SKKN: RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TOÁN BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH VÀ ỨNG DỤNG GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN THỰC TẾ BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH Ở TOÁN THCS ... PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài. Để thực hiện được mục tiêu giáo dục và để có một tiết dạy thành công thì việc vận dụng khai thác kiến thức các môn học nó rất cần thiết ở người thầy tính sáng tạo trong khâu tổ chức, thiết kế một giờ dạy, một sự nhào nặn nhuần nhuyễn không gượng ép, tạo ra một không khí, thái độ học tập tích cực giúp học sinh lĩnh hội tri thức, khám phá, phát hiện chiếm lĩnh tri thức mới. Toán học là một bộ môn khoa học tự nhiên mang tính logic và tính trừu tượng cao, nó là công cụ hỗ trợ cho các môn học khác. Thông qua bài học, giáo viên rèn luyện cho học sinh khả năng tính toán, suy luận logic, phát triển tư duy sáng tạo và đặc biệt là khả năng vận dụng một cách linh hoạt kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Từ đó, học sinh nhận thức được tầm quan trọng của môn Toán đối với thực tiễn, giúp các em phát triển toàn diện năng lực và nhân cách, tiếp tục học lên và trong con đường khởi nghiệp lao động năng động và sáng tạo. Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711QĐTTg ngày 1362012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học; Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi. Phương pháp dạy học truyền thống nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết, truyền thụ một chiều. Giáo viên là người truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá trình dạy học. Học sinh tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn mà không quan tâm đến việc vận dụng nên sản phẩm giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động. Hạn chế là: chủ yếu dạy học lý thuyết trên lớp học, chưa tổ chức hình thức học tập đa dạng; chưa chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo và đặc biệt là chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy. Vì vậy, giờ học Toán còn khô cứng, nhàm chán với học sinh, còn nhiều học sinh không có hứng thú học tập nên học sinh chưa có ý thức tự học, tự nghiên cứu, khả năng tự học chưa cao. ...
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TOÁN BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH VÀ ỨNG DỤNG GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN THỰC TẾ BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH Ở TOÁN THCS
Trang 2PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Để thực hiện được mục tiêu giáo dục và để có một tiết dạy thành công thì việc vận dụng khai thác kiến thức các môn học nó rất cần thiết ở người thầy tính sáng tạo trong khâu tổ chức, thiết kế một giờ dạy, một sự nhào nặn nhuần nhuyễn không gượng ép, tạo ra một không khí, thái độ học tập tích cực giúp học sinh lĩnh hội tri thức, khám phá, phát hiện chiếm lĩnh tri thức mới
Toán học là một bộ môn khoa học tự nhiên mang tính logic và tính trừu tượng cao, nó là công cụ hỗ trợ cho các môn học khác Thông qua bài học, giáo viên rèn luyện cho học sinh khả năng tính toán, suy luận logic, phát triển tư duy sáng tạo và đặc biệt là khả năng vận dụng một cách linh hoạt kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất Từ
đó, học sinh nhận thức được tầm quan trọng của môn Toán đối với thực tiễn, giúp các em phát triển toàn diện năng lực và nhân cách, tiếp tục học lên và trong con đường khởi nghiệp lao động năng động và sáng tạo
Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học”
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết
định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"; "Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi"
Phương pháp dạy học truyền thống nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết,
truyền thụ một chiều Giáo viên là người truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá
trình dạy học Học sinh tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn mà không quan tâm đến việc vận dụng nên sản phẩm giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động Hạn chế là: chủ yếu dạy học lý
Trang 3thuyết trên lớp học, chưa tổ chức hình thức học tập đa dạng; chưa chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo và đặc biệt là chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy Vì vậy, giờ học Toán còn khô cứng, nhàm chán với học sinh, còn nhiều học sinh không có hứng thú học tập nên học sinh chưa có ý thức tự học, tự nghiên cứu, khả năng tự học chưa cao
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm bộ môn Toán học của học sinh khối 9 của trường THCS thị trấn Yên Ninh chưa cao, cụ thể là:
62 hs (31%)
92 hs (46%)
0 hs (0%)
Kết quả điều tra đầu năm của học sinh khối 9 của trường THCS thị trấn Yên Ninh, khi trả lời câu hỏi về thời gian tự học bộ môn Toán học hay không? Kết quả còn thấp, cụ thể là:
Lớp Tổng số HS Có tự học môn Toán hay không?
Thường xuyên ít khi Không học
“Rèn kĩ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình và ứng dụng giải quyết các bài toán thực tế bằng cách lập phương trình”
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Qua quá trình giảng dạy và kiểm tra đánh giá việc tiếp thu của học sinh và khả năng vận dụng kiến thức để giải bài toán bằng cách lập phương trình của bộ môn đại số lớp 9, chúng tôi nhận thấy học sinh vận dụng các kiến thức toán học trong phần giải phương trình và giải bài toán bằng cách lập phương trình còn nhiều hạn chế và thiếu sót Đặc biệt là các em rất lúng túng khi vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các bài toán thực tế Đây là một phần kiến thức rất khó đối với các em học sinh lớp 9, bởi lẽ từ trước đến nay các em chỉ quen giải những dạng toán về tính giá trị của biểu thức hoặc giải những phương trình cho sẵn
Mặt khác do khả năng tư duy của các em còn hạn chế, các em gặp khó ang trong việc phân tích đề toán, suy luận, tìm mối liên hệ giữa các đại lượng, yếu tố trong bài toán nên không lập được phương trình Các em không hứng thú học tập
và nghiên cứu, tự tìm tòi, sáng tạo nên kết quả đánh giá chất lượng đầu năm của các em chưa cao Nhiều em nắm được lý thuyết rất chắc chắn nhưng khi áp dụng giải không được
Do vậy việc hướng dẫn giúp các em có kỹ năng lập phương trình để giải toán, ngoài việc nắm lý thuyết, thì các em phải biết vận dụng để giải quyết các vấn
đề trong môn học và trong thực tế, từ đó phát triển khả năng tư duy, đồng thời tạo hứng thú cho học sinh khi học nhằm nâng cao chất lượng môn học Vì vậy, nhóm giáo viên chúng tôi đã trình bày và thực hiện thử nghiệm một dự án nhỏ đối với môn Toán lớp 9 trong những năm học vừa qua và tiếp tục thực hiện trong năm học
2020 – 2021 này
3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 9, trường THCS thị trấn Yên Ninh, Yên Khánh, Móng Cái
- Giáo viên dạy bộ môn Toán trường THCS thị trấn Yên Ninh, Yên Khánh, Móng Cái
4 Nội dung nghiên cứu và kế hoạch dạy học
Sáng kiến tập trung nghiên cứu và thực hiện các vấn đề chính theo thứ tự như sau:
1 Lập kế hoạch giáo dục môn Toán cho học sinh lớp 9 (tháng 08/2020)
2 Khảo sát thực trạng của việc dạy và học phần giải bài toán bằng cách lập phương trình của học sinh khối 9 trường THCS thị trấn Yên Ninh, huyện Yên Khánh (đã học ở lớp 8) và tổng hợp phiếu điều tra (tháng 09/2020)
3 Đề xuất nội dung và biện pháp rèn kĩ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình và ứng dụng giải quyết các bài toán thực tế bằng cách lập phương trình (tháng 10/2020)
4 Triển khai nội dung sáng kiến cho tất cả các đồng chí cán bộ, giáo viên
Trang 5dạy toán ở trường THCS thị trấn Yên Ninh huyện Yên Khánh (tháng 12/2020)
5 Áp dụng sáng kiến vào ôn tập và bồi dưỡng cho học sinh khối 9 của trường THCS thị trấn Yên Ninh huyện Yên Khánh và hoàn thiện, bổ sung nội dung sáng kiến (tháng 04/2021)
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A Giải pháp cũ thường làm
Thông thường theo phương pháp dạy học cũ, giáo viên thường dạy như sau:
1 Cung cấp lí thuyết
2 Cho bài tập áp dụng
3 Gọi học sinh lên bảng trình bày Giáo viên chữa bài và nhận xét
4 Giao bài tập về nhà Học sinh chỉ làm các bài tập giáo viên đã giao
* Nhược điểm của giải pháp cũ thường làm là:
Với phương pháp dạy học này thì:
- Giáo viên là chủ thể, thuyết trình, chuyển tải kiến thức cho học sinh và học sinh là khách thể: nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo
- Học sinh tiếp thu kiến thức một cách hình thức và thụ động, thường học và
áp dụng một cách máy móc, ít liên hệ thực tế, làm cho học sinh ít có cơ hội phát triển tư duy sáng tạo, ít có cơ hội khai thác tìm tòi cái mới và kiến thức thực tế và hiểu biết xã hội của học sinh còn hạn chế và mang tính hàn lâm
- Tiết học còn nặng nề, khô cứng nên học sinh chưa phát huy được khả năng
tự học và tự tìm tòi khám phá tri thức mới Đặc biệt là trong những thời điểm thiên tai, dịch bệnh học sinh không thể đến trường thì rất ý thức tự giác, tự học của học sinh thì các em chưa có hoặc rất ít hiệu quả thấp
- Kết quả điểm thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT môn Toán của trường THCS thị trấn Yên Ninh còn thấp
B Giải pháp mới cải tiến:
Để khắc phục được những vấn đề mà giải pháp cũ chưa làm được, chúng tôi
đã đưa ra một số giải pháp mới cải tiến như sau:
1 Giải pháp 1: Rèn kỹ năng phân tích bài toán, đưa bài toán có lời văn về bài toán đại số bằng cách lập và giải phương trình
Khi bắt tay vào giải bài tập, một yêu cầu rất phần quan trọng, đó là phải đọc
kỹ đề bài, tự mình biết ghi tóm tắt đề bài, nếu tóm tắt được đề bài là các em đã hiểu được nội dung, yêu cầu của bài, từ đó biết được đại lượng nào đã biết, đại lượng nào chưa biết, mối quan hệ giữa các đại lượng
Cần hướng dẫn cho các em như tóm tắt đề bài như thế nào để làm toán, lên dạng tổng quát của phương trình, ghi được tóm tắt đề bài một cách ngắn gọn, toát
Trang 6lên được dạng tổng quát của phương trình thì các em sẽ lập phương trình được dễ dàng Đến đây coi như đã giải quyết được một phần lớn bài toán
Khó khăn nhất đối với học sinh là bước lập phương trình, các em không biết chọn đối tượng nào là ẩn, rồi điều kiện của ẩn ra sao? Điều này có thể khắc sâu cho học sinh là ở những bài tập đơn giản thì ta thường gọi ẩn trực tiếp (bài toán yêu cầu tìm đại lượng nào thì chọn đại lượng đó là ẩn) Còn điều kiện của ẩn dựa vào nội dung ý nghĩa thực tế của bài, song cũng cần phải biết được nên chọn đại lượng nào
là ẩn để khi lập ra phương trình bài toán, ta giải dễ dàng hơn Muốn lập được phương trình bài toán không bị sai thì một yêu cầu quan trọng là phải nắm được trong bài toán có những đối tượng nào, những đại lượng nào, mối quan hệ giữa các đại lượng
Học sinh phải nắm được một số công thức Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học như:
- Công thức thể hiện mối quan hệ giữa quãng đường, vận tốc và thời gian trong chuyển động đều
- Công thức thể hiện mối quan hệ giữa lượng công việc (sản phẩm) và năng suất lao động, thời gian làm việc
- Công thức tính khối lượng riêng của một vật
- Công thức tính nhiệt lượng trong quá trình trao đổi nhiệt
- Công thức tính điện trở tương đương của đoạn mạch gồm hai điện trở mắc nối tiếp
- Công thức tính điện trở tương đương của đoạn mạch gồm hai điện trở mắc song song
- Công thức tính nồng độ mol dung dịch
- Công thức tính nồng độ % dung dịch
- Công thức tính số liên kết hiđro của gen
- Công thức tính số nucleotit trên phân tử AND, …
* Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp là:
- Học sinh có kỹ năng phân tích thành thạo bài toán và biết đưa bài toán có lời văn về bài toán đại số
- Khuyến khích học sinh có thói quen viết nhật ký Toán học, ghi chép lại một
số công thức Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học… Thông qua việc làm này sẽ giúp các em khắc sâu kiến thức, tìm tòi sáng tạo, tích lũy kiến thức ngày càng sâu rộng khả năng tự học đạt hiệu quả cao
* Ví dụ 1:
Trang 7Một phân xưởng may lập kế hoạch may một lô hàng, theo đó mỗi ngày phân xưởng phải may xong 90 áo Nhưng nhờ cải tiến kỹ thuật, phân xưởng đã may 120
áo trong mỗi ngày Do đó, phân xưởng không chỉ hoàn thành trước kế hoạch 9 ngày mà còn may thêm 60 áo Hỏi theo kế hoạch phân xưởng phải may bao nhiêu áo?
Phân tích:
Bài toán có 3 đại lượng: Số áo may trong một ngày (đã biết), tổng số áo may
và số ngày may (chưa biết)
Mối quan hệ giữa các đại lượng :
Số áo may trong một ngày x số ngày may = Tổng số áo may được
Ta chọn ẩn là trong các đại lượng chưa biết Ở đây, ta chọn x là số ngày may theo kế hoạch Quy luật trên cho phép ta lập bảng biểu thị mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán (Giáo viên kẻ bảng và hướng dẫn học sinh điền vào bảng)
Số áo may trong1 ngày số ngày may Tổng số áo may
+ Bài toán có mấy đối tượng và có mấy đại lượng? Đó là những đối tượng
và đại lượng nào? (2 đối tượng là thùng dầu I và thùng dầu II, 2 đại lượng là
số dầu trong thùng dầu I và số dầu trong thùng dầu II)
+ Quan hệ hai đại lượng này lúc đầu như thế nào?
(Số dầu T1 = 2T2) + Hai đại lượng này thay đổi thế nào?
Trang 8(Thùng I bớt 75 lít, thùng II sang 35 lít)
+ Quan hệ hai đại lượng này lúc sau ra sao? (Số dầu T1 = số dầu T2)
+ Số liệu nào đã biết, số liệu nào chưa biết
Ở đây cần phải ghi rõ cho học sinh thấy được là bài toán yêu cầu tìm số dầu mỗi thùng lúc đầu, có nghĩa là 2 đại lượng đều chưa biết phải đi tìm, nên ta có thể chọn số lít dầu thùng thứ nhất hoặc số lít dầu thùng thứ hai lúc đầu là ẩn
- Số chọn số lít dầu thùng thứ II lúc đầu là x (lít)
- Điều kiện của ẩn? (x > 0) (Vì số lít dầu phải là số dương)
- Biểu thị đại lượng khác qua ẩn? Số dầu thùng thứ I lúc đầu là 2x(lít)
Chú ý : Thêm (+), bớt (-)
- Số dầu thùng I khi bớt 75 lít ? (2x – 75)
- Số lít dầu thùng II khi thêm 35 lít? (x + 35)
- Dựa vào mối quan hệ giữa các đại lượng lúc sau (số lít dầu 2 thùng bằng nhau) ta lập phương trình: x + 35 = 2x –75 (1)
- Khi đã lập được phương trình rồi, công việc giải phương trình không phải
là khó, song cũng cần phải hướng dẫn cho các em thực hiện các phép biến đổi, giải theo các bước đã được học
Sau khi giải xong, tìm được giá trị của ẩn, một điều cần thiết là phải đối chiếu với điều kiện đã đặt cho ẩn ở trên để trả lời bài toán
- Từ cách giải trên, giáo viên cho học sinh suy nghĩ xem còn có thể giải theo cách nào nữa? Học sinh thấy ngay là ta có thể chọn số dầu thùng 1 lúc đầu là ẩn
Bằng cách lý luận trình tự theo các bước như trên, các em sẽ lập được phương trình bài toán : x - 75 =
2
1
x + 35 (2) Giải xong cách thứ hai, cho các em nhận xét, so sánh với cách giải thứ nhất thì giải phương trình nào dễ hơn
Chắc chắn là giải phương trình (1) dễ dàng hơn phương trình (2) bởi vì khi giải phương trình (2) ta phải quy đồng mẫu chung hai vế của phương trình rồi khử mẫu, điều này cũng gây lúng túng cho các em
Từ đó, GV cần chốt lại cho học sinh là ta nên chọn số lít dầu thùng II lúc đầu là ẩn, vì nếu chọn số dầu thùng I lúc đầu là ẩn thì lập phương trình có dạng phân số, ta giải khó khăn hơn
Trang 9Nếu gặp bài toán liên quan đến số người, số con… thì điều kiện của ẩn là
“nguyên dương” đồng thời phải lưu ý xem ẩn đó còn kèm theo điều kiện gì ang
mà nội dung thực tế bài toán cho
Ở chương trình lớp 8, 9 thường gặp các bài toán về dạng chuyển động ở dạng đơn giản như: Chuyển động cùng chiều, ngược chiều trên cùng quãng đường… hoặc chuyển động trên dòng nước
Do vậy, trước tiên cần cho học sinh nắm chắc các kiến thức, công thức liên quan, đơn vị các đại lượng
Trong dạng toán chuyển động cần phải hiểu rõ các đại lượng quãng đường, vận tốc, thời gian, mối quan hệ của chúng qua công thức s = v.t Từ đó suy ra:
s
v =
t ; t = s
vHoặc đối với chuyển động trên sông có dòng nước chảy thì:
Vxuôi = Vriêng + V dòng nước
Vngược = Vriêng – V dòng nước
* Ví dụ 3:
Để đi đoạn đường từ A đến B, xe máy phải đi hết 3giờ 30’; ô tô đi hết 2 giờ
30 phút Tính quãng đường AB Biết vận tốc ô tô lớn hơn vận tốc xe máy là 20km/h
Đối với bài toán chuyển động, khi ghi tóm tắt đề bài, đồng thời ra vẽ sơ đồ minh họa thì học sinh dễ hình dung bài toán hơn
Tính quãng đường AB=?
- Các đối tượng tham gia? (ô tô- xe máy)
- Các đại lượng liên quan? (quãng đường, vận tốc, thời gian)
- Các số liệu đã biết:
+ Thời gian xe máy đi: 3 giờ 30’
+ Thời gian ô tô đi: 2 giờ 30’
+ Hiệu hai vận tốc: 20 km/h
- Số liệu chưa biết: Vxe máy; Vôtô; SAB?
* Cần lưu ý:
Trang 10Hai chuyển động này trên cùng một quãng đường không đổi
Quan hệ giữa các đại lượng s, v, t được biểu diễn bởi công thức: s = v.t Quan hệ giữa v và t là hai đại lượng tỷ lệ nghịch
Như vậy, ở bài toán này có đại lượng chưa biết, mà ta cần tính chiều dài đoạn AB, nên có thể chọn x (km) là chiều dài đoạn đường AB; điều kiện: x > 0
Biểu thị các đại lượng chưa biết qua ẩn và qua các đại lượng đã biết
Vậy ta trả lời ngay được chiều dài đoạn AB là 175km
Sau khi giải xong, giáo viên cần cho học sinh thấy rằng: Như ta đã phân tích
ở trên thì bài toán này còn có vận tốc của mỗi xe chưa biết, nên ngoài việc chọn quãng đường là ẩn, ta cũng có thể chọn vận tốc xe máy hoặc vận tốc ô tô là ẩn
- Nếu gọi vận tốc xe máy là x (km/h) (x > 0) thì vận tốc ô tô là x + 20 (km/h)
- Vì quãng đường AB không đổi nên có thể biểu diễn theo hai cách (quãng đường xe máy đi hoặc của ôtô đi)
- Ta có phương trình: 3,5 x = 2,5 (x + 20)
Giải phương trình trên ta được: x = 50
Đến đây học sinh dễ mắc sai lầm là dừng lại trả lời kết quả bài toán: Vận tốc
đề bài đòi hỏi
Tóm lại:
Trang 11Khi giảng dạng toán chuyển động, trong bài có nhiều đại lượng chưa biết, nên ở bước lập phương trình ta tùy ý lựa chọn một trong các đại lượng chưa biết làm ẩn
Nhưng ta nên chọn trực tiếp đại lượng bài toán yêu cầu cần phải tìm là ẩn nhằm tránh những thiếu sót khi trả lời kết quả
Song thực tế không phải bài nào ta cũng chọn được trực tiếp đại lượng phải tìm là ẩn mà có thể phải chọn đại lượng trung gian là ẩn
- Cần chú ý 1 điều là nếu gọi vận tốc ô tô là x (km/h) thì điều kiện x>0 chưa
đủ mà phải x > 20 vì dựa vào thực tế bài toán là vận tốc ô tô lớn hơn vận tốc xe máy là 20 (km/h)
Đối với bài toán “làm chung – làm riêng một công việc” giáo viên cần cung cấp cho học sinh một kiến thức liên quan như:
- Khi công việc không được đo bằng số lượng cụ thể, ta coi toàn bộ công việc là 1 đơn vị công việc biểu thị bởi số 1
- Năng suất làm việc là phần việc làm được trong 1 đơn vị thời gian
A: Khối lượng công việc
Ta có công thức: A = nt, trong đó n: Năng suất làm việc
t: Thời gian làm việc
- Tổng năng suất riêng bằng năng suất chung khi cùng làm
- Biết tìm năng suất làm việc như thế nào? thời gian hoàn thành, khối lượng công việc để vận dụng vào từng bài toán cụ thể
Khi ta nắm được các vấn đề trên rồi thì các em sẽ dễ dàng giải quyết bài toán
*Ví dụ 4:
2 vòi cùng chảy 44
5 giờ đầy bể,
1 giờ vòi 1 chảy bằng 11
2 lượng nước vòi 2, Hỏi mỗi vòi chảy riêng thì bao lâu đầy bể?
Phân tích:
- Trước hết phân tích bài toán để nắm được những nội dung sau:
+ Khối lượng công việc ở đây là lượng nước của một bể
+ Đối tượng tham gia? (2 vòi nước)
+ Số liệu đã biết? (thời gian hai vòi cùng chảy)
Trang 12+ Đại lượng liên quan: Năng suất chảy của mỗi vòi, thời gian hoàn thành của mỗi vòi
+ Số liệu chưa biết? (Thời gian làm riêng để hoàn thành công việc của mỗi vòi)
- Bài toán yêu cầu tìm thời gian mỗi vòi chảy riêng để đầy bể
Ta tùy ý chọn ẩn là thời gian vòi 1 chảy hoặc vòi 2 chảy đầy bể
Giả sử nếu gọi thời gian vòi 2 chảy một mình đầy bể là x (h)
Điều kiện của x (x > 44
Vậy thời gian vòi hai chảy một mình đầy bể là 12 giờ
Nhưng làm sao để tính được thời gian chảy một mình của một vòi thì ta tìm năng suất của vòi 1 là : 3
2.12 = 8
1 (bể)
Từ đó ta tìm được thời gian là 8 giờ
* Ở chương trình đại số lớp 8, 9 các em cũng thường gặp loại bài tìm một số
tự nhiên có hai chữ số, đây cũng là loại toán tương đối khó đối với các em; để giúp học sinh đỡ lúng túng khi giải loại bài thì trước hết phải cho các em nắm được một
số kiến thức liên quan
- Cách viết số trong hệ thập phân
- Mối quan hệ giữa các chữ số, vị trí giữa các chữ số trong số cần tìm…; điều kiện của các chữ số
Ví dụ 5:
Một số tự nhiên có hai chữ số, tổng các chữ số của nó là 16, nếu đổi chỗ hai chữ số cho nhau được một số lớn hơn số đã cho là 18 đơn vị Tìm số đã cho
Trang 13- Vị trí các chữ số thay đổi thế nào?
- Số mới so với ban đầu thay đổi ra sao?
- Muốn biết số cần tìm, ta phải biết điều gì? (Chữ số hàng chục, chữ số hàng đơn vị)
- Đến đây ta dễ dàng giải bài toán, thay vì tìm số tự nhiên có hai chữ số ta đi tìm chữ số hàng chục, chữ số hàng đơn vị; ở đây tùy ý lựa chọn ẩn là chữ số hàng chục (hoặc chữ số hàng đơn vị)
Nếu gọi chữ số hàng chục là x
Điều kiện của x? (xN, 0 < x < 10)
Chữ số hàng đơn vị là: 16 – x
Số đã cho được biết 10x + 16 – x = 9x + 16
Đổi vị trí hai chữ số cho nhau thì số mới được viết
Đổi mới từ “Chương trình giáo dục nội dung” sang “Chương trình giáo dục định hướng năng lực” (định hướng phát triển năng lực) ngày nay đã trở thành xu
hướng giáo dục quốc tế Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra
đã quy định
Chúng tôi đã thay đổi một số bài tập trong sách giáo khoa đã nêu, thay vào
đó là một số bài tập có liên quan đến một số môn học khác như: môn Vật lí, Hóa học, Địa lý, Sinh học … và các nội dung về hiểu biết trong xã hội Để giải được các bài toán này học sinh vận dụng linh hoạt kiến thức các môn học nói trên
Trang 14Thông qua chủ đề này giúp học sinh hiểu được bài toán không chỉ hiểu đơn thuần
theo nghĩa hẹp mà cần hiểu “Bài toán là một công việc hay một nhiệm vụ cần giải quyết” Từ đó giáo dục học sinh ý thức tham gia giải quyết một số bài toán trong thực tiễn hằng ngày chúng ta đang cần giải quyết như: bài toán về môi trường (ô nhiễm môi trường, ý thức bảo vệ môi trường); bài toán về giao thông (tai nạn giao thông do quá tốc độ, quá khổ, quá tải …); bài toán về kinh nghiệm trong sản xuất và về thực phẩm sạch… đồng thời giáo dục học sinh kỹ năng sống;
thông qua những tấm gương điển hình để giáo dục học sinh lòng yêu quê hương đất nước, tự hào dân tộc, có trách nhiệm, có ý thức và nghị lực vươn lên trong học tập và trong cuộc sống, có lối sống lành mạnh, tự chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho mình, cho người thân, có tinh thần đoàn kết, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình học tập và làm việc và có định hướng nghề nghiệp trong tương lai …
* Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp là:
- Thay thế một số bài toán trong sách giáo khoa, sách bài tập bằng các bài toán liên môn tích hợp với các môn học khác và hiểu biết trong xã hội
- Lồng ghép giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường, tình yêu quê hương đất nước, lao động sản xuất và kỹ năng sống, định hướng nghề nghiệp
Cụ thể, chúng tôi đã phân dạng các bài toán để giúp học sinh nắm chắc kiến thức và dễ dàng ghi nhớ, vận dụng
2.1 Phân loại các dạng bài toán
2.1.1 Bài toán về chuyển động
Trang 15thực tiễn Ưu điểm là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy
định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của học sinh
Do đó đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường lao động đối với người lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, tính năng động
và định hướng nghề nghiệp cho học sinh Từ đó, phát triển được các năng lực cho học sinh như: năng lực hợp tác, tự học, tự nghiên cứu, giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin, thuyết trình, báo cáo, tính toán… đặc biệt là năng lực sử dụng kiến thức liên môn Học sinh có hứng thú học tập và nâng cao ý thức tìm tòi khám phá, phát hiện và phát huy khả năng tự học của học sinh
Cụ thể khi dạy chủ đề “Giải bài toán bằng cách lập phương trình”:
Tên các bài trong
sách giáo khoa, sách
bài tập
Tên bài thay thế trong phiếu học tập (liên hệ thực tiễn)
Bài 43/SGK trang 58 Ví dụ 1: (Liên hệ: giáo dục về An toàn giao thông)
Bài 52/SGK trang 60 Ví dụ 2: (Liên hệ: giáo dục về phòng chống đuối nước)
Bài 42/SGK trang 158 Ví dụ 12: (Liên hệ: giáo dục ý thức chi tiêu hợp lý và định
hướng nghề nghiệp)
Bài 51/SGK trang 59 Ví dụ 7: (Liên hệ: giáo dục kỹ năng sống)
Bài 50/SGK trang 10 Ví dụ 8+9: (Liên hệ: giáo dục kỹ năng sống)
Bài 49/SGK trang 10 Ví dụ 9: (Liên hệ: Định hướng nghề nghiệp)
Bài 52/SBT trang 61 Ví dụ 13: (Liên hệ: An toàn thực phẩm, thực phẩm sạch)
Bài 53/SBT trang 61 Ví dụ 5: (Liên hệ: Giáo dục ý thức phòng chống dịch bệnh
covid-19) 2.2.1 Bài toán về chuyển động
* Ví dụ 1:
Trang 16Một ô tô và xe máy cùng xuất phát từ thị trấn Yên Ninh và đi đến thủ đô
Hà Nội Vận tốc của ô tô lớn hơn vận tốc của xe máy là 10 km/h, nên ô tô đã đến
Hà Nội trước xe máy 30 phút Tính vận tốc của mỗi xe, biết quãng đường từ thị trấn Yên Ninh đến thủ đô Hà Nội là 100km
x 10+ (h)
Vì thời gian xe máy đi hết nhiều hơn ô tô là 1
2 giờ nên ta có phương trình
x − x 10 = 2
+
Giải phương trình ta được: x1 = 40 (tmđk), x2 = - 50 (loại)
Vậy vận tốc của xe máy là 40 km/h, vận tốc của ô tô là 50km/h
* Ví dụ 2:
Hai bến sông A và B cách nhau 48 km Một ca nô đi từ A đến B, nghỉ lại B
30 phút rồi trở lại A hết tất cả 5 giờ 30 phút Biết vận tốc của dòng nước là 4 (km/h) Tính vận tốc của ca nô khi nước yên lặng
Giải:
5 giờ 30 phút – 30 phút = 5 giờ
Gọi vận tốc của ca nô khi nước yên lặng là: x (km/h) (với x > 4)
Vận tốc của ca nô khi xuôi dòng là x + 4 (km/h)
Vận tốc của ca nô khi ngược dòng là x – 4 (km/h)
Thời gian ca nô khi xuôi dòng là 48
x + 4 (giờ) Thời gian ca nô khi ngược dòng là 48
Trang 17Vận tốc của ca nô khi nước yên lặng là 20 (km/h)
2.2.2 Bài toán về năng suất lao động
* Chú ý: Năng suất lao động là kết quả làm được, như vậy năng suất lao
động trội = mức quy định + tăng năng suất
* Ví dụ 3:
Trong tháng đầu, hai tổ sản xuất được 400 chi tiết máy Trong tháng sau, tổ I vượt mức 10%, tổ II vượt mức 15% nên cả hai tổ sản xuất được 448 chi tiết máy Tính xem trong tháng đầu mỗi tổ sản xuất được bao nhiêu chi tiết máy?
Phân tích:
Cần phải xác định năng suất của mỗi tổ trong tháng đầu, nên ta có thể đặt hai
ẩn, mỗi ẩn tương ứng là năng suất của mỗi tổ Nhưng vì biết năng suất chung của hai tổ là 400 chi tiết máy, do đó có thể chỉ cần một ẩn số
Giả sử gọi năng suất của tổ I (trong tháng đầu) là x thì năng suất của tổ II là
400- x
Tiếp theo có thể dựa vào năng suất của mỗi tổ trong tháng sau để lập phương trình, hoặc có thể dựa vào phần tăng năng suất của mỗi tổ để đi đến một phương trình khác
Giải:
Cách 1:
Gọi x là số chi tiết máy tổ I sản xuất trong tháng đầu (x nguyên dương) thì tổ
II sản xuất 400 – x (chi tiết máy)
Trong tháng sau, tổ I làm được so với tháng đầu là:
Trang 18Vậy trong tháng đầu tổ I sản xuất được 240 chi tiết máy, tổ II sản xuất được
400 – 240 = 160 chi tiết máy
Cách 2:
Phần đặt ẩn số như cách 1
Trong tháng sau, cả hai tổ đã tăng năng suất là:
448 - 400 = 48 (chi tiết máy) Như vậy, ta có phương trình:
400 – 240 = 160 chi tiết máy
Sau khi giải xong bài toán, giáo viên liên hệ thực tế, học sinh:
1 Tìm hiểu thông tin về COVID-19
2 Cách bảo vệ bản thân và người khác khỏi COVID-19
Thông qua đó, giáo viên giáo dục học sinh biết yêu thương giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn, tuyên truyền và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội
2.2.3 Bài toán có liên quan đến số học
Chú ý về cấu tạo thập phân của một số: mỗi đơn vị của hàng này lớn hơn (hoặc nhỏ hơn) mỗi đơn vị của hàng liền sau nó (hoặc liền trước nó) 10 lần
Chẳng hạn, số có ba chữ số abc ta có:
abc = 100a +10b + c
trong đó a, b, c là các số tự nhiên từ 0 đến 9, riêng a từ 1 đến 9
Trang 19Ví dụ 5:
Tìm một số có hai chữ số, biết rằng tổng hai chữ số đó bằng 7 và nếu ta viết hai chữ số ấy theo thứ tự ngược lại thì được một số lớn hơn số đã cho là 27 đơn vị
Giải:
Gọi chữ số hàng chục của số đã cho là x, trong đó x là số tự nhiên (1< x < 9)
thì chữ số hàng đơn vị của số đã cho là 7 x−
Theo bài ra, ta có phương trình:
=Cộng theo từng vế ta có 2y = 10 hay y = 5
Gọi x (cm) là độ dài một cạnh góc vuông, x > 0
Cạnh góc vuông kia dài là: 35 – x (cm)
Theo định lý Pitago, ta có phương trình:
Vậy độ dài hai cạnh góc vuông lần lượt là 20cm và 15cm
2.2.5 Bài toán có nội dung vật lý, hóa học, sinh học, …
Trang 20Để lập được phương trình, ta phải dựa vào các công thức, định luật của vật
lý, hóa học liên quan đến những đại lượng có trong đề toán
* Ví dụ 7:
Có 2 loại dung dịch muối ăn, một loại chứa 1% muối ăn và loại còn lại chứa 3,5% muối ăn Hỏi cần lấy bao nhiêu cân dung dịch mỗi loại trên để hoà lẫn với nhau tạo thành 140 cân dung dịch chứa 3% muối ăn?
Gọi khối lượng dung dịch chứa 1% muối ăn là x (cân, 0 x 140)
thì khối lượng dung dịch chứa 3,5% muối ăn là 140 x− (cân)
Khối lượng muối ăn trong dung dịch 1% là: 1 x
x (140 x) 4, 2
Giải phương trình ta được x 28= (thỏa mãn điều kiện)
Vậy cần phải lấy 28 cân dung dịch 1% muối ăn và 140-28=112 cân dung dịch 3,5% muối ăn
* Ví dụ 8:
Dùng hai lượng nhiệt, mỗi lượng bằng 168Kj để đun nóng hai khối nước hơn kém nhau 1kg thì khối nước nhỏ nóng hơn khối nước lớn 20C Tính xem khối nước nhỏ được đun nóng thêm mấy độ?
Phân tích :
Công thức tính nhiệt lượng là: Q = cm (t2 - t1) trong đó nhiệt độ
Trang 21được tang thêm là t2 - t1, suy ra khối lượng của nước là m = Q
c(t - t )2 1 , biết rằng nhiệt dung riêng của nước là: c =4,2 kJ/kg.độ
Giải:
Giả sử khối nước nhỏ được đun nóng x độ (x>0)
Như vậy khối lượng của khối nước nhỏ là:
Q
m =c(t - t )2 1 =
168
4, 2x+1 =
168
4, 2(x - 2)Giải phương trình trên ta được:
Vì x > 0 nên ta loại nghiệm âm
Vậy khối nước nhỏ được đun nóng thêm 100C
(Để giải bài toán này, có thể đặt ẩn là khối lượng của khối nước nhỏ)
* Ví dụ 9:
Lấy 40g chất lỏng thứ nhất trộn lẫn với 30g chất lỏng thứ hai có khối lượng riêng nhỏ hơn 100kg/m3 ta được một hỗn hợp có khối lượng riêng là 350kg/m3 Tính khối lượng riêng của mỗi chất lỏng
Phân tích :
Công thức khối lượng riêng: D M
V
= (kg/m3) Chú ý khi trộn hai chất lỏng có khối lượng riêng khác nhau thì khối lượng riêng của hỗn hợp cũng sẽ khác nhưng thể tích của mỗi hỗn hợp thì bao giờ cũng bằng tổng thể tích của hai chất lỏng đem trộn mà công thức tính thể tích:
D M
V =
Trang 22Phương trình có hai nghiệm: x1 = 400; x2 = 50
Theo điều kiện đã đặt ra, ta chỉ lấy nghiệm x = 400
Vậy khối lượng riêng của hai chất lỏng là 400kg/m3 và 300kg/m3
2.2.6 Bài toán về công việc làm chung, làm riêng
* Chú ý:
+ Nếu có hai đối tượng cùng làm một công việc nếu biết thời gian của đại lượng này hơn, kém đại lượng kia ta nên chọn một ẩn và đưa về phương trình bậc hai + Nếu thời gian của hai đại lượng này không phụ thuộc vào nhau ta nên chọn hai
ẩn làm thời gian của hai đội rồi đưa về dạng hệ phương trình để giải
+ Nếu mất x đơn vị thời gian (giờ, ngày…) để làm xong một công việc thì trong 1
đơn vị thời gian ấy sẽ làm được 1
x công việc
* Ví dụ 10:
Hai đội công nhân xây dựng nếu làm chung thì mất 6 ngày sẽ làm xong công trình Nếu làm riêng thì đội I phải làm lâu hơn đội II là 5 ngày Hỏi mỗi đội làm riêng thì mất bao nhiêu ngày sẽ xong công trình
Giải:
Gọi x là số ngày mà đội I phải làm một mình để hoàn thành công trình Như vậy đội II làm riêng phải mất x – 5 ngày Điều kiện x > 5
Trang 23Mỗi ngày đội I làm được 1
x công trình, đội II làm được
Vì x > 5 nên ta chỉ lấy nghiệm x = 15
* Ví dụ 11:
Hai vòi nước cùng chảy vào một bể cạn chưa có nước thì sau 18 giờ đầy bể Nếu chảy riêng thì vòi thứ nhất sẽ chảy đầy bể chậm hơn vòi thứ hai 27 giờ Hỏi nếu chảy riêng thì mỗi vòi mất bao lâu mới chảy đầy bể?
Giải:
Gọi x (h) là thời gian vòi thứ nhất chảy riêng đầy bể (x > 27)
Thời gian vòi thứ hai chảy riêng đầy bể: x – 27 (h)
Mỗi giờ vòi thứ nhất chảy được 1
Giải pt trên ta được: x1 = 54 (nhận); x2 = 9 (loại)
Vậy: Vòi thứ nhất chảy riêng đầy bể trong 54 (h), vòi thứ hai chảy riêng đầy bể trong 27 (h)
2.1.7 Bài toán về tỷ lệ, lãi suất, gia ang dân số, …
Chú ý bài toán lãi suất kép : Lãi suất kép là tiền lãi của kì hạn trước nếu người
gửi không rút ra thì được tính vào vốn để tính lãi cho kì hạn sau
* Ví dụ 12:
Trang 24Ông A gửi tiết kiệm 200 triệu vào ngân hàng theo kỳ hạn 12 tháng Ông A không rút lãi theo định kỳ Sau 3 năm ông A nhận được số tiền là 238203200 đồng Hỏi lãi suất hằng năm là bao nhiêu phần trăm ?
GV hướng dẫn HS lập luận và khái quát bài toán :
Khách hàng gửi vào ngân hàng A đồng với lãi kép r%/kì hạn thì số tiền khách hàng nhận được cả vốn lẫn lãi sau n kì hạn ( *)
nN là : S n =A 1( +r)n
* Ví dụ 13:
Hai cửa hàng có tất cả 600 lít nước chấm Nếu cửa hàng thứ nhất chuyển sang cửa hàng thứ hai 80 lít thì số nước chấm ở cửa hàng thứ hai sẽ tăng gấp đôi ở cửa hàng thứ nhất Hỏi mỗi cửa hàng chứa bao nhiêu lít nước chấm?
Trang 25Giải phương trình: 200x – 200(x – 1) = 10x (x – 1)
10x2 – 10x – 200 = 0 x2 – x – 20 = 0
= 1 + 80 = 81 D = 9 Phương trình có nghiệm là x1 = 5 và x2 = -4
Chỉ có giá trị x1 =5 là thích hợp với điều kiện đã nêu
Vậy đội xe có 5 xe ô tô
3 Giải pháp 3: Đổi mới phương pháp dạy học, kiến thức gắn liền với các bài toán đặt ra theo yêu cầu thực tế
Sáng kiến này dựa trên những kiến thức về phương pháp dạy học theo chủ
đề tích hợp, dạy học dự án để đưa ra những kiến thức ở các phân môn khác nhau vào giảng dạy, kiến thức gắn liền với các vấn đề trong thực tế hiện nay
Học sinh làm việc theo nhóm chuẩn bị ở nhà sau đó báo cáo trước lớp
Thông qua đó phát triển các năng lực cho học sinh như: năng lực hợp tác, tự học, tự nghiên cứu, giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin, thuyết trình, báo cáo, phỏng vấn, tính toán… đặc biệt là năng lực sử dụng kiến thức liên môn Phát huy khả năng tự học, tìm tòi sang tạo của học sinh Học sinh yêu thích môn học hơn
* Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp là:
Đa dạng hóa các hình thức dạy học nhằm nâng cao khả năng tự học của học sinh, đồng thời tạo hứng thú cho học sinh, giúp các em yêu thích môn học
Cụ thể, thông qua các ví dụ sau:
Ông An dự định đi bằng xe máy từ Yên Khánh đến Thanh Hóa cách nhau
80km trong thời gian định trước Khi đi được 20, km xe của ông An bị hỏng nên ,ông phải dừng lại để sửa xe mất 10 phút Sau khi sửa xe xong, để đảm bảo thời gian như đã định, ông An tăng vận tốc thêm 5km h trên quãng đường còn lại / ,Hãy tính vận tốc xe của ông An trên quãng đường còn lại đó
Ví dụ 3:
Vừa qua, Chính phủ đã điều chỉnh giảm 10% giá bán lẻ điện từ bậc 1 đến bậc 4 cho khách hàng sử dụng điện sinh hoạt bị ảnh hưởng bởi dịch Covid–19 trong ba tháng 4,5,6 của năm 2020 Cụ thể như sau:
Trang 26BẬC
GIÁ BÁN ĐIỆN
(đã làm tròn đến đơn vị đồng/kWh)
Tháng 3 (trước điều chỉnh)
Tháng 4 (sau điều chỉnh) Bậc 1: Cho kWh từ 0 – 50 1678 đồng/kWh 1510 đồng/kWh
Dựa vào các số liệu của bảng trên, hãy giải bài toán sau:
Gia đình của Nam đã trả tổng cộng 249580 đồng tiền điện sinh hoạt cho hết tháng 3 và tháng 4 năm 2020 Biết rằng trong hai tháng đó gia đình Nam tiêu thụ hết 155 kWh và mỗi tháng mức điện tiêu thụ chưa đến 100 kWh nhưng lớn hơn 50 kWh Hãy tính xem điện tiêu thụ trong tháng 4 của gia đình Nam là bao nhiêu kWh?
4 Giải pháp 4: Phát huy vai trò thảo luận nhóm và kỹ năng báo cáo thuyết trình trước tập thể trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh thông qua phiếu học tập Học sinh làm việc theo nhóm, tự lập kế hoạch học tập, kế hoạch làm việc của nhóm mình hoàn thành theo nội dung và yêu cầu của giáo viên
Khuyến khích học sinh báo cáo thuyết trình bằng tiếng Anh, thông qua đó, các em nắm chắc được các thuật ngữ Toán bằng tiếng Anh và khả năng giao tiếp tiếng Anh tốt hơn, phát triển đồng thời năng lực ngoại ngữ và năng lực Toán học của học sinh Điều này sẽ giúp các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn trong giao tiếp và đặc biệt là tiếng Anh giao tiếp của mình
Qua đó phát huy năng lực hợp tác, năng lực tự học, tự nghiên cứu và giải quyết vấn đề, năng lực thuyết trình, báo cáo, năng lực phỏng vấn, làm phóng sự, năng lực tính toán của học sinh
Ví dụ: (LIÊN HỆ: GIÁO DỤC Ý THỨC AN TOÀN KHI THAM GIAO THÔNG)
Một đoàn xe tải cần vận chuyển một lượng hàng Người lái xe tính rằng nếu xếp mỗi xe 14 tấn hàng thì còn thừa lại 1 tấn, còn nếu xếp mỗi xe 15 tấn thì có thể chở thêm 3 tấn nữa Hỏi đoàn xe đó có mấy chiếc xe và phải chở bao nhiêu tấn hàng?
Thực hiện nhiệm vụ học tập: