1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn học sinh phân tích chất thơ đời sống trong truyện ngắn

91 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất thơ đời sống trong truyện ngắn
Tác giả Kim Lân
Trường học Trường phổ thông
Chuyên ngành Văn học
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 1945
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 159,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong “Từ điển bách khoa Việt Nam” có đa ra một nhận định về chất thơ dới dạng mô tả các thuộc tính của thơ nh sau: “Chất thơ là một khái niệm trừu tợng, nhng có thể chỉ định mấy thuộc t

Trang 1

Mở đầu

I Lí do chọn đề tài

Văn học có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của con ngời Việchọc văn trong nhà trờng từ nhiều năm nay đợc coi là một trong những môn họcchính Môn văn có phân môn giảng văn chiếm tỉ lệ lớn các tiết học văn trongnhà trờng Phân môn này góp phần tích cực trong việc hình thành nhân cách,nuôi dỡng tâm hồn học sinh

Với khả năng riêng của những hình tợng nghệ thuật đợc nghệ sĩ sáng tạolên nên văn học có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn và trí tuệcủa bạn đọc Đời sống con ngời thì hữu hạn nhng cuộc sống của những tácphẩm u tú của loài ngời thì mãi mãi tơi xanh, có khả năng khơi nguồn sáng tạomãnh liệt cho con ngời và tiếp tục làm phong phú cho tâm hồn bao thế hệ Làcây bút truyện ngắn xuất sắc, tạo dựng đợc một vị trí chắc chắn trong nền vănxuôi hiện đại Việt Nam, từ lâu nay, một số tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân đ -

ợc xếp vào loại gần nh “thần bút”: “Làng”, “Vợ nhặt” Hai tác phẩm này đã

đ-ợc tuyển chọn vào chơng trình giảng dạy văn học ở trờng phổ thông Mà giữahai truyện ấy thì theo d luận của nhiều bạn văn do chính Kim Lân phản ánh,

“Vợ nhặt” có phần xuất sắc hơn “Làng”.

“Vợ nhặt” đợc xây dựng trên bối cảnh của năm ất Dậu, cái năm vẫn đợc

nhiều ngời lớn tuổi quen gọi là “năm đói” Cái nạn đói của năm ất Dậu không

bao giờ quên đợc ấy có lẽ là tai hoạ thảm khốc nhất của một dân tộc mà sốphận vốn đã lắm tai nhiều họa Bởi lẽ, cha có một thuỷ tai, hỏa tai nào, cha cómột dịch bệnh nào, và thậm chí cha có một cuộc chiến tranh nào đã có thể –

nh cái nạn đói khủng khiếp kia – cớp đi của nớc Việt Nam ngót một phần

m-ời dân số

Trong tiến trình văn học Việt Nam, nhiều nhà văn, nhà thơ đã viết về nạn

đói: Phạm Đình Hổ trong “Vũ trung tuỳ bút” kể chuyện mùa màng thất bát, cả

một vùng rộng lớn ở Thái Bình lúa ngô chết rục, chỉ thấy chồn, cáo chạynhông đào bới…Nguyễn Du trong “Nguyễn Du trong “Sở kiến hành” tả cảnh một gia đình đói

rách đi ăn xin…Nguyễn Du trong “Và Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố…Nguyễn Du trong “Song dờng

Trang 2

nh cha một ai đặc tả, cực tả rõ nét cái nạn đói năm ất Dậu 1945 ở một thời

gian cụ thể, một không gian đậm đặc nh Kim Lân đã làm Trong truyện “Đôi

mắt”, năm 1948 Nam Cao cũng từng dự cảm về “cái hồi đói khủng khiếp mà

có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng

mình” [53] Ngày nay, đọc “Vợ nhặt” của Kim Lân, chúng ta không chỉ nghe

lời kể của nhà văn mà nh đang trực tiếp sống giữa thời điểm, cái nơi chốn đóinghèo ất Dậu ấy: nhìn rõ cỏ cây, nhà cửa, bóng ngời dật dờ, nghe rõ nhữngtiếng quạ kêu thê thiết, tiếng ngời khóc hờ tỉ tê, ngửi thấy mùi gây gây của xácngời, mùi khét lẹt của đống rấm để xua đi mùi tử khí…Nguyễn Du trong “Chúng ta không chỉ

“rùng mình” mà còn khiếp sợ, xót thơng, ngột ngạt Văn chơng hay chính đây

cuộc đời đích thực đang hiện về? cái chết lan tràn, bao phủ Đời ngời, kiếpnhân sinh giống nh một đống tro tàn lạnh ngắt

“Vợ nhặt” của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc của văn xuôi

hiện đại Việt Nam đã phản ánh chân thực nạn đói cuả dân tộc năm 1945 Và cũng

là một trong những tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học hiện thực Việt Nam saucách mạng tháng Tám 1945 Vì vậy, tác phẩm đã đợc khám phá trên nhiều bìnhdiện: giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, tình huống truyện độc đáo…Nguyễn Du trong “Các ý kiếnthật phong phú, chứa đựng một cách cảm, cách hiểu, cách đánh giá Tuy nhiên,

tác phẩm văn học nói chung, truyện ngắn “Vợ nhặt” nói riêng là một cái gì

không cùng, hàm chứa trong nó bao tầng ý nghĩa Bởi thế, cho dù đã có nhiều ý

kiến khám phá, khai thác nhng mạch nớc ngầm của tác phẩm “Vợ nhặt” cha phải

đã cạn kiệt, vẫn còn khoảng trống cha đợc khám phá Vì vậy, những giá trị tiềm

tàng của truyện ngắn “Vợ nhặt” đòi hỏi tiếp tục đợc kiếm tìm.

Sau khi tìm hiểu kĩ tác phẩm “Vợ nhặt”, chúng tôi nhận thấy ngoài giá trị

hiện thực, giá trị nhân đạo trên mỗi trang văn, ở mỗi nhân vật thấy phảng phấtchất thơ của đời sống

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài H “ ớng

dẫn học sinh phân tích chất thơ đời sống trong truyện ngắn Vợ nhặt của“ ”

Kim Lân” Với đề tài này, ngời viết luận văn hi vọng góp thêm một cách cảm

nhận mới về một tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của nền văn học Việt Nam

II Xác định khái niệm

Luận văn không nhằm mục đích lí luận, nghĩa là không nhằm giải quyếtnhững vấn đề về lí luận văn học Tuy nhiên, để giải quyết đề tài của mình, ngời

Trang 3

viết không thể không xác định quan niệm nhất định về khái niệm phức tạp, rất

khó định nghĩa và mới mẻ này: Khái niệm “chất thơ đời sống ” trong văn xuôi

Đây là lần đầu tiên, khái niệm “chất thơ đời sống ” đợc đề cập đến trongkhuôn khổ một luận văn Vì vậy, để đa ra đợc một quan niệm tơng đối về kháiniệm này, ngời viết luận văn nhận thấy cần phải dựa vào những lí giải, kháiniệm về chất thơ và chất thơ trong văn xuôi Vì đó là những cái có trớc,đã đợcmột số công trình và nhà nghiên cứu tìm hiểu Và vì giữa chúng có chung nộihàm: “chất thơ”

Chất thơ tuy có thấy đợc sử dụng trong một số bài viết hay công trìnhnghiên cứu, song bản thân nội hàm thuật ngữ này lại có ít công trình nghiêncứu về nó Trong điều kiện ở Việt Nam, việc tiếp cận đợc với khái niệm chấtthơ không phải là dễ bởi hầu nh trong các th viện cha thấy có nguồn t liệu dịchhay ấn phẩm nguyên bản

Có thể nói, chất thơ là một trong những chất khó nắm bắt và lí giải Chotới nay, chất thơ vẫn cha đợc khám phá về mặt lí thuyết tới độ minh bạch nh tahằng mong muốn ở Việt Nam, cũng cha có công trình nào đa ra một khái

niệm cụ thể hoàn chỉnh về chất thơ Trong “Từ điển bách khoa Việt Nam” có

đa ra một nhận định về chất thơ dới dạng mô tả các thuộc tính của thơ nh sau:

“Chất thơ là một khái niệm trừu tợng, nhng có thể chỉ định mấy thuộc tính cơ bản sau: chất thơ đợc thể hiện ở sự phong phú của những cảm xúc, ở những hình ảnh cô đọng, ở những ý nghiã sâu xa có tính chất hàm ẩn (ngầm), và ở sự hoà điệu về mặt âm vận, vần và nhịp.”

Trên cơ sở chỉ ra những đặc trng cơ bản của thơ, “Từ điển thuật ngữ văn

học” quan niệm về chất thơ là: “Khái niệm dùng để chỉ những sáng tác văn

học (bằng văn vần hoặc văn xuôi) giàu cảm xúc, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu Lý tởng và khát vọng đông đảo của nhân dân, chủ nghiã nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn khách quan cho chất thơ chân chính ở mỗi thời đại”.

Trong luận án Tiến sĩ nghệ thuật năm 2007, tác giả Lê Văn Sửu có cách

hiểu: “Chất thơ không phải là câu thơ hay bài thơ cụ thể, mà là chỉ phẩm chất của các sự vật, hiện tợng, cảnh vật …gợi về cái Đẹp, khiến con ng gợi về cái Đẹp, khiến con ng ời phải rung

động, xúc cảm ” [54] Nh vậy, cái đẹp trong chất thơ thờng mang màu sắc lãngmạn Nhiều khi cái đẹp đợc nhà văn đẩy lên đến mức lí tởng Toàn bộ vẻ đẹp vàsức mạnh của chất thơ là ở chỗ nó đợc xây dựng lên với những ci đẹp, cái cao cả

để đối lập với thế giới thực dụng Con ngời của chất thơ mang vẻ đẹp lí tởng Họ

đợc các nhà văn miêu tả là những con ngời nằn ngoài qui luật tha hoá của cuộc

Trang 4

sống hàng ngày, họ phải đứng cao hơn những ngời bình thờng khác Có khi họ

là những con ngời say mê lí tởng, có tầm vóc khác thờng, tâm trạng khác thờng

Dựa vào những cơ sở trên đi đến khẳng định rằng chất thơ và chất thơtrong văn xuôi có một số đặc trng nổi bật: là sự kết tinh của cái đẹp, là tiếngnói của tình cảm, cảm xúc, là khát vọng, là mơ ớc của con ngời để vơn tới cái

đẹp thanh cao Và chất thơ còn có một ý nghiã rất lớn trong việc bồi đắp đờisống tinh thần cho con ngời, nó góp phần hoàn thiện nhân cách và tăng phần lítởng cho cuộc sống Nó khiến cho nhà văn Thạch Lam đã luôn kì vọng rằng

chất thơ ấy có thể làm "vừa thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng ngời đợc thêm trong sạch và phong phú hơn".

Chất thơ và chất thơ đời sống có chung nội hàm “chất thơ”, đều bắt nguồn

từ cuộc sống và quay trở lại phục vụ cuộc sống nên có sự tơng đồng nh sau:trực tiếp hoặc gián tiếp đều bắt nguồn từ khát vọng về cái đẹp, cái cao cả Cómột ý nghiã rất lớn trong việc bồi đắp đời sống tinh thần cho con ngời, gópphần hoàn thiện nhân cách và tăng phần lí tởng cho cuộc sống Chất thơ vàchất thơ đời sống còn đem đến cho con ngời khát vọng sống, niềm tin yêucuộc sống và con ngời

Song, chất thơ đời sống có những biểu hiện khác chất thơ Thứ nhất, cái

đẹp trong chất thơ đời sống thờng không nằm ở những vẻ đẹp lí tởng, nhữngkhung cảnh thiên nhiên lãng mạn, những câu văn chải chuốt, cô đọng hàm súchay giàu hình ảnh, nhịp điệu Cái đẹp trong chất thơ đời sống chủ yếu mangmàu sắc đời thờng Nhiều khi cái đẹp ấy đợc nhà văn cho ẩn mình dới một lớp

vỏ xù xì, thô ráp, xấu xí, quê kệch, rách rới Theo giáo s Nguyễn Đăng Mạnh

thì: “cái gì đối lập với cái phàm tục là chất thơ” Mà cái phàm tục chủ yếu có

trong đời sống thờng nhật, là những cái tầm thờng, phàm tục Trong khi đó,chất thơ đời sống bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực, còn nhiều bộn bề, ngangtrái, đắng cay, thậm chí từ trong những thứ bị coi là tầm thờng, trần tục vẫn lấplánh vẻ đẹp của cuộc sống, cuả tâm hồn con ngời Toàn bộ vẻ đẹp và sức mạnhcủa chất thơ đời sống là ở chỗ nó đợc xây dựng lên với những vẻ đẹp về tìnhngời để đối lập với cuộc sống nghèo đói, khắc nghiệt, nhiều bon chen, tranhgiành

Thứ hai, chất thơ đời sống thể hiện vẻ đẹp của những con ngời đời thờng,bình thờng, thậm chí là tầm thờng Họ là những con ngời không nằm ngoài quiluật tha hoá của cuộc sống hàng ngày Có khi họ là những con ngời cha biết đến

lí tởng, có tầm vóc bình thờng, tâm trạng bình thờng Nhng cái để tạo nên vẻ

đẹp ở những con ngời này là những ngời tốt, có tấm lòng bao dung, cao thợng

Trang 5

và tấm lòng của họ vĩnh viễn không bị xoá nhoà bởi những điều xấu xa, bụi bặmcủa cuộc sống xã hội đang diễn ra xung quang mình.

Thứ ba, vẻ đẹp của chất thơ đời sống thể hiện cụ thể, rõ ràng không mơ

hồ, vô định Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Kiên, đi tìm chất thơ trong truyện

ngắn có nghiã là “đi tìm cái ta chỉ có thể cảm thấy, nếu chỉ nó ra rành rành, phân tích nó, lập tức nó sẽ trở nên mơ hồ ” Gần gũi với ý kiến này là cách

hiểu: “Khái niệm chất thơ vẫn đợc dùng để chỉ về cái nên thơ, cái có vẻ thơ, cái gợi về thơ …gợi về cái Đẹp, khiến con ng chứ không phải hoàn toàn là câu thơ hay bài thơ Đó là một phẩm chất vô định hình của sự vật, hiện tợng …gợi về cái Đẹp, khiến con ng mà ta chỉ có thể nhận biết thông qua sự cảm” [54] Có cách hiểu nh vậy bởi vì cái phẩm chất thơ đẹp đẽ

trong văn xuôi, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đều bắt nguồn từ cái đẹpmang màu sắc lí tởng, cái cao thợng đối lập với cái phàm tục Đó là những vẻ

đẹp lung linh nhng huyền ảo, khác xa với cuộc sống đời thờng Vì vậy nếuphân tích, chỉ nó ra rành rành thì vẻ đẹp đó sẽ hao hụt hoặc biến mất Do đóchỉ “cảm” thấy mà thôi Trái lại, vẻ đẹp của chất thơ đời sống bắt nguồn từcuộc sống đời thờng, mang vẻ đẹp của màu sắc đời thờng bởi vì chất thơ đờisống không né tránh hiện thực nó phản ánh mọi khía cạnh của cuộc sống củatâm hồn con ngời Mà cuộc sống con ngời luôn có hai mặt ánh sáng và bóngtối Chất thơ đời sống không chỉ nằm ở “mảng sáng” của cuộc đời, mảng luôngợi về cái Đẹp mà còn xuất hiện ở “mảng tối” của cuộc đời, ở đó có những thứxấu xí, quê kệch, rách rới, nghèo đói, những cái bình thờng, thậm chí là tầmthờng Nhng vợt lên trên tất cả, từ trong bóng tối ấy vẫn lấp lánh những điềutốt đẹp thuộc về nhân bản, về thiên lơng của con ngời: tình yêu thơng, che chở,

đùm bọc, có khát vọng sống mãnh liệt, có niềm tin vào con ngời và cuộc sống.Chính vì vậy mà phẩm chất của chất thơ đời sống rất rõ ràng Ta có thể chỉ ra,phân tích nó Và càng phân tích sâu sắc thì vẻ đẹp của chất thơ đời sống càngbiểu hiện rõ nét, sinh động

Đối tợng nghiên cứu mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong luận văn này làphân tích chất thơ đời sống trong một tác phẩm văn xuôi Căn cứ vào những suynghĩ, hiểu biết của cá nhân và nhất là xuất phát từ nhiệm vụ của đề tài luận văn,ngời viết mạnh dạn trình bầy quan niệm của mình về khái niệm chất thơ đờisống nh sau: Chất thơ đời sống trong văn xuôi thể hiện vẻ đẹp của đời sống conngời, vẻ đẹp của tâm hồn con ngời, biểu hiện rõ nét ở: tình yêu thơng, đùm bọc,chia sẻ; khát vọng sống mạnh mẽ và niềm lạc quan, tin tởng vào tơng lai tốt đẹpmặc dù đang sống trong cuộc sống khắc nghiệt, khốn cùng

iII Lịch sử vấn đề

Trang 6

Tác phẩm của Kim Lân không chỉ “chân chất của đời sống và con ngời nghèo hèn” nh Nguyên Hồng nhận xét, mà còn ấm áp tình ngời, tình cảmnhững con ngời lao động đôn hậu, nhân áI, thủy chung và giàu khát vọng.

Truyện “Vợ nhặt” đợc Kim Lân viết sau hòa bình 1954 Vì vậy, vẻ đẹp

của tình ngời, cảm hứng nhân bản, nhân đạo đằm thêm, mang ý nghĩa cao rộng

hơn so với những truyện trớc đó (Đứa con ngời vợ lẽ, Cô Vịa, Làng, Con chó

xấu xí) Tình ngời trong câu chuyện phải chăng là sự cảm thơng, đùm bọc,

n-ơng tựa vào nhau giữa những con ngời khốn khổ để cùng nhau chống lại cái

đói, cái nghèo hèn trong những đêm đen cuộc sống mà xây dựng lại đời mình,vun đắp cho hạnh phúc gia đình trớc mắt và lâu dài về sau Tình ngời đó phảichăng là tình thơng rồi đến tình yêu, tình vợ chồng, mẹ con Tình ngời đó phảichăng là lòng bao dung, tinh thần trách nhiệm giữa những con ngời trong mộtgia đình Và …Nguyễn Du trong “ tình ngời đó phải chăng còn là những ớc mơ, khát vọng hớng

tới ngày mai, hớng tới sự thay đổi, hớng tới “lá cờ đỏ bay phấp phới” dẫn đầu

đòan biểu tình nh ở phần kết của câu chuyện Và, cảm hứng nhân bản tóat ratrong từng câu chữ, từng tình huống, chi tiết truyện không chỉ là nỗi cảm thơngcho các nhân vật trong truyện mà chính là sự giãi bày một chặng đời cơ cực

của chính mình “Tôi với nhà tôi cũng từ nhà quê ra Hà Nội bán cám, cũng

đẩy xe bò …gợi về cái Đẹp, khiến con ng Còn cảnh ăn cháo cám, tôi với nhà tôi cũng đã từng …gợi về cái Đẹp, khiến con ng Tất cả những cái đó, lúc viết cứ tự dng nhớ ra, ghi lại, rồi thành truyện …gợi về cái Đẹp, khiến con ng ”[1] Nhà

văn đã tâm sự nh thế về trờng hợp viết “Vợ nhặt” Tác phẩm ấm nóng hơi thở,

mồ hôi và nớc mắt của tác giả Cảm hứng nhân bản của “Vợ nhặt” nói riêng,

rất nhiều truyện của Kim Lân nói chung không chỉ là sự phát hiện mà cònkhẳng định bản chất lành mạnh, khỏe khoắn trong nhân cách ngời lao động

nh khẳng định một chân lí “Ngững ngời đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà

họ nghĩ đến cái sống Và ngời đói ngày ấy cũng có đạo lí của họ” – lời tâm sự

của nhà văn về truyện ngắn “Vợ nhặt” Cái đạo lí ấy của những con ngời đau

khổ phải chăng là niềm mong đợi, khát khao một cuộc đổi đời mà “lá cờ đỏ”

của Việt Minh đang vẫy gọi họ Cảm hứng nhân bản trong “Vợ nhặt” “có màu

sắc cách mạng”, mang ý nghĩa thức tỉnh, gieo mầm cho những niềm tin, niềm

hy vọng…Nguyễn Du trong “ lớn lao, mạnh mẽ

Từ những giá trị trên, theo chúng tôi tìm hiểu, truyện ngắn “Vợ nhặt” của

Kim Lân đã có một số công trình nghiên cứu:

- “Xây dựng hệ thống tình huống có vấn đề để phát huy tính tích cực,

sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim

Lân” - ĐHSP Hà Nội – 2006 của Trần Thị Quỳnh Hoa

Trang 7

- “Dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân cho học sinh trung học

phổ thông từ cái nhìn văn hóa” - ĐHSP Hà Nội – 2006 của Nguyễn Thị ThuThảo

ngoài ra tác phẩm “Vợ nhặt” còn có trong một số đề tài nghiên cứu khác

về các truyện ngắn của Kim Lân nh:

- “Những giá trị tiêu biểu về t tởng và nghệ thuật của truyện ngắn Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 1997 của Nguyễn Văn Bao.

- “Những đặc sắc của truyện ngắn Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 2002

của Nguyễn Tiến Đức

“Nông thôn và hình ảnh ngời nông dân trong sáng tác của Kim Lân”

-ĐHSP Hà Nội – 2003 của Mã Thu Hà

- “Phong cách nghệ thuật Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 2004 của Nguyễn

Thị Thu

- “Văn hóa Kinh Bắc và phong cách nghệ thuật Kim Lân” - ĐHSP Hà

Nội – 2005 của Phạm Thị Nga

- “Truyện ngắn Kim Lân, nhìn từ phong cách thể loại” - ĐHSP Hà Nội –

2005 của Đặng Thị Minh Ngọc

- “Văn hóa làng trong truyện ngắn Kim Lân” - ĐHSP Hà Nội – 2006

của Vũ Thị Đỗ Quyên

Bên cạnh những công trình nghiên cứu liên quan đến tác phẩm “Vợ nhặt”,

về tác phẩm “Vợ nhặt” còn phải kể đến những bài phân tích, bình giảng về truyện ngắn “Vợ nhặt”, một tác phẩm đợc chọn giảng trong nhà trờng ở chơng

trình lớp 12

- Bài Phân tích tác phẩm “Vợ nhặt” trong “Để học tốt văn 12”

- Bài viết “Sự sống đối mặt với cái chết” của Nguyễn Thị Thanh Cảnh trong “Tiếng nói tri âm” – tập 1.

- Bài viết “Bóng tối và ánh sáng trong câu chuyện nhặt vợ” của Trần

Đồng Minh trong “Tiếng nói tri âm” – tập 1.

- Bài viết “Ngọn lửa tình ngời thắp giữa đêm đen cuộc sống” của Vũ

D-ơng Quỹ trong “Về một số nhân vật trong sách văn 12”

- Bài “Tác giả Kim Lân và hình tợng ngời đàn bà không tên trong “Vợ

nhặt”” của Trơng Vũ Thiên An trên báo Giáo dục và thời đại – 1998.

Đây là những công trình khoa học nghiên cứu một cách công phu, hệthống, nêu bật đợc những giá trị tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của truyện

ngắn Kim Lân nói chung, tác phẩm “Vợ nhặt” nói riêng Tuy nhiên việc tiếp cận truyện ngắn “Vợ nhặt” ở khía cạnh chất thơ đời sống thì vẫn còn là

Trang 8

khoảng trống, cha có công trình nào nghiên cứu Chính vì vậy, chúng tôi mới

lựa chọn đề tài: “Hớng dẫn học sinh phân tích chất thơ đời sống trong tác

phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân”.

IV Phơng pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi sử dụng các phơng pháp:phát hiện, cảm nhận, phân tích, đánh giá sẽ giúp ngời viết làm sáng tỏ luận

điểm của luận văn

V Mục đích nghiên cứu

Chọn đề tài “Hớng dẫn học sinh phân tích chất thơ đời sống trong tác

phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân”, tác giả luận văn mong muốn đạt đợc hai mục

đích:

- Một là: tiếp cận, lí giải, phân tích truyện ngắn “Vợ nhặt” từ góc nhìn

chất thơ đời sống

- Hai là: từ góc độ tiếp cận đó, nhằm tìm một hớng đi mới cho tác phẩm

VI Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích trên, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ hớng dẫn học sinh phân tích

chất thơ đòi sống trong truyện ngắn “Vợ nhặt” ở một số phơng diện sau:

VII Đóng góp mới của luận văn

Việc phát hiện, phân tích về chất thơ đời sống trong truyện ngắn “Vợ

nhặt” của Kim Lân có thể xem là một đóng góp mới mẻ của luận văn Chất

thơ đòi sống không phủ định giá trị tố cáo hiện thực vốn có của tác phẩm mà

nó còn bổ sung hiện thực thứ hai: hiện thực đời sống tâm hồn con ngời trongthời kì khắc nghiệt, khốn cùng Điều đó khiến cho giá trị hiện thực của truyệnngắn thêm sâu sắc và toàn diện Từ đó, chúng tôI hi vọng góp thêm một tiếng

nói nhằm khẳng định những giá trị đặc sắc của truyện ngắn “Vợ nhặt”.

VIII Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo v phầnà phầnphụ lục Nội dung chính của luận văn đợc chia thành 3 chơng nh sau:

Chơng 1: Biểu hiện của chất thơ đời sống trong truyện ngắn “Vợ nhặt”

của Kim Lân

Chơng 2: Các phơng pháp, biện pháp hớng dẫn học sinh phân tích chất

thơ đời sống trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.

Trang 9

Chơng 3: Thiết kế giáo án dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt”theo hớng phân

tích chất thơ đời sống của tác phẩm

Chơng 1

Biểu hiện của chất thơ đời sống trong truyện ngắn

“Vợ nhặt” của Kim Lân 1.1 Tình huống truyện góp phần tạo cho tác phẩm mang

âm hởng một bài ca sự sống

Nói đến nghệ thuật truyện ngắn, ngời ta thờng coi ba yếu tố sau đây là cơbản nhất: tình huống truyện, nhân vật truyện và cách trần thuật Có nhiềutruyện ngắn, sự sáng tạo tình huống đóng vai trò then chốt Đặt vào tìnhhuống ấy, nhân vật truyện bộc lộ sâu sắc tâm lí, tính cách T tởng của thiêntruyện cũng nhờ thế mà đợc thể hiện đậm đà Và xoay quanh tình huống ấy,

các tình tiết cũng trở nên hấp dẫn Truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân thuộc loại

tác phẩm nh thế

Là một truyện ngắn hay, “Vợ nhặt” của Kim Lân đã thu hút sự chú ý của

đông đảo ngời yêu văn chơng Không ít vẻ đẹp sâu xa của tác phẩm đã đợckhám phá Chỉ riêng khâu tình huống truyện, ngời nghiên cứu đã nhặt đợc khá

nhiều điều lí thú Và theo ngời viết luận văn, tình huống truyện “Vợ nhặt” đã

góp phần tạo cho tác phẩm mang âm hởng một bài ca sự sống Một bài ca cangợi vẻ đẹp của đời sống và vẻ đẹp của tâm hồn con ngời trong những năm

tháng khó khăn nhất của cuộc sống Đồng thời bài ca sự sống trong “Vợ nhặt”

chính là một biểu hiện rõ nét về chất thơ đời sống trong tác phẩm

Vấn đề tình huống trong nghệ thuật từ lâu nay đã đợc giới nghiên cứu vàsáng tác đặc biệt quan tâm Phát huy sở trờng t duy bằng hình ảnh hình tợng, cóngời sáng tác đã coi tình huống là “cái tình thế nảy ra truyện”, là “lát cắt” của

đời sống mà qua đó có thể thấy đợc cả trăm năm của đời thảo mộc, là “một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”, “khoảnh khắc chứa

Trang 10

đựng cả một đời ngời, thậm chí cả một đời nhân loại” (Nguyễn Minh Châu) ý

ông muốn nhấn mạnh vào tính nghịch lí của nó: Tuy chỉ là một khoảnh khắcngắn ngủi song lại giúp ngời ta có thể hình dung đợc diện mạo toàn thể của cả

đời sống Ngời làm lí luận thì hình dung tình huống nh hạt nhân cấu trúc củathể loại truyện ngắn, nó sắm vai một nhà tổ chức đối với toàn bộ thiên truyện.Chung quy, tình huống vẫn đợc hiểu nh một loại sự kiện đặc biệt của đời sống

đợc sáng tạo ra theo hớng lạ hóa Tại đó, vẻ đẹp nhân vật đợc hiện hình ảnhsắc nét, ý nghĩa t tởng đợc phát lộ toàn vẹn Ngời viết có đợc một tình huống

đặc sắc là đã có một tiền đề khá chắc chắn cho thành công của một truyệnngắn Còn ngời đọc nắm đợc tình huống thì xem nh có một chìa khóa tin cậy

để mở vào thế giới bí ẩn của tác phẩm

Truyện ngắn Kim Lân bao giờ cũng hấp dẫn mà “Vợ nhặt” là một tiêubiểu Sức hấp dẫn của những trang văn ấy là bởi cái tài và cái tâm của ngờicầm bút Bởi những nhân vật sống động Bởi ngôn ngữ nghệ thuật giản dị màsúc tích…Nguyễn Du trong “ và bởi một yếu tố vô cùng quan trọng: nghệ thuật sáng tạo tìnhhuống truyện độc đáo, hấp dẫn Kim Lân rất chú trọng thủ pháp nghệ thuậtnày Ông gọi khái niệm tình huống truyện bằng cái tên giản dị: “cảnh ngộ”[50] Nhà văn quan niệm: viết truyện ngắn phải hấp dẫn, phải làm cho ngời

đọc muốn đọc mãi và càng đọc càng thấy thích thú Muốn vậy cần phải đặtnhân vật vào những cảnh ngộ éo le, ngang trái, trớ trêu, khó xử, buộc nhân vậtphải lựa chọn cách giải quyết, nhờ đó phẩm chất, tính cách nhân vật đợc bộc lộmột cách rõ nét

Dễ thấy rằng hạt nhân của truyện ngắn “Vợ nhặt” “là một cuộc hôn nhân lì lạ” Nó kì lạ ít nhất vì ba lẽ: Một là, sự đảo lộn về giá trị: Tràng – một gã trainghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ c, lâu nay ế vợ, bỗng dng “nhặt” đợc vợ mà

là vợ theo không Hai là, sự ngợc đời: Tràng lấy vợ trong lúc không ai lại đi lấy

vợ, giữa những ngày nạn đói đang lăm le cớp đi mạng sống của mỗi ngời Ba

là, nghịch lí: một đám cới thiếu tất cả mà lại nh đủ cả Và từ những lẽ kì lạ ấy

đã nảy sinh một số tình huống: giả mà thật, đùa mà nghiêm trang, ngạc nhiênxen lẫn buồn, vui, lo âu, hi vọng

1.1.1 Tình huống giả mà thật, đùa mà không đùa, đùa mà nghiêm trang đúng mực.

Hôn nhân là một truyện hệ trọng và thiêng liêng bậc nhất của đời sốngnhân sinh, ấy thế mà ở đây, hoàn cảnh tai ác và cả con ngời nữa nh muốn thànhtrò đùa – “Tràng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai lần mà thành chuyện” Cuộc

gặp gỡ ngẫu nhiên mà nh duyên trời, nh số kiếp dun rủi Tràng và cô ả (chỉthoang thoảng nhớ mặt chứ cũng cha biết tên) gặp nhau hai lần bên hè phố trong

Trang 11

một thời gian rất ngắn, cả hai chỉ nói “tầm phơ tầm phào” vài lời, rồi thết nhaumột bữa “tiệc vỉa hè” gồm bốn bát bánh đúc mà thành vợ thành chồng Họ đếnrồi gắn bó với nhau ngỡ nh ngẫu nhiên, trái khoáy, vu vơ.

Song tìm hiểu kĩ một chút, ta vẫn tìm thấy trong đó những nguyên cớ đẹp

đẽ bên trong của cả hai ngời, một biểu hiện của chất thơ đời sống trong tácphẩm Mở đầu cuộc “tìm hiểu, tỏ tình”, Tràng cất tiếng hò, nêu sự hấp dẫn bằng

cơm trắng mấy giò” Cô gái không tin nhng Tràng khẳng định “thật đấy” Ngay

sau lời khẳng định chắc nh đinh đóng cột, ả ta đứng vùng ngay dậy, ton ton

chạy lại đẩy xe cho Tràng” rồi “liếc mắt, cời tít”, cời tình tứ – cái cời mà từcha sinh mẹ đẻ đến giờ cha bao giờ Tràng nhận đợc Lần thứ hai gặp lại, Tràng

mời ăn miếng giầu cái đã“ ” nhng cô gái không ăn, theo yêu cầu của cô, cuốicùng Tràng mời “bốn bát bánh đúc” Sau khi ăn xong, lại bằng một câu nói

đùa, họ nên vợ nên chồng

Nh vậy hai lần gặp gỡ là hai lần nói đùa, là hai lần diễn ra những điềuTràng, cô ả và độc giả không ngờ tới Lần thứ nhất, trong khi kéo xe bò thócvào dốc tỉnh, hắn chỉ hò một câu cho đỡ nhọc, cho có thêm sức mạnh để vợtqua con dốc chứ không có ý chòng ghẹo cô nào, không nghĩ rằng chỉ bằng câu

hò ấy mà lại có một cô gái chạy ra đẩy xe bò cho mình, không những thế cô ảcòn cời tình tứ với Tràng Một câu hò cho vui, cho đỡ mệt cất lên vu vơ,ỡm ờ,

đùa cợt nhng dẫn đến sự thật nằm ngoài suy đoán của Tràng, cái sự thật khiếnhắn có thêm sức mạnh thật sự để kéo xe bò thóc vợt qua con dốc, cái sự thật

mà hắn không ngờ tới đã xảy ra Câu hò của Tràng không những tạo nên tìnhhuống giả mà thật, đùa mà không đùa mà còn thể hiện niềm vui sống của ngờidân lao động trong những lúc khó khăn nhất Có thể nói những câu hò, điệuhát, câu ví…Nguyễn Du trong “trong kho tàng dân gian Việt Nam thể hiện đời sống tinh thầnphong phú trong sáng, thể hiện niềm tin, niềm lạc quan bất diệt vào cuộc sống

và tơng lai của ngời dân đất Việt nhng không phải bất kì ai đều tìm thấy điều

đó Trong hoàn cảnh của Tràng lúc này, bữa ăn hàng ngày chỉ là “cháo lõng bõng”, “rau chuối thái rối” và “cám đắng chát” thì “cơm trắng mấy giò” là xa

vời, chỉ có trong tởng tợng, trong giấc mơ Và chắc chắn, Tràng biết rằng giấcmơ ấy không biết khi nào mới trở thành hiện thực nhng hắn vẫn mơ, vẫn nghĩ

đến ngay trong lúc khó nhọc nhất Điều này cho thấy, dù trong bất kì hoàncảnh nào, ớc mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn không bao giờ bị thui chột, bịtiêu diệt trong tâm hồn ngời dân lao động Hình nh cuộc sống càng khó khănthì niềm lạc quan, yêu đời, vui sống càng trỗi đậy mạnh mẽ trong tâm trí ngờilao động thật thà, chất phác nh Tràng – một vẻ đẹp tâm hồn thật đáng trân

Trang 12

Câu hò Tràng cất lên chỉ đùa cho vui nhng có một sự thật đã xảy ra đó là

có một cô gái đứng vùng ngay dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng“ ” Đúng

là một tình huống giả mà thật, đùa mà không đùa Về phía mình, phải chăngcô gái đã nhầm một câu hò vu vơ giữa chợ thành một lời hứa hẹn thật? cái đóiquay quắt đã ném cô vào một đời sống vất vởng Đời sống vất vởng nghiệt ngã

đã biến cô thành một kẻ chanh chua, chao chát, cong cớn, trơ tráo, chẳngnhững làm biến dạng tính cách con ngời, nạn đói khủng khiếp còn nh một cơn

lũ lớn đã cuốn phăng đi bao sinh mệnh Chới với giữa dòng lũ, tiếng nói thờngtrực nhất tất nhiên là tiếng nói của bản năng: cần phải sống đã, cần phả bámngay vào tất cả những gì có thể bám đợc Và bản năng ham sống đã khiến côlàm tất cả những gì để có thể thoát khỏi cái chết đang đe dọa từng giờ, từngphút Thật may mắn, cô đã bám vào đợc một cái cọc, thoạt đầu có vẻ ơ hờkhông đâu, té ra lại vững vàng đáo để Cái cọc ấy có tên là Tràng Đầu đuôicha phải là bám vào Tràng hay bám vào cái xe bò, mà là bám vào một cái rấtkhông đâu, rất mong manh vô hình, ấy là câu hò của Tràng Cứ cho rằng bảnnăng vì miếng ăn đã biến cô gái thành táo tợn, liều lĩnh thì cô đâu phải là ng ờicả tin vội vàng Ngay khi nghe câu hò của Tràng, cô đã băn khoăn, thắc mắc

nói thật hay nói khoác đấy? ” Nh vậy cô đã không nhầm Hành động “ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng”của cô gái thoạt đầu cứ tởng xuất phát từ cái đói

nghiệt ngã, từ sự xúi giục của miếng ăn nhng đi hết câu chuyện ta mới hiểurằng tình huống đùa mà thật của cô bắt nguồn từ niềm tin và hi vọng Cô tinrằng đẩy xe cho Tràng sẽ thoát khỏi cái đói khắc nghiệt này, có nghĩa cô hivọng hoàn cảnh của mình sẽ thay đổi theo chiều hớng tốt hơn Thế mới biết dùtrong hoàn cảnh nào con ngời cũng không thể sống thiếu niềm tin và hi vọng.Niềm tin và hi vọng dẫu có trở thành hiện thực hay không thì nó vẫn là cái neo

để con ngời bám vào để con ngời tiếp tục sống theo chiều hớng tích cực hơn.Lần thứ hai gặp lại, sau khi mời cô gái ăn xong bốn bát bánh đúc Tràngnói: “có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về “Nói thế Tràng cũng

là tởng câu nói đùa, ai ngờ ả về thật” ả về thật và họ đã nên vợ nên chồng.

Đến đây câu chuyện không thể xem là đùa đợc nữa bởi từ xa đến nay việcdựng vợ gả chồng luôn là một trong những sự kiện quan trọng, nghiêm túc củacuộc đời mỗi con ngời

ấy vậy mà Tràng có đợc vợ chỉ sau mấy câu đùa và bốn bát bánh đúc, còncô gái chấp nhận theo về làm vợ một ngời đàn ông cũng chỉ qua mấy câu đùacợt, hỏi han và sau khi ăn xong bốn bát bánh đúc Có phải cuộc hôn nhân này

là dễ dãi, là trò đùa? Đi hết câu chuyện ta mới rằng, cuộc hôn nhân này khôngphải là trò đùa, cũng không phải sự thách thức hòan cảnh Bởi sau khi ngời đàn

Trang 13

bà đồng ý “cùng về” với Tràng, cả hai đã có những suy nghĩ, hành động, cách

ứng xử rất nghiêm túc, đúng mực đối với việc hệ trọng của đời mình – từ naytrở đi đã trở thành vợ chồng của nhau Họ quyết định đến với nhau thật nhanhchóng tuy không xuất phát từ tình yêu nhng đâu phải là quyết định liều lĩnh?

Trong lúc cái đói đang vây bủa, chỉ sau mấy hôm gặp lại Tràng thấy “ả rách quá, áo quần tả tơi nh tổ đỉa, ả gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” thì việc bỗng dng đợc đãi bốn bát bánh

đúc là điều khó có thể ngờ tới nhng đã trở thành sự thật đối với cô gái Chỉ quavài câu hỏi đáp và hành động đó cũng đủ cơ sở để cô tin rằng ngời đàn ông này

có thể là chỗ dựa vững chắc cho cuộc đời mình Còn Tràng, mới đầu cũng

phân vân, suy nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng” Qua suy nghĩ đó ta thấy Tràng cũng đắn đo, cũng cân nhắc có phần trần trừ, e ngại nhng rồi “sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lỡi một cái: - Chậc, kệ!”

Nhìn từ phía Tràng, tình huống này không hẳn là lỡng lự giữa sự đùa cợtphất phơ và ý định nghiêm túc, mà ở chiều sâu chính là sự phân vân giữa mộtbên là sự khớc từ của lòng vị kỉ, một bên là sự cu mang của lòng vị tha Sau

những gì đã “gây ra” bởi hàng loạt những trò đùa tầm phào, Tràng có “trợn”,

nghĩa là thoáng lo sợ và ân hận của kẻ đã trót đẩy trò đùa đi quá trớn Nếu lúc

ấy Tràng bỏ của chạy lấy ngời thì về lí chẳng ai trách đợc gã trai ấy Nhng tìnhngời trong gã thì chắc mất mát đi nhiều lắm Và Tràng cũng chẳng hơn thứ bèo

bọt là bao Song, Tràng đã “Chậc, kệ!” Có vẻ nh một quyết định không

nghiêm túc, kiểu nh phóng lao thì phải theo lao vậy Đến đây cả ngời đọc thừathãi niềm tin nhất cũng cha thể tin là rồi ra có thể chắc chắn, dù ngẫm chocùng, họ đến với nhau bề ngoài thì ngẫu nhiên, không đâu mà bên trong lại làtất nhiên: ngời này cần ngời kia để có một chỗ dựa qua thì đói kém, còn ngờikia cũng cần đến ngời này để mà có vợ, để biết đến hạnh phúc làm ngời Vàcuối cùng, nằm ngoài mọi tởng tợng và ngờ vực, hai que củi trôi dạt ấy đã

chụm vào nhau, đã nhen nhóm lên thành bếp lửa Sau cái tiếng “Chậc, kệ!” đó,

mọi tầm phơ tầm phào đã khép lại, nhờng chỗ hoàn toàn cho sự nghiêm trang– khởi đầu cho cuộc sống vợ chồng

1.1.2 Tình huống ngạc nhiên xen lẫn buồn, vui, lo âu, hi vọng.

“Trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng” là chuyện thờng trong cuộc đời mỗi

con ngời từ xa đến nay ấy vậy mà việc Tràng có vợ lại gây ngạc nhiên chonhiều ngời Khi Tràng dẫn vợ về thì cả xóm ngụ c ngạc nhiên Thoạt tiên là lũ

trẻ “Lũ ranh” ấy bỗng nhiên mất hẳn đi một bạn chơi, khi có đứa kịp nhận ra

Trang 14

quan hệ của họ là “chông vợ hài” Còn đám ngời lớn thì ngớ ra “không tin đợc

dù đó là sự thật” (chữ của Giang Nam) Khi đã tỏ họ tò mò thì ít mà ái ngại, lo lắng nhiều hơn: “Giời đất này còn rớc cái của nợ đời về!” Tiếp đó là bà cụ Tứ,

nh bất kì ngời mẹ nào, khi con cái lớn tuổi đều mong chúng sớm yên bề giathất Trong khi đó,con trai bà lại không có thế mạnh gì: hình thức thì xấu trai,thô kệch lại là dân ngụ c nghèo nên việc Tràng lấy đợc vợ là điều bà đêmmong ngày tởng, vậy mà khi sự xảy đến, bà hoàn toàn không tin nổi – Khôngtin vào mắt mình (ngỡ mình trông gà hoá quốc), không tin vào tai mình (quái,

sao lại chào mình bằng “u”?) Song đáng nói nhất vẫn là Tràng Tràng “thủ phạm” gây ra tất cả, mà vẫn không hết ngạc nhiên, chẳng những cứ đứng “tây ngây” giữa nhà tối hôm trớc mà đến tận hôm sau, qua một đêm có vợ rồi mà

“hắn cứ lơ lửng nh ngời đi ra từ trong một giấc mơ”.

Sau giây phút ngạc nhiên, lòng ngời mẹ nghèo khổ đã hiểu ra biết bao cơ

sự Bà buồn tủi, xót xa cho hoàn cảnh của mình, cho số kiếp của đứa con trai vì

“ngời ta dựng vợ gả chồng cho con cái là lúc trong nhà ăn nên làm nổi ”, và

“ngời ta có gặp bớc khó khăn, đối khổ này, ngời ta mới lấy đến con mình”.

Trong hoàn cảnh ấy, những ngời đã từng trải qua cuộc đời cơ cực nh bà cụ Tứ

không tránh khỏi nỗi lo âu cho tơng lai của con mình “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua đợc cơn đói khát này không” Nhng tất cả những thứ

đó không thắng nổi niềm lạc quan luôn tồn tại trong tâm hồn ngời dân lao

động Bởi sau đó bà lão nói toàn chuyện vui: chuyện mua phên liếp để ngănnhà, chuyện nuôi gà Vì bà hi vọng vào một tơng lai tốt đẹp sẽ đến với gia đìnhmình

Nh vậy, có thể nói chuyện Tràng nhặt đợc vợ giữa lúc đói khát là một tìnhhuống éo le, trớ trêu, chứa đựng đầy ngạc nhiên, lo lắng, băn khoăn Nhng cuốicùng vợt lên tất cả, sự kết hợp của Tràng và ngời vợ nhặt đã tạo nên một sứcsống mới đầy đủ và mạnh mẽ hơn – cuộc sống vợ chồng Sức sống ấy là biểuhiện cho niềm ham sống, yêu đời, yêu ngời của những ngời trẻ tuổi nh vợchồng Tràng Và sức sống ấy đã truyền niềm vui sống, niềm lạc quan sang bà

cụ Tứ sau khi ngạc nhiên, lo âu, tủi hờn trớc việc con trai mình có vợ Niềmvui sống, khát vọng sống của các nhân vật hay chính là âm hởng của một bài

Trang 15

chỉ là một trò đùa, thì con ngời đã thành bèo bọt May thay các nhân vật đã

b-ớc ra khỏi trò đùa kia với t cách con ngời thể hiện rõ nét trong cách ứng xử của

họ với nhau Cách ứng xử của mỗi nhân vật gồm ngôn ngữ ứng xử, hành độngứng xử và thái độ ứng xử đã đối lập với hoàn cảnh khắc nghiệt bởi ẩn chứatrong đó là chan chứa tình ngời

Khi cô gái đồng ý “cùng về” với mình Còn bao nhiêu tiền, Tràng dồn vào

ba việc: mua cho vợ một cái thúng, ăn với nhau một bữa cơm và mua một chaidầu Cái thúng là vật bình thờng nhng phải đến khi nên vợ nên chồng Tràngmới mua cho cô gái Trong hoàn cảnh này nó còn mang ý nghĩa nh một t trangcá nhân mà ngời con trai sắm cho ngời con gái trớc khi về làm vợ mình Đồ ttrang mà Tràng mua cho vợ không xa xỉ nó còn là vật dùng hữu ích cho cuộcsống thờng ngày Bữa cơm hôm nay khác hẳn bốn bát bánh đúc hôm trớc.Hôm ấy vì trót hứa nên phải thực hiện, còn hôm nay, xuất phát từ tình cảm vợchồng Họ ăn với nhau bữa cơm đầu tiên cũng coi là khởi đầu của sự gắn bó,khởi đầu cho tình thơng và trách nhiệm của cuộc sống lứa đôi

Nh vậy hai việc đầu là thiết thực Việc thứ ba xem chừng là xa xỉ, cứ nhmột thứ chơi sang, chơi ngông Hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, không có đèn thắpcũng chẳng sao Nhng chính cái việc ngỡ nh xa xỉ kia lại nói với ta rất nhiều vềtấm lòng của Tràng Thì ra, không phải lấy đợc vợ quá dễ dàng thì Tràng cũng

rẻ rúng hạnh phúc của mình Nếu rẻ rúng, Tràng cũng chỉ là bèo bọt Trái lại,

Tràng rất trân trọng: “Vợ mới vợ miếc thì cũng phải sáng sủa một chút chứ chả nhẽ cha tối đã rúc ngay vào” Cách nói có cái vẻ bỗ bã của một gã trai quê,

nhng động cơ thì không thiếu cái nghiêm trang của một ngời trai tử tế tối tânhôn Hôm nay phải là một ngày khác hẳn, phải là một sự kiện của đời mình.Ngày mình có vợ, nhà phải sáng Mua chai dầu chính là nỗ lực để đàng hoàng

ở cái mức mình có thể có đợc vào lúc này Động cơ và hành động của Tràng đãxua đuổi phần nào cuộc sống ảm đạm đang vây bủa xung quanh, nó làm chocuộc sống mang sắc màu mới, sắc màu của niềm vui, của hạnh phúc lứa đôi.Cuộc sống lên hơng bắt đầu từ đây

Qua ba hành động ứng xử của Tràng ta thấy, thì ra đằng sau vẻ thô kệch,xấu xí của một chàng trai ngụ c nghèo khổ không phải là sự vô tâm đáng trách.Trái lại, là những suy nghĩ nghiêm túc, đúng mực đáng trân trọng Trong hoàncảnh ấy, ngời nh Tràng có đợc những hành động nh vậy thật đáng quí biết bao!

Kể từ khi ấy họ gắn bó chân thành và nghiêm trang nh bất cứ đôi lứa nào trêncõi đời này

Khi hai vợ chồng về tới nhà, Tràng “tơi cời” giới thiệu vợ với mẹ nhng

Trang 16

nào” Không thể phủ nhận đây là thứ ngôn ngữ thô mộc của ngời nông dân

lam lũ, nó thô ráp, xù xì nh chính bản chất chân thật của họ nhng qua cách nói,

cách mời mẹ “ngồi lên giờng lên diếc chĩnh chệ” ta nhận thấy một tấm lòng,

một đức tính của con đối với mẹ đó là sự kính trọng, lễ phép Bởi Tràng biết

đây là chuyện hệ trọng nên anh đã có cách bắt đầu để giới thiệu không kémphần nghiêm trang Ai dám bảo anh cu Tràng không biết đến lễ nghi? Sau đó

anh từ tốn nói: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau …gợi về cái Đẹp, khiến con ng Chẳng qua nó cũng là cái số cả …gợi về cái Đẹp, khiến con ng” Giọng tuy

ngập ngừng nhng lời lẽ thật chững chạc mỗi chữ, mỗi câu vừa ấm tình ngời,

vừa sâu nghĩa lí “Nhà tôi …gợi về cái Đẹp, khiến con ng làm bạn …gợi về cái Đẹp, khiến con ng duyên …gợi về cái Đẹp, khiến con ng kiếp …gợi về cái Đẹp, khiến con ng cái số cả …gợi về cái Đẹp, khiến con ng”, mỗi lời

nói của Tràng nh những ngọn lửa vừa để sởi ấm, chở che cho ngời con gái

đang cô quạnh ngợng ngùng, vừa để soi sáng cái đầu óc chậm chạp, già nuacủa bà cụ Tứ Với những ngôn ngữ ấy thể hiện một quyết tâm trong lòng

Tràng Nói tới “duyên kiếp” là chạm vào vùng thiêng liêng nhất trong

mảnh đất của đôi lứa gái trai “Duyên” là sự hấp dẫn, sự lôi cuốn, gọi mời, là tình yêu giữa hai ngời “Kiếp” là đời sống cơ cực cùng cảnh ngộ, cùng hội

cùng thuyền mà tạo hoá xô đẩy trôi đến gần nhau, cảm thông với nhau, rồi

chia sẻ và thơng nhau Từ câu chuyện “tầm phào” ở bên đờng bữa nọ, rồi tới lúc đa cô ả đi qua ngõ xóm và nói lời bỡn cợt “vợ mới, vợ miếc”, giờ đây giữa

mái ấm của căn nhà, trớc mặt mẹ, bằng ngôn ngữ giới thiệu nghiêm túc, Tràng

đã thực sự coi mối quan hệ giữa mình với ngời con gái nh có tiền định, có

l-ơng duyên do trời sắp xếp, do đời run rủi, ràng buộc Với mẹ, mặc dù không lo

đợc vợ cho mình nhng Tràng không trách mà vẫn kính trọng, yêu thơng; với vợ

dù theo không nhng anh không rẻ rúng mà vẫn tôn trọng, thân tình Tởng rằngcuộc sống khốn khó đã làm mất đi những tình cảm thiêng liêng ấy nhng quangôn ngữ ứng xử và hành động ứng xử của Tràng ta thấy phẩm giá con ngờikhông bị thui chột bởi hoàn cảnh, trái lại với những con ngời có tâm hồn cao

đẹp thì trong bất cứ hoàn cảnh nào phẩm giá luôn chiến thắng Chính những

điều đáng quí ấy khiến cho cuộc sống đẹp hơn, ý nghĩa hơn

Đối với ngời “vợ nhặt”, từ lúc nên vợ nên chồng với Tràng cô đã trở thành

một con ngời hoàn toàn khác Nếu trớc đó, hành động ăn liền một chặp bốn bátbánh đúc tởng nh cô không còn sĩ diện, không còn nhân cách nhng nhìn kĩ bên

trong, và từ lúc trở thành “vợ”, cô cha hẳn đã mất lòng tự trọng Trên đờng cùng về với Tràng “ngời đàn bà đi sau hắn chừng ba bốn bớc Cô ả cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàn nghiên che khuất đi nửa mặt ả

ta có vẻ rón rén, e thẹn” Rõ ràng qua những biểu hiện đó, cái vẻ bỗ bã, liều

lĩnh không còn nữa, thay vào đó là sự e thẹn cần có của bất kì cô gái có lòng tự

Trang 17

trọng nào khi bắt đầu về làm dâu Khi Tràng khoe mua chai dầu để thắp tối, ả

nói “hoang nó vừa vừa chứ” thể hiện suy nghĩ đã biết lo lắng, vun vén cho gia

đình Bởi vì thị biết, trong hoàn cảnh ấy, việc mua hai hào dầu là quá tay, là xa

xỉ Chỉ qua một câu nói, đã thể hiện trách nhiệm, sự lo toan cho gia đình củangời vợ mà trớc đó chỉ toàn là sự cong cớn, chao chát, chỏng lỏn Bởi cô ý thức

đợc phần nào, từ nay trở đi mình và ngời con trai kia sẽ là chỗ nơng tựa đểcùng nhau vợt qua trắc trở, gian nan của cuộc đời Hành động ứng xử thể hiệnnhân cách và lòng tự trọng của cô gái biểu hiện ở cung cách khi nhìn thấy cănlều rách nát của mẹ con Tràng, cái gia cảnh không nh thị tởng tợng khi thấy

Tràng vỗ vào túi rồi nói “Rích bố cu” và mời ăn bánh đúc Vậy nhng, thị chỉ

“nén một tiếng thở dài trong ngực”, tiếng thở dài chỉ mình mình biết giống nh

thị tự nhủ đành chấp nhận gia cảnh này Thị chấp nhận chứ không hề trách ai

và trách mình đã nhầm Hành động chấp nhận ấy âu cũng là sự bằng lòng

Lòng tự trọng của ngời “vợ nhặt” còn thể hiện ở hành động ứng xử vào sáng

hôm sau: thị lao vào dọn dẹp cùng với mẹ chồng từ sáng sớm – việc ấy nghĩ

cũng bình thờng, nhng khi nhận bát “chè khoán” từ tay bà cụ Tứ, thị chợt “sầm mặt lại”, sau đó “và ăn một cách điềm nhiên” Thái độ và cung cách nh thế chỉ

có thể có ở ngời có ý thức về cảnh ngộ mình và thân phận mình Té ra, nhữngchao chát, chỏng lỏn, cong cớn kia chỉ là những du nhập từ bên ngoài vào, nhmột thứ vũ khí để tự vệ, để đối phó với cảnh sống khắc nghiệt kia Bản tính sâu

xa đến giờ mới hiện ra, mà có lẽ cuộc hôn nhân này mới làm hồi sinh thì phải!

Nh thế, nảy nở bởi một trò đùa, nhng bên trong con ngời vốn dĩ là một cáimầm nghiêm túc luôn khát sống và khát làm Ngời Ta mới hiểu đợc vì sao, cô

tự rơi vào một hoàn cảnh rất dễ bị khinh rẻ, nhng ngời đọc và cả ngời trongtruyện không thấy khinh mà lại thấy thơng, rồi thấy qúy, dù lắm lúc thấy buồncời

Ngôn ngữ ứng xử và hành động ứng xử của cô không những thể hiện lòng

tự trọng của một con ngời mà nh một luồng gió mới thổi vào gian lều rách nát,vào cuộc sống u ám của hai mẹ con Tràng: cô dịu dàng ngoan ngoãn nghe lờinhắc nhở của chồng; lời khuyên nhủ, dặn dò của mẹ chồng Cô dậy sớm làmmọi việc đúng nh một ngời vợ hiền tần tảo đảm đang: giặt quần áo cho chồng,gánh nớc đổ đầy chum, dọn vờn, quét sân, nấu cơm, dọn cơm…Nguyễn Du trong “, Tràng thực sự

bừng tỉnh nh trở thành con ngời khác Còn bà cụ Tứ xăm xắn quét dọn, “tơi tỉnh khác ngày thờng, cái mặt u ám bủng beo của bà rạng rỡ hẳn lên”.

Với bà cụ Tứ, tuy con trai có đợc vợ theo không một cách dễ dàng nhngtrong ngôn ngữ ứng xử và hành động ứng xử không có một biểu hiện gì là coi

Trang 18

trai mình lại “đèo bòng” hẳn bà không thể không buồn và lo lắng Nhng với

tấm lòng bao dung, nhân hậu của một ngời mẹ bà nén lại nỗi buồn tủi, xót xa;

mỗi lời bà nói đều mang lại niềm vui cho các con: “U cũng mừng lòng”, thể hiện tình thơng, sự đồng cảm với con dâu: “Con ngồi xuống đây Ngồi xuống

đây cho đỡ mỏi chân” Mẹ chồng và nàng dâu tuy mới gặp mặt nhng không hề

có khoảng cách, cứ nh họ đã quen biết, hiểu nhau từ lâu lắm rồi.Trong bữa ăn,

bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sớng về sau này để an ủi, động viên các

con: “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà …gợi về cái Đẹp, khiến con ng , ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà

có ngay đàn gà cho mà xem” Đặc biệt bà lão đã có “sáng kiến”: nấu một nồi

cháo cám bổ sung vào bữa ăn vốn quá sơ sài, xem nh một món đặc biệt mừngngày đón con dâu, ngày con trai lấy vợ Hẳn nồi cháo cám là do một mình bà

chuẩn bị, nồi cháo cám nhng với bà là “cái này hay lắm cơ”, là niềm vui bất

ngờ bà muốn mang lại cho các con Cái cử chỉ chạy lật đật, rồi lễ mễ bng ramột nồi khói bốc nghi ngút, rồi cầm cái muôi khuấy khuấy vừa cời vừa nói

“Chè đây! Chè khoán đây, ngon đáo để cơ …gợi về cái Đẹp, khiến con ng ! Ngon đáo để …gợi về cái Đẹp, khiến con ng ! Xóm ta khối nhà chẳng có cám mà ăn đấy!” mang biết bao ý nghĩa Đó vừa là tình thơng:

thơng con, thơng mình, tự an ủi động viên mọi ngời; vừa là niềm vui sống, làquyết tâm, khát vọng, là bản lĩnh sống kiên cờng đầy nghị lực để không ngãlòng trớc cuộc sống đói nghèo, để hớng tới một ngày mai lo đủ hơn, tơi sánghơn Có thể nói hành động chuẩn bị “nồi chè khoán” của cụ Tứ giống nh mộtphép lạ trong truyện cổ tích mà ngời mẹ nghèo đa lên để xua đi những bóng

ma đói khổ, để gieo xuống tâm hồn hai con và chính mình niềm vui, niềm hivọng ngày mai đời sẽ khác

Nhìn ở góc độ nào đó, các nhân vật trong “Vợ nhặt” đều không mang

một nét đẹp nào ở hình thức nhng cung cách ứng xử của họ thật cao đẹp Tronghoàn cảnh đói khát ấy, con ngời dễ coi thờng nhau, chỉ biết sống ích kỉ choriêng mình nhng mỗi lời nói, hành động và thái độ ứng xử của các nhân vậttrong tác phẩm đều chứa chan tình ngời, nặng lòng thơng và trách nhiệm.Chính tình thơng và trách nhiệm của mỗi con ngời đã làm nhạt đi cái rẻ rúngcủa mỗi thân phận khốn khổ Bởi bằng sức mạnh tự lực bên trong, họ đã thắnglại hoàn cảnh, dù hoàn cảnh muốn biến con ngời thành bèo bọt, nhng con ngờivẫn không chịu làm bèo bọt mà vẫn kiên nhẫn làm ngời Những điều này đãthể hiện rõ nét chất thơ đời sống của tác phẩm

1.3 Sự sống nảy sinh từ Cái chết, sự sống làm cho không gian biến đổi từ bóng tối đến ánh sáng

Chất thơ đời sống bắt nguồn từ những điều bình thờng của cuộc sốnghàng ngày, nhng cũng chính chất thơ đời sống đã làm cho những điều bình th-

Trang 19

ờng trở nên đẹp đẽ, đáng yêu bởi hàm chứa trong nó là vẻ đẹp của sự sống.Một trong những biểu hiện của vẻ đẹp ấy là sự sống mạnh mẽ, không ngừng

sinh sôi nảy nở, không một thế lực nào có thể huỷ diệt Sự sống trong “Vợ

nhặt” là nh vậy

Cái hoạ chết đói năm 1945 quả là khủng khiếp Không chỉ đói xóm, đóilàng mà đói nửa nớc Từ Bắc Trung Bộ trở ra, từ thu đông 1944 đến xuân hè

1945 hơn hai triệu ngời nằm xuống

Kim Lân chọn bối cảnh ấy cho truyện “Vợ nhặt” Không nhiều dòng

miêu tả trực tiếp nhng là những dòng rất hiếm trong văn chơng từ đó đến nay.Cái nghèo ở Ngô Tất Tố, cái đói ở Nam Cao khiến ta thơng cảm rơi nớc mắt.Cái đói và cái chết ở Kim Lân khiến ngời đọc khiếp sợ, rụng rời

Cái đói, cái chết hiện ra với nhiều bộ mặt, nhiều biến thể: khi thì tronghình ảnh xác những ngời chết đói nằm la liệt trên bãi chợ; khi thì ở bóngnhững ngời đói rật rờ nh những bóng ma đằng sau gốc đa hay gốc gạo, khi lạihiện ra trong hình ảnh bầy quạ bu kín trên ngọn cây, chỉ chờ những ngời đói

đổ xuống là ùa tới moi gan, rỉa thịt, khi lại hiện trong hình ảnh khói của nhữngnhà đốt đống rấm để xua đi mùi tử khí Cha chết thì ủ rũ, hốc hác, thở than

tuyệt vọng Đến nh Tràng “to lớn, lng rộng nh lng gấu” cũng chỉ “đi từng bớc một, đầu chúi về đằng trớc” nh bị những lo lắng đè hẳn ngời xuống Cô gái nhanh nhảu, táo tợn mới mấy hôm đã “tả tơi, gầy sọp, xám xịt” Không gian

toàn một màu ảm đạm, chết chóc Cái chết lan tràn khắp nơi, cái sống chỉ cònthoi thóp, leo lét Trong hoàn cảnh, đến việc nuôi sống bản thân mình cònchẳng xong ấy, một chuyện trái đời đã xảy ra: việc lấy vợ, lấy chồng, việc

Tràng dám “đèo bòng” Lấy vợ lấy chồng là việc trọng đại của một đời ngời.

Không những thế còn là khao khát chính đáng của mỗi cá nhân về một mái ấmgia đình có vợ chồng, con cái yêu thơng nhau, hoà hợp và hạnh phúc Con ngời

ta sống có thể thiếu ăn, thiếu mặc nhng không thể thiếu đợc tình yêu, hạnhphúc lứa đôi Có ý kiến cho rằng, sự kết hợp giữa Tràng và cô gái trong hoàncảnh ấy là liều lĩnh, là thách thức, tuyên chiến với cái đói, cái chết Hiểu nhvậy có phần đúng nhng cha đủ vì mới chỉ nhìn ở bề ngoài Hẳn trong sâu thẳmcủa hai con ngời ấy cũng đã hiểu đợc cuộc sống vợ chồng quan trọng nh thếnào, nó có gì khác khi vẫn còn độc thân Và xa hơn, trong thẳm sâu tâm hồncủa những ngời đói họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống, cho nênmới lấy nhau Cái đói, cái chết không tiêu diệt đợc sự sống, trái lại sự sống đãhiện hình, nảy sinh từ cái chết

Khi dắt nhau về xóm ngụ c, họ đi trong sự bao vây của cái chết Cái chết

Trang 20

ờng ngủ nó vẫn cha chịu buông tha Đúng lúc ấy, họ nghe thấy tiếng khóc hờ

của những nhà mới có ngời chết tỉ tê lọt qua kẽ vách “Nhng sự sống không bao giờ chán nản” (Xuân Diệu) Sáng hôm sau, tất cả các thành viên trong gia

đình ấy đã cùng lao vào một việc có thể nói là không thiết thực, bởi không cómột hiệu quả kinh tế trực tiếp gì: dọn dẹp nhà cửa Nhng cái việc có vẻ cha cầnthiết một tí nào ấy lại nói với ta rất nhiều điều về thái độ sống của họ Họkhông muốn tạm bợ mà muốn đàng hoàng Họ đang chuẩn bị cho cuộc sốnglâu dài Họ sẵn sàng tuyên chiến với nạn đói ở ngời mẹ già nua, sự sống ngỡ

đã khô cạn đi, lại nh bừng lên một sức sống mới Bà xăm xắn, lao vào côngviệc, hay cời hay nói và toàn nói về tơng lai, tơng lai gần còn cha hiện ra đã lại

nghĩ đến tơng lai xa hơn nữa: “Tràng ạ, lúc nào có tiền mua lấy đôi gà Tao tính cái đám đất đầu bếp kia nếu làm cái chuồng gà thì rất tiện Này, ngoảnh

đi ngoảnh lại chả mấy mà có đàn gà cho mà xem” Rõ ràng, sự sống không

đầu hàng cái chết Sự sống đang kiên nhẫn vợt lên cái chết và sự sống sẽ chiếnthắng cái chết

Sự kết hợp giữa anh cu Tràng và ngời “vợ nhặt” đã tạo nên sự sống mới.

Sự sống ấy bắt nguồn từ niềm tin, niềm hi vọng và tình yêu thơng, chính vì vậy

nó nh một luồng sáng mới, ấm áp, chan hoà xua tan đi bóng tối thê thảm, ảm

đạm bởi cái đói, cái chết Trong tác phẩm, xuất hiện bóng tối và ánh sáng nhngphần thắng cuối cùng thuộc về ánh sáng Có ngẫu nhiên không khi câu chuyện

mở ra lúc trời nhá nhem tối và kết thúc vào sáng hôm sau, khi mặt trời lên caobằng con sào? Và hệ thống tình tiết dọc theo mạch truyện cũng không hẳn làngẫu nhiên Trớc khi đôi trai gái dắt nhau về, bao trùm lên xóm ngụ c là mộtbầu không khí âm u, ảm đạm bởi tử khí vây quanh cùng bao ánh mắt lo âu.Nhng họ về đến đâu ánh sáng theo về đến đó

Khi nhìn thấy Tràng dẫn về một ngời đàn bà, cả làng cả xóm nh bừng

dậy Trẻ con hò reo, có đứa gào lên: “chông vợ hài” Ngời lớn bàn tán, hỏi han, phán đoán Khi hiểu ra đợc phần nào thì “những khuôn mặt hốc hác u tối của

họ bỗng dng rạng rỡ hẳn lên Có cái gì lạ lùng và tơi mát thổi vào cuộc sống

đói khát, tối tăm ấy của họ” Trong khi cái đói khiến bọn trẻ con “ngồi ủ rũ

d-ới những xó tờng không buồn nhúc nhích” thì chắc hẳn lâu lắm rồi, hôm nay

cái xóm ngụ c tồi tàn ấy mới nhốn nháo, sôi động một lúc bởi có nguồn sángmới từ sự sống của vợ chồng Tràng chiếu qua

Rồi đêm ấy, căn lều mà lâu nay bóng tối vẫn ngự trị của mẹ con bà cụ Tứcũng sáng lên bằng ngọn đèn từ chai dầu của Tràng? Không, sâu xa hơn, làbằng nguồn sống bùng lên từ cuộc hôn nhân ấy Khi thấy con trai đốt đèn, bà

cụ vội vàng lau nớc mắt, ngẩng lên nói nh reo: “Có đèn đấy à?ừ thắp lên một

Trang 21

tí cho sáng sủa…gợi về cái Đẹp, khiến con ng” Một câu nói của nhân vật, một chi tiết thật đơn giản mà

chứa đựng bao ý nghĩa Chắc hẳn đã lâu lắm rồi, căn nhà lụp xụp rách rới của

mẹ con bà Tứ không có ánh đèn Đêm buông xuống, bóng tối cũng ùa vào chephủ Chắc hẳn đã lâu lắm rồi, hai mẹ con sống lủi thủi, âm thầm, hết kiếm ănban ngày ở đầu đờng góc chợ, đêm về nhà vật mình xuống vì mệt nhọc, chẳngcần đèn đóm, chuyện trò Nay con trai có vợ mới, mẹ già có nàng dâu mới, nhà

có ngời mới, thắp đèn lên cho sáng sủa ánh sáng của ngọn đèn hay ánh sángcủa sự sống bắt nguồn từ tình ngời đợc nhen lên từ trong trái tim của mỗi conngời? ở Tràng, đó là ánh sáng từ sự ngẫu nhiên, tình cờ đến một quyết tâm,

một khát vọng ở ngời “vợ nhặt”, đó là ánh sáng của duyên kiếp, của cảnh

ngộ, ngẫu nhiên mà nh số trời ràng buộc, xe kết ở bà cụ Tứ, đó là ánh sángcủa tình thơng, lòng bao dung, nhân hậu Họ nhắc nhau thắp lửa để đêm tối

“sáng lên một tí”, để căn nhà toả ra hơi ấm, lòng ngời có thêm chút lửa để

quyết tâm sống, quyết vợt qua giai đoạn này Có thể nói, nhà văn Kim Lân đãthắp vào nhà bà cụ Tứ một ngọn lửa nhỏ bé nhng là hiện thân của sự sốngmạnh mẽ Từ ngọn lửa ấy, tác giả đã thắp trong lòng mình, lòng ngời đọc mộtniềm vui, niềm tin yêu, trân trọng trớc bản lĩnh sống của con ngời - những conngời, trong tăm tối vẫn nhen nhóm và cố thắp khát vọng hạnh phúc, khát vọngsống cho ra con ngời, nên ngời

Sức mạnh của sự sống tỏa sáng trong căn lều của mẹ con bà cụ Tứ đêmhôm trớc, sáng hôm sau nguồn sáng ấy tỏa ánh sáng chan hòa khắp không gian

và sáng ngời khuôn mặt bà cụ Tứ Cả khung cảnh và con ngời đều tắm trong

ánh sáng Một buổi sớm mai đẹp đẽ xiết bao! Nắng mùa hè sáng lóa Nhà cửa,sân vờn đợc quét tớc, thu dọn sạch sẽ gọn gàng Chắc hẳn lâu lắm rồi hai mẹcon bà cụ Tứ không quét dọn nhà cửa sân vờn, nay có dâu mới, mọi thứ thay

đổi hoàn toàn Nhìn ở đâu cũng thấy có bàn tay của cô: nhà cửa, sân vờn sạch

sẽ, áo quần đợc giặt giũ, ang nớc đầy ăm ắp, cái bếp ấm hơi lửa Cô là “vợ nhặt” nhng là hiện thân của sức sống Sức sống tỏa ra từ cô, nh là một hào

quang, một luồng khí ấm tiêu biểu cho sự sống trờng cửu, mãnh liệt và màu

nhiệm Sức sống từ cô dâu mới đã tỏa sang Tràng: anh cảm thấy mình đã “nên ngời”, thấy thơng yêu gắn bó với căn nhà, với những ngời thân Anh thấy mình

phải có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này Và tỏa sang bà cụ Tứ – một

ng-ời mẹ nghèo khổ, chậm chạp, già yếu – trở nên nhẹ nhõm, tơi tỉnh khác ờng Cái mặt bủng beo, u ám rạng rỡ hẳn lên Bà xăm xắn thu dọn, quét tớc,sai bảo, dạy dỗ con dâu, nhắc nhở, động viên con dâu Tâm hồn ngời mẹ chanhòa một luồng sáng mới, nguồn sáng của niềm tin yêu, hi vọng

Trang 22

th-Thế là nảy sinh trên một mảnh đất mà cái chết đang lan tràn, nhng sựsống quyết không chán nản Sự sống vẫn cố bám ghì lấy mặt đất, kiên nhẫn v-

ơn ra ánh sáng Sự sống bao giờ cũng mạnh hơn cái chết Sức mạnh của sựsống đã xua tan bóng tối, nhờng chỗ cho ánh sáng đẹp đẽ chan hòa

1.4 diễn biến tâm trạng nhân vật theo chiều hớng tích cực

Sống trong cảnh khắp nơi “tối sầm vì đói khát” thì không ai không có tâm trạng buồn bã, lo âu, khắc khoải, tuyệt vọng Các nhân vật trong “ Vợ nhặt” cũng không tránh khỏi những tâm trạng ấy Nhng có một điều khác th-

ờng: họ có lo âu, phấp phỏng, buồn tủi nhng không hề tuyệt vọng Trong tâmtrạng của những con ngời khốn khổ ấy luôn luôn chuyển động theo chiều h-ớng tích cực; có buồn bã nhng không bi quan, có lo âu nhng không tuyệtvọng; có tủi thân nhng không tự ti, rẻ rúng Bởi tiềm ẩn trong tâm trạng cácnhân vật luôn lấp lánh chất thơ của đời sống Chất thơ của đời sống khiến tâmtrạng của họ lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống và biết thắp sáng hi vọng cho t -

kệ những lời chòng ghẹo, bàn tán của xóm giềng, anh bớc hiên ngang, thách

đố tất cả, bỏ qua tất cả “trong một lúc, Tràng hình nh quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trớc mặt Lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với ngời đàn bà đi bên một cái gì mới mẻ, lạ lắm cha từng thấy ở ngời

đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ nh có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lng” Đi bên cạnh cô gái gầy gò và rách nh tổ đỉa,

Tràng không hề gợn trong tình cảm mình một chút gì nh coi thờng cô gái do

đã theo không mình vì bốn bát bánh đúc, cũng không hề có tình cảm lên mặt

do trong túi mình đang “rích bố cu” Trái lại anh đã thấy ở cô gái một nguồn

ấm áp, tơi sáng tỏa rạng đời mình Tình và nghĩa lớn dần thành hành động vàquyết tâm, Tràng đi sát gần bên vợ hơn, đột ngột giơ cái chai con đựng dầu lên

nói một câu đầy kiêu hãnh: “Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa lên

Trang 23

một chút chứ” Tràng đã có cái hãnh diện mà trớc kia anh cha từng có, cái

hãnh diện đợc làm một ngời chồng, đợc có một tối tân hôn, đợc tiêu hoang một

chút cho đời mình có lấy một lần sáng sủa “Hai hào đấy, đắt quá, cơ mà thoi chả cần” Lời nói nghe tội nghiệp Nhng cũng nên đọc lấy trong lời nói tội

nghiệp ấy một niềm vui không phải tầm thờng, bởi trong hoàn cảnh của Trànglúc ấy, đợc coi thờng đồng tiền vì một điều gì đó lớn hơn, trong trẻo quý báuhơn đâu có thể cho là một niềm vui hạ cấp? Buổi tối, khi gặp mẹ, trong lời giới

thiệu vợ, Tràng cũng tỏ rõ hành động và quyết tân gắn bó: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau …gợi về cái Đẹp, khiến con ng Chẳng qua

nó cũng là cái số cả” Hình nh anh đã trởng thành rất nhiều từ câu nói này Lời

lẽ rành rọt, rõ ràng, vừa kính trọng mẹ và cũng thể hiện sự thân tình, tôn trọng

vợ qua cách gọi dân gian “nhà tôi …gợi về cái Đẹp, khiến con ng làm bạn” Nhng phải đến sáng hôm sau,sau một đêm thành vợ thành chồng tại ngôi nhà nát, trớc cảnh tợng gia đình

đổi thay - đúng nghĩa một tổ ấm hành phúc – có mẹ già, vợ mới hòa hợp, vunvén cửa nhà, vờn tợc, Tràng thực sự bừng tỉnh, nh trở thành một con ngời khác:

“Bây giờ hắn mới thấy hắn nên ngời, hắn thấy hắn phải có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này” Hắn “xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” Hành động và suy nghĩ ấy của

Tràng vừa rất hiện thực, bình dị vừa mang ý nghĩa lãng mạn, thiêng liêng.Hạnh phúc gia đình đã giúp cho chàng trai khốn khổ kia thực sự trởng thành,

đang tự mình làm việc, tự mình sang sửa dựng xây hạnh phúc cho chính mình,gia đình mình Cao thêm một bớc nữa, ngời lao động ấy – bằng sức mạnh tựlực bên trong - đã nhen nhóm lên một ngọn lửa ớc mơ, khát vọng mới hơn,rộng lớn hơn khi nói chuyện với vợ về những ngời đi biểu tình, phá kho thóc,

Tràng đã nói tới hai tiếng “Việt Minh” và hai lần nhớ tới hình ảnh chói ngời

“Đằng trớc có lá cờ đỏ to lắm …gợi về cái Đẹp, khiến con ng Lá cờ đỏ bay phấp phới ” Và Tự dng hắn thấy ân hận tiếc rẻ vẩn vơ một cái gì đó khó hiểu” Hắn “ân hận và tiếc rẻ”, có nghĩa hắn đã nhận ra một điều gì đó tuy còn “vẩn vơ” Phải chăng đó là ánh sáng của “lá cờ đỏ bay phấp phới” và hai tiếng “Việt Minh” mà lần đầu tiên

hắn thấy đã bắt đầu khởi sáng cho suy nghĩ và hành động của Tràng Tất cảbáo hiệu một sự thay đổi sắp diễn ra Rõ ràng, tính cách và tâm hồn của Tràng,

sau khi lập gia đình với ngời “vợ nhặt” đã lớn lên từng bớc Anh đã ra con ngời,

một con ngời ý thức sâu sắc hoàn cảnh, trách nhiệm sống của mình, một con

ng-ời tràn trề niềm vui, tình yêu cuộc sống, khao khát và tin tởng ở hạnh phúc ngàymai, khao khát cuộc đổi đời không chỉ riêng cho gia đình mình mà còn cho tất

Trang 24

cả mọi ngời nghèo đói quanh mình Một nhân cách, một suy nghĩ nh vậy thật

đẹp đẽ và đáng yêu!

Cô “vợ nhặt” khi xuất hiện trớc Tràng chỉ toàn cong cớn, chao chát,

chỏng lỏn, liều lĩnh Dờng nh những gì của nữ tính nh duyên dáng, dịu dàng,nhỏ nhẹ đã bị áp lực của cái đói làm cho mất hết Nhng trên đờng về nhàchồng cô đã có tâm trạng của ngời con gái sắp về làm dâu Cô bớc đi rón rén, ethẹn, tay cắp cái thúng con, đầu hơi cúi, cái nón rách tàn nghiêng nghiêng chekhuất nửa mặt, đi sau Tràng độ ba bốn bớc Sự thay đổi trật tự trớc sau đóchứng tỏ cô đã có ý thức mình là một ngời vợ, một ngời vợ sẽ yêu thơng, chăm

sóc, lo lắng cho chồng “Đầu thị hơi cúi xuống” – cô cũng biết thẹn thùng và

hình nh trong dáng dấp ấy ẩn chứa tâm trạng buồn, tủi, một nỗi niềm cay cực

mà ngời phụ nữ chấp nhận theo không đã ý thức đợc Song dần dần, cô bìnhtĩnh lại nên đã không hề còn chút mặc cảm về thân phận “bị nhặt”: cô giễu anh

“Bé lắm đấy”, khi thì cô mắng anh “Khỉ gió”, rồi “phát đánh đét” vào lng anh và

“khoặm mặt lại với anh” Cô vẫn cảm thấy mình có đầy đủ sức mạnh đối với

phái mạnh nh bất cứ cô gái bình thờng nào Nhng niềm vui, hạnh phúc của ngời

“vợ nhặt” thật ngắn ngủi, nó kết thúc khi đặt bớc chân đầu tiên vào “nhà

chồng” Trớc mắt cô bây giờ là “cái nhà vắng teo, đứng rúm ró trên mảnh vờn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, căn nhà mà mình sẽ làm dâu lại tồi tàn, rách nát thế này sao? Nó đâu có phù hợp với thái độ đon đả mời “ăn gì thì ăn” và cái

vỗ túi đầy tự tin “Rích bố cu” ban ngày của Tràng? “ả đảo mắt nhìn xung quanh”, chắc hẳn đồ đạc quá sơ sài và dẫn đến “cái ngực gầy lép nhô hẳn lên, nén một tiếng thở dài” Cô đã thất vọng? Thất vọng về gia cảnh nhà chồng Sự

thất vọng khiến cô im lặng trong khi Tràng xăm xăm thu dọn, đáp lại lời phân

trần của chồng là cái “nhếch mép cời nhạt nhẽo”.

Khi đợc Tràng mời, ngời đàn bà “ngồi mớm xuống mép giờng”, sau một lúc, “ngời đàn bà vẫn ngồi mớm ở mép giờng, hai tay ôm kh kh cái thúng, mặt bần thần” Cái thế “ngồi mớm ở mép giờng” của cô thể hiện sự khép nép, rụt rè của cô dâu mới về nhà chồng, nhng nét mặt “bần thần” thì rõ ràng thể hiện

một tâm trạng: cô lo lắng không biết ăn làm sao, nói làm sao với mẹ chồng?Không biết có đợc mẹ chồng chấp nhận không? Hay cô lo lắng cho số phận,cho cuộc đời mình không biết sẽ nh thế nào khi làm dâu trong một cảnh nghèo

đói nh thế này? Dù sao cái nét mặt “bần thần” cũng đã thể hiện tâm trạng

buồn bã, lo lắng, tủi thân của một nhân cách, một sĩ diện có tự trọng Sau khi

đợc mẹ chồng chấp nhận bằng thái độ ân cần, thân mật và nhất là sau một đêmthành vợ chồng, cô gái đã thay đổi hòan tòan Đúng là một cô dâu mới Cô dậy

Trang 25

sớm dọn dẹp, quét tớc, nấu cơm cùng mẹ chồng Khi nghe mẹ chồng bảo:

“Anh ấy dậy rồi đấy Con đi dọn cơm ăn chẳng muộn”, cô “vâng” rồi lẳng lặng

đi vào trong bếp Rõ ràng nhân cách và lòng tự trọng khiến cô không thể “ thở dài” mãi, mà trớc hòan cảnh cô đã có sự nhận thức, nhận thức về bản thân

mình, về mọi ngời trong một gia đình tuy không mang lại cho cô chỗ dựa vềvật chất nhng đã mang lại cho cô sức mạnh về tinh thần, về tình thơng, tình ng-

ời Chính những điều đó đã mang lại cho cô thái độ chấp nhận và bằng lòng,

đồng nghĩa là tâm trạng vui vẻ, là ý thức về phận làm vợ, làm dâu Tình ngờitrong gia cảnh khốn cùng ấy đã biến đổi cô từ chao chát, cong cớn, chỏng lỏnthành một ngời vợ đảm đang hiền thục; một ngời con dâu ngoan ngoãn, chăm

chỉ, lễ phép với mẹ chồng Đúng nh Tràng nhận thấy “thị hôm nay khác lắm,

rõ ràng là ngời đàn bà hiền hậu, đúng mực, không còn vẻ gì là chao chát, chỏng lỏn nh mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”

Trong bữa cơm đầu tiên của nàng dâu mới, cô đợc mẹ chồng “đãi” món

“chè khoán” Khi nhìn thấy đây là món không phải dành cho ngời “hai con mắt chị tối lại”, phải chăng ẩn ở đó là sự khó chịu nhng không dám nói ra lời Nhng khoảnh khắc ấy qua đi rất mau để rồi “chị điềm nhiên và vào miệng” “Điềm nhiên” và miếng cám vào miệng nghĩa là cô chấp nhận, tuy khó chịu nhng

không muốn mọi ngời biết, muốn để cho mẹ chồng vui lâu hơn bởi với bà cụ Tứ

đây là “cái này hay lắm cơ” Để cho mẹ chồng vui lâu hơn đồng nghĩa có sự nảy

nở tình cảm trong cô gái và cũng là cách ứng xử cao đẹp Cô “điềm nhiên” ăn

cháo cám là xác định từ nay mình trở thành một thành viên của gia đình, phảI

biết yêu thơng, đùm bọc và chia sẻ Từ “hai con mắt tối lại” đến “điềm nhiên và vào miệng” là một biến chuyển tinh vi trong tâm trạng của ngời “vợ nhặt”, đồng

thời cho thấy một tâm hồn, một nhân cách rất đáng trân trọng

Với bà cụ Tứ, trớc một tình huống éo le – coi trai mình có vợ - đã códiễn biến tâm trạng tinh vi và phức tạp vì không hiểu nên mừng hay lo, hạnhphúc hay tai họa

Khi vào đến giữa sân, nhìn thấy cô gái trong nhà, hàng loạt câu hỏi đặt ra

trong đầu bà thể hiện sự băn khoăn, kinh ngạc: “Quái sao lại có ngời đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Ngời đàn bà nào lại đứng ngay đầu giờng thằng con mình thế nhỉ? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ? Ô hay, thế là thế nào nhỉ?”.

Khi hiểu ra câu chuyện, bà cụ Tứ vừa mừng nhng vừa thơng, vừa lo cho con,

đồng thời cũng tủi cho chính mình Các tâm trạng ấy cứ đan xen, xáo trộn Bà

cụ đã khóc Nhng vì bản tính là ngời mẹ hiền nên sau ít phút bàng hòang lúc

đầu, dần dần, với tấm lòng bao dung, cụ Tứ đã chấp nhận con dâu, chấp nhận

Trang 26

cái tổ ấm tội nghiệp của hai đứa trẻ đói nghèo Bà chấp nhận vì tình thơng và

cả vì lòng cảm phục, biết ơn đối với cô gái Bà nghĩ: “Có gặp bớc khó khăn đói khổ này, ngời ta mới lấy đến con mình”; “Thôi thì các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng” Những ai óan, tủi hổ trong tâm hồn ngời mẹ nghèo ấy vợi dần Bà cụ nhẹ nhàng khuyên dạy, động viên các con “liệu mà bảo nhau làm ăn …gợi về cái Đẹp, khiến con ng Rồi may ra ông giời cho khá …gợi về cái Đẹp, khiến con ng” Nhng cũng chỉ ngay sau

đó ít phút, nỗi đắng cay, tủi hờn, nỗi lo muôn thuở của những ngời nghèo lạigiội lên Bà cụ Tứ nghĩ đến chồng, đến đứa con gái út, đến cuộc đời khổ cực

dài dằng dặc của mình, bà lại nói: “Năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này u thơng quá!” Rồi bà lại khóc Bà khóc cho mình, khóc cho các

con, khóc cho số phận nghèo đói không biết đến bao giờ mới buông tha gia

đình bà?

Nếu nh tối hôm trớc, bao trùm tâm trạng bà cụ Tứ là những tủi thân, aióan, lo lắng, xót thơng thì chỉ sau một đêm, sáng hôm sau tâm trạng bà đãhòan tòan thay đổi Tất thảy việc làm, lời nói đều thể hiện sự phấn chấn, vui vẻ

rạng ngời Bà dậy sớm dọn dẹp, “lúi húi rẫy những búi cỏ mọc nham nhở”.

Việc làm của bà cụ tuy bình thờng nhng biết bao ý nghĩa Chắc hẳn lâu lắm rồi

bà không hề để ý đến việc dọn dẹp nhà cửa, nay có con dâu mới bà muốn thay

đổi, bà muốn góp một phần sức lực của mình qua những việc làm đơn giản màtuổi già vẫn làm đợc để tạo cuộc sống mới, một môi trờng mới cho các con vàchính mình Gia đình mình từ nay phải sống khác: quang quẻ hơn, sạch sẽ hơnchứ không phải tạm bợ nh trớc nữa Niềm vui rõ ràng không thể che giấu vì nét

mặt bà cụ Tứ đã tự nói lên: “Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tơi tỉnh khác ngày thờng, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” Bữa cơm đầu tiên bà

đón con dâu mới thật thảm hại nhng cái thảm hại về vật chất không ngăn nổisức mạnh tinh thần đó là niềm vui đơn sơ, giản dị mà hạnh phúc của ngời mẹgià Trong bữa ăn, bà nói tòan chuyện vui, chuyện sung sớng của tơng lai gần

và tơng lai xa Bà bàn với các con chuyện nuôi gà và hi vọng: “Này, ngỏanh đi ngỏanh lại chẳng mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem” Một “đôi gà” đã thành

“đàn gà” chỉ trong phút chốc Hẳn con dâu, con giai và cả độc giả cũng thấy

ấm lòng khi nghe những câu nói tự nhiên và ân tình ấy của ngời mẹ già Và hỏirằng còn niềm tin, niềm lạc quan vào cuộc sống nào lớn hơn và mạnh hơn thếnữa?

Bữa ăn thảm hại nhng cũng không kéo dài cho trọn vẹn một bữa ăn vì:

“niêu cháo lõng bõng mỗi ngời ăn đợc có lng lng hai bát đã hết nhẵn” Tuy vậy bà cụ Tứ vẫn “nhìn hai con vui vẻ” và nói “Chúng mày đợi u nhá Tao có

Trang 27

cái này hay lắm cơ” Hẳn đây là món bà đã bí mật tự chuẩn bị để đãi các con nên “bà lão lật đật chạy xuống bếp lễ mễ bng ra một cái nồi, khói bốc lên nghi ngút Bà lão đặt cái nồi xuống ben cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cời: - Chè đây Bà lão múc ra một bát Chè khoán đây, ngon

đáo để cơ” Không còn dáng vẻ chậm chạp, uể oải của một bà già nghèo khổ,

thay vào đó là sự nhanh nhẹn, xăm xắn bởi trong lòng bà cụ Tứ đang vui và từniềm vui của mình, bà muốn tạo niềm vui bất ngờ cho các con Tởng rằng cuộcsống của bà lão sẽ không còn có ngày vui nhng những hình ảnh và lời nói của

cụ Tứ ở cuối câu chuyện cho thấy bà đã rất vui Việc làm, lời nói thật giản dị,chân thực nhng cảm động biết bao! Tấm lòng của ngời mẹ đối với các con thật

đáng trân trọng bởi đã truyền cho các con niềm vui sống, truyền cho các consức mạnh để vợt qua tao đoạn này

Nh vậy, qua diễn biến tâm trạng của ba nhân vật ta có thể thấy rằng: dùtrong hoàn cảnh khốn khó nào, những con ngời nghèo khổ,thô kệch, rách rới,

già nua nh Tràng, cô “vợ nhặt”, bà cụ Tứ vẫn không nguôi niềm khao khát sự

sống ấm no, hạnh phúc và niềm lạc quan, hi vọng vào cuộc sống ngày mai tốt

đẹp hơn Bởi họ luôn mang trong tâm hồn mình một vẻ đẹp: vẻ đẹp của tìnhngời, của niềm tin Phải chăng chất thơ đời sống – vẻ đẹp tâm hồn con ngời -

đã khiến cho tác phẩm hiện thực “Vợ nhặt” bớt ảm đạm, nặng nề mà luôn phơi

phới niềm vui, niềm tin yêu con ngời trong cuộc sống

1.5 Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng – một điểm sáng ở cuối tác một điểm sáng ở cuối tác phẩm

Có thể nói chất thơ đời sống đã mang lại luồng sáng tuy không rực rỡ

nh-ng giàu ý nh-nghĩa để cho tác phẩm hiện thực “Vợ nhặt” bớt u ám, ảm đạm, đó là

ánh sáng của tình ngời, và không thể bỏ qua điểm sáng ở cuối tác phẩm: hình

ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới

Có ý kiến cho rằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở cuối “Vợ nhặt”

là gợng gạo, khiên cỡng Nhng theo ngời viết luận văn, đánh giá nh vậy là cha

đầy đủ, cha thấy hết đợc ý nghĩa t tởng của hình ảnh này bởi những lí do sau:Chúng ta đợc biết, nhà văn Kim Lân khởi thảo tác phẩm từ năm 1940,chắc đã thai nghén những nhân vật, những tình huống, chi tiết truyện sớm hơn

nữa Đến 1946, “Vợ nhặt” là một chơng đợc viết lại của truyện dài “Xóm ngụ

c” mà nhà văn viết dở dang Bản thảo tác phẩm đã bị mất Sau năm 1954, nhân

một số báo kỉ niệm Cách mạng tháng Tám, tác giả liền nhớ lại, viết thành

Trang 28

mốc lớn của dân tộc: cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và kháng chiếnchống Pháp, nhà văn đã có độ lùi thời gian để giác ngộ, trải nghiệm; có độchín của t duy sáng tạo; có nhận thức đúng đắn hơn về cuộc sống và con ngời,nhà văn mới hoàn thiện và công bố tác phẩm Do đó tác phẩm có dáng hìnhgiống những áng văn hiện thực trớc 1945, song âm hởng khác hẳn Nó không

tăm tối, ngột ngạt đến bế tắc vì “có màu sắc cách mạng” và “mang âm hởng chung của văn học thời đại từ sau Cách mạng tháng tám 1945 đến 1975” (lời

tâm sự của nhà văn)

“Màu sắc cách mạng” đã khiến ba con ngời khốn khổ cố quên đi những

đắng chát trong túp lều nhỏ hẹp để lắng nghe tiếng vọng ở ngoài đời rộng lớn

Đó là tiếng trống thúc thuế, những âm thanh tàn ác, bất công đang lẩn khuất, đe

doạ Song họ không hoảng hốt, lo sợ nh trớc nữa Ngời con dâu hỏi mẹ: “ở đây vẫn phải đóng thuế cơ à?” Rồi chị kể chuyện mạn Thái Nguyên, Bắc Giang ng-

ời ta không chịu đóng thuế, còn phá cả kho thóc Nhật chia cho ngời nghèo

đói…Nguyễn Du trong “Từ lời kể của vợ, Tràng nh bừng tỉnh Anh nhớ tới cảnh những ngời nghèo

đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp, đằng trớc có lá cờ đỏ to lắm, lá cờ của ViệtMinh dẫn đoàn ngời đi phá kho thóc chia cho ngời đói Khi vợ và mẹ đứng dậy,

Tràng vẫn còn mơ màng nghĩ tới đám ngời đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”.

Hình ảnh lá cờ đỏ hai lần hiện lên trong tâm trí Tràng, phải chăng là một luồngsáng mới? Luồng khởi quang Cách mạng Luồng khởi quang Cách mạng ấy tuymới bắt đầu và đang ở nơi xa nhng đã soi sáng phần nào nhận thức những conngời khốn khổ nh Tràng, để rồi đa dẫn họ đến những hành động đúng đắn vàhợp lí Lòng thơng yêu và hi vọng là cần nhng cha đủ để giúp họ thoát khỏi thựctại thê thảm Muốn sống họ còn phải hành động Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng đãgieo vào lòng họ những hi vọng mới, nó lung linh, chấp chới một dự cảm ấmlòng Nó nuôi dỡng niềm tin cuộc sống Nó thắp sáng thêm ngọn lửa tình ngời,giục giã con ngời gắng gỏi vơn lên, xé tan màn đêm vây bủa để đi tới buổi maicủa khát vọng làm ngời, khát vọng hạnh phúc Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng còn

Trang 29

gợi ý những hành động mới Những con ngời đã vợt qua mặc cảm đói nghèo, tủihờn để khẳng định sự sống, chắc chắn sẽ đi theo tiếng gọi của Việt Minh đểgiành lại sự sống cho mình Nhà văn không dễ dãi trong việc miêu tả gia đìnhTràng tham gia cách mạng Nhng lôgíc cuộc sống sẽ cho thấy họ sẽ không cócon đờng nào khác.

Về bút pháp, có thể thấy trớc sau nhà văn Kim Lân vẫn trung thành vớidòng văn hiện thực Nhng, trớc Cách mạng tháng Tám là hiện thực tự nhiên

(Đứa con ngời vợ lẽ, Nên vợ nên chồng), thì sau Cách mạng tháng Tám ngòi bút hiện thực ở Kim Lân đã “mang màu sắc cách mạng”[53] mà “Vợ nhặt” là

một tiêu biểu Ngòi bút nhà văn vẫn am tờng cuộc sống, song trải qua hai mốclớn của dân tộc: Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, văn chơngKim Lân đã có chuyển biến về phong cách đó là phản ánh xã hội, con ngời dớinhãn quan lạc quan cách mạng Chứng tỏ sự trởng thành của ngòi bút Kim Lân

và cũng là tất yếu khi lịch sử xã hội thay đổi

Từ những phân tích trên, ngời viết luận văn có thể khẳng định rằng: hình

ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở cuối tác phẩm “Vợ nhặt” không hề khiên

c-ỡng mà phù hợp với xu thế của cuộc sống đang thay đổi Đó còn là một điểmsáng, một vẻ đẹp của đời sống tâm hồn con ngời tạo âm hởng ngân nga, hiệnthực và lãng mạn đan xen Hình ảnh ấy là một biểu hiện rõ rệt của chất thơ đờisống, nh một vĩ thanh buông ngân một âm hởng lạc quan Cuộc đời cha diễn rasong ánh sáng hồng một đời mới nh đang ở ngay trớc mặt, thắp trong ngời đọcmột niềm vui, một sức mạnh để càng thêm yêu và tin ở con ngời, ở tình ngời

và cuộc sống ngày mai Trong tác phẩm luôn có sự đan xen niềm vui và nỗibuồn, nụ cời và giọt nớc mắt, sự sống và cái chết; có sự giành giật bóng tối và

ánh sáng nhng cuối cùng mở ra một ngày sáng lóa, có ánh sáng của mặt trời,sắc đỏ của lá cờ cách mạng Cảm hứng nhân văn – tình thơng, niềm tin ở con

ngời, trớc hết với nhân dân lao động – của “Vợ nhặt” dờng nh đã mang nét

mới của thời đại, thời đại cách mạng

Trang 30

Lá cờ đỏ sao vàng là điểm sáng của thời đại Điểm sáng ấy đã bớc đầu soisáng nhận thức cho những con ngời khốn khổ nh Tràng và soi chiếu trên trang

văn của "Vợt nhặt" Đồng thời đây là một hình ảnh đẹp của cuộc sống, góp

phần làm rõ nét cho nội dung chất thơ trong tác phẩm

Trang 31

2.1.1.1 Kim Lân là nhà văn một lòng đi với đất , với ng“ ” “ ời , với

thuần hậu nguyên thuỷ của cuộc sống nông thôn.

Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 1 tháng 8 năm

1921 (28 tháng 6 Tân Dậu), tại xã Phù Lu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Kim Lân là một trong những nhà văn thành công khi viết về ngời nôngdân và cuộc sống nông thôn Nhiều bạn đọc yêu quý ông thờng gọi là nhà văncủa đồng quê Vì trong nhiều truyện ngắn của nhà văn, chất đồng quê, phongtục tập quán, nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá của làng mạc việt Nam ghi dấu

ấn khá đậm nét

Quê hơng Kim Lân thuộc đất Kinh Bắc – nghìn năm văn hiến, nơi pháttích vơng triều nhà Lí Đây là một mảnh đất có bề dày lịch sử và văn hoá cổtruyền với những lễ hội địa phơng nổi tiếng: hội Đền Đô, hội Đồng Kỵ, hộiLim…Nguyễn Du trong “ và những thú chơi phong tục hấp dẫn nh: đốt pháo, đánh đu, đấu vật,chọi gà, hát quan họ…Nguyễn Du trong “

Nhà nghèo, hồi nhỏ cậu bé Tài chỉ học đến lớp Nhất, rồi phải đi phụviệc cho các thợ đàn anh (sơn guốc, khắc tranh bình phong), để giúp gia đìnhkiếm sống Nhờ chịu khó quan sát, suy nghĩ, lại có dịp đi đến nhiều làng xàtrong vùng, nên từ hồi còn ít tuổi, ông đã có vốn hiểu biết khá dày dặn vềnhững phong tục tập quán và tinh hoa văn hoá dân gian trong cuộc sống ởvùng Kinh Bắc quê hơng mình Tất cả những điều đó là điều kiện chuẩn bị tốt

để sau này ông trở thành nhà văn với những trang đặc sắc về phong tục nôngthôn Việt Nam và cả trong những bớc cách mạng chuyển mình

Kim Lân là nhà văn viết không nhiều, song ý thức đối với nghề của ôngrất cao Lúc đầu, nhà văn sáng tác để khẳng định vị trí của mình trong xã hội.Sau dần ông xác định rõ mục đích sáng tạo nghệ thuật là vì những ngời nghèokhổ Sinh ra và lớn lên ở nông thôn, ông gần gũi và am hiểu ngời nông dân.Tinh thần nhân bản, nhân đạo đã giúp ông nhìn thấy trong cuộc sống bộn bề ởlàng quê ẩn chứa nhiều cái đáng yêu, đáng quý, những điều bình dị, chân chấtnhng mang vẻ đẹp ẩn tàng đáng trân trọng Cái đẹp đó đã đi vào nghệ thuật

Trang 32

của nhân dân và đã có những ấn tợng mạnh mẽ Học tập nhân dân, ông đã sángtác và đã có một số tác phẩm đặc sắc về nông dân, nông thôn.

Kim lân đã nhiều lần phát biểu: “văn chơng phải thật, phải giản dị” [15] Và ông giải thích: “cái thật” là cái thật của tấm lòng, của suy nghĩ, là

“cái tâm tình của ngời viết” Cũng từ đó nhà văn có cách nhìn và lối viết chân

thật, giản dị, gần gũi với ngời dân hơn Văn Kim Lân không đao to búa lớn màchữ chữ, hàng hàng chân chất nh củ khoai, củ sắn Lời văn trong lối kể cũng

không ồn ào mà cứ rủ rỉ, rỉ rả, thánh thót Kim Lân không a “đánh bóng mạ kền” con chữ, hàng chữ Ông có cái nhìn cái, óc nghĩ, cái lối diễn đạt của ngời

xứ quê Nó bình dị, chất phác, pha chút hóm hỉnh Bình dị chát phác mà không

nôm na Nó rất “văn”, chững chạc, trong sáng và tơi tắn.

Số lợng tác phẩm của Kim Lân không nhiều, nhng chỉ vài tác phẩm đặcsắc là đã có thể lu danh trong trờng bút Cái chính ta bắt gặp ở Kim Lân, nh

nhà văn Nguyên Hồng, bạn chí cốt của ông đã từng nói: “Ông là nhà văn một lòng đi về với đất, với ngời, với thuần hậu nguyên thuỷ của cuộc sống…gợi về cái Đẹp, khiến con ng” Văn

của Kim Lân chân thật, giản dị, lời ăn tiếng nói mộc mạc, quê kiểng rất gầnvới lối nói khẩu ngữ

Có thể nói, suốt đời văn, Kim Lân hầu nh chuyên viết truyện ngắn vềlàng quê Việt Nam – mảng sống từ lâu ông biết khá kĩ lỡng.Trớc cách mạngtháng Tám, truyện ngắn Kim Lân chủ yếu kể lại những cảnh đời vất vả của ng-

ời nông dân và những sinh hoạt phong phú ở thôn quê (chọi gà, thả chim, đấu

võ, đánh vật…Nguyễn Du trong “) Những trang văn ấy giúp ngời đọc nhận biết: sau luỹ tre xanh

từ bao đời nay, ngời nông dân sống lam lũ, cần cù, hai sơng một nắng nhngtháng ba ngày tám và những buổi sang xuân vẫn tổ chức những trò vui dângian, qua đó thể hiện sự thông minh, tài hoa, tâm hồn tơi sáng, lành mạnh, yêu

đời, những phong tục “đất lề quê thói” của ngời Phù Lu Chợ Giàu coi trọng lễ

hội và nhân tình Sau này vẫn viết về nông thôn, ông đề cập tới sự đổi mới vềmặt tâm hồn, tình cảm của ngời nông dân trong Cách mạng và kháng chiến Sự

đổi đời của họ trong cải cách ruộng đất, những hoạt động cách mạng tuy thầmlặng, bình thờng nhng thật đáng quý trọng

Kim Lân viết không nhiều nhng đợc ngời đọc, bạn văn, các nhà phê

bình văn học ghi nhận Nói nh Đỗ Kim Hồi: “Kim Lân thuộc vào số ít nhà văn

có thể minh chứng cho chân lí quý hồ tinh bất quý hồ đa trong nghệ“ ”

thuật…gợi về cái Đẹp, khiến con ng” ấy vậy nhng khi kể ra những gơng mặt làm nên bản sắc của văn

xuôi Việt Nam trong mấy chục năm trở lại đây thì lại khó có thể bỏ sót têntuổi Kim Lân Có thể nói: Kim Lân đứng ở hàng đầu trong số các cây bút vănxuôi viết ít mà càng ngày càng đợc khâm phục rất nhiều Một nhà văn gần đây

Trang 33

có kể ra bốn tác phẩm văn xuôi xếp vào loại gần nh “thần bút” thì trong đó có

hai tác phẩm của Kim Lân Truyện ngắn của Kim Lân cũng giống nh con ngời

ông vậy Nó mộc mạc, chân chất, phảng phất cái hơng vị của dân gian, văn hoálàng quê giàu lòng nhân ái, nồng nàn tình yêu con ngời, quê hơng Đúng nh

nhà văn Nguyên Hồng nhận xét: “Ông là nhà văn một lòng đi về với đất, với ngời, với thuần hậu nguyên thuỷ của cuộc sống…gợi về cái Đẹp, khiến con ng”.

2.1.1.2 Truyện ngắn Vợ nhặt và sự kết tinh nhiều giá trị.“ ”

Là tác phẩm tiêu biểu của một trong những cây bút viết truyện ngắn

xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, “Vợ nhặt” đã đợc lựa chọn vào chơng

trình giảng dạy lớp 12 trờng THPT, đợc đông đảo bạn đọc yêu mến bởi cốttruyện hấp dẫn, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên và bởi tác phẩm có sự kết tinh nhiềugiá trị: giá trị tố cáo, giá trị nhân văn, giá trị nhân bản và trên hết là giá trịnhân đạo sâu sắc

Một trong những thành công của “Vợ nhặt” là sự tái hiện hiện thực

khủng khiếp năm 1945, hậu quả của chính sách tàn bạo: nhổ lúa, trồng đay củaphát xít Nhật Hơn 2 triệu dân Việt Nam đã chết đói Bóng đen chết chóc phủ

xuống khắp xóm làng.: “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình

đội chiếu lũ lợt bang bế dắt díu nhau lên, xanh xám nh những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Ngời chết nh ngả rạ Không buổi sáng nào ngời trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba, bốn cái thây nằm cong queo bên

đờng Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rởi và mùi gây của xác ngời…gợi về cái Đẹp, khiến con ng Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cú gào lên từng hồi thê thiết…gợi về cái Đẹp, khiến con ng” Cái

đói làm cho một cô gái chỉ sau một thời gian ngắn đã áo quần tả tơi nh tổ

đỉa, …gợi về cái Đẹp, khiến con ng gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt l ỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” Cái đói khiến con ngời ta đánh mất sĩ diện và nhân cách chỉ vì miếng ăn:

sẵn sàng xà xuống ăn một chặp bốn bát bánh đúc, sẵn sàng theo không mộtngời đàn ông Cái đói dẫn đến cái chết thê thảm, không khí ảm đạm, thê lơng

Đêm đêm tiếng hờ khóc ngời chết tỉ tê, văng vẳng; trên trời quạ bay nh mây

đen…Nguyễn Du trong “

Lên án tội ác của bọn đế quốc Nhật Pháp đã gây ra cho dân ta nạn đóikhủng khiếp mùa xuân năm 1945, đã là đề tài của hàng loạt tác phẩm thơ văn

sau cách mạng tháng Tám 1945 Với “Vợ nhặt”, Kim Lân đã giải quyết đề tài

ấy theo một cách riêng vừa vô cùng cảm động, vừa buộc ngời đọc phải suy nghĩnhức nhối, day dứt mãi, lớp trẻ ngày nay đọc chắc không thể tởng tợng nổi cáigiá của con ngời đã có lúc rẻ mạt đến thế Nghĩa là không bằng con vật Chỉ vàibát bánh đúc mà thành vợ hẳn hoi, thân phận con ngời nh thế có hơn gì cỏ rác?Bọn phát xít thực dân đã đẩy nhân dân ta đến nông nỗi nh thế Lời kết tội của

Trang 34

“Vợ nhặt” thật ngắn gọn mà sâu sắc, thấm thía biết bao! Tiếng nói tố cáo tội ác

kẻ ngoại xâm không đao to búa lớn mà thuyết phục lòng ngời

Có thể nói các nhân vật trong “Vợ nhặt” không đợc u ái về hình thức Họ

là những con ngời thô kệch, xấu xí, rách rới, già nua luôn bị bao vây bởi cái đói,cái chết nhng ẩn đằng sau đó là vẻ đẹp tâm hồn rất đáng quý trọng Tuy nghèokhổ nhng họ giàu lòng nhân ái; tuy bị bủa vây bởi đói khát, chết chóc nhngniềm tin vào cuộc sống không bị lụi tàn, trái lại nó trỗi dậy âm ỉ và không kém

phần mạnh mẽ Và nh nhà văn Kim Lân đã nói về truyện ngắn “Vợ nhặt”:

“Những ngời đói, họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống” Năm tháng

qua đi, còn mãi với thời gian là vẻ đẹp tâm hồn con ngời, là chất nhân văn caocả của một nghệ sĩ mà cả đời văn gắn bó với ngời nông dân

Gần gũi, am hiểu ngời nông dân nên trong các sáng tác của Kim Lân chan

chứa tình nhân đạo, “Vợ nhặt” không ngoài ngoại lệ đó Chọn tình huống

“nhặt vợ” do nạn đói khủng khiếp gây nên, nhà văn không nhằm miêu tả sự

mất giá, sa đoạ của con ngời, trái lại thể hiện sự đồng cảm cùng cảnh ngộ,cùng số phận ngời dân lao động nghèo khổ; thấu hiểu nỗi lòng, trân trọng niềmvui hạnh phúc bình dị của họ; khẳng định khát vọng sống còn và phẩm giá củacác nhân vật Nhà văn đã miêu tả tình yêu sự sống của những con ngời bên bờcái chết nh một nguồn sáng, nguồn ấm áp sởi ấm lòng ngời, thôi thúc họ đi tớicứu lấy đời mình Cái nhìn nhân đạo của Kim Lân còn thể hiện ở cách kết thúc

tác phẩm “Vợ nhặt” không dừng lại ở tuyệt vọng (sau vị đắng chát của cháo

cám), ở màu sắc đen tối, bi quan Nhà văn đã gieo vào lòng ngời đọc dự cảm

về sự đấu tranh, sự đổi đời của các nhân vật Tác phẩm đã cho thấy mối liên hệkhăng khít giữa nhu cầu sống còn của mỗi cá nhân lao khổ với công cuộc cáchmạng xã hội Đó là một t tởng nhân đạo mới mẻ, có tính chiến đấu

2.2 Thực trạng giảng dạy và học tập truyện ngắn "Vợ nhặt"

trong trờng phổ thông

2.2.1 Đối tợng khảo sát.

Để tìm hiểu tình hình dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt” trong nhà trờng

phổ thông hiện nay, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 2 đối tợng cơ bản tham giavào quá trình dạy và học trong nhà trờng đó là giáo viên và học sinh

Về t liệu khảo sát: chúng tôi tiến hành khảo sát trên vở ghi của học sinh,giáo án của giáo viên và phát phiếu điều tra cho giáo viên và học sinh

2.2.1.1 Từ phía học sinh.

Tiếp nhận tác phẩm văn chơng ở bạn đọc nói chung, ở học sinh nóiriêng là quá trình phức tạp gồm nhiều khâu, chịu chi phối của nhiều yếu tố.Song với bạn đọc - học sinh trong nhà trờng - những ngời lĩnh hội tác phẩm

Trang 35

văn chơng để từ đó tự nhận thức, tự giáo dục, tự phát triển, theo chúng tôi hứngthú khi đến với tác phẩm đóng vai trò rất quan trọng Nó sẽ thắp lên và làm toảsáng ngọn lửa nội lực của niềm đam mê, khám phá sáng tạo khi học sinh đếnvới tác phẩm.

Mặt khác, việc tiếp nhận tác phẩm văn học luôn gắn liền hữu cơ với việc

đọc văn Vì muốn lĩnh hội trọn vẹn tác phẩm, không có con đờng nào khác là

đọc để từ đó đạt tới sự hiểu biết, xúc cảm thật sự Đồng thời qua hoạt động

đọc, bớc đầu các em có thể nhận biết đợc một vài yếu tố nghệ thuật tiêu biểu,hoặc những chi tiết đợc lặp đi lặp lại nhiều lần mang dụng ý nghệ thuật nào đócủa nhà văn Từ đó, các em có ý thức tự khám phá và mong muốn đợc tìm hiểu

để giải toả những nghi ngờ, thắc mắc

Với những suy nghĩ đó, chúng tôi tiến hành khảo sát theo dạng câu hỏitrắc nghiệm

Câu 1: Em có thích học tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân không? (học sinh

có thể trả lời “có” hoặc “không” và đánh dấu vào những ô phù hợp với mình)

Câu 2: Em đã đọc tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân bao nhiêu lần trớc

khi đợc học? (Học sinh đánh dấu vào ô phù hợp với trờng hợp của mình:không đọc lần nào, đọc 1 lần, đọc 2 lần, đọc 3 lần trở lên)

Câu 3: Tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân có thể hiện chất thơ đời sống

không? (Học sinh chọn và đánh dấu vào ô mà mình thấy: có, không, không biết).Câu 4: Chất thơ đời sang đợc biểu hiện nh thế nào? (Học sinh chọn ý phùhợp và đánh dấu vào ô)

Đối tơng khảo sát là học sinh thuộc các trờng:

- Trung học phổ thông Bình Giang – Hải Dơng

- Trung học phổ thông Thanh Miện – Hải Dơng (năm 2008)

2.2.1.2 Từ giáo viên.

Bản chất của hoạt động dạy học tác phẩm văn chơng trong nhà trờng là quátrình ngời giáo viên trên cơ sở trình độ, sự hiểu biết và tài năng của bản thân, tổchức một cách nghệ thuật và khoa học tiến trình học sinh chiếm lĩnh tác phẩm mộtcách sáng tạo, để từ đó giúp các em tự nhận thức tự giáo dục tự phát triển

ở nớc ta, cùng với những biến đổi và biến động xã hội tâm lí về nhiềumặt, kể cả những tác động từ ngoài vào vấn đề dạy học văn trong nhà trờngcàng trở thành mối quan tâm chung Vì vậy, không chỉ là công việc của bảnthân nhà trờng, lại càng không phải là chuyện văn chơng chữ nghĩa đơn thuần

mà là vấn đề có ý nghĩa chính trị xã hội, trớc mắt cũng nh về lâu dài Không

Trang 36

phải ngẫu nhiên mà một viện sĩ nổi tiếng thế giới - Mikhan Cốp – khi bàn về

văn học đã nói rằng: “Giảm nội dung văn học trong chơng trình nhà trờng là giảm nhẹ chất nhân văn, bộ mặt tinh thần của thế hệ trẻ ngày nay và sau này

ra sao không những lệ thuộc vào việc giảng dạy cái gì mà còn là do dạy nh thế nào?” [43].

Đổi mới phơng pháp dạy học văn trong nhà trờng đã đợc đề cập đến từkhá lâu Nhng thực chất đã áp dụng vào nhà trờng nh thế nào và giảng dạy rasao, quả thực đến nay vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét Tình trạng học sinh

thích hay không thích học tác phẩm văn học nói chung, “Vợ nhặt” nói riêng có

một phần từ phía ngời dạy Do vậy mà việc hiểu thế nào cho hợp lí các giá trịcủa tác phẩm, tiếp cận tác phẩm từ góc độ nào, cách dạy ra sao để vừa đủ lợngtri thức, vừa gợi mở cho học sinh luôn là các vấn đề thờng đợc đa ra trao đổi

Để có đợc kết luận tơng đối xác thực về phơng pháp dạy học tác phẩm

“Vợ nhặt” của Kim Lân, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu ghi sẵn

câu hỏi

Câu hỏi đợc đa ra nh sau:

Câu 1: Khi giảng dạy tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân, đồng chí có

khai thác nội dung chất thơ đời sống không? (Giáo viên đánh dấu vào ô

“có” hoặc “không”)

Câu 2: Theo đồng chí việc khai thác nội dung chất thơ đời sống trong tácphẩm này có cần thiết không? (Giáo viên đánh dấu vào ô “có” hoặc “không”).Câu 3: ý kiến của đồng chí về: tài liệu phục vụ cho bài giảng của giáoviên về tác phẩm trên (còn thiếu, đầy đủ) và sách giáo khoa, sách tham khảocho học sinh học tác phẩm đó (còn thiếu, đầy đủ)

Câu 4: Đánh giá chủ quan của đồng chí về khả năng cảm thụ của họcsinh về tác phẩm này nh thế nào? Tính theo % (hiểu nội dung, còn mơ hồ,không hiểu nội dung)

Đối tợng khảo sát là giáo viên văn thuộc trờng:

- Trung học phổ thông Bình Giang – Hải Dơng

- Trung học phổ thông Thanh Miện – Hải Dơng (2008)

2.2.2 Kết quả khảo sát

Trang 37

2.2.2.1 Đối với học sinh

2.2.2.2 Đối với giáo viên

Số giáo viên cho rằng khai thác nội dung chất thơ đời

sống trong dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt” hiện nay là cần

thiết

Tài liệu phục vụ cho bài giảng của giáo viên còn thiếu

Sách tham khảo, tài liệu tham khảo cho học sinh học tác

Cảm thụ của học sinh

Nhìn vào bảng kết quả khảo sát chúng tô nhận thấy:

Trang 38

- Hầu hết các em đều thích học tác phẩm vì: “biết thêm về nạn đói năm 1945”, hoặc “thấy đợc một tình huống nên vợ nên chồng rất kì lạ”…Nguyễn Du trong “

- Nhng có một tồn tại chung là: các em thích học tác phẩm nhng lại lời

đọc Việc đọc tác phẩm của các em cha thật sự chăm chỉ Việc đọc trớc ở nhàhoặc đọc kĩ hầu nh các em không quan tâm, có đọc trớc ở nhà thì chỉ đọc lớthoặc đọc để cho biết Đến lớp các em hoàn toàn ỷ vào giáo viên Thầy côgiảng thế nào thì ghi chép thế ấy Chính vì thế các em khó có thể tiếp cận vàhiểu tác phẩm

- Các em cha hiểu khái niệm “chất thơ đời sống trong văn xuôi” Dờng

nh các em còn rất lạ lẫm với khái niệm này Sau khi nghe giải thích “chất thơ

đời sống là gì” thì các em cũng rất lúng túng khi nhận dạng.

- Còn một nguyên nhân nữa khiến cho việc học sinh cha thực sự có ý thức

tiếp cận và học tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lâm một cách nghiêm túc là do

nhu cầu, hứng thú của các em vì: tác phẩm đợc tác giả viết cách đây rất lâu,hoàn cảnh xã hội lúc đó các em không đợc chứng kiến và hiểu về nó quá ít, quákhác so với hiện thực các em đang sống Từ đó dẫn đến khoảng cách về tâm lí,

sự khác xa với suy nghĩ, cảm xúc của các em trong thời đại hiện nay Nếu giáoviên không cắt nghĩa, lí giảiđầy đủ thì học sinh không có cách tiếp cận tác phẩmmột cách khoa học, chính xác Những yêu cầu ấy đè nặng lên vai mỗi giáo viêngiảng dạy Nó không chỉ đòi hỏi giáo viên cần có những đổi mới trong phơngpháp dạy học văn để thay đổi quan niệm và tạo hứng thú tiếp nhận cho học sinh,quan trọng hơn giáo viên cần phải cung cấp cho các em những nội dung tiềm ẩn

để bổ sung cho giá trị vốn có của tác phẩm thêm đầy đủ sâu sắc Một trongnhững nội dung đó là chất thơ đời sống của tác phẩm

2.2.3.2 Về phía giáo viên.

Chúng tôi đã khảo sát giáo án của giáo viên năm 2008 và xem xét giáo áncủa một số năm về trớc thì thấy chung một thực trạng: tất cả các giáo án đềukhông khai thác nội dung thơ đời sống mà chỉ tập trung vào phân tích tìnhhuống truyện độc đáo, phân tích 3 nhân vật (Tràng, ngời vợ nhặt, bà cụ Tứ) và

phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Vợ nhặt”, tuyệt nhiên không đề cập

đến nội dung chất thơ đời sống

Căn cứ vào kết quả khảo sát bằng phiếu ghi sẵn câu hỏi, chúng tôi nhậnthấy một điểm chung nhất trong ý kiến của giáo viên là:

- Tài liệu phục vụ cho việc học tập của học sinh và bài giảng của giáoviên còn thiếu Đối với học sinh, ngoài sách giáo khoa các em chỉ có duy nhất

Trang 39

một cuốn bài tập ngữ văn 12 Đối với giáo viên có một số cuốn: sách giáo viênvăn 12, thiết kế bài giảng văn mẫu 12, bài tập ngữ văn 12 Trong đó sách giáoviên văn 12 có thể coi là cẩm nang để giáo viên soạn giáo án lên lớp Có giáoviên xem sách giáo khoa và tài liệu hớng dẫn giảng dạy là đủ về tác giả, tácphẩm mà không nghĩ tới tài liệu nào khác.

Bên cạnh đó cũng có một số giáo viên tham khảo thêm tài liệu nhng đó

cũng chỉ là sách “Để học tốt văn”, hay “Những bài văn mẫu” …Nguyễn Du trong “ Thiết nghĩ

đấy chỉ là những tài liệu giúp giáo viên và học sinh hiểu biết thêm về tácphẩm cái mà chúng tôi cho rằng vô cùng cần thiết và đáng quý đối với mỗigiáo viên dạy văn đó là: tự trang bị cho mình những cuốn sách hay, sách mới

về phơng pháp dạy học văn hiện đại; tự trang bị cho mình nguồn kiến thứcphong phú về lịch sử cũng nh cuộc sống hiện tại

Lí luận dạy học hiện đại đã đề cập đến một trong những đổi mới để giờ dạy

thêm sinh động hấp dẫn là áp dụng phơng pháp: “từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng” Trong khi đó, dụng cụ, tài liệu trực quan cho môn văn nói chung

và tác phẩm “Vợ nhặt” nói riêng hầu nh còn thiếu Khoảng cách thời gian trong

tác phẩm với các em rất xa, thiếu những bức tranh minh hoạ nạn đói năm 1945 sẽhạn chế việc cảm thụ tác phẩm một cách sâu sắc ở học sinh

- Phiếu điều tra cho thấy, giáo viên cha chú ý tới khâu tiếp cận tác phẩm

từ góc độ chất thơ đời sống Đánh giá một cách công bằng và nghiêm túc thìmột số giáo viên còn bất lực trong việc khám phá những nội dung tiềm ẩn củatác phẩm Giáo viên cha thực sự đầu t và sáng tạo để tìm tòi những hớng khaithác mới mà lệ thuộc vào những cách giảng truyền thống,có sẵn

Một thực tế vẫn đang tồn tại hiển nhiên ở nhà trờng phổ thông là: sáchgiáo viên, sách giáo khoa vẫn đóng vai trò định hớng chủ đạo chi phối hoạt

động dạy học tác phẩm Tìm đến tài liệu học tập và giảng dạy của tác phẩm

“Vợ nhặt” của Kim Lân chúng tôi nhận thấy: tất cả các tài liệu đó đều cha đề

cập đến việc khai thác nội dung chất thơ đời sống trong tác phẩm KháI niệmchất thơ đời sống cha đợc đa ra một cách cụ thể để học sinh nhận dạng và nắmbắt khi tiếp cận với tác phẩm Việc hớng dẫn giáo viên và học sinh khai thácnội dung chất thơ đời sống trong tác phẩm hầu nh cha có

Chính những hạn chế nh vậy đã khiến cho việc dạy truyện ngắn này trongnhà trờng nhiều khi không đi hết và đi sâu vào tác phẩm, giáo viên chỉ giảng đ-

ợc một số nội dung cơ bản đôi khi phải cắt giảm cho kịp thời gian dạy Điều

Trang 40

đó càng làm hạn chế hơn nữa cách tiếp cận của học sinh Nh vậy, hậu quả tấtyếu sẽ là việc học sinh không nắm kĩ về tác phẩm hay chỉ hiểu tác phẩm mộtcách rất mờ nhạt ngay cả khi đã hoàn thành bài học.

2.2.4 Đề xuất.

“Vợ nhặt” của Kim Lân là một trong số những tác phẩm đợc giáo viên và

học sinh yêu thích trong chơng trình văn phổ thông Điều đó cho thấy việc đatác phẩm vào dạy ở nhà trờng trung học hiện nay là hợp lí

Nhng yêu thích tác phẩm không có nghĩa là đã hiểu về tác phẩm đó.Chúng ta không thể thừa nhận một thực trạng hiện nay là bên cạnh một số tácphẩm, tác giả văn học đợc các em yêu thích, còn lại đa số các em ngại học văn,

sợ học văn Điều đó xuất phát từ nhu cầu thực tế xã hội hiện nay và cơ bản là

đặc trng riêng của môn văn Vốn là một môn học đồng thời là một môn nghệthuật nên việc cảm thụ đợc sâu sắc tác phẩm phải bắt nguồn từ hứng thú, sựrung cảm, sự lay động từ chính tâm hồn của các em Trong khi đó một tácphẩm văn chơng có giá trị hay đến đâu nếu không đợc độc giả khám phá, khaithác, thổi bùng ngọn lửa đam mê thì cũng chỉ là thể tĩnh với những con chữ vôhồn, câm lặng Hầu hết tác phẩm văn học đợc lựa chọn đa vào chơng trìnhgiảng dạy đều cách xa về thời gian so với cuộc sống hiện tại của học sinh, dẫn

đến khoảng cách về tâm lí xã hội, khoảng cách về sự tiếp nhận, cảm thụ so vớinhà văn Để khắc phục hạn chế này đòi hỏi rất nhiều vào tài năng s phạm cũng

nh kiến thức về văn học, lịch sử, xã hội của ngời giáo viên Ngời giáo viên thực

sự tài năng không chỉ vững về chuyên môn, có phơng pháp giảng dạy hiện đại,hiệu quả mà còn phải biết khám phá những nội dung tiềm ẩn của tác phẩm để

bổ sung vào giá trị của tác phẩm thêm sâu sắc toàn diện

Việc phân tích chất thơ đời sống trong truyện ngắn “Vợ nhặt” còn rất hạn

chế Hơn nữa việc giảng dạy theo hớng khai thác này là hoàn toàn mới mẻ đòihỏi sự nỗ lực từ 2 phía giáo viên và học sinh Trong đó ngời giáo viên đóng vaitrò quyết định Sáng tác văn học là một tiến trình tất yếu bao gồm mối liên hệtác giả - cuộc sống – tác phẩm – bạn đọc Chừng nào mà ngời học sinh còn

đứng bên ngoài tác phẩm, chừng nào mà ngời giáo viên trong giờ học cha bằng

tài năng nghệ thuật của mình làm “xuất hiện nhân vật thứ 3 (nhà văn) tạo ra mối quan hệ trực tiếp giữa học sinh và nhà văn thông qua tác phẩm” thì chừng

đó hiệu quả văn chơng còn khuất lấp, mờ nhạt và tình trạng học sinh khôngmấy hứng thú, say mê là điều dễ hiểu

Ngoài những biện pháp s phạm cần thiết, cần có sự đổi mới về hớng khai

thác mới cho tác phẩm “Vợ nhặt” Sách giáo viên và các tài liệu hớng dẫn

giảng dạy cũng nên có những đổi mới về nội dung và phơng pháp để trang giáo

Ngày đăng: 28/07/2023, 15:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w