đ-Trớc những đòi hỏi của công tác nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam, cũng nh theo yêu cầu về hớng nghiên cứu của cơ sở đào tạo sau đại học - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Min
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, sự nghiệp dựng
n-ớc và giữ nn-ớc là nội dung xuyên suốt Sự nghiệp ấy chỉ thực sự giành đ ợcthắng lợi khi toàn thể nhân dân cùng quyết tâm đấu tranh chống thiên tai,
địch họa
Kế thừa truyền thống tốt đẹp đó, trên cơ sở tiếp thu một cách đúng
đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đãxác định rõ cách mạng là công việc của đông đảo nhân dân, của toàn thểdân tộc Để làm tròn sứ mạng lịch sử của mình, Đảng phải xây dựng khốiliên minh công-nông và trí thức để từ đó tập hợp, huy động đợc đông đảocác tầng lớp nhân dân vào MTDTTN - mặt trận đại đoàn kết dân tộc, mộttrong những động lực và nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Sự hình thành MTDTTN trong cách mạng Việt Nam do Đảng tổ chức
và lãnh đạo đã diễn ra trong một quá trình từ năm 1930 và đ ợc hoàn thiện
về đờng lối và tổ chức vào năm 1941 với sự ra đời của Việt Nam độc lập
đồng minh (Việt Minh)
Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (đợc thông qua tại Hội nghịthành lập Đảng 3/2/1930) đã thể hiện rõ quan điểm chiến lợc chống đếquốc và tay sai giành độc lập, tự do, thực hiện đại đoàn kết dân tộc Đó làchiến lợc đúng đắn để vận động xây dựng MTDTTN trong cách mạng, mở
đầu bằng Hội phản đế đồng minh ở Việt Nam Đây là điểm khởi đầu chomột cao trào đấu tranh rộng lớn và mạnh mẽ của quần chúng nhân dân d ới
sự lãnh đạo của Đảng mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh Đó cũng là một sựthật lịch sử minh chứng trên thực tế về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nớc vàkhối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong cuộc cách mạng theo đờng lốicách mạng vô sản, là giá trị to lớn của t tởng độc lập dân tộc, đoàn kết toàndân chống đế quốc và tay sai của lãnh tụ Hồ Chí Minh
Vì quyền lợi sinh tử của cả dân tộc, Đảng phải khơi dậy hết chí khícách mạng, tinh thần yêu nớc của các tầng lớp nhân dân, tập trung mọi lựclợng để thực hiện nhiệm vụ quan trọng nhất là giải phóng dân tộc, cứu n ớc.Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của cách mạng, công cuộc vận động xâydựng tổ chức MTVM đã đợc triển khai Việt Minh đã thực sự trở thànhtrung tâm tập hợp, đoàn kết các giai cấp, đảng phái chính trị và cá nhân yêunớc trong toàn quốc Đảng đã thông qua Việt Minh các cấp để vận động, tổchức và lãnh đạo nhân dân thực hiện chuẩn bị các điều kiện tiến tới khởi
Trang 2nghĩa vũ trang giành chính quyền Sự thành lập và hoạt động của Việt Minh
đã trở thành một nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cuộc Cách m ạngTháng Tám năm 1945 nh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đảng ta cóchính sách Mặt trận dân tộc đúng đắn, cho nên đã phát huy đợc truyền thống
đoàn kết và yêu nớc rất vẻ vang của dân tộc ta" [67, tr.605] "Đoàn kết trongMTVM, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nớcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa" [67, tr.604]
Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám cũng là thành công của ờng lối xây dựng lực lợng cách mạng mà Việt Minh là một hình ảnh tiêubiểu MTVM nh một mốc son đánh dấu sự trởng thành vợt bậc củaMTDTTN trong cách mạng Việt Nam
đ-Trớc những đòi hỏi của công tác nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam, cũng nh theo yêu cầu về hớng nghiên cứu của cơ sở đào tạo sau
đại học - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tôi chọn vấn đề:
"Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng lực lợng cách mạng trong Mặt trận dân tộc thống nhất những năm 1930 - 1945" làm đề tài luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam với hy vọng đónggóp một phần nhỏ vào công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễntrong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, mảng đề tài về xây dựng lực lợng cách mạng trongMTDTTN đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập nh:
- Lê Mậu Hãn (2003), Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam
d-ới ánh sáng t tởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Bá Linh (1997), Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng - ngọn
cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Văn Tạo (1959), Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của MTDTTN Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1.
Trang 3- Đặng Xuân Kỳ (1996): Phơng pháp cách mạng Hồ Chí Minh - Tập hợp, huy động lực lợng toàn dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng, Tạp
- Nguyễn Văn Hồng (1991), Mặt trận Việt Minh - con đờng hợp lực
có hiệu quả của cách mạng Việt Nam trong cảnh quan Đông Nam á những năm 40, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2.
- Nguyễn Tri Th (1990), Mặt trận Việt Minh vấn đề dân tộc và giai cấp, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4.
- Phạm Hồng Tung (2000), Tìm hiểu thêm về Mặt trận Việt Minh,
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2
- Nguyễn Xuân Thông (1995), T tởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự thể hiện trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1930-1954 , Luận
án phó tiến sĩ Khoa học lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Phùng Hữu Phú (chủ biên) (1995), Chiến lợc đại đoàn kết Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia
Các công trình trên đây đã nêu lên và phân tích đợc một số vấn đề cơbản liên quan đến đề tài mà tôi chọn để viết luận văn Tuy nhiên, cần đi sâuhơn nữa và tập trung phân tích những luận điểm của Hồ Chí Minh và Đảng
ta về vấn đề xây dựng lực lợng cách mạng, tập hợp các giai cấp, tầng lớp,các thành phần dân tộc, tôn giáo trong xã hội vào MTDTTN d ới sự lãnh đạocủa Đảng - nhân tố vô cùng quan trọng làm nên những thành công vĩ đạicủa cách mạng Việt Nam Đồng thời, cần làm sáng tỏ hơn nữa những bốicảnh quốc tế và trong nớc cũng nh quá trình Hồ Chí Minh và Đảng ta đãvận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong đ ờng lối chiến l-
ợc, sách lợc cách mạng nói chung và vấn đề xây dựng lực lợng cách mạngnói riêng
Qua đó, trên cơ sở khoa học chắc chắn, cần phân tích rõ hơn nhữngvấn đề thực tiễn để chứng tỏ tính đúng đắn trong đờng lối lãnh đạo cáchmạng của Đảng Xây dựng lực lợng cách mạng trong MTDTTN những năm
1930 - 1945 không chỉ là một chiến lợc cách mạng có tính chất quyết địnhthành công của Cách mạng Tháng Tám mà mãi mãi là bài học quý báu về
Trang 4đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Mặt trận dân tộc rộng rãi góp phần vàothực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới hiện nay.
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
- Làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong việc đề ra vàthực hiện chiến lợc đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và tập hợp mọi lực l ợngyêu nớc, tiến bộ trong xã hội vào MTDTTN, tạo nên sức mạnh to lớn chocách mạng
- Nâng cao nhận thức lý luận: cách mạng là sự nghiệp của quần chúngnhân dân, sức mạnh của Đảng nằm trong mối quan hệ máu thịt với nhân dân
- Thông qua nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng lực lợngcách mạng trong MTDTTN những năm 1930 - 1945 chứng minh rằng: sứcmạnh của khối đại đoàn kết toàn dân chỉ đợc thực sự phát huy khi có sựlãnh đạo đúng đắn của Đảng
3.2 Nhiệm vụ
- Trình bày những nhận thức đúng đắn và sáng tạo của Hồ Chí Minh
và Đảng ta về chiến lợc xây dựng lực lợng cách mạng trong điều kiện mộtnớc thuộc địa, nửa phong kiến
- Phân tích những nội dung cơ bản đờng lối xây dựng lực lợng cáchmạng trong MTDTTN kể từ khi có Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSViệt Nam
- Thông qua quá trình lãnh đạo xây dựng lực lợng cách mạng trongcác hình thức Mặt trận từ năm 1930 đến năm 1945, chứng minh tính đúng
đắn sáng tạo, những giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của đ ờng lối cáchmạng đợc Hồ Chí Minh và Đảng ta đề ra từ khi mới thành lập Đảng Đó lànghệ thuật và phơng pháp cách mạng tài tình, thể hiện khả năng lãnh đạokết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh đoàn kết toàndân với đoàn kết quốc tế làm nên sức mạnh tổng hợp to lớn quyết địnhthành công của cách mạng
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung lịch sử ĐCS Việt Nam giai
đoạn từ năm 1930 đến năm 1945, trong đó phân tích những quan điểm của
Đảng ta về xây dựng lực lợng cách mạng thể hiện trong Cơng lĩnh chính trị
đầu tiên (thông qua tại Hội nghị hợp nhất 3-2-1930) Qua thực tiễn các thời kỳcách mạng 1930 - 1935; 1936 - 1939 và 1939 - 1945, phân tích quá trình lãnh
đạo xây dựng lực lợng cách mạng, thành lập các tổ chức Mặt trận thông qua
Trang 5các văn kiện chủ yếu: Hội nghị thành lập Đảng, Đại hội lần thứ nhất ĐCS
Đông Dơng (1935) và các Hội nghị Trung ơng (11-1939); (11-1940) và đặcbiệt là HNTW (5-1941) do Hồ Chí Minh chủ trì Dựa trên tính chất, nguyênnhân thành công và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám để đánh giávai trò của MTDTTN trong cách mạng giải phóng dân tộc dới sự lãnh đạo của
Để thực hiện những mục đích nghiên cứu đã đề ra, trong luận văn tácgiả đã sử dụng các nguồn tài liệu nh: các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩaMác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, văn kiện Đảng qua các thời kỳ và các côngtrình nghiên cứu thuộc các chuyên ngành: lịch sử; lịch sử ĐCS Việt Nam;CNXH khoa học; xây dựng Đảng; các tác phẩm nghiên cứu về t tởng Hồ ChíMinh và các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Đánh giá tính đúng đắn và sáng tạo đờng lối lãnh đạo xây dựng lựclợng cách mạng trong MTDTTN của Đảng ta trong những năm1930 - 1945.Góp phần làm rõ hơn nữa khả năng sáng tạo và phát triển trong t duy lýluận cũng nh lãnh đạo, tổ chức thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ĐCSViệt Nam từ khi Đảng mới ra đời cho đến Cách mạng Tháng Tám năm1945
- Góp phần nâng cao nhận thức lý luận về nguyên lý cách mạng là sựnghiệp của quần chúng và phơng châm: đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết -thành công, thành công, đại thành công
- Khẳng định vấn đề xây dựng lực lợng cách mạng, tập hợp mọi lực ợng yêu nớc trong MTDTTN là một nội dung chiến lợc của cách mạng và lànhiệm vụ to lớn của toàn Đảng, toàn dân Tiếp tục đề cao vai trò lãnh đạocủa Đảng đối với các tổ chức quần chúng nói chung và đối với Mặt trận Tổquốc Việt Nam nói riêng
Trang 6l-7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn khẳng định rõ hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân
tố quyết định cho mọi thành công của cách mạng Đảng không những đãnhận thức đúng đắn mà còn vận dụng sáng tạo, lãnh đạo và tổ chức thắnglợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở huy động, tập hợp mọi lực l ợngnhằm thực hiện cho kỳ đợc mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
đấu tranh chống các biểu hiện cô độc, hẹp hòi, bảo thủ; "tả", hữu khuynh trong việc vận động tập hợp và tổ chức quần chúng đoàn kết xung quanh
Đảng, góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn về bản chất và vai trò của
Đảng ta trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụcho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn học lịch sử ĐCS ViệtNam và các môn học khoa học xã hội có liên quan
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm 2 chơng, 5 tiết
Trang 7Chơng 1
Quan điểm chiến lợc của Đảng cộng sản Việt Nam
về xây dựng lực lợng cách mạng thể hiện
trong cơng lĩnh chính trị đầu tiên
1.1 Vấn đề lực lợng trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đờng cách mạng vô sản ở Việt Nam
1.1.1 Đặc điểm xã hội Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, CNTB đã phát triển sang giai đoạn độcquyền và nhu cầu về thuộc địa càng trở nên cấp thiết đối với tất cả các nớc đếquốc Bằng u thế của các nớc có nền kinh tế TBCN phát triển sớm, đế quốc Pháp(cũng nh đế quốc Anh và một số đế quốc khác) đã nhanh chóng thôn tính nhiềuvùng đất làm thuộc địa cho mình
Nhìn lại xã hội Việt Nam trớc khi trở thành thuộc địa của thực dânPháp, chúng ta thấy nổi lên một số đặc điểm chủ yếu nh:
- Nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc chiếm địa vị chi phối toàn bộ cáchoạt động của nền kinh tế
- Giai cấp thống trị duy nhất lúc đó là vua và địa chủ phong kiến (bộphận chiếm hữu đại bộ phận ruộng đất trong xã hội) Giai cấp nông dân hầu
nh không có ruộng đất (chủ yếu làm thuê cho địa chủ hoặc lĩnh canh) Xã hộiViệt Nam ngoài hai giai cấp cơ bản đó đã có sự manh nha của những giai cấpmới nh: địa chủ t sản hoá hoặc nông dân, thợ thủ công mất việc (trở thành bộphận đầu tiên của giai cấp vô sản)
- Quyền lực nhà nớc tập trung trong tay vua, quan lại phong kiến và bộmáy trấn áp nhân dân Quyền chiếm hữu ruộng đất và bóc lột địa tô hoàn toàn
do địa chủ cờng hào trực tiếp và độc quyền nắm giữ
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự xâm lợc của thực dân Pháp thìquan hệ sản xuất TBCN cũng xâm nhập và dần làm biến đổi xã hội Việt Nam
Từ một nớc phong kiến, nớc ta trở thành nớc thuộc địa nửa phong kiến
So với xã hội phong kiến, đặc điểm chủ yếu của xã hội Việt Nam lúcnày là:
1 Quan hệ sản xuất TBCN đã xâm nhập vào, kinh tế hàng hoá và kinh
tế tiền tệ đợc mở rộng, từng bớc đẩy lùi và thu hẹp phạm vi của nền kinh tế tựcấp tự túc Một nền kinh tế với bộ mặt không hoàn toàn là phong kiến cũngkhông hoàn toàn là t bản chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thuộc địa và nửa phongkiến Để bóc lột, vơ vét nguồn lợi từ thuộc địa, Pháp thực hiện một chính sách
Trang 8kinh tế thực dân rất bảo thủ và phản động: "Duy trì phơng thức sản xuất phongkiến kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phơng thức sản xuất t bản chủnghĩa" [53, tr.27-28].
2 Do sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của quan hệ sản xuất TBCN vàchính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp mà nền sản xuất trong nớc
đã có những biến đổi sâu sắc Một số ngành công nghiệp ra đời nh khai thác
mỏ, giao thông vận tải, đờng sắt Quan hệ ruộng đất cũng không còn giữnguyên đợc hiện trạng và hình thức bóc lột đặc thù vốn có của nó
Sự phân hoá rõ rệt và sâu sắc trong xã hội đã tạo nên một cơ cấu giaicấp mới Ngoài giai cấp địa chủ và nông dân, bắt đầu xuất hiện các giai cấpkhác là công nhân, t sản, tiểu t sản thành thị, thậm chí trong giai cấp nông dâncòn phân hoá thành phú nông, trung nông và bần nông
3 Trong thời kỳ phong kiến, bộ máy nhà nớc trong xã hội Việt Nam dogiai cấp địa chủ độc quyền nắm giữ Sau khi thực dân Pháp xâm lợc, quyềnlực nhà nớc chuyển sang tay bọn t bản nớc ngoài, chúng trực tiếp nắm bộ máyquân sự, hành chính và t pháp Mọi quyền hành đều ở trong tay quan lại thốngtrị từ Toàn quyền đến Thống sứ, Khâm sứ, Thống đốc, Công sứ… Viên chức Viên chứcthuộc địa là loại ngời ăn bám, là gánh nặng trên lng nhân dân Việt Nam Hãyxem một phép so sánh của Nguyễn ái Quốc trong tác phẩm "Bản án chế độthực dân Pháp": " ở ấn Độ thuộc Anh, dân số là 325 triệu ngời, có 4.898 viênchức ngời Âu ở Đông Dơng thuộc Pháp, dân số 15 triệu ngời, có 4.300 viênchức ngời Âu" [73, tr.55]
Thực dân Pháp đã tạo nên một cơ sở xã hội làm chỗ dựa cho hệ thốngcai trị thuộc địa bao gồm giai cấp địa chủ phong kiến và tầng lớp t sản mạibản Chúng biến bộ máy cai trị của giai cấp phong kiến thành hệ thống tay saigiúp chúng bóc lột và đàn áp
4 Trớc kia, ở nớc ta phơng thức sản xuất phong kiến giữ địa vị thống trịthì lúc này đặc điểm đó đã không còn có thể duy trì đợc nh cũ trớc sự mở rộngcủa kinh tế hàng hoá, tiền tệ và của ngành giao thông vận tải
Trên đây là những nét chính về tính chất thuộc địa nửa phong kiến củaxã hội Việt Nam từ khi thực dân Pháp thiết lập ách thống trị cho đến Cáchmạng Tháng Tám 1945 Tuy nhiên, xã hội Việt Nam trong giai đoạn này, đặcbiệt là những năm đầu thế kỷ XX đến khi ĐCS Việt Nam ra đời, còn là thời kỳcủa những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và cải cách dân chủ Đó cũng lànhững đặc điểm dễ nhận thấy của xã hội Việt Nam Những phong trào DuyTân, Đông du, Đông Kinh nghĩa thục… Viên chức cho đến phong trào Việt Nam Quốc
Trang 9dân Đảng sau này không đơn thuần là chỉ đánh đuổi quân xâm lợc mà cònnhằm thực hiện chủ trơng xây dựng xã hội Việt Nam thành xã hội dân chủ tsản Tuy nhiên, sự thất bại của các phong trào nói trên đã chứng minh sự bấtlực của ý thức hệ t sản trớc các nhiệm vụ lịch sử
1.1.2 Giai cấp công nhân Việt Nam - lực lợng lãnh đạo cách mạng
Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành sớm hơn giai cấp t sản dântộc Công nhân Việt Nam xuất thân trực tiếp từ nông dân nghèo Thông quaquá trình bần cùng hoá mà nhiều ngời nông dân đã trở thành những công nhânlàm thuê cho chủ t bản Pháp Đó là lớp bần, cố nông sống lay lắt ở nông thôn
mà xiềng xích trói buộc họ là những mảnh công điền nhỏ bé Cuộc xâm lợccủa đế quốc Pháp vào Việt Nam đã đột nhiên cắt đứt sự phát triển liên tục củaxã hội Việt Nam, dù đang bế tắc, để chuyển vào một bớc ngoặt sang xã hộithuộc địa, nửa phong kiến Công cuộc khai thác, bóc lột thuộc địa này đòi hỏirất nhiều nhân công, do đó đội ngũ công nhân đầu tiên ra đời Rõ ràng, sựhình thành ngời công nhân ở Việt Nam không theo những bớc tuần tự, không
do những nguyên nhân kinh tế trong lòng xã hội phong kiến Những yếu tố đóquy định một thực tại là lớp công nhân đầu tiên chỉ ra đời trên cơ sở những ng-
ời nông dân bị bần cùng hoá Theo số liệu thống kê năm 1929: "Trong số 4 - 5vạn thợ mỏ thì có tới 60% đó là nông dân 2 tỉnh Nam Định, Thái Bình Nếutính cả nông dân 7 tỉnh đồng bằng Bắc kỳ thì tỷ lệ này lên tới 82%" [76,tr.74]
Sự xuất hiện giai cấp công nhân Việt Nam ngay từ đầu thế kỷ XXkhông những mang ý nghĩa to lớn rằng, từ đây Việt Nam bớc vào trận tuyến
đấu tranh của thời đại cách mạng vô sản, mà nó còn mở đầu một quá trìnhdiễn biến hoàn toàn mới của lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc.Giai cấp ấy không chỉ mới về ý nghĩa mà mới cả trong bản thân nó Kẻ thùtrực tiếp của giai cấp công nhân đồng thời là kẻ thù trực tiếp của dân tộc Nhthế, so với giai cấp công nhân ở các nớc khác, giai cấp công nhân Việt Nam
có những điểm chung về bản chất, nhng lại có những nét riêng về đặc điểmlịch sử Bản chất chung này cộng với những đặc điểm lịch sử riêng đã làm chogiai cấp công nhân là một giai cấp hoàn toàn mới mẻ trong khuôn khổ của xãhội Việt Nam lúc bấy giờ, đồng thời lại làm cho nó mang tính chất một sảnphẩm của hoàn cảnh Việt Nam:
Thứ nhất, Giai cấp công nhân nớc ta ra đời trớc giai cấp t sản dân tộc,
cùng với quá trình áp đặt chế độ cai trị và khai thác thuộc địa của thực dânPháp
Trang 10Thứ hai: Trong giai cấp công nhân nớc ta không có tầng lớp công nhân
quý tộc, tức là không có cơ sở xã hội cho chủ nghĩa cải lơng phát sinh để gâychia rẽ, phá hoại phong trào công nhân Đây cũng chính là đặc điểm lịch sửquy định đặc tính của giai cấp công nhân Việt Nam, với đa số xuất thân từtầng lớp bần cố nông
Thứ ba: Giai cấp công nhân Việt Nam sớm thành lập đợc chính đảng
của mình và sớm trởng thành về chính trị Hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác
- Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nớc Việt Nam của lãnh tụNguyễn ái Quốc đã giúp giai cấp công nhân Việt Nam phát triển vợt bậc vềchất lợng Bằng sự ra đời của ĐCS Việt Nam, mục tiêu giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp đã đợc ghi rõ trên ngọn cờ chiến đấu: "Làm t sản dânquyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"
Trong điều kiện một nớc thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhânViệt Nam ra đời muộn và có số lợng ít ỏi so với giai cấp công nhân các nớc tbản khác, việc xuất hiện một ĐCS với đầy đủ phẩm chất của một đảng mácxítchân chính đã chứng minh khả năng to lớn của giai cấp công nhân Việt Namtrong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng conngời mà chính họ là ngời lãnh đạo
Thứ t: Giai cấp công nhân Việt Nam có mối quan hệ máu thịt với giai cấp
nông dân, nơi mà từ đó họ xuất thân, là điều kiện cực kỳ thuận lợi để xây dựngkhối liên minh công - nông, tạo thành nguồn lực lợng to lớn của cách mạng
Lịch sử đã giao phó cho giai cấp công nhân sứ mệnh lãnh đạo cuộc đấutranh cách mạng của quần chúng nhân dân giành độc lập dân tộc, dân chủ,hoà bình và CNXH "Chính giai cấp công nhân là giai cấp đầu tiên trong lịch sửloài ngời đã nhìn thấy một cách đúng đắn lực lợng vĩ đại của quần chúng và chỉ
có lý luận của chủ nghĩa Mác, lý luận của giai cấp công nhân, mới nói lên đợcmột cách khoa học vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng" [15, tr.186] Nhngvai trò đó không phải bỗng nhiên mà có Phải có một đảng vững mạnh thì giaicấp công nhân mới thực hiện đợc vai trò lãnh đạo của mình
Chính Đảng ta đã thấy đợc lực lợng vĩ đại ấy của nông dân nên
đã nhận định nông dân cùng với công nhân, hợp thành đội quân chủlực của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dới sự lãnh đạo củachính đảng vô sản
Và cũng chỉ có Đảng ta đứng vững trên lập trờng và quan điểmcủa giai cấp công nhân mới nhận rõ tính chất quần chúng rộng rãicủa cách mạng dân tộc dân chủ Nớc ta bị đô hộ, dân tộc ta mất độc
Trang 11lập, cho nên mọi ngời Việt Nam yêu nớc, tán thành độc lập dân tộc
đều có thể trở thành lực lợng chống đế quốc Trên cơ sở ấy, chúng ta
có khả năng lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi bao gồm mọigiai cấp, tầng lớp và cá nhân yêu nớc [15, tr.191]
1.1.3 Lực lợng liên minh khác
a) Giai cấp nông dân và liên minh công - nông
Nông dân với t cách là một giai cấp sinh ra sớm và tồn tại trong xã hộirất lâu dài Đối với cách mạng Việt Nam, giai cấp nông dân là lực lợng liênminh to lớn nhất của giai cấp công nhân trong cách mạng giải phóng dân tộc,
nó là một trong những lực lợng cách mạng lớn nhất cùng với giai cấp côngnhân hợp thành quân chủ lực của cách mạng Vấn đề giai cấp nông dân ViệtNam đã trở thành một nội dung đặc biệt quan trọng trong chiến lợc, sách lợcxây dựng lực lợng cách mạng Đó là những nhận thức sáng tạo của Đảng đợcrút ra từ điều kiện thực tiễn kinh tế - xã hội Việt Nam - một nớc với đại đa sốdân c là ngời sản xuất nông nghiệp
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong lúc tiếp tục đối phó với hàng loạtcuộc khởi nghĩa và đấu tranh yêu nớc của các tầng lớp nhân dân Việt Nam,thực dân Pháp đã bắt đầu triển khai chơng trình khai thác thuộc địa lần thứnhất Kết quả là một số yếu tố của thành phần kinh tế TBCN (nh Ngân hàng
Đông Dơng, các công ty khai mỏ, một số đồn điền, hãng buôn, xí nghiệp vàmạng lới giao thông đờng sắt, đờng bộ … Viên chức) đã xuất hiện Nói đúng hơn lànhững thành phần này đợc ghép từ bên ngoài vào xã hội Việt Nam cổ truyềntrong điều kiện vẫn bảo tồn ở một mức độ đáng kể những tàn d của phơng thức sảnxuất phong kiến, (thể hiện rõ nhất là sự bảo tồn chế độ ruộng công cùng các thiếtchế thợng tầng phù hợp với nó trong các cộng đồng làng xã)
Thủ đoạn của thực dân Pháp ở Việt Nam là sử dụng giai cấp địa chủphong kiến làm chỗ dựa cho nền thống trị của chúng Vì thế, chúng tìm mọicách duy trì và cho phép phát triển mạnh thêm thành phần kinh tế của giai cấpnày Hàng loạt nghị định và sắc luật cấp đất lần lợt ban hành trong các năm
1913, 1918, 1926, 1928, 1929 của Toàn quyền Đông Dơng hoặc Chính phủPháp [80, tr.14] Chính sách cho vay của Ngân hàng Nông phố, việc khôngngừng tăng thuế trực thu (thuế ruộng đất, thuế thân và thuế nhân lực) và giánthu (thuế muối, thuế rợu, thuế thuốc phiện… Viên chức) của Nhà nớc thực dân, nạn giácả tăng vọt do chính sách độc quyền thơng mại của các công ty t bản Phápcùng sự thâm nhập ngày càng tăng của quan hệ hàng hoá - tiền tệ vào nôngthôn là một chuỗi nguyên nhân kinh tế và phi kinh tế khiến cho nông dân
Trang 12ngày càng bị phá sản, bần cùng và do đó ruộng đất ngày càng tập trung vàotrong tay giai cấp địa chủ Tính chung cho đến trớc Cách mạng Tháng Tám
1945, giai cấp địa chủ chỉ bằng khoảng 9% tổng số chủ ruộng trong cả nớcnhng lại tập trung trong tay trên 50% diện tích canh tác
Theo các số liệu thống kê, trớc Cách mạng Tháng Tám 1945, nông dânchiếm tới 97% tổng số hộ, nhng chỉ có khoảng 36% diện tích ruộng đất cả n-
ớc Ngoài ra, khoảng trên dới 40% số hộ nông dân có chút ít ruộng t, cònkhoảng từ 1/2 (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và 2/3 số hộ (Nam Kỳ) không có một
"tấc đất cắm dùi" Ruộng đất bình quân của một hộ tiểu nông ở nớc ta thấpnhất thế giới lúc bấy giờ Trong khi đó, số nông dân bị bần cùng hoá ngàycàng đông, nhng nền công nghiệp yếu ớt, què quặt ở thuộc địa không thể thudùng hết đợc Vì thế, số ngời kiếm đợc việc làm trong các đồn điền, hầm mỏ,
xí nghiệp… Viên chức chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số những ngời thất nghiệp ởnông thôn Hơn nữa, nhiều nông dân đã bỏ làng ra đi, nhng vì không chịu nổicuộc sống quá cực khổ và bi thảm ở đồn điền, ở hầm mỏ, họ tìm cách quay trở
về quê hơng, sống vất vởng với vài thớc ruộng công hoặc đi lang thang làmthuê kiếm ăn qua ngày Tính chất tù đọng không lối thoát của đội quân lao
động thất nghiệp và nửa thất nghiệp trong nông thôn ngày càng trầm trọng
Nh đã đề cập ở trên, chế độ bóc lột thuộc địa cổ điển của thực dânPháp, sự thích nghi toàn diện của nó đối với chế độ phong kiến (mà biểuhiện tập trung nhất là trong lĩnh vực kinh tế và tài chính) làm rõ hơn nộidung của mâu thuẫn dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc ở n ớc tatrong thời thuộc Pháp Nếu đi sâu vào tìm hiểu về gánh nặng thuế, địa tô,
nợ lãi của nông dân, chúng ta có thể còn hiểu rõ hơn động cơ chống đếquốc của nông dân cũng nh vì sao mà giai cấp này lại chịu đi theo và chịu
sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam Rất dễ nhận thấy một độngcơ của nông dân trong cuộc đấu tranh chống đế quốc đó là ruộng đất Song,thực tế việc cớp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp chỉ diễn ra tập trungtrong thập kỷ cuối của thế kỷ XIX và hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX, nóthực ra không trở thành động cơ trực tiếp, thờng xuyên và kéo dài của cuộc
đấu tranh chống đế quốc của dân tộc ta (mà lực l ợng chủ yếu là nông dân).Mặt khác, việc kiêm tính ruộng đất của địa chủ diễn ra trong thời cận đạilại chính là hậu quả của sự đói nghèo đến mức không có khả năng tích luỹcủa nông dân do phải chịu su thuế quá nặng nề Do đó, xét trên thực tế,
động cơ chủ yếu và trực tiếp của cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân, tr
-ớc hết là sự phản ứng của giai cấp này đối với gánh nặng thuế, địa tô, nợ lãi
Trang 13mà thực dân đế quốc và địa chủ phong kiến trút xuống đầu họ Điều này cóthể đợc minh chứng bằng thực tiễn phong trào chống thuế ở Trung Kỳ(1908), phong trào chống đế quốc của nông dân năm 1930 và Xô viết NghệTĩnh cũng nh cao trào chống đế quốc của nông dân Việt Nam trong cuộcvận động Cách mạng Tháng Tám 1945 Yêu cầu phải đ a ruộng đất về taynông dân bằng một cuộc cách mạng song song với việc xóa bỏ gánh nặngthuế, địa tô và nợ lãi của đế quốc và phong kiến nh đã ghi rõ trong Cơnglĩnh chính trị đầu tiên của ĐCS Việt Nam là phơng thức cơ bản để giảiquyết vấn đề nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ
Chính sách độc quyền bóc lột về kinh tế, chuyên chế về chính trị của đếquốc Pháp và phong kiến tay sai đã làm cho hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hộiViệt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với chủ nghĩa đế quốc xâmlợc và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủphong kiến ngày càng thêm sâu sắc Xã hội Việt Nam muốn phát triển phải
đồng thời giải quyết hai mâu thuẫn đó Vì vậy, xoá bỏ chế độ áp bức bóc lộtcủa chủ nghĩa đế quốc phải gắn liền với xoá bỏ chế độ áp bức bóc lột của thếlực phong kiến Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn liền với đấu tranhgiành dân chủ, tự do Dới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đãgiành đợc những thắng lợi to lớn, thực hiện trọn vẹn và tốt đẹp nguyện vọng
thiết tha là Độc lập, Tự do cho toàn thể nhân dân, trong đó có ớc mơ ngàn đời
của ngời nông dân, đó là ngời cày có ruộng
Sự ra đời của chủ nghĩa Lênin đánh dấu một bớc phát triển mới vĩ đạicủa lý luận cách mạng vô sản trên cơ sở của chủ nghĩa Mác V.I.Lênin đã nêulên rằng, cách mạng vô sản có thể nổ ra và có khả năng giành thắng lợi ở mộtnớc kém phát triển về phơng diện kinh tế, vì ở đó tuy giai cấp công nhân còntơng đối ít, nhng với lực lợng nông dân đông đảo, nếu thực hiện đợc sự lãnh
đạo của giai cấp vô sản đối với nông dân, thực hiện đợc sự liên minh giữacông nhân và nông dân thì sẽ có đợc một lực lợng cách mạng vô cùng mạnh
mẽ đủ sức đạp đổ bất cứ nền thống trị phản động nào
Vấn đề nông dân, liên minh công nông (sau này là liên minh công nông - trí) là một trong những vấn đề trọng yếu, có tính nguyên tắc của lý luậnmác xít về cách mạng vô sản Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ xu thếphát triển của thời đại và dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ ChíMinh đã nhận thức và lựa chọn đúng đắn con đ ờng vận động của cáchmạng, đó là con đờng cách mạng vô sản, gắn liền độc lập dân tộc vớiCNXH Lực lợng để thực hiện con đờng cách mạng đó là toàn thể nhân dânlao động Việt Nam mà nòng cốt là liên minh công - nông Quan niệm này
Trang 14-vợt lên trớc một loạt quan điểm cùng thời, mở ra một bớc đột phá trongnhận thức và t duy lý luận về xác định các lực lợng cách mạng
Quy luật lịch sử khách quan về vai trò quyết định của quần chúng công
- nông, quan hệ công - nông trong cách mạng vô sản đợc lãnh tụ Hồ Chí Minhkhái quát thành một nguyên lý phổ biến
Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nớc nôngnghiệp và nửa nông nghiệp nếu nh giai cấp vô sản cách mạng không
đợc quần chúng nông dân ủng hộ tích cực Đó là một sự thực hiểnnhiên đối với cả hai cuộc cách mạng - cách mạng t sản dân quyền
và cách mạng vô sản Ba cuộc cách mạng Nga, cuộc cách mạng vĩ
đại Trung Quốc và các cuộc đấu tranh cách mạng ở nhiều nớc khác
đã chứng minh rõ ràng điều đó [73, tr.413]
Từ kinh nghiệm thực tiễn và nhận thức lý luận sáng tạo, Hồ Chí Minh
đã cụ thể hoá thành cơng lĩnh hành động của ĐCS Việt Nam trong các vănkiện thành lập Đảng:
1 Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho
đợc đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp, mình lãnh đạo
đợc dân chúng
2 Đảng phải thu phục cho đợc đại bộ phận dân cày và phải dựavào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn thựcdân và phong kiến [21, tr 4]
Việc xác định động lực cách mạng và tơng quan lực lợng giai cấp trong
t tởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, việc xác định vai trò quyết địnhcủa khối liên minh công - nông dựa trên hai cơ sở chính
Một là: Trong điều kiện một nớc thuộc địa nửa phong kiến và ở một nớc
nông nghiệp lạc hậu, nông dân và công nhân chiếm đại đa số dân c, là lực ợng sản xuất cơ bản, trực tiếp tham gia cách mạng giải phóng dân tộc Vì thế,cách mạng chỉ có thể là sự nghiệp của hàng chục triệu quần chúng
l-Hai là: Khối liên minh công nhân - nông dân trở thành hạt nhân của khối
đại đoàn kết dân tộc, có thể tập hợp, thu hút mọi lực lợng yêu nớc, tiến bộ vàomột mặt trận chung vì mục tiêu độc lập dân tộc và "đi tới xã hội cộng sản" nhtrong Cơng lĩnh chính trị đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định
Trong th gửi Ban Thờng vụ Trung ơng nhân dịp chuẩn bị Đại hội toànquốc lần thứ II của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã viết:
ở nông dân, quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc gắn chặtvới nhau Chính tinh thần cách mạng mạnh mẽ và tình cảm dân tộc
Trang 15sâu sắc ấy đã làm cho nông dân ta tự nguyện thừa nhận sự lãnh đạocủa giai cấp công nhân và đi vào con đờng cách mạng đúng đắn.
Đối với nông dân, phải có cái gì thiết thực đối với đời sống của
họ, phải có cái gì xác thực, rõ ràng hợp với ý thức dân tộc của họ
Từ chủ trơng cách mạng đến thành phần cấu tạo với ngời sáng lập
và vị lãnh tụ anh minh là đồng chí Nguyễn ái Quốc, Đảng Cộng sản
Đông Dơng đã làm thoả mãn ớc vọng của nông dân Do đó nôngdân đã ủng hộ Đảng, đi theo Đảng và cùng với công nhân dấy lênnhững làn sóng đấu tranh dân tộc dân chủ cực kỳ mãnh liệt mà đỉnhcao là cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 [15, tr.119, 121, 122]
đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và t bản An Nam mà cha
rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ
đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lậphiến… Viên chức) thì phải đánh đổ[21, tr.4]
Về mặt lịch sử đã có ngời đặt câu hỏi rằng, trớc cuộc chiến tranh thếgiới thứ nhất (1914 - 1918) ở Việt Nam nếu t sản dân tộc cha phát triển thànhgiai cấp thì làm sao lại có đợc những cuộc vận động đấu tranh có tính chất tsản nh phong trào của Phan Bội Châu hay Đông Kinh Nghĩa Thục? Sự thực thìnhững phong trào dân tộc chống Pháp đầu thế kỷ XX đến cuối chiến tranh thếgiới thứ nhất, căn bản là có tính chất t sản Song, chúng ta thấy rằng, phongtrào có tính chất t sản chứ không phải là phong trào dân tộc do giai cấp t sảnlãnh đạo Cắt nghĩa rõ hơn vấn đề này, GS Trần Văn Giàu đã viết: "Nó có tínhchất t sản là vì nội dung, ý nghĩa của nó là chống đế quốc, vì độc lập dân tộc
là đòi hỏi thực hiện dân chủ (t sản), và khách quan cũng nh chủ quan, mục
đích cuộc vận động chống Pháp giành độc lập là để cho đợc phát triển nhNhật, Pháp, tức phát triển t bản" [33, tr.174]
Điều quan trọng cần chú ý là trong giai đoạn này tầng lớp có thể gọi là
t sản ở Việt Nam lại là bộ phận trên thực tế đợc hởng khá nhiều quyền lợi từ
đế quốc Pháp Còn các tầng lớp đang ủng hộ tài chính cho phong trào củaPhan Bội Châu, gửi con em theo Phan Bội Châu chính là tiểu t sản, phú nông,
Trang 16một lớp địa chủ, con cháu của những ngời ủng hộ phong trào Cần Vơng trớc
đó Cũng trong lúc này, ở trong nớc, những ngời ủng hộ phong trào ĐôngKinh nghĩa thục căn bản là tầng lớp tiểu t sản thành thị và một lực lợng nhànho yêu nớc
Nói một cách khác, trong nớc ta, chính những tầng lớp tiểu t sản có tinhthần chống đế quốc từ đầu thế kỷ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất đãlàm cơ sở cho tính chất t sản của phong trào dân tộc
Đó là những cơ sở quan trọng mà lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã thấy rất
rõ khi đặt bút thảo ra các văn kiện thành lập Đảng, vạch ra chiến lợc xây dựnglực lợng cho cách mạng giải phóng dân tộc MTDTTN do Đảng ta đề xớng là
sự liên minh giữa các giai cấp cách mạng theo một chơng trình hành độngnhất định để tập trung lực lợng chống đế quốc xâm lợc và bè lũ tay sai nhằmthực hiện giải phóng dân tộc Trong mặt trận, vừa có sự liên minh vừa có đấutranh với nhau nhằm giải quyết lợi ích riêng của mỗi giai cấp sao cho phù hợpvới lợi ích chung của cả dân tộc
Trong thời kỳ ĐCS Việt Nam ra đời, tuyên bố tôn chỉ mục đích củamình thì bản thân tầng lớp tiểu t sản, trí thức đợc xác định là một trong nhữnglực lợng mà công - nông có thể liên minh đợc ở họ, ngoài việc thể hiện ýthức chống đế quốc, mong muốn xây dựng đất nớc độc lập - dân chủ, thì chính
họ là bộ phận nhạy bén nhất, có trình độ và khả năng nhận thức lý luận cáchmạng tốt nhất Khi nhiệm vụ cứu nớc đợc lịch sử dân tộc giao phó cho nhữngngời vô sản và Đảng tiên phong của nó thì chính tiểu t sản và trí thức là lực l-ợng sớm giác ngộ ra rằng, giai cấp công nhân và nông dân là lực lợng thay thếxứng đáng nhất và bản thân họ cần đi chung con đờng này để có thể đảm bảo
đợc lợi ích của mình Lòng yêu nớc của họ đã đợc chứng minh trong lịch sử
đấu tranh và không ai có thể phủ nhận đợc Trong cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc, họ tỏ ra rất hăng hái và có hiệu quả Nhng nếu không có sự lãnh đạothì họ sẽ rất lừng chừng giữa hai con đờng cách mạng t sản và cách mạng vôsản Lập trờng cách mạng vô sản đã tiếp thêm lòng yêu nớc và tinh thần chiến
đấu vô cùng anh dũng của công - nông, củng cố vững chắc thêm lòng yêu nớccủa các giai cấp, tầng lớp khác Do đó, những ngời tiểu t sản, trí thức cũng cóthể nhận thức đợc rằng, đờng lối cách mạng vô sản, đờng lối xây dựng chế độdân chủ vô sản, có nhiều nội dung thống nhất với lý tởng của họ Cho nên,trong cuộc vận động chính trị to lớn để giải phóng dân tộc, những ngời cộngsản dứt khoát phải liên lạc, thu hút, tập hợp đợc tầng lớp này vào trong hàngngũ chiến đấu của mình
Trang 17Sách lợc vắn tắt năm 1930 của Đảng trong khi nói rằng phải lôi kéo cho
đợc tiểu t sản, trí thức, trung nông và các đảng phái tiến bộ (Thanh niên, TânViệt) đi về phe giai cấp vô sản có nhấn mạnh một điều là: "Đối với phú nông,trung, tiểu địa chủ và t bản An Nam mà cha rõ mặt phản cách mạng thì phảilợi dụng ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập" Sự thật lịch sử đã cho thấy giaicấp địa chủ Việt Nam từ lâu đã tự tách mình ra khỏi dân tộc, đầu hàng đếquốc để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của chúng, duy trì sự áp bức bóc lột đối vớinông dân Đảng chỉ rõ, không thể xây dựng MTDTTN trên đờng lối chính trịthoả hiệp vô nguyên tắc, càng không thể xây dựng trên sự hợp tác giữa bọn taysai, phản bội với các lực lợng cách mạng Về quan hệ giai cấp, giữa công -nông và địa chủ cơ bản là đối lập Cho nên, lập trờng của giai cấp công nhân
là xây dựng mặt trận dân tộc thật sự rộng rãi và thật sự đoàn kết Nhng giaicấp công nhân không chỉ đứng về quyền lợi của nhân dân mà còn đại diện choquyền lợi chung của dân tộc nữa Do đó, phải vạch rõ phơng hớng và đờng lối
đấu tranh của nông dân chống giai cấp địa chủ sao cho có lợi nhất đối vớicuộc đấu tranh chung của dân tộc chống đế quốc
Trong thực tế, giai cấp địa chủ Việt Nam thời kỳ này đã có sự phân hoá rõrệt Một bộ phận của giai cấp địa chủ (trung, tiểu địa chủ) không thoả mãn vớichính sách độc quyền, cai trị hà khắc của đế quốc Mặt khác, sự lớn mạnh củaphong trào công nông đã làm cho bộ phận trí thức xuất thân từ giai cấp địa chủ từthái độ cải lơng chuyển hẳn sang con đờng của cách mạng vô sản, đích thân họ
đã thuyết phục, lôi kéo gia đình mình tham gia vào phong trào cứu nớc
Đối với bộ phận địa chủ không theo đế quốc, có ý phục tùng cách mạngthì phải thực hiện giảm tô, giảm thuế, tức là thực hiện một bớc những cải cáchdân chủ về ruộng đất, đem lại lợi ích từng bớc cho nông dân để chuẩn bị tiến
đến thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện về ruộng đất:
Sự nhân nhợng ấy là một hình thức đấu tranh giữa nông dânvới địa chủ, nhng không thể là một hình thức liên minh hay thoảhiệp giữa nông dân với địa chủ Và làm nh vậy cũng có nghĩa là mởrộng mặt trận dân tộc, lôi kéo những phần tử có khuynh hớng dân chủnằm trong giai cấp địa chủ, những trí thức con cái địa chủ hay nhữngngời thân sĩ yêu nớc đứng hẳn về mặt trận dân tộc dân chủ chống đếquốc [15, tr.175]
Đờng lối xây dựng lực lợng trong MTDTTN của Đảng không những đãgiải quyết một cách đúng đắn lợi ích thiêng liêng của dân tộc, mà còn giảiquyết đúng đắn mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, để có thể phát huy lực l-
Trang 18ợng to lớn nhất, mạnh mẽ nhất của dân tộc là nông dân Chính nhờ đờng lối ấy
mà đã làm cho các tầng lớp khác trong nhân dân, kể cả những phần tử t sản cảilơng cũng ngả về phía cách mạng
Trong số các lực lợng tham gia liên minh chính trị rộng lớn do ĐCS tậphợp, thì giai cấp t sản dân tộc là thành phần rất quan trọng Điều này khôngchỉ thể hiện ở vấn đề tăng cờng lực lợng trong hàng ngũ chống đế quốc, taysai, giải phóng dân tộc mà còn là vấn đề thuộc về việc giải quyết hài hoà quan
hệ giai cấp - dân tộc trong lý luận chiến lợc cách mạng Bộ phận giai cấp t sảnViệt Nam tiến bộ có lòng yêu nớc, khát khao độc lập - tự do đã tự nguyện đứngvào hàng ngũ của MTDTTN dới sự lãnh đạo của ĐCS đã tạo ra một tầm ảnh h-ởng sâu rộng Trong thực tế, do uy tín chính trị của Đảng ta, do khả năng đoànkết, tập hợp tất cả các lực lợng chống đế quốc trong xã hội, kể cả những giai cấp
mà xét về nguyên tắc là đối lập về lợi ích đối với giai cấp vô sản, cho nên Đảng
ta đã tạo ra động lực thúc đẩy các giai cấp, tầng lớp khác còn do dự, lừng chừngmau tiến đến việc gia nhập MTDTTN
Hình thành từ thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai của đế quốc Pháp,hình thành sau giai cấp công nhân Việt Nam, t sản Việt Nam, trong đó cónhiều t sản công nghiệp tiến bộ và các nhà t bản bỏ vốn kinh doanh đồn điền,cây công nghiệp và ngân hàng, đã có ảnh hởng không chỉ trong nớc mà cảtrong khu vực Theo thống kê của một số công trình nghiên cứu trớc đây, cóthể kể đến một số cơ sở nh sau:
- Nhà máy gạch Hng Ký ở Yên Viên (trớc đây thuộc Bắc Ninh) của ôngTrần Văn Thanh (rộng 46.800m2, hơn 300 công nhân, mỗi năm bán gần 3triệu viên gạch, ngói)
Hãng tàu thuỷ của ông Nguyễn Hữu Thu chạy các tuyến Hải Phòng Hơng Cảng; Hải Phòng - Hồng Gai - Nam Định với nhiều tàu trọng tải lớn (từ
Trang 19- Hãng dệt "Nam Hng t nghiệp xã" do các ông Trơng Tấn Hà, TrơngHoành và 6 ngời nữa thành lập năm 1927, mở rộng thị trờng ở khu vực và cósức cạnh tranh với hàng châu Âu lúc đó.
- Xởng làm xà phòng của ông Trơng Văn Bền (1925), cạnh tranh đợc với xàphòng của Pháp, sau này đã có nhiều xởng khác mọc lên ở miền Nam
- Công ty in giấy và sách miền Tây của các ông Võ Văn Hinh, Trần ĐạiNghĩa Công ty này thành lập trong chiến tranh thế giới thứ nhất, sau này kinhdoanh cả khách sạn, ra tờ báo 'Tiếng gọi" (Appel) [33, tr.176 - 182]… Viên chức
Đã có rất nhiều nhà t sản Việt Nam sản xuất kinh doanh giỏi (cha kể
đến hàng chục nhà t sản lập trang trại, đồn điền lớn khác), có sức cạnh tranhcao Không những thế, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ tích cực đấutranh về chính trị, chống lại chính sách bảo hộ cho t bản ngoại quốc và t bảnmại bản của chính quyền thực dân Bằng chứng là đã có một số nhà t sản lớnnh: Trơng Văn Bền, Bùi Huy Tín, Nguyễn Hữu Thu có mặt trong các ban Hội
đồng quản hạt, Hội đồng địa hạt… Viên chức hoặc là việc họ xuất bản các tờ báo nh:
"Thực nghiệp dân báo", "Diễn đàn bản xứ", "Tiếng dội An Nam" (L'echo annamite) hay nh báo "Thần chung", "Phụ nữ Tân văn", "Tiếng Dân", "Trung Bắc” [33, tr.176 – 182]… Viên chức Đó là biểu hiện của sự phát triển vơn lên của giaicấp t sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh đòi tự do sản xuất kinh doanh… Viên chức mặc
dù màu sắc và xu hớng chính trị không hoàn toàn thống nhất Thực tế này đãphản ánh rõ nét mâu thuẫn giữa giai cấp t sản Việt Nam với chính quyền thựcdân Pháp và t sản mại bản (Điển hình là việc các nhà t sản Việt Nam bị chèn
ép, bị bao vây dẫn đến thua lỗ, phá sản nh: Bạch Thái Bởi, Phan TùngLong… Viên chức)
Đây là cơ sở để giai cấp công nhân có thể vận động, kêu gọi, thuyết phục,lôi kéo họ đứng về phía cách mạng Trong điều kiện của lịch sử Việt Nam nh đãphân tích, giai cấp t sản Việt Nam không thể đảm đơng đợc nhiệm vụ lãnh đạocách mạng cũng nh không thể đa ra đợc một chơng trình dân chủ thật sự rộng rãitrong điều kiện một quốc gia có tới hơn 90% dân số là nông dân Đứng trên quan
điểm đó, họ không thể nào xây dựng một MTDTTN đợc Trong phong trào giảiphóng dân tộc, xu hớng cải lơng của t sản Việt Nam cha gây đợc ảnh hởng to lớncũng nh cha thể xây dựng đợc một phong trào có vị trí độc lập Thậm chí, có một
bộ phận trong đó còn làm tay sai cho đế quốc, lừa gạt quần chúng Một số khácmới đa phong trào vào hoạt động đã bị đế quốc dập tắt nhanh chóng, rốt cuộc chỉbiến thành những phong trào cải lơng về văn hoá Từ những năm 1930 - 1931 vềsau, giai cấp t sản và tầng lớp tiểu t sản vẫn yếu ớt, họ không những không thể
Trang 20lãnh đạo đợc một phong trào cải lơng về chính trị nào (trong thời kỳ đấu tranh
đòi cải cách dân chủ 1936 - 1939 là phong trào của quần chúng cách mạng chứkhông phải là phong trào cải lơng có tính chất t sản) Cho nên, chỉ có dựa trênphong trào cách mạng của công nông thì lực lợng dân chủ nói chung mới có chỗdựa, và chỉ có hoà mình vào phong trào cách mạng của công nông thì lực lợngcủa t sản Việt Nam mới đợc phát huy hết trong cuộc đấu tranh chống đế quốc
Đây là điểm quan trọng mà lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã phát hiện và xây dựngthành quan điểm chiến lợc liên minh giai cấp, tập hợp lực lợng trong MTDTTNcủa Đảng
Nếu nh Đại hội VI QTCS (1928) thể hiện thái độ quay lng lại với giaicấp t sản dân tộc thì Nguyễn ái Quốc đã nhìn thấy sức mạnh kinh tế và chínhtrị từ phía giai cấp t sản Việt Nam Bằng lý luận về cách mạng giải phóng dântộc, Nguyễn ái Quốc đã xác định bộ phận tiến bộ, có tinh thần độc lập dântộc trong giai cấp t sản là một lực lợng quan trọng cần phải đoàn kết, thu phục.Cùng với tiểu t sản, trí thức, trung nông, trung tiểu địa chủ và t sản dân tộchợp thành liên minh đoàn kết chống đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộctrên nền tảng liên minh công - nông vững chắc và sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng
Mặt trận của chúng ta là mặt trận dân tộc và dân chủ, là mặt trận phản
đế, phản phong cho nên phải giải quyết trớc hết vấn đề độc lập cho dân tộc và
dân chủ cho nhân dân Do đó, cần xác định giai cấp t sản Việt Nam (trừ t sảnmại bản) là đối tợng đoàn kết của công nông mà không phải là lực lợng chủ yếucủa cách mạng dân tộc dân chủ Họ cũng không thể là một thành viên chủ yếucủa mặt trận, lại càng không thể là ngời lãnh đạo mặt trận, giai cấp công nhânphải ra sức giáo dục, cải tạo họ, chủ động và thành thật trong khi đoàn kết với họ,thực hiện chính sách xây dựng mặt trận đoàn kết, rộng rãi, lâu dài và toàndiện
* Các tổ chức, đảng phái chính trị, tôn giáo:
Trớc hết, cần khẳng định rõ quan điểm của Đảng là phải cố gắng đoànkết, thu phục cho đợc các đảng phái, tổ chức chính trị, tôn giáo có tinh thầndân tộc, chống đế quốc, lôi kéo họ về phe lực lợng cách mạng, trong khi đóphải kiên quyết đánh đổ các đảng phái, tổ chức phản cách mạng, là tay sai cho
đế quốc Cho nên, vấn đề đoàn kết, tập hợp các lực lợng này không đơn giảnchỉ là tăng cờng lực lợng cho Đảng, giành lại quần chúng trớc sự lôi kéo thâm
độc của kẻ thù, mà còn là vấn đề giải quyết hợp lý những mâu thuẫn tất yếutrong nội bộ mặt trận, tìm ra những điểm thống nhất giữa các bộ phận đó trêncơ sở mục tiêu cao cả, thiêng liêng là đánh đổ đế quốc tay sai, giành độc lập
Trang 21dân tộc để xây dựng một cơng lĩnh hành động của mặt trận có thể vận động, pháthuy tối đa mọi lực lợng đã có và có thể có trong cuộc đấu tranh ấy.
"Sách lợc vắn tắt" năm 1930 đã ghi rõ: "Đảng phải hết sức liên lạc vớitiểu t sản, trí thức, trung nông (Thanh niên, Tân việt ) để kéo họ đi về phe vôsản giai cấp" Tuy nhiên, trong khi Đảng đa ra quan điểm này thì trên thực tếhai đảng Thanh Niên và Tân Việt không còn hoạt động nữa, những cơ sở củanhà yêu nớc Nguyễn An Ninh cũng tan rã từ đầu 1930, Việt Nam Quốc dân
Đảng sau thất bại ở Yên Bái đang trên đà tan rã và phân hoá quyết liệt Caotrào cách mạng 1930 - 1931 mà Đảng ta phát động có tính chất và lực lợngtham gia chủ yếu là công - nông
Trong lúc đó, đờng lối, quan điểm của Đảng tại hội nghị thành lập Đảng
đang vấp phải những khó khăn to lớn
Thứ nhất: ĐCS Việt Nam và Cơng lĩnh chính trị đầu tiên ra đời vào thời
điểm trong QTCS đang diễn ra "bớc ngoặt tả khuynh" Đặc biệt tại Đại hội lầnthứ VI (1928), Cơng lĩnh về phong trào cách mạng các nớc thuộc địa và phụthuộc thể hiện tính biệt phái, "tả khuynh" và tự mâu thuẫn, gây ra những ảnhhởng bất lợi cho phong trào cách mạng ở phơng Đông (rõ nhất là ở TrungQuốc, ấn Độ)
Thứ hai: Do ảnh hởng nặng nề những quan điểm của QTCS cũng nh cha
hiểu rõ tình hình và điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam nên Luận cơngchính trị của đồng chí Trần Phú (10-1930) bộc lộ sự thiếu sót, hạn chế đáng kểtrong đờng lối liên minh, đoàn kết giai cấp, dân tộc, đảng phái chính trị, tôngiáo Luận cơng đã đánh giá rằng: Đối với các đảng phái, những lực lợng khác
nh "bọn Huỳnh Thúc Kháng, bọn Phạm Quỳnh, bọn Ngọ Báo thì phải cô lập, phảichỉ rõ cái tính chất quốc gia cải lơng của bọn này ra"[21, tr.98] Thậm chí "Đảngphải nhận rõ các tính chất và địa vị các đảng phái tiểu t sản trong cuộc cáchmạng (nh bọn Quốc dân Đảng, Nguyễn An Ninh… Viên chức) phải phân tách giới hạn của
Đảng Cộng sản và các đảng phái tiểu t sản cho thiệt rõ, nhất là phải đánh đổ xuhớng tiểu t sản (ám sát, không tín nhiệm quần chúng… Viên chức) ở trong Đảng mình" [21,tr.99]
Thứ ba: Thực dân Pháp đang tiến hành "khủng bố trắng" đối với các cơ
sở và hoạt động của ĐCS Đông Dơng
Những khó khăn nói trên, trớc hết đã hạn chế rất lớn đến khả năng mởrộng thành phần cần phải tập hợp trong đờng lối của Đảng, làm suy yếu khả nănglôi kéo, đoàn kết các tổ chức đảng phái hiện có để thúc đẩy việc thành lập mộtMTDTTN đúng nghĩa (chỉ thị của Thờng vụ Trung ơng về vấn đề thành lập Hội
Trang 22phản đế đồng minh ngày 18/11/1930 là văn kiện đánh dấu bớc tiến đáng kể tronglịch sử nhận thức của Đảng trong lịch sử phong trào MTDTTN ở Việt Nam chứcha thể đa đến việc ra đời một MTDTTN thật sự do vấp phải quá trình khủng bốtàn khốc của thực dân Pháp) Trong lúc đó cùng với những biện pháp mua chuộc,
dụ dỗ giới kinh doanh ngời Việt, thực dân Pháp đã rất thâm độc khi tung một sốchức sắc tôn giáo làm tay sai tiến hành các hoạt động nhằm lũng đoạn tổ chứcGiáo hội thiên chúa, thành lập các hội chấn hng phật giáo ở Bắc và Trung Kỳ,phát triển các hình thức của Đạo Cao Đài ở Nam Kỳ
Trong hoàn cảnh đó, việc mở rộng mặt trận, đoàn kết rộng rãi các đảngphái chính trị, tôn giáo chỉ thực sự đợc đẩy mạnh vào thời kỳ thành lập Mặttrận dân chủ Đông Dơng (1936 - 1939) trở đi
Hoạt động đáng chú ý của Đảng ta trong thời điểm này còn là đấu tranhchống chủ nghĩa Tờ rốt xky ở Đông Dơng Đây là một số lợng không nhiều,chia thành các nhóm nhỏ, cha bao giờ có sự thống nhất về mặt tổ chức Cầm
đầu các tổ chức này là một số thanh niên trí thức, phần lớn xuất thân từ gia
đình địa chủ t sản theo học tại Pháp và tiếp thu chủ nghĩa Tờ rốt xky nh: TạThu Thâu, Hồ Hữu Tờng, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh… Viên chức trong nhữngnăm 1936 - 1939, lợi dụng những điều kiện hoạt động công khai hợp pháp,các nhóm này xuất bản báo chí len lỏi trong công nhân và tầng lớp trí thứctiểu t sản tuyên truyền học thuyết "cách mạng thờng trực" của Tờ rốt xkit,xuyên tạc chủ trơng, chính sách của ĐCS Đông Dơng Hoạt động của chúngchủ yếu là ở miền Nam
Trong thời kỳ vận động tổ chức Đại hội Đông Dơng và cả thời kỳ đấutranh của mặt trận dân chủ những năm 1937 - 1939, các lãnh tụ của Đảng ta
nh Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ… Viên chức liên tục đấu tranh vạch mặt bọn này đểquần chúng hiểu rõ bản chất giả dối của chúng Trong tác phẩm "Tự chỉ trích"
đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã khẳng định một số quan điểm của Đảng nh sau:
1) Đảng chỉ liên hiệp với các đảng phái cách mạng, các đảng phái cảilơng tán thành cách mạng, không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo,dân tộc chứ không thể liên hiệp với các đảng phái phản động, làm tay saicho đế quốc phát xít Đảng bác bỏ quan điểm sai lầm khi cho rằng "không
đánh đổ một giai cấp, một đảng phái nào của bản xứ, chỉ đánh đổ những phần
tử phản động"
2) Chính sách mặt trận của Đảng là chính sách vừa liên minh bên trênvừa liên minh bên dới, cô lập bọn phản động, tranh thủ những ngời tiến bộ và
Trang 23lừng chừng, tranh thủ đông đảo quần chúng trong các đảng phái cải lơng.
Đảng chủ trơng liên minh với các đảng phái cải lơng, nhng nếu trong đó cólãnh tụ phản động thì vận động quần chúng đánh đổ họ về mặt chính trị Cáchmạng không liên minh với đảng phái phản động, nhng phải thức tỉnh và tranhthủ những quần chúng lầm đờng lạc lối trong đảng phái ấy Đối với Đảng Lậphiến, quần chúng đã chán ghét bọn lãnh tụ phản động, đầu hàng thì vận độngquần chúng đánh đổ bọn đó… Viên chức
3) Trong điều kiện ở Đông Dơng, giai cấp t sản Việt Nam rất yếu hèn,
do đó các đảng phái và lãnh tụ t sản không có lực lợng và ảnh hởng gì đáng kểtrong quần chúng Vì vậy, trong quá trình liên minh với họ phải có quan điểm
đúng mực, vừa đoàn kết, vừa đấu tranh
4) Sách lợc mặt trận của Đảng cần phân biệt kẻ thù nguy hiểm nhiều với
kẻ thù nguy hiểm ít Sự phân biệt ấy cốt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũcủa chúng, tập trung mũi nhọn chống kẻ thù nguy hiểm nhất để xây dựng vàphát triển lực lợng cách mạng Bọn "Lập hiến" phản động có thể ít nguy hiểmhơn bọn Tờ rốt xkit, vì bọn trớc đã hoàn toàn lột mặt nạ, còn bọn sau quầnchúng lại nhầm tởng là cách mạng Nhng cả hai đều là phản động và đều phải
đánh đổ
Từ năm 1939 trở đi, đặc biệt là những năm quân đội phát xít Nhật chiếm
đóng Đông Dơng, các tổ chức chính đảng và các giáo phái của các nhóm trí thức,
tu sĩ mọc lên rất nhiều Giáo phái Cao Đài thân Nhật lớn nhất là Cao Đài TrầnQuang Vinh, tổ chức tôn giáo này có hàng triệu tín đồ ở Nam Bộ Bên cạnh đócòn có Hoà Hảo, vào những năm 40 của thế kỷ XX, giáo phái này đã tràn lên SàiGòn rất đông Tín đồ của Hoà Hảo có tới hàng chục vạn Về phía mình, phát xítNhật chủ trơng sử dụng giáo phái nhiều hơn là sử dụng các chính đảng làm taysai Cho nên, trong quá trình đoàn kết liên minh, Đảng ta không đợc xem thờngviệc lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ các giáo phái để chia rẽ, lôi kéo họ vềphía cách mạng Hoạt động tín ngỡng mang nhiều đặc điểm phức tạp và khó kiểm soát, ảnh hởng trực tiếp tới rất đông đảo quần chúng nhândân, chi phối hoạt động thực tiễn của hàng triệu con ngời, nếu không tranhthủ, lôi kéo đợc thì lực lợng này lập tức rơi vào bàn tay mua chuộc, lừa bịp của kẻthù Đó là cha kể đến hàng triệu tín đồ Thiên chúa giáo ở khắp nơi đang bị thựcdân Pháp và bè lũ tay sai lợi dụng, xúi giục chống phá cách mạng
Chính vì thế, quan điểm của Đảng trong lãnh đạo xây dựng lực lợngcũng nh tổ chức hoạt động của MTDTTN ở trong giai đoạn này là vừa ra sứctập hợp, lôi kéo đợc hàng ngũ các chức sắc tôn giáo về phía cách mạng, vừa
Trang 24đẩy mạnh tuyên truyền, giải thích rõ quan điểm, đờng lối của Đảng về các vấn
đề tôn giáo, chống lại luận điệu xuyên tạc, bôi xấu của các đối tợng phản
động tay sai Đảng lãnh đạo các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trịcủa Đảng để thu hút nhiều hơn quần chúng tham gia so với các tổ chức tôngiáo, tiến hành nhiều hoạt động, phát triển phong trào sâu rộng và mạnh mẽhơn để trong quá trình đấu tranh tạo ra những ảnh hởng, tác động tích cực đốivới số lợng quần chúng đang bị kẻ thù lợi dụng
Với uy tín và khả năng tổ chức của mình, chỉ trong một thời gian ngắn(cuối năm 1944 đầu năm 1945), Đảng ta đã vận động thành lập đợc các tổ chức
lớn ở Nam bộ, (tiêu biểu là tổ chức Thanh niên tiền phong) thu hút hàng chục
vạn thanh niên, công chức, lao động, thợ thủ công, các nhân sĩ trí thức thuộcnhiều tầng lớp xã hội, nhiều giới đồng bào tham gia, tạo thành một mặt trận dântộc rộng rãi và hoạt động mạnh mẽ, vợt xa các tổ chức đảng phái, tôn giáo lúcbấy giờ Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức này vào giai đoạn chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nớc đã có dấu hiệu vợt ra ngoài tầmkiểm soát (do phong trào lên quá nhanh và mạnh) nên Đảng ta đã có chỉ thịkịp thời uốn nắn: "Để thống nhất Đảng bộ Nam Kỳ, hãy kíp đi vào đờng lối"
[26, tr.142] (Bài đăng trên báo Cờ giải phóng số 15 ngày 17-7-1945).
Nói tóm lại, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong những năm 1930
-1945 không chỉ ở chỗ biết tổ chức và phát động đạo quân chủ lực mà còn biếtlấy đó làm chỗ dựa để tập hợp hết thảy các lực lợng yêu nớc có thể tập hợp đ-
ợc, dù bấp bênh, tạm thời, có điều kiện dù ít ỏi, không bỏ sót lực lợng nào Vìvậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn là thắng lợi của sự nổi dậy toàndân, sự đoàn kết, hợp tác của toàn thể đồng bào cả nớc Đặc biệt, Cách mạngTháng Tám còn là hình ảnh của sự đoàn kết đảng phái, tôn giáo, dân tộc trongviệc thực hiện nhiệm vụ quan trọng nhất là giải phóng dân tộc
c) Mối quan hệ với các lực lợng liên minh quốc tế
Những năm 20 của thế kỷ XX là thời gian Nguyễn ái Quốc thể hiện rõquan điểm liên minh quốc tế các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc chống chủnghĩa đế quốc trên toàn thế giới Từ "Hội liên hiệp thuộc địa" và xuất bản tờ
"Ngời cùng khổ" (Le Paria) đến hàng loạt bài nói, bài viết về chủ đề này tại rấtnhiều diễn đàn mà Ngời có điều kiện tham dự đã nói lên điều đó Toàn bộnhững nhận thức và hoạt động của Hồ Chí Minh từ những năm 20 của thế kỷtrớc đã làm nên một Hồ Chí Minh - một nhân cách lớn của tình đoàn kết quốc
tế, trong sáng, trung thực và rộng rãi
Trang 25Chúng ta đã nhiều lần khẳng định rằng, độc lập dân tộc là điểm xuất phát
và cũng chính là mục tiêu chủ yếu trong mọi hoạt động quốc tế của lãnh tụ HồChí Minh Coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, đặtcách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản trên thế giới, Hồ ChíMinh đã nhận thấy sự cần thiết phải giành đợc sự đồng tình ủng hộ của nhân dânthế giới đối với Việt Nam và khả năng đóng góp của cách mạng Việt Nam vào sựnghiệp cách mạng chung của nhân loại: "Chính vì đã biết kết hợp phong tràocách mạng nớc ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế vàcủa các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vợt qua đợc mọi khó khăn, đa giai cấpcông nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay" [73, tr.19]
Trong nội dung cuối cùng của Sách lợc vắn tắt năm 1930, Đảng ta đã khẳng định: "Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nớc An Nam độc lập, phải
đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản thếgiới, nhất là vô sản giai cấp Pháp" [21, tr.4-5]
Với đờng lối liên minh quốc tế đúng đắn, Đảng ta từ khi ra đời đã vợtlên tất cả các đảng phái khác về tầm nhận thức rộng lớn, cũng nh khả năng
động viên đợc trong thực tiễn lực lợng của đông đảo anh em, bầu bạn thế giớiủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc ta Nếu nh các phong trào hởng ứngchiếu Cần Vơng bị tách biệt với thế giới bên ngoài; một số cuộc vận động yêunớc đầu thế kỷ XX chỉ biết đặt niềm tin vào nhà nớc Nhật Bản khi ấy đangtrên đờng quân phiệt hoá bộ máy, hoặc chỉ biết mong chờ vào đế quốc Phápkhi ấy đã thực sự biến nớc ta thành một thuộc địa và tìm mọi cách để nớc tamãi mãi là thuộc địa của chúng thì Nguyễn ái Quốc đã nhìn thấy sức mạnhquốc tế là ở phong trào đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa, của giaicấp công nhân thế giới Vì thế, Ngời đã chủ trơng nối liền mối liên kết giữanhân dân Đông Dơng thuộc địa với ngời lao động và giới tiến bộ của nớcPháp Đờng lối ấy sau này trở thành một nét đặc biệt của cách mạng ViệtNam: không chỉ đoàn kết với nhân dân Đông Dơng chống kẻ thù chung màcòn đoàn kết với nhân dân Pháp trong cuộc đấu tranh chống thực dân Phápxâm lợc, đoàn kết với nhân dân Mỹ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ở ViệtNam Sự đồng tình và và ủng hộ của nhân dân Pháp, Mỹ và nhân dân thế giớixuất phát từ tính chất chính nghĩa của cách mạngViệt Nam, từ đờng lối liênminh quốc tế đúng đắn của Đảng ta và Hồ Chí Minh Điều đó đã tạo nên mộtnhân tố dẫn đến thắng lợi của cách mạngViệt Nam
Trang 26Tháng 7 năm 1935, trớc nguy cơ đe dọa nghiêm trọng của chủ nghĩaphát xít và chiến tranh thế giới, QTCS đã họp Đại hội lần thứ VII và đề ra chủtrơng quan trọng là thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc của giai cấp côngnhân và Mặt trận thống nhất nhân dân ở các nớc nhằm tập hợp rộng rãi cáctầng lớp nhân dân chống lại các thế lực đế quốc phản động, hiếu chiến nhất.Tháng 9 - 1939, chiến tranh thế giới bùng nổ, từ đó tình hình quốc tế và trongkhu vực thay đổi nhanh chóng Đây cũng là thời kỳ Đảng ta phải vơn lên, tựlực mạnh mẽ, sáng tạo, táo bạo và không đợc phép sai lầm để đa sự nghiệpgiải phóng dân tộc đi tới thắng lợi cuối cùng.
Trong quá trình đó, những khó khăn lại càng tăng thêm (việc liên lạcvới QTCS trở nên rất khó khăn, đến năm 1943 thì QTCS tự giải tán) khi việctham khảo, học tập kinh nghiệm thực tiễn của việc lập MTDTTN ở các nớcláng giềng và trong khu vực có thể nói là rất ít ỏi, hạn chế
Lúc này có thể nói là chỉ có một nơi duy nhất có thể cung cấp cho Đảngnhững kinh nghiệm thực tiễn (do có cả những điều kiện thông tin và qua lại
tiếp xúc) đó là Trung Quốc với Mặt trận kháng Nhật - một liên hiệp giữa ĐCS
Trung Quốc và Quốc Dân Đảng Trung Hoa hình thành năm 1937 Tuy nhiên,hoàn cảnh và những điều kiện cụ thể của tình hình Trung Quốc và Mặt trận ở
đó có nhiều khác biệt không nhỏ đối với nớc ta Điều này đòi hỏi Đảng ta cần cónhững quan điểm độc lập, sáng tạo khi tiếp thu kinh nghiệm của Trung Quốc
Nh vậy, quan điểm về liên minh với các lực lợng quốc tế mà Đảng tanêu ra trong Cơng lĩnh chính trị đầu tiên thực chất là luận điểm có tính chấtchiến lợc cho cả một thời kỳ cách mạng lâu dài, bởi vì trên thực tế việc vậndụng nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nh đã nói
Trong điều kiện Đảng ta và phong trào cách mạng nớc ta ở cách xanhững trung tâm và lực lợng cách mạng thế giới có khả năng giúp đỡ, Đảng ta
đã tự biến những bất lợi thành cơ hội để độc lập, sáng tạo đề ra một đờng lốichiến lợc và sách lợc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc trong hoàn cảnhChiến tranh thế giới thứ hai
Tháng 5 - 1941, dới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, HNTW lần thứ támcủa Đảng đã quyết định thành lập một tổ chức MTDTTN mới - Mặt trận ViệtMinh Nh một lôgic tất yếu từ t tởng cơ bản đại đoàn kết toàn dân tộc, chơngtrình của MTVM chủ trơng đoàn kết quốc tế:
Việt Minh lại sẵn sàng bắt tay các dân tộc bị áp bức châu á,nhất là các dân tộc Tàu, Triều Tiên, Miến Điện, ấn Độ, đặng cùngcác dân tộc ấy thành lập mặt trận liên minh chống đế quốc phát xít
Trang 27Việt Minh cũng không quên kêu gọi quần chúng cần lao Nhật Bản
và những ngời Pháp dân chủ hãy cùng dân tộc Việt Nam thống nhấthành động đánh đổ kẻ thù chung là phát xít Nhật và bọn Pháp gian[26, tr.461]
Trong bối cảnh khu vực và quốc tế có nhiều đổi thay quan trọng, vừatheo dõi những biến chuyển của cục diện quốc tế, nhất là diễn biến của chiếntranh, vừa nắm vững tình hình trong nớc đặc biệt là lực lợng so sánh giữa cáchmạng và thực dân, phát xít, Đảng ta đã luôn luôn có sự phân tích sâu sắc vớinhững phán đoán xa rộng để kịp thời đề ra những chủ trơng chính sách đúng
đắn bao gồm cả những vấn đề thuộc về quan hệ quốc tế đối với tình hình mỗithời kỳ, mỗi đối tợng cần liên minh dù là tạm thời hay phải đánh đổ nhằmmục tiêu đoàn kết nhân dân và giải phóng dân tộc
Thời kỳ từ năm 1941 đến năm 1945 là những năm Đảng đề ra nhiều chủtrơng, sách lợc về công tác đối ngoại Bản thân lãnh tụ Hồ Chí Minh và mặttrận Việt Minh đã có nhiều cố gắng lớn thiết lập các mối quan hệ quốc tế nhằmtạo nên những điều kiện thuận lợi mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Có thể
kể tới hai chuyến đi của Hồ Chí Minh sang Trung Quốc với t cách là lãnh tụ củaMTVM Nếu nh chuyến đi thứ nhất vào cuối 1942 - chuyến đi khiến Ngời phảingồi trong nhà tù đế quốc hơn một năm trời, song Ngời đã thiết lập đợc quan hệvới chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng, buộc họ phải bắt tay và chấp nhậnViệt Minh vào liên minh Trung - Việt chống Nhật, thì chuyến đi thứ hai vào đầunăm 1945 Hồ Chí Minh đã làm cho ngời Mỹ hiểu rõ Việt Minh là tổ chức chínhtrị mạnh nhất đang lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến đấu chống phát xít, thiếtlập đợc sự hợp tác chống Nhật mà sau đó kêu gọi đợc nhiều ngời Mỹ tới chiếnkhu Việt Bắc Đó là những thắng lợi ngoại giao quan trọng khẳng định vị trí và
ảnh hởng của MTVM - một tổ chức cách mạng to lớn, một thành viên của phedân chủ đồng minh chống phát xít Điều đó đã làm hạn chế một phần những âm
mu thâm độc của chính quyền Tởng Giới Thạch cũng nh những phần tử của phái
Đờ Gôn đối với phong trào cách mạng nớc ta
Có thể nói rằng, lịch sử phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam từnăm 1930 đến năm 1945 dới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đã chứng tỏ rằng,giai cấp công nhân Việt Nam đã gắn liền cách mạng Việt Nam với phong tràocông nhân và phong trào chống chủ nghĩa đế quốc, giải phóng dân tộc trêntoàn thế giới nên cách mạng Việt Nam đã giành đợc thắng lợi to lớn Đó là kếtquả của chiến lợc đoàn kết, liên minh quốc tế đúng đắn của Đảng Đó là điều
Trang 28mà ngoài giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng tiên phong của nó ra, các giaicấp khác trong xã hội Việt Nam không thể làm đợc.
1.2 ý nghĩa của vấn đề Đảng ta xác định lực lợng cách mạng trong cơng lĩnh chính trị đầu tiên
1.2.1 Là cơ sở để Đảng tập hợp lực lợng phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam
Vào cuối thế kỷ XIX, vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc đã trở thànhvấn đề có tính chất sống còn đối với vận mệnh và sự phát triển của đất nớc
Đánh đuổi thực dân Pháp và giành độc lập cho dân tộc là điều căn bản nhất,quan trọng nhất định hớng hành động cho nhiều xu hớng cứu nớc khác nhaulúc bấy giờ
Sự kết thúc của phong trào Cần Vơng và cuộc vận động dân tộc dân chủ
t sản trớc và trong thời điểm ĐCS Việt Nam ra đời có thể coi nh là những cốgắng cuối cùng và cao nhất của các đại diện giai cấp phong kiến và t sản dântộc Việt Nam Sai lầm trong việc lựa chọn con đờng cứu nớc đã khiến cho lựclợng lãnh đạo của hai giai cấp này không nhìn thấy hết đợc những bộ phậnquan trọng hợp thành sức mạnh dân tộc Yêu cầu cấp bách bắt buộc phải tậphợp tất thảy mọi lực lợng chống đế quốc trong xã hội, xây dựng thành mặttrận đoàn kết dân tộc rộng rãi với mục đích giải phóng dân tộc chỉ đợc thựchiện khi ĐCS Việt Nam đợc thành lập và công bố cơng lĩnh chính trị củamình
Những giá trị có tính lịch sử của t tởng Hồ Chí Minh trong đờng lối cáchmạng do Ngời xây dựng đã đợc toàn Đảng và toàn dân tiếp thu sâu sắc Nhữngthành công cụ thể trong tiến trình cách mạng Việt Nam sau này chính là nhữngbằng chứng đanh thép về giá trị lý luận và thực tiễn của Cơng lĩnh chính trị đầutiên Những cơ sở mà nó tạo ra đã trở thành hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo choquá trình tập hợp lực lợng trong MTDTTN của cách mạng Việt Nam:
Thứ nhất, Cơng lĩnh đặt vấn đề giải phóng dân tộc Việt Nam trong bối cảnh phát triển chung của thời đại gắn liền một cách hữu cơ quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc
Quan điểm giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, cách mạnggiải phóng dân tộc gắn với cách mạng XHCN đã phát huy cao nhất sức mạnhdân tộc, nhân lên gấp bội sức mạnh chống đế quốc trong các lực lợng xã hội,
đoàn kết đợc toàn bộ, không bỏ sót một lực lợng nào có yêu cầu chống thựcdân Pháp thực hiện độc lập dân tộc vào trong MTDTTN rộng lớn dới sự lãnh
đạo của Đảng Tính bền vững trong mối quan hệ cách mạng đó đợc tạo dựng
Trang 29một cách chủ động và tích cực, gắn bó hai chiều, tạo ra sự thống nhất cao độ
về t tởng và hành động của các lực lợng Sức hấp dẫn, lôi cuốn của Cơng lĩnhchính trị đầu tiên là ở chỗ, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, ba vấn đề quantrọng nhất: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội - giai cấp và giải phóng conngời đợc kết hợp biện chứng trong một chỉnh thể Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã
đấu tranh không mệt mỏi để bảo vệ và phát triển những t tởng cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin về vấn đề này trên cả hai phơng diện lý luận và thực tiễn,chống lại những quan niệm lệch lạc cùng thời hạ thấp phong trào giải phóngdân tộc và xem nhẹ vai trò của yếu tố dân tộc, sức mạnh dân tộc trong sựnghiệp cách mạng vô sản toàn thế giới
Thứ hai: Lần đầu tiên ở Việt Nam, vấn đề dân tộc đợc đặt ra trên cơ sở lập trờng của giai cấp công nhân
Từ nhận thức đúng đắn này, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc
và đặc biệt là vấn đề ruộng đất của nông dân đợc đặt ra nh một động lựcmạnh mẽ nhất thúc đẩy sự vùng dậy quyết liệt của quần chúng đông đảo màtrong đó chủ yếu là nông dân Đơng nhiên, những nhân tố nh giai cấp côngnhân là giai cấp tập trung và có tinh thần giác ngộ cách mạng cao, những
điều kiện quyết định vị trí của nó là giai cấp duy nhất tiêu biểu cho cuộccách mạng giải phóng dân tộc, là giai cấp duy nhất đặt đúng vấn đề nông
dân Nhng, điều quan trọng và có tính quyết định nhất đó là đờng lối chính trị của giai cấp công nhân Có đờng lối đó vì nó là giai cấp đại biểu
đầy đủ nhất cho ý thức dân tộc, dân chủ của nông dân Do địa vị của mình,giai cấp công nhân là giai cấp có khả năng giải quyết vấn đề quyền lợi dânchủ của nông dân là vấn đề ruộng đất một cách triệt để nhất Đó là nhữngcơ sở để giai cấp công nhân đề ra đờng lối liên minh chính trị giữa côngnhân và nông dân và với khối liên minh đó, công - nông có thể đoàn kết đ ợctất cả những giai cấp, tầng lớp, bộ phận yêu nớc khác tạo nên sức mạnh tolớn đa cách mạng đến thành công
Thứ ba: Những quan điểm cơ bản của Cơng lĩnh chính trị đầu tiên đã tránh đựơc những nhận thức máy móc, rập khuôn về quan điểm giai cấp trong QTCS và của nhiều ngời cách mạng Việt Nam
Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đềdân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc và dần dần đặt nó ở vị trí cao hơn
vấn đề giai cấp Trong tác phẩm Đờng kách mệnh, Ngời viết:" Dân tộc cách
mệnh thì cha phân giai cấp, nghĩa là sỹ, nông, công, thơng đều nhất trí chốnglại cờng quyền", nhấn mạnh "công nông là gốc cách mạng" còn học trò, nhà
buôn nhỏ, điền chủ nhỏ "là bầu bạn cách mạng của công nông" Đến Chính
Trang 30c-ơng vắn tắt và Sách lợc vắn tắt thì quan điểm này đợc phát triển thêm một
b-ớc Đây là những luận điểm rõ ràng về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc vàgiai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Đến HNTW lần thứ
8 (tháng 5 năm 1941) do chính Ngời chủ trì, mối quan hệ này đã đợc giảithích sáng tỏ: "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dới
sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc" [26, tr.113] Luận điểm quantrọng ấy đã đặt cơ sở cho việc tập hợp rộng rãi các lực lợng trong xã hội, xâydựng khối đại đoàn kết toàn dân, một vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sựtồn vong và phát triển của dân tộc Điều này hoàn toàn không có mâu thuẫn gìvới chủ nghĩa quốc tế chân chính bởi vì giai cấp công nhân là giai cấp nắmngọn cờ tiên phong trong cuộc cách mạng vô sản trên toàn thế giới trớc hết làgiai cấp dân tộc cụ thể, chính họ phải chịu trách nhiệm lịch sử trớc hết đối vớidân tộc mình, với đất nớc nơi mình đợc sinh ra Điều này cũng không hề mâuthuẫn gì với quan điểm giai cấp Đối với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam thìlại càng không Đảng ta khẳng định: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lậpcho đất nớc là một nhiệm vụ trớc tiên của Đảng và của cách mạng Đông Dơnghợp với nguyện vọng chung của tất cả nhân dân Đông Dơng Muốn làm trònnhiệm vụ đó, Đảng ta phải thống nhất lực lợng cách mạng của nhân dân ĐôngDơng dới một ngọn cờ thống nhất, tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các đảngphái, các dân tộc, các tôn giáo có tinh thần chống Pháp, chống Nhật thành thậtmuốn độc lập cho đất nớc thành một mặt trận cách mạng chung
Thứ t: Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tạo nền tảng, cơ sở cho việc giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc ở Đông Dơng.
Trong cuộc xâm lợc và chiếm đóng Đông Dơng làm thuộc địa, bằngviệc thiết lập cái gọi là "Liên bang Đông Dơng", thực dân Pháp đã xoá bỏ banớc Việt Nam, Miên (Cam-pu-chia), Lào trên bản đồ thế giới Nhng trên thực
tế ba nớc đó vẫn tồn tại với t cách là các dân tộc riêng biệt có truyền thống sâu xa
về lịch sử, văn hoá mà không một sức mạnh nào có thể xoá bỏ nổi Ba nớc cóquan hệ lâu đời về nhiều mặt, lúc này lại có chung một kẻ thù là thực dân Pháp.Song, đây cũng chính là chỗ để dẫn đến những cách hiểu đơn giản, dễ nhầm lẫn
giữa quan điểm quốc gia - dân tộc và dân tộc- tộc ngời Trong tác phẩm Đờng kách mệnh, một tác phẩm có ý nghĩa xác định phơng hớng chiến lợc cho cách
mạngViệt Nam, Nguyễn ái Quốc đã chính thức đặt cuộc cách mạng giải phóngdân tộc trong khuôn khổ từng quốc gia, trong đó có Việt Nam Đến Hội nghị
thành lập Đảng, trong Chính cơng vắn tắt và Sách lợc vắn tắt, Ngời đã xác định
rõ mục tiêu của cuộc cách mạng là: Làm cho nớc Nam hoàn toàn độc lập, khẳng
Trang 31định trên thực tế việc giải quyết vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc trongkhuôn khổ từng nớc ở Đông Dơng Tới HNTW lần thứ 8, với sự ra đời củaMTVM thì t tởng sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã đợc khẳng định dứtkhoát và chứng tỏ là rất đúng đắn
Theo Hồ Chí Minh, chỉ có trong một không gian địa lý - chính trị - kinh
tế thống nhất thì sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc mới đợc bảo đảm
Đây không chỉ là giải pháp tối u, là phơng pháp cách mạng đúng đắn dẫn đến
sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mà còn là cơng lĩnh hành
động và chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta trong suốt quá trình xây dựng tập hợp lựclợng, phát triển hình thức MTDTTN lên đến đỉnh cao nhất, tạo thành sức mạnh
vĩ đại cho công cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp - Mỹ và xây dựng đất
n-ớc Việt Nam độc lập - tự do - thống nhất, dân chủ và giàu mạnh
1.2.2 Là cơ sở cho chiến lợc đại đoàn kết toàn dân, cơ sở cho xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất trong nhiều thời kỳ
Có thể nói rằng, t tởng đại đoàn kết là hệ thống những quan điểm xuyênsuốt và nhất quán trong t duy lý luận và hoạt động thực tiễn của lãnh tụ HồChí Minh và Đảng ta nhằm tập hợp phát huy sức mạnh dân tộc, quốc tế vì mụctiêu độc lập, tự do và CNXH Với t cách là ngời sáng lập Đảng, Nguyễn áiQuốc đã xây dựng cơng lĩnh cách mạng, giải quyết nhuần nhuyễn và sáng tạocác mối quan hệ vô cùng phức tạp giữa dân tộc - giai cấp, quốc gia - quốc tế,
đa cách mạng Việt Nam hoà chung vào xu thế phát triển của thời đại Mộttrong những viên ngọc sáng nhất trong kho tàng t tởng mà Ngời cống hiến cho
Đảng ta, cho dân tộc ta là chuẩn bị từ rất sớm một chiến lợc, sách lợc cáchmạng nhằm khơi dậy và phát huy đến đỉnh cao sức mạnh của cộng đồng xãhội Từ lực lợng chí cốt cách mạng đến các tầng lớp trung gian, của từngcon ngời cụ thể đã tạo thành sức mạnh tổng lực, chĩa mũi nhọn đấu tranhvào các thế lực thù địch ngoan cố, phản động nhất T tởng của Ngời trở thànhlinh hồn của chiến lợc đại đoàn kết dân tộc - một bộ phận hữu cơ trong đờnglối lãnh đạo cách mạng của ĐCS Việt Nam
Những năm 1930 - 1945, châu á nói chung và Đông Nam á nói riêng
đã trở thành một trong những vùng “tâm bão” cách mạng mà đỉnh cao nhấtcủa nó chính là vào năm 1945, cùng với việc chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệthoàn toàn thì “nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang đua nhau tiến bớcgiành quyền độc lập” nh Hồ Chí Minh đã nhận định Trong hoàn cảnh thuộc
địa (hoặc nửa thuộc địa), để có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử, các lãnh tụ,các đảng dân tộc cách mạng ở các nớc Đông Nam á đã thành lập MTDTTN
Trang 32nhằm tập hợp lực lợng của dân tộc có hiệu quả nhất để đủ sức đánh bại kẻ thùcủa mình, tìm giải pháp phát triển cho đất nớc (Malaixia, Philippin, Mianma,Indônêxia ).
Nói chung, ở các nớc Đông Nam á trong những năm từ 1930 đến 1945
ý thức tập hợp lực lợng dân tộc đợc thể hiện là một nhu cầu rất bức xúc Cũngchính vì thế mà nó mang tính phổ biến Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử đã chứng
tỏ rằng, không một mặt trận dân tộc nào, một đất nớc nào ở Đông Nam á lại
đợc chuẩn bị một cách chu đáo, chặt chẽ và vững vàng từ lý luận đến tổ chức
nh việc xây dựng MTDTTN ở Việt Nam
Điểm khác biệt là ở Việt Nam, việc thành lập ĐCS đợc diễn ra trong
điều kiện một nớc thuộc địa nửa phong kiến, nơi lực lợng giai cấp công nhânnhỏ bé về số lợng nhng có thể lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, thựchiện một nớc Việt Nam tự do, độc lập theo định hớng cộng sản chủ nghĩa Xác
định đợc đờng lối cách mạng đúng đắn, thực hiện chiến lợc đoàn kết dân tộcrộng rãi, trong đó công nông là gốc của cách mạng, là một thành công to lớncủa Đảng Đờng lối đoàn kết dân tộc, tập hợp rộng rãi mọi lực lợng yêu nớcchống đế quốc vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc mà Hồ Chí Minh nêu
ra trong Cơng lĩnh đã dần dần đi vào ý thức đấu tranh của quần chúng
Để thực hiện sứ mệnh xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, lãnh đạo mặttrận, Đảng “phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất hoạt động nhất và chânthực nhất, chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãithừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì mới giành
đợc địa vị lãnh đạo” [25, tr.508] Đó là một luận điểm có giá trị lý luận vàthực tiễn sâu sắc thể hiện bản chất cách mạng, bản chất nhân dân và dân tộc của
Đảng ta Là một bớc phát triển cao, trên nền tảng quan điểm Đảng là thành viênmặt trận nhng là thành viên u tú, tích cực nhất, giữ vị trí lãnh đạo
Thực tiễn cách mạng cho thấy, nếu chỉ có công nông liên minh màkhông đoàn kết, tập hợp đợc rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp khác thì khôngthành mặt trận đợc Vấn đề này đợc Đảng ta tổng kết trong thời kỳ Việt Minh
- Liên Việt sau này: “Vấn đề mặt trận dân tộc thống nhất là vấn đề bạn đồngminh của giai cấp công nhân”
Theo quan điểm đó, nếu yếu tố cần là phải có liên minh công - nônglàm nền tảng cho mặt trận thì yếu tố đủ là phải đoàn kết đợc các giai tầng yêunớc khác mới thành mặt trận đợc Cụ thể, nếu không đoàn kết đợc các tầng lớpyêu nớc, mở rộng đợc hàng ngũ đồng minh thì chính những đồng minh đangphải tranh thủ, nhng không tranh thủ đợc ấy rốt cuộc sẽ lôi kéo nông dân -
Trang 33đồng minh lớn nhất và quan trọng nhất của giai cấp công nhân, phá hoại liênminh công - nông, cũng tức là phá hoại mặt trận Điều cần phải rút ra là đồngminh càng nhiều thì kẻ thù càng bị cô lập, liên minh công - nông càng vữngchắc thì cách mạng càng thắng lợi.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, trong thời kỳ 1930 - 1931, liênminh công - nông đợc xây dựng và củng cố qua cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh,nhng cha đoàn kết đợc nhiều giai cấp, tầng lớp yêu nớc, cho nên Hội phản đế
đồng minh xét về tổ chức thì cha hình thành Thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939) thực tế chỉ mới có mặt trận hành động chung, mặt trận có tính phongtrào dân chủ (1938 - 1939) chứ vẫn cha hình thành đợc mặt trận có tổ chức(tức là cha có Cơng lĩnh, điều lệ, cha có Ban Chấp hành của mặt trận) Chỉ đếnthời kỳ 1941 - 1945 khi HNTW lần thứ tám và sự ra đời của MTVM thì tổ chứcmặt trận mới đợc thành lập có tổ chức chặt chẽ, rộng khắp
Trong thế trận liên minh chính trị rộng lớn, tăng cờng lực lợng đồngminh với công - nông, bao vây cô lập kẻ thù, Đảng phải xác định đúng đối t-ợng cần đấu tranh mới tranh thủ xây dựng đội quân đồng minh lớn mạnh củamình một cách có hiệu quả Cần chống lại cách hiểu, cách làm nông cạn khicho rằng công tác mặt trận chỉ là đoàn kết dân tộc, đoàn kết càng rộng rãicàng tốt Đó là xu hớng đi vào con đờng thoả hiệp vô nguyên tắc Trong “Sáchlợc vắn tắt” Đảng đã xác định rõ: “Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rấtcẩn thận, không khi nào nhợng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đ-ờng thoả hiệp… Viên chức trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nớc Nam An độc lập,phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sảngiai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp” [21, tr.4-5] Quan điểm này đãxác định tính chất “thống nhất trong mâu thuẫn, đoàn kết có đấu tranh” trongnội bộ mặt trận, đó là nguyên lý vận động, phát triển có tính quy luật của mặttrận Nắm vững nguyên lý đó, Đảng ta đã tự tạo cho mình một thứ vũ khí vô
cùng lợi hại: Thống nhất dân tộc chống lại kẻ thù dân tộc Vấn đề đoàn kết với ai
đã đợc xác định rõ, nhng điều rất quan trọng là đấu tranh với kẻ thù nào? Tức làphải xác định thật rõ đối tợng, nhằm với hai mục đích:
Một là, thấy rõ kẻ thù chính cần đánh đổ để trong quá trình đấu tranh,
tìm mọi cách phân hoá sâu sắc hàng ngũ của chúng, bao vây cô lập chúngtrong thế trận liên minh cách mạng to lớn và vững chắc
Hai là, căn cứ vào đối tợng để có thể xác định đúng đắn các lực lợng
đồng minh cần tranh thủ
Trang 34Do xác định đối tợng của cách mạng là Pháp - Nhật (1940 - 1941),chúng ta cha thể thu hút đợc lực lợng phong kiến chống Nhật và những lực l-ợng thân Pháp cha bị Nhật đụng chạm tới Nhng, từ tháng 12-1941 trở đi, đốitợng của cách mạng chuyển thành Nhật - Pháp, rồi đến tháng 3-1945 đối tợng
đợc chỉ rõ là phát xít Nhật, lúc này ta đã có thể tranh thủ tất cả mọi lực lợngchống phát xít, kể cả Pháp kiều và Hoa kiều, riêng Hoa kiều lúc đó ở Đông D-
ơng có tới 50 vạn ngời
Nhận thức đúng là cơ sở tạo nên sức mạnh lớn Điểm khác biệt cần tiếptục nhấn mạnh trong cách mạng Việt Nam so với các nớc ở trong khu vựcchính là ĐCS Việt Nam đã nhận thức đúng đắn vai trò và tính chất củaMTDTTN Nắm vững các nguyên tắc xây dựng và lãnh đạo mặt trận với ph-
ơng châm: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đạithành công”, chiến lợc xây dựng MTDTTN trong nhiều thời kỳ của Đảng tangày càng đợc phát triển và hoàn thiện Điều này cắt nghĩa tại sao khi MTVM
ra đời đã có khả năng huy động đến mức tối đa lực lợng dân tộc, vận động và
tổ chức một cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc mạnh mẽ cha từng có "ViệtNam độc lập đồng minh", gọi tắt là Việt Minh, từ tên gọi đó đến cách tổ chức,phơng châm hoạt động và thành phần tham gia đều mang tính chất dân tộc sâusắc, có sức mạnh hiệu triệu, thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc của toàn dânnhằm đánh Pháp đuổi Nhật
Vợt qua hoàn cảnh của các tổ chức có tính chất cô độc, chật hẹp ởnhững năm đầu của thập niên 30, MTVM đã thực sự trở thành trung tâm tậphợp, đoàn kết các giai cấp, các đảng phái chính trị và các cá nhân yêu nớc
Đảng ta và Hồ Chí Minh đã thông qua Việt Minh các cấp để vận động, tổchức và lãnh đạo lực lợng dân tộc thực hiện nhiệm vụ trung tâm là chuẩn bị vàtiến lên khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền Hình ảnh các cơ sở “hoàntoàn” của Việt Minh nh: “ Xã hoàn toàn”, “Tổng hoàn toàn”, thậm chí có cả
“Châu hoàn toàn”, đã nói lên sức hấp dẫn của t tởng, mục tiêu đấu tranh vìmột nớc Việt Nam độc lập, tự do, chứng minh tính hiệu quả của chiến lợc vànghệ thuật động viên, tập hợp, tổ chức quần chúng tài tình của Đảng ta
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã diễn ra và thắng lợi bằng cuộc nổidậy đồng loạt của khởi nghĩa dân tộc trong cả nớc Cuộc vận động chính trịsâu rộng và mãnh liệt đó mang tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc Sức mạnhdân tộc đã đợc phát huy mạnh mẽ và triệt để trên cơ sở t tởng độc lập, tự do vàchiến lợc đại đoàn kết dân tộc MTVM chính là hiện thân của khối đoàn kếtdân tộc rộng rãi vì độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân mà lãnh tụ Hồ Chí
Trang 35Minh đã nêu ra ngay từ trong Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm
1930
Trang 36Thế giới đầu những năm 30 của thế kỷ XX đã chứng kiến những biến
động to lớn, phản ánh thời kỳ có những đổi thay căn bản về kinh tế, chính trị
và xã hội… Viên chức trên quy mô toàn cầu, lôi kéo tất cả những quốc gia, dân tộc vàvùng lãnh thổ vào vùng ảnh hởng của nó Cuộc khủng hoảng kinh tế mới toàndiện của CNTB từ năm 1929 đã chấm dứt thời kỳ tạm ổn định của nó (1923-1928) tạo thành cuộc tổng khủng hoảng trong hệ thống các quốc gia TBCNvới mức độ trầm trọng nhất từ trớc tới lúc bấy giờ
Tổng khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho 30.000.000 công nhân thấtnghiệp hoàn toàn, cha kể số lợng ngời nửa thất nghiệp lớn gấp đôi số đó Bộphận công nhân còn lại phải làm việc quần quật đến 15 giờ một ngày, trongkhi đó tiền lơng bị cắt giảm tới 30% - 40% [53, tr.107] Đời sống công nhâncàng thêm cơ cực Hàng chục triệu nông dân bị phá sản, mất đất, mất ruộng,
địa nổ ra một cách quyết liệt chống chính sách khủng bố trắng của chủ nghĩa
đế quốc
Trong khi CNTB rơi vào tổng khủng hoảng thì nền kinh tế ở Liên Xô,quốc gia XHCN đầu tiên trên thế giới đạt tốc độ phát triển phi thờng Từ năm
Trang 371928 đến năm 1932 (kế hoạch 5 năm lần thứ nhất), giá trị sản lợng côngnghiệp đạt tới 201% [53, tr.107] Tiền lơng bình quân hàng năm của công nhântăng từ 991 rúp năm 1930 đến 1.519 rúp năm 1932 Thu nhập quốc dân từ 29 tỷrúp tăng lên 50 tỷ rúp Năng suất lao động tăng vọt, thu nhập bình quân của nhândân năm 1933 vợt cả thu nhập bình quân của phú nông năm 1929.
Sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt của Liên Xô đã tạo ra những tác
động lớn đến tình hình kinh tế, chính trị thế giới nói chung và các nớc thuộc
địa, phụ thuộc nói riêng Đối với cách mạng Việt Nam, “Cần nói ngay rằngtrong khoảng thời gian này, khi thế giới t bản bị khủng hoảng rất nặng nề, thì
sự phát triển rất mau lẹ về kinh tế của Liên Xô quả là một vũ khí tuyên huấnrất sắc bén cho những đảng viên cộng sản Việt Nam, một nguồn tin tởng vôbiên” [33] Công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô lúc bấy giờ đã thể hiện rõsức mạnh, tính u việt của chế độ XHCN làm cho đông đảo quần chúng bị ápbức bóc lột trên toàn thế giới phấn khởi tin tởng Giai cấp công nhân, nhândân lao động trong các nớc t bản, các dân tộc bị áp bức hớng về Liên Xô, xem
đó là nguồn cổ vũ và chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng củamình Trớc sự lãnh đạo của ĐCS, phong trào đấu tranh ngày một dâng cao.Chỉ tính từ năm 1929 đến năm 1932, ở 15 nớc t bản lớn nhất (Anh, Pháp, Đức,Italya, Tây Ban Nha, Mỹ… Viên chức) đã có tới gần 19.000 cuộc bãi công với khoảng8.500.000 ngời tham gia [53, tr.108] Phong trào giải phóng dân tộc ở các nớcthuộc địa và nửa thuộc địa cũng diễn ra sôi nổi ở châu á, châu Phi và châu
Mỹ La tinh Cao trào cách mạng mới trên toàn thế giới đã bắt đầu bùng nổmạnh mẽ ở Đông Dơng, đế quốc Pháp rất hoang mang trớc những tin tức vềphong trào cách mạng thế giới, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của Liên Xô.Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử, vu khống Liên Xô vàtăng cờng khủng bố, bắt bớ Để đập tan những luận điệu lừa bịp của thực dânPháp, đồng thời góp phần tuyên truyền những hình ảnh tốt đẹp về Liên Xô
XHCN, đầu năm 1930, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã viết cuốn Nhật ký chìm tàu, phản ánh tình hình và ca ngợi cuộc sống hạnh phúc ở đây.
Đối với nớc Pháp, khủng hoảng kinh tế diễn ra đặc biệt nặng nề trongcác ngành công nghiệp nhẹ và kéo dài mãi đến năm 1936 Trong thời kỳ đó,sản lợng công nghiệp giảm một phần ba, riêng công nghiệp tơ lụa giảm mộtnửa Sản lợng nông nghiệp giảm 2/5 Thu nhập quốc dân giảm 1/3 Hàng triệucông nhân mất việc, hàng chục vạn tiểu thơng, tiểu chủ bị phá sản Riêng thunhập của ngời nông dân Pháp giảm 2,7 lần
Trang 38Bị lệ thuộc vào chính sách cai trị và nền kinh tế Pháp, nhân dân Đông Dơngphải gánh chịu những hậu quả nặng nề nhất Do vậy cuộc đấu tranh của các giaicấp, tầng lớp lao động bị áp bức ở đây cũng diễn ra nhiều và quyết liệt nhất.
Vào thời điểm này, phong trào đấu tranh theo đờng lối cách mạng vôsản tiếp tục vận động và phát triển theo những quan điểm chỉ đạo chung củaQTCS mà cụ thể nhất là Nghị quyết Đại hội lần thứ VI (1928) Đó là những
điều kiện khách quan cho sự phát triển về bề rộng và chiều sâu của nhữngcuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống CNTB
* Tình hình trong nớc
Tình hình chính trị Đông Dơng nói chung và Việt Nam nói riêng vàocuối năm 1929, đầu năm 1930 trở nên hết sức phức tạp Không chỉ có phongtrào công nhân (khi đó đã bớc lên trình độ tự giác) mà còn có phong trào quốcgia cách mạng của Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng Thanh niên, Đảng TânViệt và Thanh niên cao vọng Đảng Lúc này có ba vấn đề buộc các lãnh tụcộng sản phải đặc biệt chú ý:
- Thứ nhất: Trớc sự bất lực của giai cấp t sản Việt Nam, giai cấp vô sản
Việt Nam cần phải đứng ra thực hiện sứ mạng của mình trớc Tổ quốc, trớcnhân dân
- Thứ hai: Sự phát triển trong phong trào cách mạng ở Việt Nam đã dẫn
đến việc hình thành cùng lúc ba tổ chức cộng sản, dự báo một khả năng vận
động cách mạng mạnh mẽ song rất khó tổ chức lãnh đạo, tạo ra mâu thuẫn nội
bộ, gây chia rẽ và làm cho quần chúng hoang mang
- Thứ ba: Quần chúng đã chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc vận động
chính trị có tính chất cách mạng dân tộc dân chủ triệt để nhất để lật đổ áchthống trị của đế quốc và phong kiến, giành độc lập cho dân tộc và tự do chonhân dân
Nh trên đã trình bày, ở Việt Nam từ năm 1924 cho đến cuối những năm
20 giống nh một mảnh đất màu mỡ, trên đó các khuynh hớng chính trị đều
đua nhau xuất hiện, trình bày chơng trình hành động trớc quốc dân và ra sứctập hợp lực lợng quần chúng Trong tình hình rất phức tạp ấy, giai cấp t sản và
địa chủ tỏ ra không có khả năng lập một vài chính đảng có cơ sở vững, có hệthống toàn quốc, có quần chúng đông đảo Trái lại, lực lợng t sản cải lơng đã
ít ỏi lại lẻ tẻ, không đề ra đợc một chơng trình chính trị khả dĩ cho phép họ tựgọi là dân tộc, quốc gia thậm chí còn có những biểu hiện theo đuôi đế quốc
ở đây, chúng tôi không đi sâu phân tích về giai cấp địa chủ phongkiến Việt Nam, bởi vì cho đến giai đoạn cuối những năm 20 của thế kỷ XX,
Trang 39phong kiến Việt Nam đã bộc lộ thái độ tôi tớ và trở thành đồng minh trungthành của đế quốc Pháp, mặc dù trớc đó chính họ chủ xớng và lãnh đạophong trào kháng chiến (Cần Vơng) Tuy vậy, cần nói rõ rằng, không phảitoàn bộ địa chủ đều ôm chân đế quốc, có một bộ phận trong đó, đặc biệt làtrung, tiểu địa chủ vừa có mâu thuẫn với chính quyền thực dân, vừa có tinhthần dân tộc, do đó có thể tranh thủ lôi kéo, hoặc trung lập đợc họ nh trongCơng lĩnh đã chỉ rõ Tuy nhiên, xét về tính chất là lực lợng cách mạng cóthể tập hợp thì có thể nói cho đến gần năm 1930, khi phong trào đấu tranhphản đế, phản phong lên cao thì không còn một nhóm, một đảng cách mạngnào nói đến phong kiến nh là một lực lợng đồng minh hay là một nguồn lựclợng dữ trữ, một chỗ dựa… Viên chức
Tính chất của cách mạng Việt Nam là phản đế và phản phong, tính chấtphản đế đợc đặt lên trớc, vì nó quan trọng hơn, cấp thiết hơn Nhng khi nói
đến tính chất phản phong, cũng có nghĩa là nói đến việc phải huy động lực
l-ợng cách mạng của nông dân để thực hiện cuộc cách mạng đó Điều quantrọng lúc này là lực lợng xã hội nào có khả năng tổ chức, huy động đợc sức
đấu tranh của hàng chục triệu ngời ở nông thôn, và khi đã có thể huy động đợchàng chục triệu nông dân thì một trong những kết quả là có thể trung lập đợcmột bộ phận địa chủ, thậm chí có thể thu phục đợc một số trong đó Giai cấplàm đợc việc này chỉ có thể là giai cấp công nhân, vì giai cấp công nhân triệt
để chống thực dân nhất, họ đại diện cho lợi ích cả dân tộc Giai cấp t sản ViệtNam không làm đợc việc lãnh đạo này do chỗ bản thân nó yếu ớt, lại khôngthể có một chính đảng mạnh Mặt khác, do chính sách cai trị thuộc địa kiểuPháp đã khiến cho t sản Việt Nam trở nên gắn bó với địa chủ phong kiến (thểhiện rõ nhất là hiện tợng địa chủ t sản hoá ở Bắc Bộ và t sản địa chủ hoá ởNam Bộ)
ở trớc và trong giai đoạn này, chúng ta thấy rằng, tiểu t sản thành thị đã
tổ chức đợc một số phong trào dân tộc dân chủ khá sôi nổi Các phong trào đóbiểu thị thái độ cự tuyệt t tởng t sản cải lơng, thoả hiệp Nhng đáng tiếc làphong trào của họ bế tắc về đờng lối chính trị Thực ra, lúc này có nhiều trào
lu t tởng đã tác động vào họ: t tởng xã hội cải lơng của Phan Châu Trinh, t ởng Tam dân của Tôn Trung Sơn, t tởng bất bạo động của Ganđi và t tởngMác-Lênin của giai cấp vô sản Trong lúc đó, ở Trung Quốc láng giềng, pháihữu của giai cấp t sản ngày càng tỏ ra phản bội lợi ích dân tộc, tình hình nàycàng khiến cho t sản Việt Nam hoang mang dao động Thực tế thất bại củakhởi nghĩa Yên Bái đầu 1930 chính là sự gục ngã của Việt Nam quốc dân
t-Đảng- đại diện lớn nhất của t sản Việt Nam Bên cạnh đó, những hoạt động
Trang 40của tiểu t sản, trí thức và các hội có tính chất tôn giáo ở Nam Bộ đã đặt ra chonhững ngời cộng sản những yêu cầu có tính chất sách lợc nh:
- Đi sâu hơn nữa vào đời sống và phong trào đấu tranh của công nông
và quần chúng lao động, xem quần chúng nhân dân là trờng thành vững chắcnhất có thể bảo vệ an toàn cho ĐCS, xem đó là lực lợng đủ sức đánh đổ đếquốc và phong kiến
- Đấu tranh với t tởng chính trị t sản và tiểu t sản, thực hiện vai trò lãnh
đạo của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, chỉ có sựlãnh đạo của giai cấp công nhân thì cách mạng mới có thể thành công
- Trớc tình hình chuyển biến mau chóng và sự thức tỉnh có tính chất bớcngoặt về chính trị của nhân dân Việt Nam, trớc sự khủng bố của đế quốc phongkiến và hơn bao giờ hết, trớc sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam,không thể chần chừ, do dự thêm nữa trong việc thống nhất các lực lợng cộng sảnthành một đảng mác xít chân chính thống nhất và đoàn kết
- Đa Đảng bớc lên vũ đài chính trị, tiêu biểu cho quyền lợi dân tộc, tiếpnối phong trào dân tộc ở một trình độ cao hơn, với phạm vi rộng lớn hơn vàphải đợc đông đảo quần chúng đồng tình ủng hộ
Tình hình cách mạng lúc này đòi hỏi phải có một ngời đủ sức gánh váccông cuộc thống nhất các tổ chức cộng sản, chấm dứt sự chia rẽ kéo dài không
có lợi cho cách mạng Con ngời ấy là Nguyễn ái Quốc Đó là sự xuất hiện
đúng lúc và giải quyết triệt để những đòi hỏi của cách mạng Sự thống nhấtcác lực lợng cộng sản thành một đảng duy nhất có tôn chỉ, mục đích rõ ràng,
có cơng lĩnh chính trị đúng đắn đợc đông đảo quần chúng nhiệt liệt ủng hộ là
đặc điểm nổi bật nhất của tình hình Việt Nam lúc này Sự đoàn kết thống nhấttrong nội bộ tổ chức lãnh đạo và đờng lối đúng đắn mà nó đề ra chính lànguyên nhân tạo thành sức mạnh tập hợp lực lợng, đoàn kết đông đảo nhândân, liên minh chính trị rộng lớn và mạnh mẽ nhất từ trớc tới nay
Một đặc điểm của lịch sử hiện đại Việt Nam là ĐCS thành lập bằng sựthống nhất các lực lợng cộng sản trong lúc mà các đảng khác nh tiểu t sản hay
t sản không thể chịu nổi sức khủng bố của đế quốc, lần lợt bị tan vỡ hoàn toàn(Việt Nam quốc dân Đảng, Hội kín Nguyễn An Ninh… Viên chức), chỉ có ĐCS là chịu
đựng nổi sự khủng bố ngày càng tàn khốc của chính quyền thực dân Lịch sửViệt Nam từ 1930 trở đi chứng minh rằng:
- Đảng Cộng sản, phải là một Đảng có năng lực tập hợp và lãnh đạohàng triệu quần chúng ở thành thị và nông thôn đấu tranh, chứ hoàn toàn