hài hoà pháttriển kinh tế với giải quyết các vấn đề văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống nhândân trên địa bàn toàn huyện” [2, 240]
Thực hiện Chỉ thị 08 CT/TU ngày 10/10/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh
uỷ “về cuộc vận động giúp đỡ nhà ở cho hộ nghèo” Ban Thường vụ Huyện uỷ
đã nhanh chóng triển khai trong hội nghị cán bộ chủ chốt toàn huyện, thành lậpBan chỉ đạo huyện do đồng chí Bí thư huyện uỷ làm Trưởng ban
Huyện uỷ có chủ trương dựa vào các nguồn vốn của các tổ chức đoàn thể,
tổ chức Quốc tế nhằm giải quyết việc làm và hộ trợ cho người nghèo vay vốnlàm ăn Huyện còn có một số phong trào như “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”,
“Quỹ hỗ trợ nông dân nghèo” hay phong trào Thanh niên giúp nhau lập nghiệp
đã góp phần đáng kể trong việc thực huy động nguồn lực để xoá đói giảmnghèo Ngoài ra, Huyện uỷ còn có chương trình như: “Chương trình hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo”, Nghị quyết 09/NQ-HU của BanChấp hành Đảng bộ huyện và Đề án của UBND huyện về “Xây dựng cánh đồng
50 triệu đồng/ha/năm, hộ có thu nhập 50 triệu đồng/năm”
2.2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG
BỘ HUYỆN HOẰNG HOÁ (THANH HOÁ)
2.2.1 Thực hiện xoá đói giảm nghèo ở Hoằng Hoá trong những năm 1996 - 2000
Thực hiện chủ trương của Đảng cũng như của Tỉnh uỷ Thanh Hoá,Huyện uỷ Hoằng Hoá nhanh chóng triển khai thực hiện công tác xoá đói giảmnghèo trên địa bàn huyện Thực hiện Nghị quyết của các Đại hội Đảng bộ đề
Trang 27ra, trong thời kỳ này, công tác xoá đói giảm nghèo của Huyện uỷ có nhữngbước đi cụ thể.
Trong những năm 1996 - 2000, Đảng bộ huyện với phương châm “Lựa chọn điểm đột phá, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa” Trong chương trình xoá
đói giảm nghèo, theo Chỉ thị của Trung ương Đảng, chương trình hành động củaChính phủ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ 22, chương trình và mục tiêuxoá đói giảm nghèo được quán triệt đầy đủ trong các cấp uỷ, chính quyền, cácngành và đoàn thể địa phương Công tác điều tra hộ giàu, hộ trung bình và hộnghèo được tiến hành rộng rãi
Qua thống kê năm 1996, trong số hộ nghèo đói của huyện có 78% số hộ do
thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm làm ăn; 10% do thiếu tư liệu sản xuất như ruộng đất,công cụ lao động; 6% do cơ nhỡ, vụng về trong làm ăn; 6% do sa vào tệ nạn xã hội
Trước thực trạng đó, Đảng bộ đã đề ra chủ trương và biện pháp tích cựctheo phương châm “lấy dân giúp dân, lấy làng giúp làng, lấy họ giúp họ, lấy anh
em giúp anh em, lấy bạn giúp bạn”…
Có thể nói, quá trình lãnh đạo công tác xoá đói giảm nghèo của Huyện uỷHoằng Hoá trong giai đoạn này thông qua lãnh đạo thực hiện mục tiêu kế hoạchkinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng bộ huyện đề ra trong nhiệm kỳ 1996 - 2000 vàthông qua lãnh đạo các tổ chức đoàn thể trên địa bàn huyện tích cực tham giacông tác xoá đói giảm nghèo
Một là, lãnh đạo thông qua thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ huyện trong nhiệm kỳ 1996 - 2000
Sau Đại hội, Đảng bộ huyện nhanh chóng triển khai thực hiện các mụctiêu về phát triển kinh tế xã hội, nhằm đảm bảo cho nhân dân trên địa bàn huyện
có đời sống ổn định về mọi mặt, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá quêhương, đất nước
Trong sản xuất nông nghiệp
Trang 28Thực hiện các chương trình trong 5 năm (1996 - 2000) về chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp để phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng bộ coitrọng phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá nhưđổi mới mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, cơ cấu vụ mùa, đưa nhanh tiến bộ sinh học,
kỹ thuật thâm canh vào sản xuất để tăng năng suất và sản lượng, tăng hiệu quảkinh tế Trong chỉ đạo điều hành,các cấp uỷ đảng và chính quyền từ huyện đến cơ
sở tập trung đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi vào sản xuất
Thời gian này, vụ mùa năm 1996 bị lũ lụt lớn (lụt lịch sử của 41 năm lậplại), mặc dù tập trung cao độ phòng chống nhưng do bão lụt lớn nên sản lượnglương thực giảm (chỉ đạt 63.300 tấn/năm) Đến năm 1997, sản xuất được phụchồi nhanh Huyện uỷ đã lãnh đạo đầu tư thâm canh và đưa nhanh tiến bộ kỹthuật vào sản xuất Các giống lúa lai, lúa thuần Trung Quốc có năng xuất cao đã
được du nhập vào sản xuất ở mỗi cơ sở trong huyện Đồng thời trên địa bàn
huyện đã có sản xuất hàng hoá lương thực, đã giải quyết ổn định vấn đề lươngthực, vừa đảm bảo đủ ăn, phục vụ chăn nuôi phát triển, vừa có lương thực dựphòng và lương thực hàng hoá ngày càng tăng
Công tác chăn nuôi hướng mạnh vào những loại gia súc, gia cầm có năngsuất cao, chất lượng tốt và thị trường tiêu thụ Đồng thời giải quyết việc làm chongười lao động tăng thu nhập trong hộ nông dân
Bình quân lương thực thời kỳ 1996 - 2000 đạt 89.056 tấn/năm, tăng19,1% so với bình quân thời kỳ 1991 - 1995 Năm 2000 là năm có sản lượnglương thực cao nhất là 105.072 tấn, bình quân lương thực đầu người toàn huyện
là 430 kg
Trồng trọt và chăn nuôi là những ngành giữ vai trò quan trọng và thuđược kết quả cao trong phát triển kinh tế của huyện Giá trị sản lượng của ngànhtrồng trọt từ 161.784 triệu đồng năm 1990 tăng lên 255.970 triệu đồng năm
2000, đạt giá trị sản lượng trồng trọt 214.016 triệu đồng/ năm, mức tăng trưởng23,5% bình quân, tăng trưởng 5 năm là 4,7%/ năm Giá trị chăn nuôi đạt109.834 triệu đồng, mức tăng trưởng 5 năm là 28,7%, bình quân 5,7%/ năm
Trang 29Nhiều gia đình đã xác định chăn nuôi là ngành sản xuất chính trong kinh tế hộ,thu hoạch không kém trồng trọt, có gia đình tỷ trọng chiếm tới 40 - 50% thunhập gia đình Ngành chăn nuôi của huyện được đánh giá là khá nhất tỉnh.
Vớiưu thế có đường bờ biển dài, Đảng bộ huyện cũng rất chú trọng lãnh đạonhân dân khai thác có hiệu quả, tăng thu nhập cho gia đình từ nguồn tài nguyênnày Để đổi mới khai thác, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo phương châm tiến quân rabiển, coi trọng nghề khơi, khuyến khích đầu tư mua sắm đầu máy công suất lớn,đánh bắt xa bờ, tăng cường trang bị đa ngành nghề trên một phương tiện
Đối với lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, diện tích nước mặn, nước lợ, nướcngọt được quy hoạch, cải tạo, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, từng bướcchuyên nuôi quảng canh sang bán thâm canh và thâm canh công nghiệp Năm
2000, toàn huyện đã có 200 ha tôm được nuôi theo hướng thâm canh Việc nuôitrồng được gắn đầu ra với Xí nghiệp Đông lạnh thuỷ sản Hoằng Trường chếbiến xuất khẩu làm tăng sản lượng và giá trị sản xuất thuỷ sản Nhìn chung, cả 2khu vực khai thác biển và nuôi trồng thuỷ sản, tổng sản lượng của toàn huyện đãđạt 7.931 tấn, tính theo sản lượng giá trị đạt 38.712 triệu đồng/ năm, mức tăngtrưởng 5 năm là 54,6%, bình quân tăng trưởng 10,9%/ năm
Về lâm nghiệp
Tuy diện tích lâm nghiệp không lớn nhưng Huyện uỷ và Uỷ ban nhân dânhuyện đã chủ trương xanh hoá đồi núi trọc, bãi bồi ven sông, ven biển và đườnglàng, đã tranh thủ các dự án PAM4304 quốc tế, dự án 327 (nay là 661) trongnước, đồng thời phát động trồng cây nhân dân mạnh mẽ, liên tục Đảng bộ coitrọng việc thực hiện giao đất lâm nghiệp, đất trồng cây đến hộ gia đình, phủxanh đất trống đồi núi trọc, các đường giao thông, bãi bồi ven sông, ven biển từnăm 1994 đến năm 2000, huyện đã trồng được 1.652 ha rừng tập trung, đạt100% kế hoạch diện tích, gồm các loại cây phi lao, cây thông, cây keo Giá trịlâm nghiệp bình quân ở những năm qua đạt 1.397 triệu đồng, mức tăng trưởng21,5%, bình quân 4,3%/ năm Thành tích trên đây cho thấy hiệu quả của việcgiao đất, giao đồng cho hộ gia đình, kinh tế trang trại được hình thành và phát
Trang 30triển rõ rệt Mô hình trang trại vừa có giá trị kinh tế cho chủ trang trại, vừa là nơithu hút lao động giải quyết việc làm ổn định cho một số lao động trên địa bànhuyện Trên thực tế đã có một bộ phận lớn lao động có công ăn việc làm ổn địnhtại chỗ, tăng thu nhập cho gia đình, góp phần ổn định xã hội ở nông thôn
Về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Hướng tập trung phát triển tiểu thủ công nghiệp của Huyện uỷ chủ yếu làkhai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản, thực phẩm, hải sản
và lâm sản, sản xuất mộc dân dụng, cơ khí, sửa chữa và điện tử, kết hợp pháttriển các nghề truyền thống mây tre đan và mở thêm nghề cói mỹ nghệ dân dụng
và xuất khẩu
Về chế biến nông sản thực phẩm, hải sản và lâm sản,việc khai thác và sảnxuất vật liệu xây dựng đã được đầu tư cơ khí hoá và cải tiến quy trình côngnghệ, bảo đảm chất lượng nên đã đứng vững trên thị trường nội địa, góp phầntăng thu nhập cho người lao động, nhất là ngư dân vùng biển
Chế biến nông sản, thực phẩm có tốc độ phát triển cao, tạo ra nguyên liệunên việc chế biến sản phẩm được mở rộng ra khắp các nơi trong huyện Ở thời
kỳ này, phong trào nhóm hộ và hộ gia đình tự nguyện mua sắm các loại máy nhỏnhư máy nghiền xát, chế biến lương thực, thực phẩm tăng lên hàng năm Đếnngày 1/4/1999, theo thời điểm điều tra, trên địa bàn huyện đã có 24 hộ có máyphát điện dùng cho chế biến, 313 hộ có máy xay xát, 744 hộ có máy vò tuốt lúa,
598 hộ có máy nghiền thức ăn gia súc
Hàng mây tre đan phát triển mạnh ở Hoằng Thịnh đã thu hút hàng ngànlao động địa phương vào sản xuất Thời gian này ở Hoằng Thịnh, khắp làng, ngõxóm chất đầy mây, tre, vầu, nứa, nhà sản xuất rổ rá… Hàng mây tre đa dạng,mẫu mã đẹp, phù hợp với người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Hàng năm,Hoằng Thịnh thu về giá trị từ 5 đến 6 tỷ đồng, có năm lên tới 9 tỷ đồng, nhiều
hộ giàu lên do hàng mây tre đem lại
Cơ khí và sửa chữa cơ khí, điện tử những năm qua tập trung phát triểnhàng cơ khí xây dựng, cơ khí gò hàn, dịch vụ sửa chữa cơ khí phụ vục sản xuất
Trang 31nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, vận tải, trang thiết bị điện dân dụng đápứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện.
Tổng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp xây dựng cơ bản là 127.932triệu đồng, đạt mức tăng trưởng 5 năm là 117%, bình quân tăng trưởng 23,4%/năm Trong đó, giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 26.203 triệuđồng/năm, giá trị xây dựng cơ bản đạt 101.729 triệu đồng/năm Riêng năm 2000đạt 170 tỷ đồng, tăng 38% so với năm trước đó
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Nổi bật là hệ thống thuỷ lợi, đường giao thông, cầu cống, các công trìnhđiện, hệ thống trường học, trạm y tế, xây dựng trụ sở cơ quan và nhà ở trongnhân dân Việc thực hiện các chương trình điện - đường - trường - trạm và thuỷlợi đã và đang được tiếp tục đẩy mạnh
Hệ thống giao thông trong huyện, được cấp uỷ và chính quyền chỉ đạochặt chẽ, liên tục, công trình tiếp nối công trình trong suốt thời gian 5 năm 1996
- 2000 Nhiều tuyến giao thông liên xã đi huyện lị được cứng hoá tổng cộng110,3 km, trong đó rải nhựa 27,8 km Phương tiện giao thông trong toàn huyệncũng phát triển mạnh Theo thống kê năm 2000, toàn huyện có 384 hộ vận tảibằng xe công nông, tăng 35% so với thời kỳ trước năm 1995, 49 hộ có máy kéolàm đất kết hợp vận tải, tăng 50% so với thời kỳ trước đó
Hệ thống đường giao thông nâng cấp và phương tiện vận tải tăng đã tạothuận lợi cho nhân dân đi lại, sản xuất, giao lưu kinh tế… góp phần xoá đóigiảm nghèo có hiệu quả