1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)

104 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Tác giả Diệp Phương Chi
Chuyên ngành Giáo dục nghề nghiệp
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2022
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hạn chế tính rủi ro, người nghiên cứu cần tìm hiểu kỹ các thông tin, đọc nhiều tài liệu, nghiên cứu các cơ sở lí luận phong phú về chủ đề nghiên cứu, rèn luyện đảm bảo các kỹ thuật th

Trang 1

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Trang 3

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

TÁC GIẢ: DIỆP PHƯƠNG CHI

Trang 5

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dẫn dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Trang 6

chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp được biên soạn dựa trên các định hướng về nội dung và yêu cầu của thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ

trung cấp Mô-đun này được thực hiện sau mô-đun MĐ06 với thời gian thực hiện là 24

giờ (Lý thuyết 07 giờ; Thực hành, thảo luận 16 giờ; Thi, kiểm tra 01 giờ)

Về tính chất, đây là mô-đun bắt buộc, tích hợp kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp, giúp người học có năng lực thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN) Mô-đun này trang bị cho học viên:

• Các phương pháp luận nghiên cứu khoa học, những kiến thức cơ bản về chiến lược và phương pháp để thực hiện công việc nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực GDNN

• Các kỹ năng thực hiện các giai đoạn nghiên cứu bao gồm xác định vấn đề, lựa chọn đề tài, lập đề cương nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu, viết báo cáo, bảo vệ và công bố kết quả nghiên cứu

• Thái độ trung thực, trách nhiệm, nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học, chủ động thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ đảm bảo tiến độ, chất lượng tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Về mục tiêu tiêu của mô-đun, sau mô-đun này, người học có khả năng:

• Kiến thức: Trình bày được những nội dung cơ bản khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ

• Kỹ năng: Thực hiện được các giai đoạn nghiên cứu một nhiệm vụ khoa học và công nghệ bao gồm lựa chọn vấn đề và xây dựng đề cương nghiên cứu, thu thập và xử

lý dữ liệu, viết báo cáo, tổ chức hội thảo khoa học, bảo vệ và công bố kết quả nghiên cứu

• Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Chủ động thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ đảm bảo tiến độ, chất lượng, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng trong dạy học, giáo dục người học và quản lý quá trình giáo dục nghề nghiệp

Về nội dung tổng quát, mô-đun gồm 03 bài theo theo yêu cầu của Thông tư số 06/2022/TT-BLĐTBXH:

Bài 1: Xây dựng đề cương nghiên cứu

Bài 2: Triển khai đề cương nghiên cứu

Bài 3: Công bố kết quả và đánh giá công trình khoa học

Về cách thức đánh giá kết quả học tập khi triển khai mô-đun, tùy theo đặc điểm của người học và bối cảnh tổ chức lớp học mà giảng viên có thể tổ chức cho học viên làm việc theo cá nhân hoặc theo nhóm hay tại lớp để lấy điểm quá trình và thực hiện bài tiểu luận kết thúc

Trang 7

MỤC LỤC

9 2.3 Xử lý dữ liệu và kiểm tra dữ liệu đã xử lý 52

10 2.4 Hoàn thiện dàn ý công trình nghiên cứu và viết báo cáo kết quả nghiên cứu 64

11 2.5 Đạo đức khoa học, quy tắc trích dẫn, dẫn nguồn 65

12 BÀI 3 CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 73

14 3.2 Bảo vệ và đánh giá kết quả nghiên cứu 78

15 3.3 Công bố, đăng ký sở hữu trí tuệ và chuyển giao kết quả nghiên cứu 87

Trang 9

1

BÀI 1 XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

A MỤC TIÊU:

Hoàn thành bài học này, người học có khả năng:

- Kiến thức: Phân tích được khái niệm nghiên cứu khoa học, quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học, các phương pháp nghiên cứu, khái niệm và cấu trúc của

đề cương, các điều kiện để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

- Kỹ năng: Lựa chọn đề tài nghiên cứu và xây dựng được đề cương nghiên cứu, dự kiến đầy đủ các điều kiện nghiên cứu

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Chủ động lựa chọn vấn đề và xây dựng đề cương nghiên cứu, dự kiến các điều kiện nghiên cứu đảm bảo tiến độ, chất lượng

B NỘI DUNG:

1.1 Khái quát về nghiên cứu khoa học 1.1.1 Các khái niệm và vấn đề cơ bản 1.1.1.1 Khoa học

a Khái niệm

Khái niệm hay thuật ngữ “khoa học” đã được biết đến từ rất lâu Từ thời kì cổ đại,

Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristole (384-322 TCN) đã cho rằng “chỉ có cái tổng quát mới đáng được gọi là khoa học”

Khoa học được hiểu là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy với những quy luật phát triển khách quan cùa tự nhiên, xã hội và tư duy Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện ấy, phát hiện ra mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, trang bị cho con người những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống (Nguyễn Văn Lê 1995, 12)

Có thể hiểu, khoa học là hệ thống tri thức về mọi quy luật biện chứng của các sự

vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy (Vũ Cao Đàm 1999, 13)

Cần phân biệt tri thức khoa học với tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm được tính lũy qua các hoạt động sống hằng ngày của con người, qua mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người và thiên nhiên Nó chỉ phản ánh một phần và chỉ có một giới hạn phát triển nhất định chứ chưa thể phản ánh được hết toàn bộ các thuộc tính, bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng Trong khi đó, tri thức khoa học là những

hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống, có cơ sở, có sự kiểm chứng nhờ các hoạt

động nghiên cứu khoa học, thông qua các thí nghiệm, thông qua các quan sát, phân tích, nhận định…để phản ánh được các quy luật, bản chất của các hiện tượng tự nhiên, xã hội,

tư duy và được tổ chức thành hệ thống tri thức (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 6)

b Nội dung và ý nghĩa của khoa học

Nội dung của khoa học bao gồm:

Trang 10

- Những tài liệu về thế giới do quan sát, điều tra, thí nghiệm mà có;

- Những nguyên lý được rút ra dựa trên những sự kiện đã được thực nghiệm chứng minh;

- Những quy luật, những học thuyết được khái quát bằng tư duy lý luận;

- Những phương pháp nhận thức sáng tạo khoa học;

- Những quy trình vận dụng lý thuyết khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội (Nguyễn Văn Tuấn 2019, 12)

Ý nghĩa của khoa học: Làm giảm nhẹ sức lao động của con người, cải thiện chất lượng cuộc sống, làm cho con người ngày càng văn minh hơn, vững tin hơn Con người hiểu được các quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy…sẽ có thể thúc đẩy xã hội phát triển nhanh chóng hơn Giúp con người chống lại các quan điểm sai trái như mê tín dị đoan, phân biệt chủng tộc, các hiểu biết sai trái về các hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy để tiến gần đến với chân lý hơn, chinh phục cuộc sống, có đời sống an toàn, tiện nghi và văn minh hơn

c Các tiêu chí nhận biết một bộ môn khoa học

Mỗi bộ môn khoa học được xác định dựa trên 3 tiêu chí cơ bản sau:

Tiêu chí 1: Có một đối tượng nghiên cứu

Tiêu chí 2: Có một hệ thống lý thuyết Lý thuyết là một hệ thống tri thức khoa học

bao gồm khái niệm, phạm trù, quy luật Hệ thống lý thuyết của một bộ môn khoa học thường gồm hai bộ phận: bộ phận riêng có và bộ phận kế thừa từ các khoa học khác

Tiêu chí 3: Có một phương pháp luận Phương pháp luận được hiểu theo hai nghĩa:

(1) Lý thuyết về phương pháp; (2) Hệ thống các phương pháp Phương pháp luận của một

bộ môn khoa học bao gồm hai bộ phận: Phương pháp luận riêng có và phương pháp luận thâm nhập từ các bộ môn khoa học khác

(Vũ Cao Đàm 1997, 19)

d Sự hình thành và phát triển một bộ môn khoa học

- Sự hình thành một bộ môn khoa học hay một khoa học mới đều xuất phát từ một tiên đề khoa học Ví dụ: từ tiên đề Euclide dẫn đến bộ môn khoa học hình học

- Sự hình thành một bộ môn khoa học mới có thể từ 2 con đường, đó là sự phân lập các môn khoa học hay sự tích hợp các môn khoa học Ví dụ: Phân lập như triết học, logic học, xã hội học, khoa học giáo dục(tậm lí học sư phạm, giáo dục học, lý luận dạy học…); Tích hợp như Kinh tế học giáo dục…

1.1.1.2 Nghiên cứu khoa học

a Khái niệm

Theo chữ Hán, nghiên cứu là hình ảnh lấy đá nghiền, lấy cối đầm để biết tính chất

của thuốc, tức tìm tòi cho biết thấu sự vật (Lý Văn Hùng 1959, 771) Trong đó, “nghiên”

(nghiền nát) gồm bộ thạch (đá) với hình các cọng cỏ, ý là lấy hòn đá giã lên dược thảo,

Trang 11

3

còn “cứu” (xét tìm) gồm bộ huyệt (lỗ) và chữ Cửu dùng để hài thanh (Châu Kim Lang

2002, 3)

Theo từ điển tiếng Việt, nghiên cứu là đi sâu vào vấn đề để tìm hiểu bản chất vấn

đề đó hoặc để tìm ra cách giải quyết những điều mà vấn đề đó đề ra (Nguyễn Lân 2000), hoặc nghiên cứu là xem xét, tìm hiểu kĩ lưỡng vấn đề để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn

đề hay để rút ra những hiểu biết mới (Viện ngôn ngữ học 2000)

Tác giả Shuttleworth (2008) cho rắng, “nghiên cứu bao hàm bất cứ sự thu thập dữ liệu, thông tin, và dữ kiện nào nhằm thúc đẩy tri thức” Creswell (2008) định nghĩa

“nghiên cứu là một quá trình có các bước thu thập và phân tích thông tin nhằm gia tăng

sự hiểu biết của chúng ta về một chủ đề hay một vấn đề”.

Nhìn chung, nghiên cứu là một công việc tìm tòi, xem xét cặn kẽ một vấn đề nào đó

để nhận thức nó, tìm giải pháp cho nó hoặc để cải tạo nó

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là quá trình tìm ra những tri thức khoa học mới, là

sự tìm tòi, khám phá bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư

duy…nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở

lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng (Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tuấn 2016)

Theo Dương Thiệu Tống, nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng Đó là hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ

chức nhằm thu thập thông tin, xem xét, phân tích, xếp đặt các dữ kiện lại với nhau rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường quy nạp và diễn dịch (Dương Thiệu Tống 2005, 22)

Theo Vũ Cao Đàm (1999), nghiên cứu khoa học là quá trình:

- Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng;

- Phát hiện quy luật vận động của sự vật và hiện tượng;

- Vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng nhằm thỏa

mãn nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới

Theo Đinh Văn Sơn và cộng sự (2015), “nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm kiếm, phát hiện, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm những kiến thức mới, lý thuyết mới…về tự

nhiên và xã hội”

Như vậy, nghiên cứu khoa học là một quá trình sử dụng những phương pháp khoa học, phương pháp tư duy để khám phá các hiện tượng, phát hiện quy luật nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, để giải quyết những nhiệm vụ lí luận hoặc thực tiễn

b Các đặc trưng của nghiên cứu khoa học

Một đề tài nghiên cứu khoa học nói chung phải bao gồm những đặc điểm sau:

(1) Tính mục đích: Nghiên cứu khoa học nhìn chung là nhằm khám phá thế giới,

phát hiện những quy luật, tri thức mới để vận dụng những quy luật và tri thức ấy vào cải tạo thế giới Do đó, một công trình nghiên cứu khoa học phải có mục đích và mục tiêu nghiên cứu rõ ràng Mục đích nghiên cứu là cái đích hướng đến, là ý nghĩa đóng góp có

Trang 12

tính chung và vĩ mô của nghiên cứu đối với xã hội, đối với cuộc sống hoặc đối với nhóm đối tượng hướng tới nhất định Mục tiêu nghiên cứu là cái đích cụ thể hơn của nghiên cứu Nó trả lời cho câu hỏi nghiên cứu này nhằm thực hiện được điều gì cụ thể, tạo ra sản phẩm nào cụ thể hoặc cần giải đáp được vấn đề gì cụ thể Mục tiêu nghiên cứu thường cũng phải đáp ứng tính SMART (S: specific – cụ thể, M: measurable - đo lường được, A: achievable - có thể đạt được, khả thi, R: realistic - thực tiễn, T: Timebound – có giới hạn thời gian)

(2) Tính mới: NCKH là quá trình thâm nhập vào thế giới sự vật hiện tượng mà con

người chưa biết, vì vậy quá trình nghiên cứu khoa học luôn phải là quá trình phát hiện ra cái mới hoặc sáng tạo ra cái mới Theo nhóm tác giả Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tuấn (2016) thì “tính mới mẻ là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học” Trong

nghiên cứu khoa học, tính mới có tính mới tuyệt đối và tính mới tương đối Tính mới tuyệt

đối đề cập đến sự tìm tòi, khám phá, phát hiện ra những quy luật, tri thức và giải pháp mới hoàn toàn mà trước đó con người chưa biết Tính mới tương đối đề cập đến sự tìm ra những khía cạnh mới, những phân nhánh mới nhất định trong những mảng mà trước đó con người đã khám phá, phát hiện được bản chất, quy luật của nó

Trong NCKH, tính mới ở đây có thể thể hiện ở nhiều khía cạnh: mới về ý tưởng, mới về dữ liệu, mới về phương pháp nghiên cứu, công cụ, kỹ thuật nghiên cứu Một đề

tài nghiên cứu có thể mới cả về ý tưởng, cả về dữ liệu lẫn phương pháp và công cụ nghiên cứu Hoặc với ý tưởng cũ nhưng đề tài nghiên cứu tạo ra được dữ liệu mới, hoặc sử dụng phương pháp, công cụ hoặc kỹ thuật nghiên cứu mới

(3) Tính tin cậy: Tính tin cậy của một nghiên cứu thể hiện ở chỗ kết quả nghiên cứu

hoặc dữ liệu nghiên cứu đều có khả năng kiểm chứng được Kết quả thu được giống nhau

trong những lần nghiên cứu với điều kiện giống nhau Để chứng minh tính tin cậy này,

người nghiên cứu phải làm rõ những điều kiện, nhân tố và phương tiện thực hiện Đồng

thời tính tin cậy của một nghiên cứu còn thể hiện qua sự rõ ràng, đầy đủ minh bạch của

nguồn tài liệu tham khảo, cách dẫn nguồn tài liệu tham khảo (Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn

Văn Tuấn 2016) Tính tin cậy của một nghiên cứu cũng thể hiện qua sự logic, biện chứng

của quá trình thực hiện nghiên cứu, của cách thức lựa chọn và thực hiện các phương pháp nghiên cứu, qua tính phù hợp và đảm bảo kỹ thuật của bộ công cụ nghiên cứu Cần đảm

bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, tính chính xác khi thực hiện các thao tác thí nghiệm, thực nghiệm (với phương pháp thực nghiệm) Cần thiết kế bộ câu hỏi khảo sát đúng kĩ thuật (với phương pháp khảo sát) Các câu hỏi có tính ổn định, đo đúng cái cần đo, có sự thống nhất nội tại, có cơ sở khoa học dựa trên cơ sở lí luận, có thể kiểm tra độ tin cậy và phù hợp của bảng hỏi qua các công cụ (ví dụ như Alpha Cronbach) Nhìn chung, tính tin cậy của một nghiên cứu còn thể hiện qua việc sử dụng một cách phù hợp và đúng kĩ thuật các

phương pháp nghiên cứu Ngoài ra, tính tin cậy cũng thể hiện qua cỡ mẫu nghiên cứu đủ lớn, đủ đại diện cho khách thể nghiên cứu

(4) Tính khách quan: Một nghiên cứu khoa học đảm bảo tính khách quan khi nó

thực sự phản ánh các quy luật và bản chất của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, tôn trọng các dữ liệu và thông tin khách quan, được diễn giải, biện chứng và xử lý

Trang 13

5

theo logic khách quan chứ không dựa vào cảm tính chủ quan hoặc thành kiến, định kiến của người nghiên cứu Tính khách quan còn thể hiện qua việc các kết quả nghiên cứu phải được đưa ra dựa trên bằng chứng (lí luận hoặc thực nghiệm) và phản ánh được khách quan về bản chất của sự vật hiện tượng, có thể kiểm chứng được chứ không phải dựa trên

ý chí chủ quan của người nghiên cứu

(5) Tính kế thừa: Quá trình NCKH ngày nay còn là quá trình truyền bá tri thức từ

thế hệ này sang thế hệ khác Con người khám phá tri thức, mở rộng tri thức và truyền bá

nó cho nhau quá thời gian Do đó, ngày nay hầu như không có nghiên cứu nào bắt đầu từ con số 0 mà đều phải kế thừa những thành quả nghiên cứu trước đó Tính kế thừa trong nghiên cứu thể hiện qua việc một nghiên cứu tham khảo kết quả, dữ liệu, thông tin từ các nghiên cứu khác (và phải thể hiện nó rõ ràng qua việc dẫn nguồn, trích dẫn minh bạch các tài liệu tham khảo) Tính kế thừa trong khoa học còn thể hiện qua sự thành lập các ngành khoa học thường dựa trên con đường phân lập hoặc tích hợp các bộ môn khoa học khác

(6) Tính rủi ro: Một nghiên cứu khoa học có thể thành công hay có thể thất bại, đó

chính là tính rủi ro của nghiên cứu Rủi ro của nghiên cứu có thể được đánh giá qua tần suất xuất hiện rủi ro hoặc mức độ nghiêm trọng của rủi ro Nguyên nhân của rủi ro trong quá trình nghiên cứu có thể là: Do thiếu thông tin cần thiết và tin cậy; Do trang thiết bị, công cụ nghiên cứu không bảo đảm; Do khả năng, trình độ của người nghiên cứu; Do giả thuyết sai; Do các nguyên nhân bất khả kháng khách quan Để hạn chế tính rủi ro, người nghiên cứu cần tìm hiểu kỹ các thông tin, đọc nhiều tài liệu, nghiên cứu các cơ sở lí luận phong phú về chủ đề nghiên cứu, rèn luyện đảm bảo các kỹ thuật thực hành trong phòng thí nghiệm, trang bị đầy đủ đồ bảo hộ thí nghiệm… Tuy nhiên, tính rủi ro và mạo hiểm trong nghiên cứu là một động lực thúc đẩy sự phát triển của khoa học, đôi khi người nghiên cứu phải dũng cảm chấp nhận tính rủi ro để tìm ra được cái mới trong nghiên cứu

1.1.1.3 Nghiên cứu khoa học giáo dục

Theo GS.TS Dương Thiệu Tống (2005), nghiên cứu khoa học giáo dục (NCKH GD)

là một hoạt động đặc thù trong lĩnh vực giáo dục Nó là hoạt động có tính hệ thống, xuất phát từ khó khăn trong hoạt động giáo dục hay từ nhu cầu nhận thức hoạt động giáo dục nào đấy, cố gắng hiểu biết nhằm tìm ra được cách giải thích sâu sắc về cấu trúc và cơ chế cùng biện chứng về sự phát triển của một hệ thống giáo dục nào đó hay nhằm khám phá ra những khái niệm, những quy luật mới của thực tiễn giáo dục mà trước đó chưa ai

biết đến (Dương Thiệu Tống 2005, 22)

Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn, hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động sáng tạo: sáng tạo ra tri thức mới, kinh nghiệm mới, phương pháp mới trong hoạt động giáo dục (Nguyễn Văn Tuấn 2019, 21)

Như vậy, NCKH GD là quá trình đi tìm tòi, khám phá ra các kinh nghiệm mới, giải pháp mới cho lĩnh vực giáo dục nhằm cải thiện chất lượng và hiệu quả giáo dục

1.1.1.4 Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

a Khái niệm

Trang 14

Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (NCKH GDNN) là hoạt động tìm tòi, khám phá và sáng tạo ra các tri thức mới, kinh nghiệm mới, phương pháp mới, công cụ mới, sản phẩm mới… trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, thúc đẩy sự gắn bó của việc đào tạo nghề với thực tiễn sản xuất, dựa trên

nền tảng phối hợp giữa khoa học sư phạm nghề, khoa học kỹ thuật công nghệ và phương pháp luận nghiên cứu khoa học nói chung

b Các lĩnh vực nghiên cứu của khoa học giáo dục nghề nghiệp

Khoa học giáo dục Việt Nam, theo học giả Dương Thiệu Tống thì là một không gian còn nhiều khoảng trống chưa được nghiên cứu Khoa học giáo dục nghề nghiệp (TVET – Technical Vocational Education and Training) nói riêng, cũng là một ngành khoa học tương đối mới trên thế giới cũng như tại Việt Nam, được phân lập từ khoa học giáo dục, lại càng có nhiều khoảng trống cần thúc đẩy các nghiên cứu để bổ sung làm phong phú thêm nguồn tri thức về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp

Khoa học giáo dục nghề nghiệp có những lĩnh vực cần nghiên cứu để phục vụ công tác giáo dục nghề nghiệp là:

• Nghiên cứu hệ thống giáo dục nghề nghiệp vĩ mô: Nghiên cứu cơ cấu tổ chức và

chức năng của các cơ quan giáo dục nghề nghiệp các cấp; Nghiên cứu phương pháp tổ chức quản lý và điều hành giáo dục nghề nghiệp như một khoa học; Nghiên cứu hệ thống ngành nghề với nhu cầu đào tạo những nghề mới, thực trạng đào tạo những nghề hiện có; Xây dựng danh mục ngành nghề đào tạo hợp lý tạo điều kiện cho việc liên thông dọc, ngang; Nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp so sánh; Nghiên cứu các giải pháp để thúc đẩy hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; Nghiên cứu các cơ chế chính sách hiệu quả thúc đẩy sự phát triển và nâng cao chất lượng của đào tạo nghề

• Tìm hiểu về người học nghề, phương pháp và hình thức giáo dục người học nghề:

Nghiên cứu về đặc điểm của người học nghề (tâm sinh lý, xuất thân, các đặc điểm văn hóa, xã hội, gia đình, các nét điển hình về nhân cách…), động lực học tập và lí do đến với ngành nghề, các đặc điểm và phong cách học tập, các đặc điểm giao tiếp, các hứng thú, nhu cầu, nguyện vọng liên quan đến việc học nghề; Nghiên cứu các phương pháp và hình thức giáo dục hiệu quả dành cho người học nghề trên cơ sở tìm hiểu các đặc điểm cá biệt của người học, tìm hiểu môi trường sống, môi trường giáo dục, các đặc điểm hoạt động, các đặc điểm địa phương…liên quan đến người học nghề, thông qua quan sát giáo dục, thực nghiệm sư phạm, nghiên cứu trường hợp, tổng kết kinh nghiệm giáo dục tiên tiến

• Nghiên cứu về quá trình dạy học nghề: Nghiên cứu về xây dựng mục tiêu, nội dung

đào tạo nghề; Nghiên cứu về phát triển chương trình đào tạo nghề, các vấn đề về nhu cầu đào tạo nghề, phân tích nghề, các kiểu chương trình đào tạo nghề, các hướng tiếp cận, phương pháp và quy trình phát triển chương trình đào tạo nghề; Nghiên cứu hồ sơ nghề, năng lực nghề; Nghiên cứu về các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nghề hiệu quả; Nghiên cứu về cách kiểm tra đánh giá trong đào tạo nghề; Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các phương tiện dạy học nghề; Nghiên cứu quá trình số hóa trong đào tạo nghề

• Nghiên cứu các mô hình và hình thức tổ chức đào tạo nghề: Nghiên cứu các mô

hình đào tạo nghề (tại các cơ sở đào tạo nghề, tại doanh nghiệp hoặc liên kết với doanh

Trang 15

• Nghiên cứu vấn đề hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo nghề

• Nghiên cứu vấn đề xanh hóa trong giáo dục nghề nghiệp – đào tạo nghề với phát triển bền vững

• Nghiên cứu vấn đề kiểm định và bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp

• Nghiên cứu vấn đề dạy học số, trường học mở trong giáo dục nghề nghiệp

1.1.2 Phân loại đề tài nghiên cứu khoa học và lĩnh vực khoa học

1.1.2.1 Phân loại đề tài nghiên cứu khoa học

Có rất nhiều cách phân loại các loại hình nghiên cứu khoa học từ các góc nhìn khác nhau và các tác giả khác nhau Dưới đây trình bày một số cách phân loại tiêu biểu được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận

a Phân loại theo chức năng nghiên cứu

Theo chức năng nghiên cứu, có thể phân loại nghiên cứu thành nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích, nghiên cứu giải pháp và nghiên cứu dự báo

Nghiên cứu mô tả:

Là các nghiên cứu nhằm mô tả để đưa ra hệ thống tri thức về sự vật hiện tượng, giúp con người có bộ công cụ để nhận dạng, phân biệt được sự khác biệt về bản chất giữa

sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác Nội dung mô tả rất phong phú:

- Mô tả từ hình thái bên ngoài đến cấu trúc bên trong, mô tả từ định tính đến định lượng, mô tả trạng thái, sự vận động của sự vật…

- Mô tả các tác nhân gây ra sự vận động của sự vật hiện tượng

- Mô tả những hậu quả của các tác động vào sự vật hiện tượng cả tích cực lẫn tiêu cực

- Mô tả quy luật chung chi phối quá trình vận động của hiện tượng

- Giúp nhận dạng và phân biệt được về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác

Nghiên cứu giải thích:

Là các nghiên cứu nhằm giải thích nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật hiện tượng (để phát hiện quy luật, tìm cách cải tạo) Nội dung của giải thích có thể bao gồm:

- Giải thích nguồn gốc xuất hiện của sự vật hiện tượng

- Giải thích hình thái bên ngoài, hình thức tồn tại của sự vật hiện tượng

- Giải thích động thái của sự vật hiện tượng trong quá trình vận động, giải thích sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành sự vật hiện tượng

- Giải thích các tác nhân gây ra sự vận động của sự vật hiện tượng

Trang 16

- Giải thích các hậu quả tác động vào sự vật hiện tượng cả tích cực lẫn tiêu cực

- Giải thích các nguyên nhân, các quy luật chung chi phối quá trình vận động của của sự vật hiện tượng trong quá trình hình thành, vận động và biến đổi của nó

Nghiên cứu giải pháp:

Là các nghiên cứu tạo ra các giải pháp giải quyết vấn đề, cải tạo thực tiễn Giải pháp

ở đây có thể là nguyên lý công nghệ mới, vật liệu mới, sản phẩm mới, phương pháp mới, hoặc cũng có thể là các giải pháp tác nghiệp trong hoạt động xã hội như trong kinh doanh, tiếp thị, dạy học, quản lý…

Nghiên cứu dự báo:

Là nghiên cứu đưa ra dự đoán về sự hình thành, phát triển và tiêu vong của sự vật hiện tượng, sự vận động và trạng thái của sự vật trong tương lai Ví dụ như các hiện tượng thiên văn, kinh tế, khí hậu, các biến cố chính trị, xã hội v.v…Tuy nhiên, cần lưu ý là mọi

dự báo đều phải chấp nhận khả năng sai lệch Sự sai lệch trong dự báo có thể có nhiều nguyên nhân như: sai lệch khách quan trong kết quả quan sát, hạn chế lịch sử do trình độ phát triển xã hội đương thời, những luận cứ bị biến dạng do sự tác động của các sự vật khác, môi trường biến động v.v…

(Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tuấn 2016; Nguyễn Văn Tuấn 2019)

b Phân loại theo phẩm chất của sản phẩm nghiên cứu

Theo phẩm chất của sản phẩm nghiên cứu, có thể phân loại nghiên cứu thành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai

Nghiên cứu cơ bản:

Là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật với các sự vật khác (Vũ Cao Đàm 1997, 21) Nói cách khác, nghiên cứu cơ bản là nhằm phát hiện về bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng Kết quả là tìm ra những quy luật, những định luật, những phát minh mới, dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát (Hemptinne 1981, dẫn theo Vũ Cao Đàm 1997, 22) Nghiên cứu cơ bản giúp tạo ra những

ý tưởng mới, những nguyên tắc và lý thuyết có thể không được sử dụng ngay lập tức nhưng lại hình thành cơ sở của sự tiến bộ và phát triển trong các lĩnh vực khác nhau (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 8)

Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại là nghiên cứu cơ bản thuần tuý (không

có ý nghĩa ứng dụng) và nghiên cứu cơ bản định hướng (đã dự kiến trước mục đích ứng dụng)

Nghiên cứu ứng dụng:

Là những nghiên cứu vận dụng những quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản

để tạo ra những nguyên lý mới về giải pháp và áp dụng vào thực tế cuộc sống Giải pháp được hiểu theo nghĩa rộng: Có thể là giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý Một số giải pháp công nghệ có thể thành sáng chế Yếu tố để phân biệt nghiên cứu ứng dụng với nghiên cứu cơ bản là phương hướng, mục tiêu ứng dụng đã định trước

Trang 17

9

để đạt tới kiến thức mới có tính mục đích thực tiễn (Trần Khánh Đức 2014, 659) Tuy nhiên, cần lưu ý, kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được ngay, để ứng dụng được thì cần tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, được gọi là nghiên cứu triển khai

Nghiên cứu triển khai:

Là nghiên cứu vận dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các

nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu và quy trình sản

xuất khả thi về kĩ thuật Nghiên cứu triển khai thì gồm triển khai trong phòng và triển khai bán đại trà

Triển khai trong phòng là các loại hình nghiên cứu triển khai sao cho ra sản phẩm

mà chưa quan tâm tối quy mô áp dụng Trong những nghiên cứu về công nghệ, nghiên cứu triển khai trong phòng được thực hiện trong phòng thí nghiệm, lab công nghệ, nhà kính (trong nghiên cứu nông nghiệp) Trên quy mô lớn hơn, hoạt động triển khai cũng có thể được thực hiện trong các xưởng thực nghiệm (pilot workshop) thuộc viện nghiên cứu hoặc xí nghiệp sản xuất

Triển khai bán đại trà còn gọi là pilot trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học

và công nghệ, là loại hình nghiên cứu nhằm kiểm chứng giả thuyết về hình mẫu trên một

quy mô nhất định, được gọi là quy mô bán công nghiệp

(Vũ Cao Đàm 1997, 21-24)

c Phân loại theo lĩnh vực khoa học

Theo lĩnh vực khoa học thì nghiên cứu được phân loại thành:

- Nghiên cứu Khoa học tự nhiên;

- Nghiên cứu khoa học xã hội;

- Nghiên cứu khoa học kỹ thuật;

- Nghiên cứu khoa học tư duy (Phạm Minh Hạc 1994)

d Phân loại theo logic tư duy

Theo logic tư duy thì nghiên cứu khoa học được chia làm hai loại: nghiên cứu diễn dịch và nghiên cứu quy nạp

Nghiên cứu diễn dịch:

Suy luận diễn dịch có đặc trưng là nếu các giả thuyết được lập ra ban đầu (tiền đề) đúng thì kết luận cũng phải đúng Theo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận, mà muốn suy luận thì phải có tiền đề và tiền đề đó đã được chấp nhận Nghiên cứu diễn dịch là suy luận dựa trên cách tiếp cận giả thuyết - suy luận Cách tiếp cận này dựa trên việc xây dựng một hay nhiều giả thuyết và sau đó đặt các giả thuyết đó trước một thực tế Mục đích là để đưa ra đánh giá về sự thích đáng của giả thuyết được đưa ra ban đầu

Nghiên cứu quy nạp:

Trang 18

Nghiên cứu quy nạp đưa ra một kết luận phỏng đoán dựa trên suy luận từ quy luật lặp đi lặp lại không đổi quan sát được đối với một số sự việc và rút ra sự tồn tại của một

sự việc khác không được chứng minh nhưng lại dcó liên quan thường xuyên đến các sự việc đã được quan sát trước đó (Morfaux, 1980)

(Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015)

e Phân loại theo phương pháp thu thập và phân tích số liệu:

Theo phương pháp thu thập và phân tích số liệu, có thể phân loại nghiên cứu thành nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Tuy nhiên, có nhiều tác giả cho rằng sự phân biệt này đôi khi không rõ ràng và đòi hỏi phải dựa trên nhiều tiêu chí để đánh giá Khi phân biệt giữa chất lượng và số lượng, các tác giả sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như “dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng, “biến số định tính và biến số định lượng”,

“phương pháp định tính và phương pháp định lượng” hay “nghiên cứu định tính” Thực

tế, sự khác biệt giữa định tính và định lượng cũng rất mơ hồ vì không có những tiêu chí cho phép phân biệt hai phương pháp một cách tuyệt đối (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 13) Do đó, một cách tương đối, có thể phân biệt nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng dựa vào một số tiêu chí như: dựa vào bản chất của dữ liệu, dựa vào tính khách quan hay chủ quan của kết quả nghiên cứu, dựa vào tính linh hoạt của của nghiên cứu Theo đó, một cách tương đối, có thể nhận thấy:

Nghiên cứu định tính:

Cung cấp các dữ liệu “mềm”, dữ liệu là các từ ngữ chứ không phải là các con số (Miles & Huberman 1984; Yin 2013), do đó cung cấp các thông tin và bằng chứng mang tính định tính chứ không phải cung cấp bằng chứng về mặt số lượng Tuy nhiên, cần chú

ý rằng bản chất của dữ liệu không quy định nhà nghiên cứu phải sử dụng phương pháp định tính hay định lượng để xử lý, vì nhà nghiên cứu vẫn thường xử dụng phương pháp thống kê mang tính định lượng để xử lý các biến định danh Nghiên cứu định tính thường

có tính chủ quan do nó không dựa trên số liệu mang tính số lượng cụ thể mà dựa trên sự

phân tích, đánh giá, suy luận chủ quan của người nghiên cứu Để giảm tính chủ quan này, cần có những kỹ thuật như nỗ lực cô lập đối tượng nghiên cứu, tách biệt giữa người quan sát và đối tượng quan sát, việc phân tích, giải thích vấn đề phải dựa trên vị trí là một đối tượng được nghiên cứu chứ không phải là của nhà nghiên cứu (Lincoln & Guba 1985; Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 16) Nghiên cứu định tính cũng có tính linh hoạt cao hơn nghiên cứu định lượng vì các vấn đề xã hội có thể thay đổi trong thực tế, do đó người nghiên cứu phải linh hoạt trong vấn đề nghiên cứu, trong phương pháp và tiến trình nghiên cứu chứ không nhất thiết phải tuân thủ chặt chẽ định hướng nghiên cứu ban đầu, miễn sao cho kết quả bám sát với thực tế quan sát (Stake 1995)

Nghiên cứu định lượng:

Cung cấp các dữ liệu “cứng”, dữ liệu là các con số, cung cấp các bằng chứng về số lượng Nghiên cứu định lượng thì bảo đảm tính khách quan nhiều hơn do dựa trên các số liệu cụ thể và đặc trưng của phân tích số liệu thống kê Nghiên cứu định lượng cũng ít tính linh hoạt hơn so với nghiên cứu định tính do thường phải tuân thủ theo lịch trình cụ thể, chặt chẽ đi liền với các chi phí (cho thí nghiệm, thực nghiệm, cho bảng hỏi…)

Trang 19

11

1.1.2.2 Phân loại khoa học

Phân loại khoa học có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động khoa học vì:

- Bối cảnh khoa học – công nghệ đang phát triển nhanh như vũ bão hiện nay;

- Các ngành khoa học cũng được hình thành nhanh chóng;

- Việc phân biệt một cách rõ ràng các lĩnh vực khoa học và nhìn nhận xu hướng phát triển của những ngành khoa học mới là không đơn giản

Hiện nay có một số hệ thống phân loại khoa học lớn tiêu biểu sau đây:

a Dãy các khoa học Engels

K Marx và F Engels dựa trên tiêu chí là “dạng vận động vật chất”, từ đó sắp xếp

khoa học thành một dãy duy nhất ứng với các dạng vận động vật chất từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, được gọi là dãy các khoa học Engels: Cơ học, Vật lý, Hóa học, Sinh vật học…

Dãy khoa học của Engels đã chỉ ra được thứ tự các dạng vận động này ứng với các thang kế tiếp nhau trong sự phát triển của chính giới tự nhiên (evolution cosmoologique) cũng như của lịch sử khoa học

(Viện Sư phạm kỹ thuật 2020)

b Tam giác Kedrov

Kedrov đã phát triển ý tưởng của Engels và trình bày mô hình tri thức khoa học bằng một tam giác với ba đỉnh gồm (1) khoa học tự nhiên, (2) khoa học xã hội, (3) triết học Tam giác Kedrov được minh họa bằng hình dưới đây

Trang 20

Hình 1: Sơ đồ Tam giác Kedrov về phân loại khoa học (Kedrov 1965, dẫn theo Vũ Cao Đàm 1999, 16)

c Ma trận Tạ Quang Bửu: Tác giả Tạ Quang Bửu của Việt Nam cũng đưa ra bảng phân

loại khoa học được minh họa bởi bảng dưới đây

Bảng 1 : Ma trận Tạ Quang Bửu (Tạ Quang Bửu, Đặng Bá Lãm, Vũ Công Lập 1980)

Lý luận đến Thực

tiễn Dạng vận động vật chất từ thấp đến cao

Lý thuyết Ứng dụng Công nghệ Kinh tế Quản lý

Tự nhiên

Xã hội

Vật lý Hóa học Sinh học Lịch Sử

…………

Tâm lý học

Vật lý ứng dụng Hóa ứng dụng Sinh ứng dụng Bảo tàng học

…………

Tâm lý học ứng dụng Giáo dục học

Địa vật lý Công nghệ hóa học Công nghệ sinh học

Tư vấn tâm

Tư vấn giáo dục

Khai mỏ Công nghiệp hóa

Kỹ thuật của quản lý

Tâm lý học

QL Quản lý giáo dục

1.1.3 Logic nội dung đề tài nghiên cứu khoa học và tiến trình thực hiện 1.1.3.1 Tiến trình tư duy trong nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học phải tuân theo một trật tự logic nhất định của tư duy Trình tự nghiên cứu khoa học bao gồm 4 bước như sau:

- Xác định và lựa chọn vấn đề nghiên cứu

- Xây dựng luận điểm khoa học

- Chứng minh luận điểm khoa học

- Trình bày luận điểm khoa học (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 35)

1.1.3.2 Logic nghiên cứu khoa học

Logic của nghiên cứu khoa học là quy trình các giai đoạn, các bước, là quy trình công nghệ của nghiên cứu một đề tài khoa học Quá trình thực hiện một đề tài khoa học được thực hiện theo một cáu trúc mang tính hệ thống, chặt chẽ, bao gồm các thành phần sau đây:

- Phát hiện vấn đề nghiên cứu và xác định bản chất của vấn đề được biểu hiện trong thực tiễn

Trang 21

13

- Đánh giá mức độ của vấn đề nghiên cứu, phân tích các quan điểm, luận điểm và các lí thuyết khoa học liên quan

- Phát triển vấn đề thành đề tài nghiên cứu, nêu các nhiệm vụ cụ thể

- Thiết lập các giả thuyết khoa học và các định hướng cho giải quyết vấn đề của thực tiễn đặt ra

- Đề xuất các phương thức kiểm nghiệm giả thuyết một cách khách quan

- Phân tích các luận cứ, các cứ liệu

- Dự kiến việc ứng dụng của đề tài nghiên cứu

- Khái quát các ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

(Nguyễn Văn Tuấn, Phan Long, Võ Thị Ngọc Lan 2008, 23) Logic này có thể được minh họa cụ thể bằng 7 bước cơ bản thông thường sau đây trong quá trình nghiên cứu khoa học:

• Bước 1 Quan sát sự vật, hiện tượng

• Bước 2 Phát hiện và đặt vấn đề nghiên cứu

• Bước 3 Xây dựng giả thuyết

• Bước 4 Thu thập thông tin (xây dựng luận chứng)

• Bước 5 Xây dựng luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn (Thu thập dữ liệu hay dữ liệu thí nghiệm)

• Bước 6 Phân tích và thảo luận

• Bước 7 Kết luận và đề nghị (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 45-48)

1.1.3.3 Logic nội dung đề tài nghiên cứu khoa học và tiến trình thực hiện

Đề thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu cần chú ý logic nội dung đề tài và tiến trình thực hiện cơ bản như sau:

(1) Giai đoạn chuẩn bị: Ở giai đoạn chuẩn bị, người nghiên cứu cần tiến hành các công việc như:

 Xác định tên đề tài: Đề tài nghiên cứu phải có tính cấp thiết với thời điểm mà

người nghiên cứu quyết định nghiên cứu, có tính mới mẻ, có ý nghĩa khoa học Khi giải quyết được có thể đem lại những giá trị thiết thực cho lí luận và thực tiễn Đề tài nghiên cứu có thể có cơ sở pháp lý (xuất phát từ những đòi hỏi mang giá trị pháp quy) hoặc xuất pháp từ bối cảnh thực tiễn, nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, của lĩnh vực chuyên môn mà người nghiên cứu đang thực hiện

 Soạn đề cương nghiên cứu: Đề cương nghiên cứu là một văn bản trình bày cấu

trúc nội dung công trình nghiên cứu sẽ được tiến hành với các dự định cụ thể và khoa học

 Lập kế hoạch nghiên cứu: Kế hoạch nghiên cứu là văn bản trình bày kế hoạch

dự kiến triển khai đề tài về tất cả các phương diện như nội dung công việc, kế hoạch thời gian, nhân sự phụ trách

Trang 22

 Lập thư mục các tài liệu tham khảo: Lập danh mục các tài liệu tham khảo phục

vụ cho quá trình làm đề cương nghiên cứu

(2) Giai đoạn triển khai nghiên cứu: Ở giai đoạn triển khai thực hiện công trình nghiên

cứu khoa học, người nghiên cứu tiến hành các bước:

 Nghiên cứu lịch sử vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu tổng quan các tài liệu, các

công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu Tìm hiểu lịch sử hình thành vấn đề Phân tích các kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan để kế thừa và tìm thấy những lỗ hổng nghiên cứu nhằm khẳng định tính cần thiết và tính mới mẻ của đề tài nghiên cứu

 Nghiên cứu cơ sở lý thuyết: Người nghiên cứu phải phân tích, tổng hợp, phân

loại, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu, suy luận, biện giải, so sánh, đối chiếu các thông tin, các dữ liệu khoa học có liên quan đến đề tài từ nhiều tài liệu khác nhau của các tác giả khác nhau để xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài Trong nghiên cứu khoa học, lý thuyết hay lí luận là mô hình trừu tượng diễn tả tính chất của các hiện tượng tự nhiên hay

xã hội Để xây dựng một lý thuyết mới, nhà nghiên cứu có thể tiếp cận theo 3 hướng sau:

(1) Xây dựng lý thuyết mới dựa trên việc khám phá lý thuyết đã có; (2) Xây dựng lý thuyết mới dựa trên khám phá bằng thực nghiệm; (3) Xây dựng lý thuyết mới dựa trên kết hợp cả hai phương pháp Tuy nhiên, nhiều tác giả cho rằng, trong nghiên cứu khoa

học, các phương pháp có tính thực nghiệm (như quan sát, phỏng vấn, khảo sát, mô phỏng, thí nghiệm hay kết hợp nhiều phương pháp, nhiều kỹ thuật) thường được sử dụng để xây dựng lý thuyết nhiều hơn là để kiểm định lý thuyết (Snow và Thomas, 1994), và để xây dựng một lý thuyết mới, dù không đặt ra ưu tiên cho phương pháp định tính hay định

lượng, nhưng trong xây dựng lý thuyết thì phương pháp định tính thường hiệu quả hơn Thực tế, có thể lựa chọn phương pháp định tính, định lượng, hay kết hợp cả hai

(Eisenhardt 1989; Đinh Văn Sơn cùng cộng sự 2015, 22-23) Bên cạnh đó, cần chú ý, khi

nghiên cứu cơ sở lý thuyết sử dụng hướng khám phá lý thuyết đã có theo tiếp cận định

tính, người nghiên cứu cần tuân thủ đúng quy tắc dẫn nguồn, trích dẫn Đồng thời nghiên

cứu cơ sở lý thuyết không đồng nghĩa với việc tổng hợp tài liệu, sưu tầm tài liệu, tổng thuật các tài liệu liên quan, mà người nghiên cứu cần phải có sự suy luận, phân tích, đối chiếu, so sánh, biện giải, đánh giá…các quan điểm khác nhau của các tác giả khác nhau, đưa ra các lập luận mới dựa trên tư duy logic, để từ đó có thể xây dựng được các

lý thuyết mới, lý luận mới có ý nghĩa làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu

 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn/ thực trạng: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu

thực tiễn để thu thập và xử lý dữ liệu nhằm tìm hiểu thực trạng liên quan tới đối tượng, tới chủ đề nghiên cứu làm cơ sở cho việc tìm kiếm giải pháp

 Tìm giải pháp/ chứng minh giả thuyết: Xây dựng giải pháp để giải quyết vấn

đề, chứng minh giả thuyết nghiên cứu, trả lời các câu hỏi nghiên cứu Có thể thực nghiệm

để kiểm chứng tính khả thi, hữu ích của giải pháp

(3) Giai đoạn viết công trình nghiên cứu: Viết công trình nghiên cứu là trình bày tất cả

các kết quả nghiên cứu bằng một văn bản, báo cáo khoa học, luận văn hay luận án Viết

Trang 23

15

Viết phần Mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục hình ảnh, danh mục từ viết tắt Viết phần Dẫn nhập: Phần này thường bao gồm:

- Lí do chọn đề tài

- Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Giả thuyết nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

- Giới hạn nghiên cứu (hay còn gọi là Phạm vi nghiên cứu)

- Những đóng góp mới hay ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

Viết chương 1 (Cơ sở lý luận): Trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu (lịch sử nghiên

cứu những vấn đề liên quan tới đề tài trong nước và thế giới) và các cơ sở lý luận của vấn

đề nghiên cứu (được tổng hợp, phân tích, biện giải từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo minh bạch khác nhau, được xây dựng bởi tư duy biện chứng, logic)

Viết chương 2 (Cơ sở thực tiễn): Trình bày các kết quả nghiên cứu thực trạng trên cơ sở

trình bày rõ các phương pháp, công cụ và cách thức nghiên cứu thực trạng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Viết các chương tiếp theo: Trình bày các kết quả nghiên cứu, các giải pháp và các kết

quả thực nghiệm (nếu có)

Viết phần Kết luận, kiến nghị: Phần kết luận trình bày các nội dung sau đây:

- Tóm tắt toàn bộ những kết quả quan trọng nhất của công trình nghiên cứu về mặt

lí luận cũng như về mặt thực tiễn;

- Trình bày ý kiến tự nhận xét, phê bình của người nghiên cứu;

- Đề xuất ứng dụng kết quả nghiên cứu;

- Bàn luận về hướng của các nghiên cứu tiếp theo có thể được mở ra từ nghiên cứu này;

- Kiến nghị với các bên có liên quan (ví dụ như các cơ quan có chức năng, các đơn

vị có trách nhiệm) trong việc ứng dụng kết quả nghiên cứu hoặc trong việc xử lý các vấn

đề được phát hiện, được vạch ra từ kết quả nghiên cứu

Hoàn thiện phần Tài liệu tham khảo, Phụ lục - phụ đính:

 Tài liệu tham khảo phải được trình bày theo chuẩn quốc tế:

- Nếu trích dẫn theo kiểu APA, tài liệu tham khảo cần được trình bày theo trình tự ABC họ tác giả

- Nếu trích dẫn theo kiểu IEEE, tài liệu tham khảo không trình bày theo ABC họ tác giả mà được đánh số tịnh tiến trong ngoặc vuông [1], [2], [3] theo đúng thứ tự đã trích dẫn trước đó trong văn bản

- Khi trình bày tài liệu tham khảo, cần chú ý tính thống nhất, nhất quán về hình thức trình bày của tất cả các tài liệu được dẫn, ví dụ như thống nhất về vị trí thứ tự trình bày của họ tên tác giả, năm xuất bản, tên sách, tên nhà xuất bản, nơi xuất bản, thống nhất về việc in nghiêng đối tượng nào, dùng dấu phẩy hay dấu chấm hoặc dấu hai chấm ở đâu khi trình bày tài liệu Tất cả phải giống nhau ở tất cả mọi tài liệu được trình bày trong danh mục Tài liệu tham khảo

Trang 24

 Phụ lục, phụ đính: Trong phần phụ lục – phụ đính, người nghiên cứu cần đính

kèm những dữ liệu quan trọng có tính minh chứng, làm rõ, bổ sung cho đề tài nghiên cứu,

ví dụ như bộ công cụ nghiên cứu (bảng hỏi, phiếu phỏng vấn, phiếu quan sát, ), các văn bản quan trọng có liên quan

(4) Giai đoạn nghiệm thu bảo vệ: Giai đoạn nghiệm thu bảo vệ là giai đoạn cuối cùng

để xác nhận kết quả nghiên cứu Tùy theo cấp độ nghiên cứu của đề tài (tiểu luậ, luận văn tốt nghiệp hay đề tài các cấp) mà quy trình và thủ tục nghiệm thu bảo vệ khác nhau

1.2 Lựa chọn đề tài nghiên cứu:

1.2.1 Tầm quan trọng của việc xác định đề tài nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu: Là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học độc lập theo

một đối tượng, nhiệm vụ, kế hoạch nghiên cứu cụ thể và do một cá nhân hay một nhóm nhà nghiên cứu cùng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, bản chất là một vấn đề khoa học Một vấn đề được chọn làm vấn đề khoa học khi có các đặc trưng: là sự kiện hay hiện tượng mới chưa được biết rõ, là mâu thuẫn hay vướng mắc chưa có đáp số mà bằng các kiến thức cũ không thể giải quyết được, đòi hỏi người nghiên cứu phải tìm hiểu để giải quyết Khi vấn đề được giải quyết sẽ cho thông tin mới có giá trị khoa học hoặc làm cơ

sở cho hoạt động thực tiễn

Tùy thuộc vào cấp quản lý mà các đề tài được phân theo các cấp như: Đề tài cấp Nhà nước, đề tài cấp Bộ/ Ngành, đề tài cấp Trường/ Viện…Ngoài ra, đề tài nghiên cứu cũng có thể thực hiện dưới hình thức luận văn (luận văn đại học, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp) hay luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ là một công trình nghiên cứu khoa học thể hiện nội dung, phương

pháp và các kết quả nghiên cứu của một tác giả luận án là một nghiên cứu sinh theo đuổi một đề tài hay chuyên đề ở trình độ tiến sĩ Yêu cầu cơ bản của một luận án tiến sĩ là phải

có tính mới, tính khoa học, tính giá trị Luận án phải đưa ra được kết quả mới về lý luận khoa học hoặc về phương pháp khoa học, tạo ra được các lý thuyết khoa học mới hoặc các giải pháp khoa học mới có giá trị lý luận và thực tiễn, thể hiện được khả năng nghiên cứu độc lập của tác giả luận án

Luận văn thạc sĩ là một công trình nghiên cứu khoa học thể hiện nội dung, phương

pháp và các kết quả nghiên cứu của tác giả theo một đề tài hay chuyên đề ở trình độ thạc

sĩ Yêu cầu cơ bản của luận văn thạc sĩ là phải thể hiện rõ kết quả học tập, nghiên cứu ứng dụng lý thuyết khoa học hoặc phương pháp khoa học trong quá trình giải quyết một vấn đề cụ thể do thực tiễn đặt ra Do đó, giá trị ứng dụng lý luận và phương pháp khoa học là giá trị cơ bản của một luận văn thạc sĩ thể hiện qua khả năng nhận dạng và xác định vấn đề nghiên cứu, thu thập và xử lý thông tin, tài liệu khoa học, khảo sát thực trạng

và đề xuất giải pháp…(Trần Khánh Đức 2014, 736)

Khóa luận/ luận văn/ đồ án tốt nghiệp là một văn bản trình bày kết quả nghiên cứu

khoa học có tính chất báo cáo kết quả học tập của một tác giả ở trình độ đại học (cử nhân/

kỹ sư) Yêu cầu cơ bản của một khóa luận/ luận văn/ đồ án tốt nghiệp là thể hiện được kết quả học tập phù hợp với mục tiêu đào tạo ở các ngành/ chuyên ngành tương ứng

Trang 25

17

- Tầm quan trọng của việc xác định đề tài nghiên cứu: Theo logic của nghiên cứu

khoa học cũng như logic tư duy trong nghiên cứu khoa học, việc nghiên cứu bao giờ cũng phải bắt đầu từ việc phát hiện vấn đề nghiên cứu và phát triển vấn đề thành đề tài nghiên cứu Xác định đề tài nghiên cứu phù hợp, có tính thực tiễn, khả thi, có ý nghĩa khoa học

sẽ giúp cho nhà nghiên cứu có các ý tưởng để xây dựng giả thuyết, tìm các luận chứng, luận cứ chứng minh giả thuyết, nỗ lực đi đến thành công trong kết quả nghiên cứu để tìm

ra các tri thức và kinh nghiệm mới, làm giàu cho vốn tri thức nhân loại Đề tài nghiên cứu phù hợp, thú vị cũng là nguồn động lực, cảm hứng cho nhà nghiên cứu thêm say mê với công tác nghiên cứu của mình, vun đắp tình yêu khoa học và khám phá tri thức Nếu không có đề tài nghiên cứu phù hợp, các bước tiếp theo của quá trình nghiên cứu đều gặp khó khăn (như xây dựng giả thuyết, xây dựng các luận chứng, luận cứ, tìm giải pháp), thậm chí bế tắc Và kết quả nghiên cứu (nếu có) trong những trường hợp đó thường không đem lại được những đóng góp có ý nghĩa cho lý luận và thực tiễn

1.2.2 Các yêu cầu đối với đề tài nghiên cứu

Một đề tài nghiên cứu khoa học được lựa chọn phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:

• Tính mới mẻ: Đề tài nghiên cứu phải có tính mới, có thể mới về ý tưởng, mới về

dữ liệu hoặc mới về phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận, kỹ thuật xử lý Đề tài phải dẫn đến kết quả nghiên cứu có sự đóng góp mới về lý luận hoặc về thực tiễn

• Tính giá trị: Đề tài nghiên cứu phải giúp đưa ra được những thông tin, những dữ

liệu có giá trị khoa học Kết quả nghiên cứu phải giúp làm mở rộng, làm phong phú cho

lý thuyết hoặc đưa ra được những giải pháp, những cách giải quyết hữu ích cho thực tiễn, cho thực hành

• Tính thực tiễn: Nội dung đề tài phải có thật, xuất phát từ thực tế khách quan, đáp

ứng được yêu cầu của thực tiễn, gắn với thực tiễn

• Tính khả thi: Đề tài được lựa chọn phải có tính khả thi, có độ khó và độ phức tạp

vừa sức với nhóm nghiên cứu/ người nghiên cứu, phù hợp với điều kiện thực hiện của nghiên cứu trong bối cảnh thực tiễn

1.2.3 Các điều kiện lựa chọn đề tài nghiên cứu

Theo tác giả Châu Kim Lang (2002), việc lựa chọn đề tài nghiên cứu phụ thuộc vào các điều kiện chủ quan và khách quan như:

- Điều kiện chủ quan của người nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được lựa chọn phải

có tính vừa sức với khả năng và kinh nghiệm của người nghiên cứu, người nghiên cứu có hứng thú với chủ đề nghiên cứu;

- Điều kiện khách quan của việc nghiên cứu: Ngoài yếu tố chủ quan liên quan đến

người nghiên cứu, còn các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến việc lựa chọn đề tài nghiên cứu như đối tượng nghiên cứu, thời gian và thời điểm nghiên cứu, phương tiện và phương pháp nghiên cứu, người cộng tác và người hướng dẫn đề tài Tất cả các yếu tố đó phải có

Trang 26

sự thuận lợi và phù hợp nhất định cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu thì người nghiên cứu mới có thể lựa chọn và triển khai đề tài nghiên cứu

Theo Đinh Văn Sơn cùng cộng sự (2015), việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu phải

dựa trên những căn cứ sau: (1) Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không? (2) Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không? (3) Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không? (4) Có

đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài hay không? (5) Đề tài có phù hợp với

sở thích hay không?

Tác giả Trần Khánh Đức (2014) cũng lưu ý rằng khi lựa chọn đề tài nghiên cứu, cần chú ý sự phù hợp của đề tài nghiên cứu với chuyên ngành đào tạo, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, khối lượng và chất lượng nội dung, hình thức trình bày và cách lập luận cũng như khả năng bảo vệ quan điểm, ý kiến trong quá trình bảo vệ trước hội đồng khoa học

1.2.4 Các bước hình thành đề tài nghiên cứu

- Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu

Việc xác định vấn đề nghiên cứu thường gắn liền với câu hỏi “Cần chứng minh điều

gì?” hoặc “Cần làm điều gì?” Thường có hai trường hợp: Người nghiên cứu được giao

đề tài nghiên cứu hoặc người nghiên cứu tự phát hiện đề tài nghiên cứu Trong trường

hợp được giao đề tài, thì nhiệm vụ nghiên cứu thường có nguồn gốc từ chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ nhiệm vụ được giao của cơ quan chủ quản hay từ hợp đồng với các đối tác là các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội hoặc các cơ quan chính phủ Trong trường hợp này, việc xác định và lựa chọn vấn đề nghiên cứu được thực hiện dựa trên nhu cầu của cơ quan, đối tác giao nhiệm vụ nghiên cứu cho nhà nghiên cứu Nhiệm vụ của nhà nghiên cứu chỉ là tiếp nhận đề tài và tiến hành các bước nghiên cứu tiếp theo Trong trường hợp cần

tự phát hiện vấn đề nghiên cứu, người nghiên cứu có thể dựa vào nhiều nguồn khác nhau, như:

• Xem xét các khái niệm, lý thuyết, mô hình có liên quan đến hiện tượng nghiên cứu

để phát hiện các thiếu sót, các mâu thuẫn, các lỗ hổng về lý thuyết; Người nghiên cứu có thể dựa trên việc phát hiện những điểm còn thiếu sót, những lập luận chưa vững chắc của các mô hình, khái niệm, lý thuyết hiện có, những mâu thuẫn, những quan điểm trái chiều của các nhà nghiên cứu khác nhau, sự không đồng nhất trong các bước tiến hành nghiên cứu để làm xuất phát điểm cho việc xác định và lựa chọn vấn đề nghiên cứu của mình Rất nhiều nhà nghiên cứu đã xuất phát từ sự không đầy đủ của các lý thuyết đã tồn tại trước đó về một sự vật, hiện tượng hay xuất phát từ sự đối lập về cơ sở lý luận giải thích cho cùng một sự vật, hiện tượng để xây dựng đối tượng nghiên cứu cho mình Ngoài việc phát hiện điểm yếu và mâu thuẫn trong lý thuyết hay định nghĩa khái niệm hiện có, sử dụng một lý thuyết hay quan điểm lý thuyết để nghiên cứu các hiện tượng khác với các hiện tượng mà lý thuyết đó đang được áp dụng cũng là một nguồn xác định vấn đề nghiên cứu quan trọng (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 37) Nhà nghiên cứu cũng có thể lựa chọn việc kiểm chứng một vài nguyên lý đã được xây dựng nhưng chưa được kiểm chứng bằng thực nghiệm một cách thuyết phục (Bourgeois, 1990)

Trang 27

19

• Đánh giá lại các công cụ, phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu được sử dụng: Người

nghiên cứu có thể xác định vấn đề nghiên cứu thông qua việc xem xét lại các công cụ, phương pháp, kỹ thuật đang được áp dụng và tìm ra những hạn chế của nó, đồng thời đề xuất những phương pháp mới Ngoài ra, nhà nghiên cứu cũng có thể xem xét lại vấn đề nghiên cứu đã được đề cập tới trong các nghiên cứu khác bằng những công cụ mới, cách tiếp cận mới, phương pháp mới

• Quan sát các sự vật, hiện tượng, vấn đề trong thực tiễn hoạt động và chuyên môn:

Người nghiên cứu có thể quan sát trong thực tiễn hoạt động và chuyên môn của mình để phát hiện những mâu thuẫn, vướng mắc, những vấn đề cần giải quyết hoặc khám phá để cho ra lý thuyết mới, tri thức mới hoặc cho ra giải pháp mới để tìm ý tưởng về vấn đề nghiên cứu Người nghiên cứu cũng có thể xuất phát từ các chủ đề mà mình quan tâm không phụ thuộc lí do, không gian hay thời gian nào

- Bước 2: Phát triển vấn đề nghiên cứu thành đề tài nghiên cứu

Từ vấn đề nghiên cứu được phát hiện chuyển thành đề tài nghiên cứu là một quá trình mà nhà nghiên cứu phải sử dụng các phương pháp, kiến thức và cách tiếp cận khác nhau để xây dựng vấn đề dưới dạng các giả thuyết cần kiểm định

Khi xây dựng đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu cần lưu ý một số điểm sau đây:

• Người nghiên cứu phải biết giới hạn đối tượng nghiên cứu của mình bằng cách

đưa ra một vấn đề cụ thể, chính xác, rõ ràng Hay nói cách khác, đề tài nghiên cứu phải

có mục tiêu, đối tượng nghiên cứu rõ ràng, cụ thể, và phải vạch ra hướng đi chủ đạo cho

nghiên cứu

• Bên cạnh đó, do giới hạn về thời gian và phương tiện nên người nghiên cứu cũng

phải hạn chế đối tượng nghiên cứu của mình Nhà nghiên cứu nên nói nhiều và sâu về

một vấn đề nhỏ chứ không nên nói ít và sơ sài về một vấn đề lớn Trái lại, nhà nghiên cứu cũng không nên lựa chọn vấn đề nghiên cứu có phạm vi quá nhỏ, có thể khiến cho nghiên cứu quá bó hẹp và không đánh giá được hết về sự vật, hiện tượng được nghiên cứu

(Silverman 2001; Đinh Văn Sơn cùng cộng sự 2015)

Tựa đề tài nghiên cứu cần phản ánh cô đọng nhất nội dung của vấn đề cần nghiên cứu,

ít chữ nhất nhưng chứa đựng một lượng thông tin cao nhất Về mặt kết cấu, đề tài có thể theo một trong những cách sau:

• Đối tượng nghiên cứu (luôn luôn phải có)

• Giả thuyết nghiên cứu

• Mục tiêu (nhiệm vụ) nghiên cứu

• Mục tiêu (nhiệm vụ) + Môi trường

• Mục tiêu (nhiệm vụ) nghiên cứu + Phương tiện

• Mục tiêu + Phương tiện + Môi trường

Một số lưu ý khi chọn tên đề tài:

• Tựa đề tài không sử dụng các cụm từ có độ bất định cao về thông tin như “Thử bàn về…”, “Một số giải pháp về…”, “Một số vấn đề về…”

Trang 28

• Tránh những diễn đạt rườm rà, dài dòng để đặt tên đề tài như “…nhằm nâng cao chất lượng…”, “…góp phần vào…”

• Không diễn đạt quá dễ dãi, chung chung, ví dụ như “Đội ngũ giáo viên dạy thực trạng, nguyên nhân, giải pháp”, “Hội nhập-thời cơ và thách thức”

nghề-(Nguyễn Văn Tuấn, Phan Long, Võ Thị Ngọc Lan 2008)

Một số hướng chủ đề tham khảo trong nghiên cứu khoa học Giáo dục nghề nghiệp:

- Thiết kế dạy học nghề;

- Phương tiện dạy học nghề; Thiết kế, chế tạo mô hình và phương tiện dạy học nghề;

- Phương pháp dạy học nghề;

- Kiểm tra đánh giá trong dạy học nghề;

- Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp cho một vấn đề giáo dục nghề nghiệp;

- Các đề tài khác về xã hội, học đường và chuyên môn;

- Các mô hình, giải pháp trong dạy học nghề;

- Chính sách, hệ thống GDNN tại địa phương hoặc quốc gia;

- So sánh hệ thống GDNN các nước;

- Các vấn đề về tâm lý, nhu cầu, động lực…của người học nghề;

- Các hình thức giáo dục người học nghề;

- Các giải pháp gắn kết đào tạo nghề với thực tiễn sản xuất và thị trường lao động;

- Vấn đề hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo nghề;

- Vấn đề xanh hóa trong giáo dục nghề nghiệp – đào tạo nghề với phát triển bền vững;

- Vấn đề kiểm định và bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp;

- Nghiên cứu các kỹ thuật và công nghệ (chuyên môn kỹ thuật/ nghề) có liên quan đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề

v.v…

- Bước 3: Chính xác hóa tên đề tài

Người nghiên cứu xem xét để chính xác hóa tên đề tài, kiểm tra lại về mặt diễn đạt

và về mặt khoa học của tên đề tài Về mặt diễn đạt, tên đề tài đã được diễn đạt súc tích, đúng ngữ pháp và diễn tả rõ được chủ đề nghiên cứu hay chưa Về mặt khoa học, tên đề tài đã phản ánh rõ được đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu (nếu có) hay chưa

1.2.5 Kỹ thuật xác định đề tài nghiên cứu

Để xác định được đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu có thể áp dụng các phương thức sau:

- Quan sát thế giới xung quanh;

- Phát hiện ra các mâu thuẫn, các khúc mắc chưa có giải đáp;

Trang 29

21

- Nhận thấy những vấn đề liên quan đến chuyên môn chưa được hiểu rõ ràng, chưa

có cách vận dụng tối ưu, chưa có giải pháp hoặc có giải pháp nhưng chưa tối ưu, cần cải thiện v.v…

- Xem xét bối cảnh rộng và hẹp: Bối cảnh rộng liên quan đến bối cảnh xã hội và thời đại Bối cảnh hẹp liên quan đến tình huống trong ngành, trong chuyên môn, trong nhà trường, trong cơ quan…

- Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận khoa học;

- Nghĩ ngược lại với quan niệm thông thường;

- Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu;

- Suy nghĩ những câu hỏi xuất hiện bất chợt không phụ thuộc lý do nào;

- Theo dõi các thành tựu nghiên cứu khoa học;

- Nghiên cứu các phương pháp mới, quy trình mới, nguyên lý mới…áp dụng vào thực tiễn;

- Nghiên cứu đối tượng cũ bẳng các phương pháp mới và quan điểm mới với những điều kiện mới

- Phân tích và tổng hợp các tài liệu trong lĩnh vực chuyên môn của mình, tìm hiểu các tài liệu thống kê, tài liệu điều tra đã xuất bản

- Nhận dạng các vướng mắc trong hoạt động thực tế v.v

(Vũ Cao Đàm 1997, Võ Thị Ngọc Lan & Nguyễn Văn Tuấn 2016)

1.3 Xây dựng đề cương nghiên cứu 1.3.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng đề cương nghiên cứu

Đề cương nghiên cứu có vai trò như một khung xương của nghiên cứu, có tính định hướng cho nghiên cứu, vạch ra các bước đi chiến lược cho nghiên cứu Ở đề cương nghiên cứu, người nghiên cứu xác định lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu là gì, đối tượng nghiên cứu và các khách thể nghiên cứu ra sao, các nhiệm vụ nghiên cứu như thế nào Ở đề cương, người nghiên cứu cũng xây dựng giả thuyết nghiên cứu là tiền đề đầu tiên để thúc đẩy việc nghiên cứu Các chiến lược và phương pháp nghiên cứu cụ thể cũng được trình bày rõ rảng ở phần này Để đề tài không quá rộng vượt quá khả năng nghiên cứu, người nghiên cứu cũng xác định phạm vi, giới hạn của đề tài khi phác thảo để cương Dàn ý nội dung công trình với các thiết kế nghiên cứu ban đầu cũng được dự trù và trình bày trong bản đề cương này Kế hoạch thực hiện cũng được lên chi tiết cho việc triển khai thực hiện nghiên cứu với các mốc thời gian, nhiệm vụ cần làm và nhân lực thực hiện Có thể nói, đề cương nghiên cứu chính là một bản kế hoạch chi tiết cho việc nghiên cứu, định hướng mọi khía cạnh giúp cho đề tài nghiên cứu trở nên rõ ràng, khả thi với các phương pháp và bước đi chiến lược Nếu không có đề cương nghiên cứu, người nghiên cứu không thể tiến hành công tác nghiên cứu một cách khoa học, logic, có phương pháp, có cấu trúc phù hợp, việc nghiên cứu sẽ trở nên cảm tính, mơ hồ và dễ dẫn đến khả năng thất bại

Trang 30

1.3.2 Xây dựng cấu trúc và nội dung đề cương nghiên cứu

Một đề cương nghiên cứu thông thường thường bao gồm các mục sau đây:

(1) Lí do chọn đề tài (2) Mục tiêu nghiên cứu (3) Nhiệm vụ nghiên cứu (4) Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu (5) Giả thuyết nghiên cứu

(6) Phương pháp nghiên cứu (7) Phạm vi nghiên cứu (8) Dàn ý nội dung công trình (9) Kế hoạch nghiên cứu (10) Tài liệu tham khảo Các thành phần của đề cương nghiên cứu tiếp tục được phân tích, làm rõ sau đây:

(1) Lí do chọn đề tài:

Đề cập đến tầm quan trọng, tính mới, tính cấp thiết, khả năng thực hiện của đề

tài nghiên cứu thông qua các lí do khách quan và lí do chủ quan, đi từ bối cảnh rộng đến

bối cảnh hẹp và mối quan tâm của bản thân người nghiên cứu Để nêu được lí do chọn đề

tài, người nghiên cứu có thể đề cập đến các khía cạnh sau đây:

- Bối cảnh xã hội (rộng) có liên quan đến đề tài nghiên cứu để cho thấy tầm quan

trọng, tính thời sự, tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu;

- Bối cảnh xã hội (hẹp), ví dụ: tình huống trong nhà trường, trong ngành, trong lĩnh

vực chuyên môn…có liên quan đến đề tài nghiên cứu để cho thấy tính thực tiễn, tính cấp thiết, tính mới của đề tài nghiên cứu;

- Cơ sở pháp lý có liên quan, ví dụ: Các luật/ thông tư/ quy định/ chiến lược…được

ban hành từ phía nhà nước hoặc các văn bản, điều luật quốc tế có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, nhằm cho thấy tính pháp quy, tính cần thiết và thực tiễn của đề tài;

- Vai trò, năng lực, động lực nghiên cứu và mối quan tâm của người nghiên cứu đối

với chủ đề

Mục tiêu (objective) và mục đích (purpose) là những khái niệm then chốt trong nghiên cứu khoa học (Vũ Cao Đàm 1997, 28)

Mục tiêu nghiên cứu: Là cái đích mà nghiên cứu cần đạt được, để định hướng

những nỗ lực nghiên cứu Nó trả lời cho câu hỏi “Người nghiên cứu làm cái gì?”

Mục đích nghiên cứu: Là ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, trả lời câu hỏi “nhằm

vào việc gì?” hoặc “để phục vụ cho cái gì?”

Trong đề cương nghiên cứu, cần xác định thật rõ mục tiêu nghiên cứu một cách cụ thể để dẫn hướng cho nghiên cứu

Ví dụ: Đề tài “Thực trạng và hướng đổi mới nâng cao trình độ đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy kỹ thuật trong các trường ĐHSPKT”, với đề tài này, mục tiêu nghiên cứu

là phải trả lời được các câu hỏi của vấn đề nghiên cứu đưa ra:

Trang 31

23

- Thế nào là trình độ đào tạo và bồi dưỡng? Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích và xác định khái niệm về trình độ

- Nó đang như thế nào? Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả và phân tích thực trạng

- Tại sao phải đổi mới? Mục tiêu nghiên cứu: So sánh với các yêu cầu thực tế để tìm

ra những mặt hạn chế cần phải khắc phục

- Đổi mới những gì và như thế nào? Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất giải pháp đổi mới nâng cao trình độ đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy kỹ thuật trong các trường ĐHSPKT (Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tuấn 2016)

(3) Nhiệm vụ nghiên cứu:

Là các nhiệm vụ cụ thể mà người nghiên cứu phải thực hiện để đạt được mục tiêu

v.v…

(4) Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Là sự vật, hiện tượng, mối quan hệ được chọn để nghiên

cứu, là cái trung tâm cần khám phá, tìm tòi của đề tài nghiên cứu Nó trả lời cho câu

hỏi “Người nghiên cứu muốn nghiên cứu cái gì?” Đối tượng nghiên cứu chính là “đối tượng trực tiếp của nhận thức, là cái phải khám phá, phải tìm hiểu bản chất và quy luật vận động của nó” (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 32) Việc xác định đối tượng nghiên cứu là một bước quan trọng có tính chất quyết định trong quá trình nghiên cứu khoa học

vì nó giúp định hướng cho việc xây dựng mô hình và lựa chọn phương pháp nghiên cứu

ở bước tiếp theo

- Khách thể nghiên cứu: Là những đối tượng/ quá trình có liên quan xoay quanh,

cần tìm hiểu để có thể khám phá được về đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu có thể lớn và bao trùm cả đối tượng nghiên cứu “Khách thể nghiên cứu là hệ thống sự vật tồn tại khách quan trong các mối liên hệ mà người nghiên cứu cần khám phá, là vật mang đối tượng nghiên cứu” (Vũ Cao Đàm 1997, 27)

Trang 32

Ví dụ: Đề tài “Xây dựng các giải pháp giáo dục về môi trường cho sinh viên học nghề May thông qua modul Xử lý vải”, có đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu như sau:

Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp giáp dục về môi trường cho sinh viên học

nghề May thông qua modul Xử lý vải

Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học modul Xử lý vải (giảng viên, sinh viên,

nội dung học tập, mục tiêu học tập, điều kiện học tập, các quy định v.v…) và quá trình giáo dục về môi trường cho sinh viên học nghề (nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, các quy định pháp lý v.v…)

(5) Giả thuyết nghiên cứu:

Trước khi tiến hành nghiên cứu, người nghiên cứu cần phải phát biểu được giả thuyết nghiên cứu để làm cơ sở, làm định hướng cho nghiên cứu Có thể nói, “giả thuyết

là khởi điểm của mọi nghiên cứu khoa học, không có khoa học nào mà lại không có giả thuyết”, thậm chí “trong nghiên cứu, đặt ra một giả thuyết sai còn hơn không đặt ra giả thuyết nào” (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 28) Giả thuyết nghiên cứu, về bản chất:

• Là nhận định sơ bộ, là kết luận giả định của nghiên cứu, là sự phát biểu tạm thời

về hiện tượng mà người nghiên cứu đang muốn tìm hiểu hoặc là luận điểm mà người nghiên cứu cần chứng minh

• Nếu như vấn đề nghiên cứu là câu hỏi thì giả thuyết nghiên cứu là câu trả lời tạm thời cho câu hỏi nghiên cứu đó Có nhiều cách nêu giả thuyết nghiên cứu như: giả thuyết

mô tả, giả thuyết giải thích, giả thuyết giải pháp, giả thuyết dự báo v.v…

• Giả thuyết khoa học là một kết luận (mô hình) giả định hay một dự đoán mang tính xác suất về bản chất, các mối liên hệ và nguyên nhân của sự vật, hiện tượng

• Giả thuyết nghiên cứu là một giả thuyết khoa học khi nó phải được kiểm chứng/

kiểm nghiệm bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm (sau khi thực hiện quá trình

nghiên cứu) Nói cách khác, một giả thuyết nghiên cứu chỉ có ý nghĩa khi nó có thể được kiểm nghiệm (được chứng minh hoặc được bác bỏ) sau quá trình nghiên cứu Cần

chú ý trong quá trình xây dựng đề cương nghiên cứu, không nêu giả thuyết nghiên cứu

có tính chất vô thưởng vô phạt, mang tính chất đối phó, hình thức và không thể kiểm nghiệm được

Ví dụ: Nếu áp dụng quan điểm dạy học định hướng hành động trong tổ chức dạy

học modul Thiết kế trang phục dạ hội thì sẽ nâng cao được hứng thú học tập của sinh viên học nghề Thiết kế thời trang, phát triển được các năng lực chung và các năng lực về thiết

kế thời trang của sinh viên

Phân loại giả thuyết nghiên cứu:

Theo chức năng của nghiên cứu khoa học, giả thuyết được phân chia thành các loại giả thuyết mô tả, giả thuyết giải thích, giả thuyết giải pháp, giả thuyết dự báo

- Giả thuyết mô tả: Áp dụng trong nghiên cứu mô tả, là giả thuyết về trạng thái sự

vật hiện tượng;

Trang 33

25

- Giả thuyết giải thích: Áp dụng trong nghiên cứu giải thích, là giả thuyết về nguyên

nhân dẫn đến trạng thái sự vật hiện tượng mà người nghiên cứu đang quan tâm tìm hiểu;

- Giả thuyết giải pháp: Áp dụng trong các nghiên cứu giải pháp, là các phương án giả định về một giải pháp hoặc mô hình mẫu;

- Giả thuyết dự báo: Áp dụng trong các nghiên cứu dự báo, là giả thuyết về trạng thái của sự vật hiện tượng tại một thời điểm hoặc một khoảng thời gian nào đó trong tương lai

(Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tuấn 2016; Vũ Cao Đàm 1997, 55-56; Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015, 28)

Các yêu cầu khi xây dựng giả thuyết nghiên cứu:

Một giả thuyết khi nêu ra sẽ được kiểm nghiệm xem nó đúng hay sai so với thực tế Việc xây dựng giả thuyết do đó rất quan trọng đối với một nghiên cứu Đặc biệt, trong các nghiên cứu của lĩnh vực khoa học kỹ thuật, thực nghiệm, giả thuyết nghiên cứu sai ngay từ đầu có thể dẫn đến sự thất bại của nghiên cứu Do đó, người nghiên cứu cần phải hết sức cân nhắc, chú ý khi xây dựng giả thuyết nghiên cứu Một giả thuyết nghiên cứu tốt khi nó đáp ứng một số yêu cầu sau đây:

- Có căn cứ về mặt khoa học và phù hợp với cơ sở lý thuyết;

- Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế;

- Giả thuyết có khả năng giải thích phạm vi khá rộng các hiện tượng;

- Giả thuyết phải có khả năng kiểm nghiệm được (được chứng minh hoặc bác bỏ);

- Giả thuyết phải được đặt ra cụ thể, rõ ràng, càng đơn giản càng tốt, có tính khả thi

và diễn đạt không phức tạp

- Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay đổi trong quá trình nghiên cứu

(Thiétart và cộng sự 2003, dẫn theo Đinh Văn Sơn 2015, 28-30)

(6) Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu do mục tiêu và đối tượng nghiên cứu quyết định Để tiến hành nghiên cứu một công trình khoa học, người nghiên cứu phải sử dụng hợp lí các phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng hợp lý, phù hợp và đúng

kỹ thuật sẽ đảm bảo cho công trình nghiên cứu đạt kết quả Do đó:

• Trong đề cương, cần trình bày rõ chiến lược nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu dự kiến sử dụng, làm rõ các ý đồ và kĩ thuật sử dụng chúng như thế nào tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu

• Phương pháp phải phù hợp với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu

(7) Phạm vi nghiên cứu:

Ở phần này, cần trình bày các giới hạn của phạm vi nghiên cứu để tránh đề tài quá rộng

và vượt quá sức của người nghiên cứu VD:

- Giới hạn về độ lớn của môi trường nghiên cứu;

Trang 34

- Giới hạn về mẫu khảo sát;

- Giới hạn về phạm vi thực nghiệm

- v.v…

(8) Dàn ý nội dung công trình:

Tuỳ đặc thù của vấn đề nghiên cứu mà có cấu trúc dàn ý nội dung công trình cho phù hợp Thông thường, cấu trúc dàn ý nội dung công trình có hình thức như sau:

- Dẫn nhập

- Chương 1: Cơ sở lý luận

- Chương 2: Cơ sở thực trạng

- Chương 3 và các chương tiếp theo: Các giải pháp/ nội dung chính

- Chương cuối: Kết luận, đề nghị

- Phụ lục và tài liệu tham khảo

(9) Kế hoạch nghiên cứu:

Kế hoạch nghiên cứu là kế hoạch về các công việc cần thực hiện để hoản thành công trình nghiên cứu trong một thời gian nhất định Các nhiệm vụ cần được vạch ra kế hoạch thực hiện theo các khoảng thời gian cụ thể:

• Tuỳ khoảng thời gian phải hoàn thành đề tài nghiên cứu mà người nghiên cứu có thể lấy đơn vị thời gian trong kế hoạch là tuần, là tháng hay là quý

• Trình bày rõ ràng, logic, thấy rõ tiến độ thực hiện theo thứ tự thời gian tương ứng với các nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định

• Nên kẻ bảng để phần trình bày được rõ ràng hơn

(10) Tài liệu tham khảo:

• Liệt kê các tài liệu đã đọc để xây dựng đề cương, có chọn lọc phù hợp với phạm

- Chuẩn bị các điều kiện chủ quan cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu:

• Người nghiên cứu cần xây dựng và duy trì động lực nghiên cứu, hứng thú với đề tài

• Chuẩn bị thời gian dành cho đề tài nghiên cứu;

• Chuẩn bị quyết tâm dành cho công tác nghiên cứu;

• Tự trang bị kiến thức, phương pháp luận nghiên cứu;

• Liên tục cập nhật, tìm hiểu kiến thức mới, rèn luyện năng lực chuyên môn và năng lực nghiên cứu khoa học

Trang 35

27

• Tìm người cộng tác và/ hoặc người hướng dẫn phù hợp;

• Chuẩn bị các thủ tục hành chính và pháp lý cần thiết liên quan đến đề tài

• Chuẩn bị về thời gian và địa điểm nghiên cứu

1.4.2 Dự kiến nguồn lực thực hiện nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu thành công, người nghiên cứu cần phải chuẩn bị các nguồn lực nghiên cứu:

- Chuẩn bị kinh phí nghiên cứu: Kinh phí nghiên cứu có thể do cá nhân bỏ ra hoặc

được tài trợ bởi một đơn vị, tổ chức nào đó

- Chuẩn bị không gian nghiên cứu: Xác định các cơ sở vật chất phục vụ cho công

tác nghiên cứu (ví dụ như phòng thí nghiệm, địa điểm thực nghiệm )

- Chuẩn bị vật liệu, vật tư, trang thiết bị, công cụ nghiên cứu

- Chuẩn bị máy móc thiết bị cần thiết cho công tác nghiên cứu

- Chuẩn bị nguồn lực về nhân sự (trong trường hợp nhóm nghiên cứu gồm nhiều

người và/ hoặc có sự hợp tác giữa các bên)

Trang 36

CÂU HỎI, BÀI TẬP CỦNG CỐ BÀI 1

Câu 1: Hãy trình bày khái niệm khoa học, nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

và phân tích các lĩnh vực nghiên cứu của khoa học giáo dục nghề nghiệp

Câu 2: Tiêu chí nhận biết một bộ môn khoa học?

Câu 3: Có những cách phân loại đề tài nghiên cứu khoa học và lĩnh vực khoa học như

thế nào? Hãy trình bày một số cách phân loại đề tài nghiên cứu khoa học và lĩnh vực khoa học

Câu 4: Hãy nêu quy tắc dẫn nguồn, trích dẫn

Câu 5: Một đề tài nghiên cứu được hình thành như thế nào? Hãy phân tích các yêu cầu

đối với một đề tài NCKH

Câu 6: Hãy nêu cấu trúc và nội dung của một đề cương nghiên cứu Câu 7: Mỗi nhóm học tập chọn một đề tài nghiên cứu, lập đề cương nghiên cứu cho đề

tài này Yêu cầu:

- Đảm bảo đúng hình thức của đề cương nghiên cứu khoa học và văn phong khoa học;

- Đảm bảo dẫn nguồn, trích dẫn đầy đủ;

- Danh mục tài liệu tham khảo trình bày đúng quy cách

Trang 37

29

TÀI LIỆU THAM KHẢO CỦA BÀI 1

1 Châu Kim Lang (2002): Phương pháp nghiên cứu khoa học Tài liệu Đại học Sư

phạm kỹ thuật Tp.HCM

2 Creswell (2002): Research Design: Quantitative and Qualitative Approaches (2nd

edn), Thousand Oaks, CA: Sage

3 Dương Thiệu Tống (2005): Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý

NXB Khoa học xã hội

4 Đinh Văn Sơn (cùng các cộng sự) (2015): Phương pháp nghiên cứu khoa học Giáo

trình Đại học Thương Mại NXB Thống kê

5 Eisenhardt K M (1989): Building Theories from Case Study Research Academy of

Management Review, vol 14, n° 4, 1989, pp 532-550

6 Lý Văn Hùng (1959): Tân biên Hoa Việt từ điển NXB Chợ Lớn

7 Lincoln Y S., Guba E G (1985): Naturalistic Inquiry Beverly Hills, CA, Sage

8 Nguyễn Văn Lê (1995): Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Trẻ

9 Nguyễn Văn Tuấn (2019): Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục ĐH Sư phạm kỹ thuật Tp.HCM NXB Đại học Quốc gia TP HCM

10 Nguyễn Văn Tuấn, Phan Long, Võ Thị Ngọc Lan (2008): Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục Tài liệu Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp.HCM

11 Nguyễn Lân (2000): Từ điển từ và ngữ tiếng Việt NXB Thành phố Hồ Chí Minh

12 Phạm Minh Hạc (1994): Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB Tp.HCM

13 Trần Khánh Đức (2014): Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực NXB Giáo dục,

Hà Nội

14 Tạ Quang Bửu, Đặng Bá Lãm, Vũ Công Lập (1980): Một dự thảo về phân loại khoa học Tạp chí Hoạt động khoa học, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, số 2

(tr.17-22) – số 3 (tr 9-14) tháng 2/1980

15 Silverman D (2011): Interpreting Qualitative Data SAGE Publications Ltd;

Fourth Edition edition

16 Shuttleworth, M (2008): “Definition of Research” Explorable Explorable com

(Retrieved: 2014)

17 Stake R E (1995): The Art of the Case Study Research Thousand Oaks, CA, Sage

18 Viện ngôn ngữ học (2000): Từ điển tiếng Việt Trung tâm từ điển học, Hà Nội

19 Viện Sư phạm kỹ thuật (2020): Tài liệu bồi dưỡng nâng hạng chức danh nghề nghiệp cho nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp Dựa trên tài liệu của Tổng cục Giáo dục nghề

nghiệp Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp.HCM

20 Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tuấn (2016): Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục ĐH Sư phạm kỹ thuật Tp.HCM NXB Đại học Quốc gia TP

HCM

21 Vũ Cao Đàm (1999): Phương pháp luận nghiên cứu khoa học NXB Khoa học và Kỹ

thuật, Hà Nội

Trang 38

BÀI 2 TRIỂN KHAI ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

A MỤC TIÊU:

Hoàn thành bài học này, người học có khả năng:

- Kiến thức: Trình bày được các chiến lược và phương pháp nghiên cứu; Phân tích được cách sử dụng các phương pháp nghiên cứu để thu thập dữ liệu; Trình bày vai trò, các nguồn dữ liệu và các bước xử lý và kiểm tra dữ liệu Trình bày được về cấu trúc, hình thức của báo cáo và tóm tắt kết quả nghiên cứu

- Kỹ năng: Sử dụng được các phương pháp nghiên cứu để thu thập, xử lý đầy đủ, chính xác dữ liệu, kiểm tra được kết quả nghiên cứu Viết được một số nội dung cơ bản của báo cáo kết quả nghiên cứu và tóm tắt được kết quả nghiên cứu

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Thực hiện độc lập hoặc thực hiện theo nhóm trong việc thu thập, xử lý và kiểm tra dữ liệu, viết báo cáo kết quả nghiên cứu đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng của đề tài nghiên cứu

B NỘI DUNG:

2.1 Các phương pháp nghiên cứu 2.1.1 Tổng quan về phương pháp nghiên cứu 2.1.1.1 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp nghiên cứu khoa học là tổ hợp các thao tác, biện pháp thực tiễn hoặc

lí thuyết mà nhà khoa học đã sử dụng để nhận thức, khám phá đối tượng, tạo ra hệ thống những kiến thức về đối tượng Nói một cách đơn giản thì phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức làm việc của nhà khoa học để tìm hiểu, khám phá về đối tượng nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu còn có thể hiểu là cách thức được nhà nghiên cứu sử dụng

để tìm kiếm luận cứ và tổ chức chúng một cách logic để chứng minh cho luận điểm khoa học

(Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tuấn 2016; Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015)

2.1.1.2 Đặc trưng của phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng với 5 đặc trưng sau đây:

• Phương pháp mang tính chủ quan, do chủ thể lựa chọn: Phương pháp được lựa

chọn vị chi phối bởi trình độ nhận thức, năng lực và kinh nghiệm đã có của người nghiên cứu Muốn lựa chọn được phương pháp nghiên cứu phù hợp và đúng đắn, nhà khoa học phải có trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm dày dạn

• Phương pháp phải gắn liền với mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của đề tài nghiên

cứu chỉ đạo việc lựa chọn phương pháp Mục tiêu nghiên cứu như thế nào thì cần phải có những phương pháp phù hợp để giải quyết, để đạt được mục tiêu đề ra như thế nấy

Trang 39

31

• Phương pháp phải gắn liền với nội dung của vấn đề nghiên cứu: Nội dung công

việc quy định phương pháp và cách thức thực hiện công việc Trong NCKH, mỗi chuyên ngành có những phương pháp đặc thù riêng, mỗi đề tài có những nhóm phương pháp cụ thể Khi lựa chọn phương pháp nghiên cứu, nhà nghiên cứu phải xác định với nghiên cứu đang tiến hành, thông tin nào là cần thiết để giải quyết vấn đề nghiên cứu Một phương pháp hiệu quả phải cho phép thu được thông tin phù hợp nhất Việc lựa chọn một phương pháp không phù hợp có thể khiến cho toàn bộ nghiên cứu bị phủ nhận hoàn toàn (Đinh Văn Sơn và cộng sự 2015)

• Phương pháp gắn liền với phương tiện: Trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là

trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, phương tiện nghiên cứu đóng vai trò to lớn cho sự thành công của đề tài nghiên cứu Đó là phương tiện kỹ thuật, máy móc thiết bị được sử dụng trong phương pháp thực nghiệm, thí nghiệm Trong nghiên cứu khoa học xã hội, các phương tiện phục vụ nghiên cứu khác như máy ghi âm, quay phim, máy chụp hình, các bộ công cụ nghiên cứu cũng là những phương tiện hỗ trợ đắc lực cho các phương pháp nghiên cứu như quan sát, phỏng vấn, điều tra Phương pháp nghiên cứu nào gắn với phương tiện nghiên cứu đó

• Phương pháp phải gắn liền với đối tượng nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu có

hiệu quả khi nó phù hợp với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, với quy luật vận động khách quan của đối tượng “Đối tượng càng phức tạp càng cần có những phương pháp tinh vi” (Võ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tuấn 2016)

2.1.1.3 Các chiến lược nghiên cứu thường dùng trong nghiên cứu khoa học

Trước khi bàn về các phương pháp nghiên cứu cụ thể, người nghiên cứu có thể xem xét các chiến lược nghiên cứu có tính định hướng cơ bản trong nghiên cứu, như các chiến lược/ tiếp cận nghiên cứu dưới đây:

- Chiến lược tuyến tính và chiến lược tuần hoàn

- Phép tường giải (hermeneutics)

- Phép biện chứng (dialectics)

- Phép khám phá thông qua kinh nghiệm (heuristics)

Trong đó:

Chiến lược tuyến tính: là kiểu nghiên cứu theo cách đặt ra một giả thuyết cố định

ban đầu và đi kiểm chứng giả thuyết đó bằng các phương pháp phù hợp (Witt 2001) Thường được dùng phổ biến trong các nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học

kỹ thuật Trong nghiên cứu khoa học xã hội, chiến lược tuyến tính này thường được dùng xen kẽ trong chiến lược tuần hoàn

Chiến lược tuần hoàn (circular strategy) là chuỗi các bước nghiên cứu nhất định

được thực hiện qua nhiều lần và bước tiếp theo phụ thuộc vào kết quả của bước trước đó Thường được sử dụng trong những nghiên cứu xã hội mang tính định tính (Witt

2001) Cụ thể, khi bắt đầu nghiên cứu chỉ có sự hiểu biết sơ bộ về đối tượng nghiên cứu

và trên cơ sở này, chỉ một số ít các bước nghiên cứu có thể được lên kế hoạch trước, sau

Trang 40

đó, kết quả của việc xử lí dữ liệu ở phần nghiên cứu này lại là cơ sở cho các phần nghiên cứu tiếp theo (phía trước) và là cơ sở cho việc điều chỉnh cách đặt vấn đề trước đó (phía sau)

Chiến lược tuyến tính và chiến lược tuần hoàn được minh họa bằng hình vẽ dưới đây:

Chiến lược tuyến tính Chiến lược tuần hoàn

(Định lượng) (định tính)

Hình 2: Chiến lược tuyến tính và chiến lược tuần hoàn (tham khảo Witt 2001)

Phép tường giải (hermeneutics) hay còn gọi là phép thông diễn là phương pháp

mang tính diễn giải (Interpretation) của khoa học xã hội & nhân văn và khoa học văn bản Phép tường giải là phương pháp cổ điển nhất của phân tích văn bản, nó đề cập tới việc giải thích, diễn dịch, làm sáng tỏ (văn bản, tài liệu) nhằm làm thấu hiểu và đạt đến sự hiểu biết Trong diễn giải, điều quan trọng là phải biết bối cảnh lịch sử và bối cảnh của văn bản được phân tích ( Špiláčková 2014,32)

Nội dung của các văn bản được đặt trong bối cảnh và lịch sử của nó để phân tích, đối chiếu, giảng giải và đánh giá

Tư duy biện chứng (dialectics) giúp mô tả và phân tích các đối tượng trong sự vận

động, phát triển và thay đổi của nó (Kleining 1991, 22)

Tư duy khám phá qua kinh nghiệm (heuristics) là chiến lược căn bản của mọi

nghiên cứu (Kleining 1991, 16) Nghiên cứu mang tính khám phá dựa trên kinh nghiệm

là một quá trình bắt đầu với những hiểu biết có giới hạn về đối tượng nghiên cứu, thông

Kiểm tra giả thuyết

Thu thập dữ liệu

Phát biểu giả thuyết

Lựa chọn phương pháp

Lựa chọn đối tượng khảo sát

Các hiểu biết sơ bộ trước đó

Phát triển lí thuyết

Ngày đăng: 28/07/2023, 08:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Ma trận Tạ Quang Bửu (Tạ Quang Bửu, Đặng Bá Lãm, Vũ Công Lập 1980) - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Bảng 1 Ma trận Tạ Quang Bửu (Tạ Quang Bửu, Đặng Bá Lãm, Vũ Công Lập 1980) (Trang 20)
Hình 1: Sơ đồ Tam giác Kedrov về phân loại khoa học (Kedrov 1965, dẫn theo Vũ  Cao Đàm 1999, 16) - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 1 Sơ đồ Tam giác Kedrov về phân loại khoa học (Kedrov 1965, dẫn theo Vũ Cao Đàm 1999, 16) (Trang 20)
Hình 2: Chiến lược tuyến tính và chiến lược tuần hoàn (tham khảo Witt 2001) - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 2 Chiến lược tuyến tính và chiến lược tuần hoàn (tham khảo Witt 2001) (Trang 40)
Hình 7: Sơ đồ hình cây - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 7 Sơ đồ hình cây (Trang 63)
Hình 8: Sơ đồ hình thoi  (Vũ Cao Đàm 1999, 109-110) - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 8 Sơ đồ hình thoi (Vũ Cao Đàm 1999, 109-110) (Trang 63)
Đồ thị thông dụng trong NCKH. - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
th ị thông dụng trong NCKH (Trang 68)
Bảng 3: Ví dụ bảng trình bày kết quả đánh giá năng lực công nghệ của lớp thực nghiệm - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Bảng 3 Ví dụ bảng trình bày kết quả đánh giá năng lực công nghệ của lớp thực nghiệm (Trang 68)
Hình 9: Biểu đồ hình cột thể hiện mức độ HS giải quyết được các tình huống do GV đặt - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 9 Biểu đồ hình cột thể hiện mức độ HS giải quyết được các tình huống do GV đặt (Trang 69)
Hình 10: Biểu đồ hình quạt thể hiện mức độ hiểu biết của GV môn Công nghệ 6 về quan  điểm dạy học định hướng hành động (Phan Thị Ngọc Nhuyên 2022, 89) - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 10 Biểu đồ hình quạt thể hiện mức độ hiểu biết của GV môn Công nghệ 6 về quan điểm dạy học định hướng hành động (Phan Thị Ngọc Nhuyên 2022, 89) (Trang 69)
Hình 11: Biểu đồ tuyến tính thể hiện tần suất HS đạt điểm bài kiểm tra thường xuyên số - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 11 Biểu đồ tuyến tính thể hiện tần suất HS đạt điểm bài kiểm tra thường xuyên số (Trang 70)
Hình 12: Ví dụ về biểu đồ không gian (nguồn: internet) - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 12 Ví dụ về biểu đồ không gian (nguồn: internet) (Trang 71)
Hình 13: Các trình độ GDNN trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Tổng cục GDNN - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 13 Các trình độ GDNN trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Tổng cục GDNN (Trang 71)
Bảng 4: Phiếu đánh giá Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ dành cho thành viên hội đồng đánh  giá (trích, nguồn: Viện SPKT, ĐH SPKT Tp.HCM) - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Bảng 4 Phiếu đánh giá Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ dành cho thành viên hội đồng đánh giá (trích, nguồn: Viện SPKT, ĐH SPKT Tp.HCM) (Trang 88)
Hình 14: Mô hình quản lý và đánh giá chất lượng tổng thể đề tài NCKH (Trần Khánh  Đức 2014, 696) - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình 14 Mô hình quản lý và đánh giá chất lượng tổng thể đề tài NCKH (Trần Khánh Đức 2014, 696) (Trang 91)
Hình thức trình bày một công trình nghiên cứu (luận văn/ đồ án/ luận án) mỗi quốc  gia, mỗi trường, mỗi khoa, mỗi ngành khoa học có thể có những quy định khác nhau - Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp)
Hình th ức trình bày một công trình nghiên cứu (luận văn/ đồ án/ luận án) mỗi quốc gia, mỗi trường, mỗi khoa, mỗi ngành khoa học có thể có những quy định khác nhau (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm