1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề bài: “Thông qua nghiên cứu chế định Nguyên thủ quốc gia trong thế giới đương đại. Anhchị hãy đề xuất một vài kiến nghị (có lý giải vì sao) để đổi mới chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam hiện nay”.

8 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề bài: “Thông qua nghiên cứu chế định Nguyên thủ quốc gia trong thế giới đương đại. Anhchị hãy đề xuất một vài kiến nghị (có lý giải vì sao) để đổi mới chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả Nguyễn Phương Nhật Hạ
Người hướng dẫn Thầy Nguyễn Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Hiến pháp nước ngoài
Thể loại Bài tập giữa kỳ
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 95,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài: “Thông qua nghiên cứu chế định Nguyên thủ quốc gia trong thế giới đương đại. Anhchị hãy đề xuất một vài kiến nghị (có lý giải vì sao) để đổi mới chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam hiện nay”. Bài làm I. Chế định nguyên thủ quốc gia và chế định Chủ tịch nước:  Chế định nguyên thủ quốc gia. Nguyên thủ quốc gia vốn là một chế định có được từ nhà nước tư sản. Nhiệm vụ của cuộc Cách mạng tư sản là lật đổ nền cai trị của giai cấp phong kiến, thiết lập nền chuyên chính tư sản. Dựa trên thuyết tam quyền phân lập do L.Môngtexkiơ xây dựng vào thế kỉ XVIII ở Pháp, với phương châm: dùng quyền lực nhà nước để hạn chế quyền lực nhà nước. Theo nguyên tắc phân chia quyền lực, thì quyền lực Nhà nước tư sản được chia thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba cơ quan thực hiện ba quyền đó là Nghị viện, Chính phủ, Tòa án độc lập với nhau, kiềm chế nhau để không một cơ quan nào nắm mọi quyền hành.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC

BÀI TẬP GIỮA KỲ

Môn học: Hiến pháp nước ngoài

Giảng viên: Thầy Nguyễn Mạnh Hùng

Họ và tên: Nguyễn Phương Nhật Hạ

MSSV: 1953801014049

Lớp: HC44A1

Trang 2

Đề bài: “Thông qua nghiên cứu chế định Nguyên thủ quốc gia trong thế giới đương đại Anh/chị hãy đề xuất một vài kiến nghị (có lý giải vì sao) để đổi mới chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam hiện nay”.

Bài làm

I Chế định nguyên thủ quốc gia và chế định Chủ tịch nước:

Chế định nguyên thủ quốc gia.

Nguyên thủ quốc gia vốn là một chế định có được từ nhà nước tư sản Nhiệm vụ của cuộc Cách mạng tư sản là lật đổ nền cai trị của giai cấp phong kiến, thiết lập nền chuyên chính tư sản Dựa trên thuyết tam quyền phân lập do L.Môngtexkiơ xây dựng vào thế kỉ XVIII ở Pháp, với phương châm: dùng quyền lực nhà nước để hạn chế quyền lực nhà nước Theo nguyên tắc phân chia quyền lực, thì quyền lực Nhà nước tư sản được chia thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Ba cơ quan thực hiện ba quyền đó là Nghị viện, Chính phủ, Tòa án độc lập với nhau, kiềm chế nhau để không một cơ quan nào nắm mọi quyền hành

Khi Cách mạng tư sản thành công, chế độ đại nghị đã được xác lập, về nguyên tắc Nghị viện đứng đầu nhà nước nhưng giai cấp tư sản đã bảo lưu thiết chế nhà vua hoặc lập ra những thiết chế tương tự để thực hiện mục đích chính trị của mình dẫn đến việc hình thành chế định nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp tư sản Trong nhà nước tư sản, Nguyên thủ quốc gia, phụ thuộc vào chính thể, có tên gọi khác nhau như ở những nước chính thể quân chủ Nguyên thủ quốc gia là Vua, Hoàng đế, Nữ hoàng

Hình thức chính thể Quân chủ lập hiến, quyền lực của nguyên thủ quốc gia (quốc vương, vua, nữ hoàng…) được truyền lại cho người kế vị Giai cấp tư sản tiến hành Cách mạng tuy mạnh nhưng chưa thể đè bẹp hoàn toàn thế lực phong kiến tuy đã lỗi thời nhưng vẫn còn tồn tại trên cơ sở kính tế - xã hội chưa thể xóa bỏ

Hình thức chính thể Cộng hòa gồm Cộng hòa tổng thống, Cộng hòa đại nghị, Cộng hòa hỗn hợp và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Ở ba mô hình Cộng hòa tổng thống, Cộng hòa hỗn hợp, Cộng hòa đại nghị, thường người đứng đầu nhà nước, Nguyên thủ quốc gia có tên gọi là “Tổng thống” Chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa, Nguyên thủ quốc gia có nhiều tên gọi khác nhau như: Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Liên Xô trước đây, Việt Nam theo Hiến pháp 1980); Chủ tịch nước (Trung Quốc, Việt Nam, Lào)

Trang 3

Nguyên thủ quốc gia trong chính thể Cộng hòa tổng thống thường có vị trí đứng đầu cơ quan hành pháp, có vai trò và ảnh hưởng rất to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội đất nước bởi chính các quyết sách của mình Trong chính thể cộng hòa tổng thống, vai trò của nguyên thủ quốc gia rất quan trọng Tổng thống được nhân dân bầu ra Tổng thống gắn liền với bộ máy hành pháp, đứng đầu bộ máy hành pháp và được ví là mắt xích liên hệ giữa lập pháp

và hành pháp, là người trọng tài của Nhà nước Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu Chính phủ

Mô hình Cộng hòa hỗn hợp là sự kết hợp giữa Cộng hòa tổng thống và Cộng hòa đại nghị (các nước theo mô hình này là Pháp, Phần Lan, Hàn Quốc, Nga ) Quyền lực nhà nước được thiết kế vừa độc lập tương đối vừa phối hợp hài hòa giữa các quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp

Trong mô hình Cộng hòa đại nghị Nguyên thủ quốc gia tham gia phần nào vào lập pháp, tư pháp và hành pháp tượng trưng Đa phần ở các nước, quyền hành pháp được trao cho Thủ tướng - người đứng đầu Chính phủ như Đức, Áo, Italia Trong chính thể Cộng hòa đại nghị, về nguyên tắc nghị viện là

cơ quan nắm quyền lực nhà nước cũng đồng thời là người “thay mặt nhà nước”, “đứng đầu nhà nước”, tức “nguyên thủ quốc gia” Vai trò của Tổng thống bị hạn chế do chính Nghị viện bầu ra Nguyên thủ quốc gia chỉ thực hiện động tác chính thức hóa các quyết định đã rồi hoặc theo yêu cầu của các cơ quan lập pháp và nhất là hành pháp Nguyên thủ quốc gia trở thành nhân vật tượng trưng cho sự vĩnh hằng và hiện thân của toàn dân tộc Vị trí này được

minh họa bằng câu ngạn ngữ: “Nhà vua trị vì nhưng không cai trị.”

Vị trí tượng trưng này còn được thể hiện ở Điều 1 của Hiến pháp Nhật

Bản: “Hoàng đế là biểu tượng hiện thân của Quốc gia, là biểu tượng thống

nhát của toàn thể nhân dân Nhật Bản, đại diện cho ý chí của đoàn thể nhân dân giữ quyền tự quyết của đất nước.”

Tuy nhiên, Nguyên thủ quốc gia của các nước này rất cần thiết để duy trì

sự ổn định chính trị cho xã hội tư bản, làm chỗ dựa về mặt tinh thần cho bộ máy nhà nước cả lập pháp, lẫn hành pháp Sự hiện diện của nguyên thủ quốc gia ở các nước có nhiều vẻ khác nhau nhưng cũng đóng một vai trò nhất định trong việc tổ chức quyền lực nhà nước Đặc biệt là vai trò biểu tượng cho dân tộc, liên kết phối hợp các nhánh quyền lực thể hiện quan điểm thỏa hiệp giai cấp ở các nước tư bản

Trang 4

Chế định Chủ tịch nước.

Ở Nhà nước xã hội chủ nghĩa, bộ máy nhà nước được tổ chức theo chế

độ tập quyền, mọi quyền lực nhà nước thống nhất vào cơ quan đại diện quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân Chức năng Nguyên thủ quốc gia thống nhất với chức năng của Quốc hội Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước Xã hội chủ nghĩa cũng rất đa dạng về hình thức: Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao, Hội đồng nhà nước (Ba Lan, Bungari, Cuba, Rumani), Hội đồng Chủ tịch nước (Hungari), Đoàn Chủ tịch Quốc hội Anban

Việt Nam là quốc gia thuộc chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nguyên thủ quốc gia của Việt Nam là Chủ tịch nước Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được quy định tại chương VII Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, được quy định cụ thể tại Điều

86 Hiến pháp năm 2013: “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay

mặt nước Cộng hoà XHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại” Chủ tịch nước

Việt Nam đứng đầu nhà nước nhưng khác với Quốc hội, Chủ tịch nước chỉ thay mặt nhà nước, có thẩm quyền quyết định riêng liên quan đến vai trò cơ quan thay mặt nhà nước

II Vị trí pháp lý của Chủ tịch nước.

Chế định Chủ tịch nước giữ một vai trò quan trọng và có sự khác nhau qua các bản Hiến pháp Việt Nam Chế định Chủ tịch nước ở Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1992 với tư cách là một cá nhân Nhưng đến Hiến pháp 1980, với quan điểm làm chủ tập thể, người đứng đầu bộ máy nhà nước Nguyên thủ quốc gia, với cơ quan thường thực của Quốc hội thay mặt Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ của Quốc hội giữa hai kỳ họp, đã được sát nhập vào một cơ quan, được gọi là Hội đồng Nhà nước Trong từng hiến pháp

có sự kế thừa và phát triển những nguyên tắc căn bản của tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và chế định nguyên thủ quốc gia nói riêng

Tuy Hiến pháp 1946 không quy định định nghĩa về chế định Chủ tịch nước nhưng từ các quy định về cách thức thành lập và thẩm quyền thì ta có thể thấy Chủ tịch nước là người vừa đứng đầu Nhà nước, vừa đứng đầu Chính phủ Được thể hiện ở chỗ: Chủ tịch nước thay mặt cho Nhà nước; giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc; chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, khôgn quân; ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị; thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự; đặc xá; ký hiệp ước với các nước; phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao

Trang 5

của các nước; tuyên chiến hay đình chiến; chọn Thủ tướng trong Nghị viện để đưa ra Nghị viện biểu quyết; bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ; có quyền (trong thời hạn 10 ngày) yêu cầu Nghị viện thảo luận lại những luật đã được biểu quyết thông qua Chủ tịch nước không phải chịu một trách nhiệm nào trừ tội phản quốc (Chương VI

và điều 3 chương III) Chủ tịch nước do Nghị viện nhân dân bầu chọn trong Nghị viện với thời hạn là năm năm Với cương vị là người đứng đầu cơ quan hành pháp - cơ quan trực tiếp thực hiện pháp luật thì việc Hiến pháp quy định quyền này cho Chủ tịch nước thực sự là một tư tưởng mềm dẻo về sự phân công quyền lực Tuy nhiên việc quy định này chỉ phù hợp trong điều kiện lúc

đó

Ở Hiến pháp 1959 Chủ tịch nước được xác định là người đứng đầu Nhà nước và không đồng thời là người đứng đầu Chính phủ Chủ tịch nước được tổ chức riêng thành một chế định độc lập (trong chương V gồm 10 Điều) Chủ tịch nước thay mặt đất nước thực hiện các chức năng về đối nội, đối ngoại; tham gia vào các hoạt động của Nhà nước về các mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp Chủ tịch nước do Quốc hội bầu với nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội (4 năm) và khác với ở Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội Chủ tịch nước là khâu phối hợp giữa Quốc hội và Hội đồng Chính phủ nhưng vẫn nghiêng về phía chính phủ như: bổ nhiệm, bãi nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng, Phó thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; khi cần thiết có quyền tham dự và chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ Đây là những điểm kế thừa vị trí của Chủ tịch nước đối với Chính phủ ở Hiến pháp trước Việc quy định và ghi nhận chế định Chủ tịch nước, Hiến pháp 1959 thực sự là bản hiến pháp được xây dựng theo mô hình hiến pháp xã hội chủ nghĩa, thể hiện được bản chất nhà nước ta là nhà nước của nhân dân lao động, do dân lao động và vì nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân

Hiến pháp 1980, chế định Chủ tịch nước được thay thế bằng chế độ Chủ tịch tập thể theo mô hình Hội đồng Nhà nước Với quan điểm tập thể làm chủ, Hiến pháp 1980 đã nhập hai chức năng Nguyên thủ quốc gia và cơ quan thường trực của Quốc hội làm một

Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013, chế định Chủ tịch nước tiếp thu những ưu điểm của mô hình Chủ tịch nước của hiến pháp 1946 và 1959, vừa giữ được sự gắn bó giữa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc thực hiện các chức năng Nguyên thủ quốc gia trong thể chế hội

Trang 6

đồng nhà nước Hiến pháp 2013 đã có sự phân biệt giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với chế định Nguyên thủ quốc gia từ đó tách chế định Hội đồng nhà nước của Hiến pháp 1980 thành hai chế định độc lập: Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Chủ tịch nước với vai trò to lớn vừa là nhân vật chính trị, vừa mang nhiều thuộc tính của cơ quan quản lý nhà nước

Nguyên thủ quốc gia của Nhà nước ta theo quy định của Hiến pháp 2013 được gọi là Chủ tịch nước Vị trí pháp lý của Chủ tịch nước được Hiến pháp

định nghĩa: “Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt Nhà nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại” Với tư cách là

một trong những thiết chế cao nhất trong toàn bộ máy Nhà nước, vị trí của Chủ tịch nước phải được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất - là Hiến pháp Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số đại biểu Quốc hội Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kì của Quốc hội Khi Quốc hội hết nhiệm kì, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu Chủ tịch nước mới

Theo quy định của Hiến pháp 2013, Chủ tịch nước có vị trí, chức năng tượng trưng cho Nhà nước, như của các nước theo chế độ đại nghị của nhà nước tư bản

III Thẩm quyền của Chủ tịch nước.

Thẩm quyền của Chủ tịch nước là một trong những yếu tố cơ bản nhất thể hiện vị trí pháp lý của Chủ tịch nước trong hệ thống các cơ quan nhà nước Chế định Nguyên thủ quốc gia của Nhà nước ta, về nguyên tắc, cũng giống như thiết chế người đứng đầu nhà nước của nhiều nước Với tư cách là nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch nước có quyền quyết định những công việc thay mặt đất nước về đối nội, đối ngoại Và Chủ tịch nước có nhiệm vụ quyền hạn liên quan đến lập pháp, hành pháp và tư pháp

Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1992 có phần hẹp hơn thẩm quyền của Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 1946 Chủ tịch nước của Hiến pháp năm 1946 không những chỉ đơn thuần là Nguyên thủ quốc gia mà còn là người đứng đầu bộ máy hành pháp, có quyền phủ quyết các văn bản luật của Nghị viện nhân dân (Điều 31 Hiến pháp 1946) Quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước của Hiến pháp năm 2013 cũng có nhiều điểm khác so với Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp 2013 Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ khi cần thiết, Hiến pháp 1959 Chủ tịch nước có quyền chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Nhà nước Hiến pháp 2013

Trang 7

cụ thể hơn và rộng hơn về nhiệm vụ quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trong hiến pháp 1980 Chủ tịch nước có quyền bổ nhiệm miễn nhiệm và cách chức Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao Hơn nữa, Chủ tịch nước còn có thẩm quyền ban bố các lệnh, các văn bản pháp luật

do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

III Một số đề xuất về chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam hiện nay.

Việt Nam đang từng bước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Việt Nam luôn có quan hệ quốc tế tốt với các nước bạn với tinh thần “Việt

Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.” Vì vậy mà vai trò của Chủ tịch nước càng

quan trọng trong đối nội và đối ngoại Trong những năm qua, kết quả mà Chủ tịch nước mang lại cho đất nước có một đóng góp rất tích cực Đặc biệt là các cuộc đàm phán gia nhập WTO, cuộc họp cao cấp APEC tổ chức tại Việt Nam năm 2006…

Ngoài ra, để hoàn thiện vị trí của Chủ tịch nước trong cơ chế quyền lực nhà nước đang tiếp tục đổi mới hiện nay, em có một số yêu cầu của chế định Chủ tịch nước trong thời kỳ đổi mới như sau:

+ Cần nghiên cứu tăng cường vị trí của Chủ tịch nước như: giao cho Chủ tịch nước quyền đề nghị Quốc hội xem xét lại luật; quyền quyết định việc tuyên bố tình trang chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược; quyết định tổng động viên (những quyền này hiện thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội) Mở rộng phạm

vi tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế và các thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước Việt Nam không chỉ “người đứng đầu Nhà nước khác” như Hiến pháp hiện hành Chỉ những điều ước quốc tế có quan hệ trực tếp tới chủ quyền, an ninh quốc gia, lãnh thổ, vị thế, chính sách của Nhà nước khi tham gia các tổ chức quốc tế quan trọng… mới cần phải để Quốc hội phê chuẩn

+ Hiến pháp quy định cho Chủ tịch nước khi xét thấy cần thiết thì có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ, chưa hợp lý lắm Vì theo Nguyên thủ quốc gia của nhiều nước trên thế giới, nguyên thủ quốc là vẫn được coi là người đứng đầu hành pháp Thể hiện mối quan hệ giữa Nguyên thủ quốc gia và Chính phủ Vậy, cần thể hiện nội dung này theo hướng Chủ tịch nước chỉ tham

dự phiên họp Chính phủ trong các trường hợp thật cần thiết và khi đó Chủ tịch nước sẽ là người chủ tọa phiên họp

Trang 8

IV Kết luận.

Việt Nam ta đang trong thời kì đổi mới, đời sống dân sinh được phát triển, các dịch vụ mở rộng Sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa… Đồng thời, nhân dân

ta đang phấn đấu xây dựng Nhà Nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân với một hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ, pháp luật

đó được mọi cá nhân và tổ chức tuân thủ nghiêm túc nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Điều này cũng đặt ra một vấn đề quan trọng trong chế định Chủ tịch nước trong bối cảnh đất nước đang thực hiện những đổi mới sâu sắc, toàn diện, trong tình hình thế giới có nhiều biến động

cả về chính trị và kinh tế

Vì vậy, cần phát huy hơn nữa chức năng của Chủ tịch nước trong vấn đề đối nội và đối ngoại và cần nghiên cứu toàn diện, rút kinh nghiệm để cụ thể hóa dần các quy định của Hiến pháp Góp phần làm cho Chế định Chủ tịch nước ngày càng được hoàn thiện, phát huy vai trò, vị trí của Chủ tịch nước trong bối cảnh đất nước và thế giới hiện nay

Ngày đăng: 28/07/2023, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w