Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề cần lý luận như: phân biệt hậu quả của tội phạm với mục đích phạm tội, phân tích các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự và đồ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM ĐỨC TRUNG
BÀI TẬP LỚN
CHUYÊN NGÀNH LUẬT
MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 1
Người hướng dẫn: Cao Phan Long
Hà Nội, tháng 11/2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN NGÀNH LUẬT
Đề tài: đề số 2
Người hướng dẫn: Cao Phan Long
Họ và tên sinh viên: Phạm Đức Trung
Mã sinh viên: 220001132 Lớp: Luật D2020A
Trang 3MỤC LỤC
A Mở đầu 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
B Nội dung nghiên cứu 3
1 Phân biệt hậu quả của tội phạm với mục đích phạm tội 3
2 Phân tích các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Anh/chị tâm đắc với nguyên tắc nào nhất, vì sao? 7
3 Bài tập phân tích cấu thành tội phạm 10
4 Bài tập phân tích cấu thành tội phạm 11
Danh mục tài liệu tham khảo 13
1
Trang 4A Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là công
cụ không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới Thực tế những năm vừa qua cho thấy, hệ thống pháp luật và việc thi hành pháp luật đã có những tác động rõ rệt đến đời sống xã hội Những quy định trong Hiến pháp, trong các luật và văn bản dưới luật luôn đề cao tính nhân đạo và nhân văn bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của Nhà nước mà nhân dân là chủ và do nhân dân làm chủ Nói đúng hơn, đó là
hệ thống pháp luật phục vụ cho việc thực thi các lợi ích cơ bản của con người, đặc biệt là lợi ích của người lao động Vì vậy, các nguyên tắc định hướng cho việc xây dựng nội dung của hệ thống pháp luật, như công bằng, nhân đạo, vì
sự phát triển tiến bộ của con người và xã hội cũng chính là những nguyên tắc đạo đức cơ bản mà nhân loại tiến bộ đã, đang và sẽ hướng tới Có thể nói, pháp luật góp phần rất lớn trong việc hình thành ý thức tôn trọng và chấp hành những quy phạm chung, giúp con người có những hành vi ứng xử văn minh, phù hợp với chiều hướng phát triển tiến bộ của thời đại
Và luật hình sự cũng vậy, Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa
và đấu tranh chống tội phạm
Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài này để thực hiện nghiên cứu cho bài luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích là nhằm nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống về
bộ môn luật hình sự 1, đồng thời vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được
để áp dụng vào việc làm các bài tập vận dụng nhằm củng cố kiến thức đã được tiếp thu
2
Trang 53 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề cần lý luận như: phân biệt hậu quả của tội phạm với mục đích phạm tội, phân tích các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự và đồng thời làm một số bài tập vận dụng
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nhằm phân biệt hậu quả của tội phạm với mục đích phạm tội, các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự
5 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của luật hình sự, phân biệt hậu quả của tội phạm với mục đích phạm tội, các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự với tư cách là một nội dung của bộ môn luật hình sự 1
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử
Phương pháp phân tích
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp chứng minh
Phương pháp so sánh
B Nội dung nghiên cứu
1 Phân biệt hậu quả của tội phạm với mục đích phạm tội
Trước hết cần biết:
Hậu quả thiệt hại là các thiệt hại do hành vi khách quan gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự và cũng là khách thể của tội phạm Thiệt hại gây ra cho khách thể của tội phạm được thể hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của dối tượng tác động của tội phạm Tính chất và mức độ của thiệt hại (hậu quả) được xác định bởi tính chất và mức độ biến đổi của các đối tượng tác động của tội phạm như ở các tội xâm phạm sức khoẻ hoặc bởi những đặc điểm (về chất và lượng) của chính đối tượng tác động đã
bị hành vi khách quan của tội phạm làm biến đổi tình trạng như ở các tội chiếm đoạt tài sản (tội ttộm cắp tài sản, tội tham ô tài sản ) Tội phạm nào cũng có thể gây ra hậu quả thiệt hại, cũng có thể gây ra sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm Tuy nhiên, không phải tất
cả các cấu thành tội phạm đều có dấu hiệu phản ánh nội dung này mà chỉ có
3
Trang 6một số cấu thành tội phạm nhất định Những cấu thành tội phạm này như được trình bày trong chương IV được gọi là cấu thành tội phạm vật chất Trong các cấu thành tội phạm vật chạt, hậu quả thiệt hại không được phản ánh một cách trực tiếp mà được phản ánh thông qua đổi tượng tác động của tội phạm, về thực chất, hậu quả của tội phạm là thiệt hại gây ra cho quan
hệ xã hội nhưng về hình thức, dấu hiệu trong cấu thành tội phạm phản ánh nội dung này là dấu hiệu thể hiện sự biến đổi tình trạng bình thường của đổi tượng tác động của tội phạm hoặc thể hiện đặc điểm (về chất hoặc lượng) của đối tượng tác động của tội phạm Cho nên, trong thực tiễn áp dụng, việc xác định, đánh giá hậu quả của tộỉ phạm được thực hiện thông qua việc xác định, đánh giá đặc điểm của đổi tượng tác động của tội phạm hoặc sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm Do thực tế này mà nhiều khi dẫn đến sự đồng nhất giữa hậu quả thiệt hại với sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm Bất cứ sự biến đổi nào của đối tượng tác động của tội phạm, dù sự biến đổi đó được hoặc không được phản ánh trong cấu thành tội phạm cũng chỉ là hình thức biểu hiện hậu quả thiệt hại cho xã hội
Sự biến đổi của đối tượng tác động của tội phạm được phản ánh trong cấu thành tội phạm có thể là:
Sự biến đổi tình trạng bình thường của thực thể tự nhiên của con người: Sự biến đổi này thường được gọi là thiệt hại về thể chất Các thiệt hại này bao gồm thiệt hại về tính mạng (hậu quả chết người) như ở tội giết người (Điều
123 BLHS), tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS) và thiệt hại về sức khoẻ (hậu quả thương tích hoặc các tổn hại cho sức khoẻ) như ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 134 BLHS), tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều
138 BLHS)
Ngoài thiệt hại về thể chất, hành vi phạm tội còn có thể gây ra thiệt hại về tinh thần Đó là thiệt hại gây ra cho nhân phẩm, danh dự, tự do của con người Thiệt hại này do khó xác định trong thực tế nên nói chung không được phản ánh trong cấu thành tội phạm
Sự biến đổi tình trạng bình thường của đổi tượng vật chất là khách thể của quan hệ xã hội: Sự biến đổi này thường được gọi là thiệt hại về vật chất Thiệt hại này có thể dưới dạng tài sản bị phá hoại (Điều 114 Bộ luật hình sự năm
4
Trang 72015), bị phá hủy (Điều 303 BLHS), bị huỷ hoại (Điều 178 BLHS) hoặc dưới dạng tài sản bị chiếm đoạt (Điều 168 đến Điều 175 BLHS) hoặc dưới dạng tài sản bị sử dụng trái phép (Điều 177 BLHS) hoặc dưới dạng tài sản bị chiếm giữ trái phép (Điều 176 BLHS)
Sự biển đổi xử sự của con người: Hành vi khách quan có thể là sự tự làm biến dạng xử sự của chính chủ thể nhưng cũng có thể làm biến dạng xử sự của người khác Trong những trường hợp như vậy, xử sự đã biến dạng (làm hoặc không làm một việc) được coi là kết quả của hành vi khách quan đã thực hiện của người phạm tội Kết quả này có thể được phản ánh trong cấu thành tội phạm là dấu hiệu khách quan - dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội Ví dụ: Xử sự tự sát có thể là hậu quả của hành vi xúi giục người khác tự sát (Điều 131 BLHS) hoặc của hành vi bức từ (Điều 130 BLHS); xử sự sống sa đoạ hoặc phạm pháp có thể là hậu quả của hành vi dụ dỗ người dưới 18 tuổi phạm pháp (Điều 325 BLHS)
Sự biến đổi khác: Đây là các biến đổi có tính nguy hiểm cho xã hội do hành vi khách quan gây ra mà không thuộc 4 loại biến đổi trên Đó có thể là sự biến đổi từ tình trạng an toàn sang tình trạng mất an toàn nghiêm trọng như an toàn giao thông đường sắt Sự mất an toàn nghiêm trọng ở đầy được hiểu là tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và tình trạng này có thể do hành vi vi phạm của con người gây ra (như hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường sắt đã gây ra tình trạng 2 đoàn tàu ngược chiều đi vào cùng đường ray và chỉ dừng lại khi cách nhau ít mét do được phanh kịp thời) Tình trạng này đã từng xảy ra trên thực tế và cũng được BLHS quy định tại khoản
4 Điều 267: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt trong trường hợp có khả năng thực tể dẫn đến hậu quả nếu không được ngăn chặn kịp thời” Trong quy định này, “khả năng thực tế dẫn đến hậu quả ” cần được hiểu là tình trạng nguy hiểm và tình trạng này là do hành vi
vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đương sắt gây ra Trong BLHS, tình trạng nguy hiểm được quy định trong một số điều luật, trong đó có các điều luật về các tội xâm phạm an toàn giao thông
Mục đích phạm tội là kết quả cần đạt được mà người phạm tội đã định ra trong ý thức chủ quan của mình khi thực hiện hành vi phạm tội Người phạm tội khi thực hiện tội phạm cố ý đều nhằm tới mục đích nhất định Nhưng chỉ
5
Trang 8có thể nói đến mục đích phạm tội của người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp vì chỉ trong những trường hợp này người phạm tội mới có sự mong muốn gây ra tội phạm để đạt mục đích phạm tội nhất định
Khi thực hiện tội phạm, người phạm tội thường nhắm tới những mục đích nhất định Mục đích phạm tội quyết định ý chí của người phạm tội, hướng ý chí đó đến việc thực hiện tội phạm Chỉ đối với những tội phạm có lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội mới có mục đích phạm tội Bởi vì, trong trường hợp này họ mới có sự mong muốn gây ra tội phạm để đạt được mục đích đó Ở những tội phạm có lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý, người phạm tội không mong muốn thực hiện tội phạm nên không có mục đích phạm tội (có thể có mục đích của hành vi) Trong thực tế, có một số mục đích phạm tội thường gặp: mục đích chống chính quyền nhân dân, nhằm chiếm đoạt tài sản, nhám trốn tránh nghĩa vụ quân sự,
Dấu hiệu mục đích của tội phạm có ý nghĩa trong việc định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt
Đối với những trường hợp mục đích phạm tội được phản ánh, trong cấu thành tội phạm thì dấu hiệu mục đích có ý nghĩa bắt buộc trong việc định tội danh
Một số tội phạm trong BLHS quy định mục đích phạm tội là dấu hiệu định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự Ví dụ: Khoản 1 Điều 123 BLHS quy định: Giết người “để thực hiện hoặc che giấu một tội phạm khác” tại điểm g là dấu hiệu định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự
Trong những trường hợp nhà làm luật không quy định mục đích là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì nó có ý nghĩa trong việc xác định tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, mức độ lỗi nên có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt
Phân biệt mục đích phạm tội với hậu quả của tội phạm:
Mục đích của tội phạm là kết quả mà người phạm tội đặt ra trong ý thức chủ quan của mình và mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội Mục đích được đặt ra trước và trong khi người phạm tội thực hiện tội phạm
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra trên thực
tế Hậu quả chỉ có thể xảy ra sau khi người phạm tội đã thực hiện tội phạm
6
Trang 9 Mục đích phạm tội là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm, còn hậu quả của tội phạm là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm Đây là hai khái niệm khác nhau, nhưng có quan hệ với nhau Trên cơ sở mục đích đặt ra, người phạm tội sẽ gây ra những hậu quả nhất định để đạt được mục đích đó Hậu quả xảy ra trên thực tế có thể thể hiện đầy
đủ mục đích của người phạm tội, nhưng cũng có thể chỉ thể hiện một phần mục đích của người phạm tội
2 Phân tích các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Anh/chị tâm đắc với nguyên tắc nào nhất, vì sao?
Phân tích các nguyên tắc cơ bản
a Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự
Nguyên tắc pháp chế là một nguyên tắc hết sức quan trọng và cơ bản của quá trình xây dựng và đổi mới pháp luật ở Việt Nam Nói đến pháp chế tức là nói đến sự triệt để tuân thủ pháp luật từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị,
xã hội và của công dân Nguyên tắc pháp chế có nguồn gốc từ nguyên lý không có tội nếu không có luật (La tinh: Nullum crimen sine lege” Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc pháp chế được coi là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ các hoạt động xây dựng và áp dụng pháp Luật hình sự Điều 2 Bộ
Luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ Luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.“ Nghĩa là những gì có thể là cơ sở của trách nhiệm hình sự, của việc áp
dụng hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cũng như việc
áp dụng mọi hình thức trách nhiệm hình sự với tính cách là hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội đều phải do pháp Luật hình sự quy định
Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế cụ thể là:
Về mặt lập pháp: việc sửa đổi, bổ sung, quy định tội phạm mới hay xoá bỏ một tội phạm phải được tiến hành một cách hợp pháp, theo đúng thủ tục luật định Theo cơ chế này, mọi tội phạm và hình phạt phải được Luật hình
sự quy định, “có luật, có tội” Ngoài ra, nguyên tắc pháp chế còn đòi hỏi pháp Luật hình sự phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học, được xây dựng một cách hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Các quy định của Luật hình sự phải được xây dựng một
7
Trang 10cách cụ thể, chính xác với các dấu hiệu của từng hành vi phạm tội và hậu quả pháp lý của nó
Về mặt áp dụng pháp luật: Nhà nước không chấp nhận một bản án hình sự
về một tội nào đó, nếu như tội này không được quy định trong Luật hình
sự hiện hành Việc xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không để oan người vô tội Hình phạt mà Toà án tuyên cho người phạm tội phải phù hợp với các quy định của Luật hình sự Các cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử phải tuân theo đúng và đầy đủ các thủ tục luật định Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi sự chính xác và thống nhất trong việc áp dụng Luật hình
sự, trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và của bản thân người phạm tội Điều đó có nghĩa là trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam, pháp Luật hình sự phải được áp dụng như nhau, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, thành phần xã hội… của người phạm tội Pháp luật phải được giải thích cụ thể bởi các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền nhằm tránh sự hiểu và vận dụng khác nhau đối với cùng một quy định nhưng ở những điều kiện khác nhau Một nội dung quan trọng không kém nữa là không áp dụng pháp luật tương tự
Đối với công dân, nguyên tắc pháp chế đòi hỏi mỗi người dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách triệt để, không ngừng tăng cường cảnh giác cao độ, nâng cao ý thức pháp luật, tích cực đấu tranh phòng và chống tội phạm
b Nguyên tắc dân chủ
Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào quá trình quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Đây là một nguyên tắc hiến định Trong Luật hình sự, nội dung của nguyên tắc dân chủ thể hiện ở các điểm sau:
Luật hình sự bảo vệ và tôn trọng các quyền dân chủ của công dân trong tất
cả các mặt của đời sống xã hội, kiên quyết xử lý các hành vi xâm phạm những quyền dân chủ của công dân Quyền lợi của công dân đều được bảo
vệ như nhau, không phân biệt nòi giống, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, tình hình kinh tế, tài sản; không quy định những đặc quyền, đặc lợi cho riêng một đối tượng, một tầng lớp, giai cấp nào
8