Sau khi hoàn thành mô-đun này, người học có khả năng trình bày mục tiêu, đặc điểm của giáo dục nghề nghiệp; các mô hình và phương thức đào tạo nghề; hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Na
Trang 1CƠ SỞ CHUNG CỦA GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Trang 3TÁC GIẢ:
DƯƠNG THỊ KIM OANH
BÙI THỊ BÍCH DIỆP PHƯƠNG CHI
CƠ SỞ CHUNG CỦA GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Trang 5TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dẫn dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 6cấp (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2022/TT-BLĐTBXH ngày 06 tháng 4 năm 2022), Cơ
sở chung của giáo dục nghề nghiệp là mô-đun bắt buộc thuộc khối kiến thức cơ bản nền tảng
của sư phạm nghề nghiệp Sau khi hoàn thành mô-đun này, người học có khả năng trình bày mục tiêu, đặc điểm của giáo dục nghề nghiệp; các mô hình và phương thức đào tạo nghề; hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam và mô hình giáo dục nghề nghiệp của một số nước trên thế giới; phân tích bản chất của tâm lý học giáo dục nghề nghiệp và giải thích cơ sở tâm lý của hoạt động dạy - học trong giáo dục nghề nghiệp Bên cạnh đó, người học còn có khả năng áp dụng (1) mô hình và phương thức giáo dục nghề nghiệp, cơ sở tâm lý học của hoạt động dạy - học vào quá trình đào tạo; (2) kiến thức tâm lý và giáo dục vào hoạt động giáo dục người học
trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp Để đạt được các mục tiêu học tập này, Mô-đun Cơ sở chung
của giáo dục nghề nghiệp gồm 4 bài học sau:
Bài 1: Khái quát về giáo dục nghề nghiệp
Bài 1 trình bày khái niệm nghề nghiệp và giáo dục nghề nghiệp, mục tiêu và đặc điểm giáo dục nghề nghiệp, các mô hình và phương thức giáo dục nghề nghiệp, hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam và một số nước trên thế giới
Bài 2: Cơ sở tâm lý học của giáo dục nghề nghiệp
Để tổ chức quá trình dạy học và giáo dục cho người học trình độ trung cấp và cao đẳng đạt kết quả tốt, nhà giáo cần dựa trên cơ sở tâm lý học về hoạt động học và hoạt động dạy Bài
2 phân tích các cơ sở tâm lý của hoạt động học như sự phát triển tâm lý của người học, bản chất tâm lý của học tập, phong cách học tập, lý thuyết học tập, các mô hình học tập của người học trong giáo dục nghề nghiệp Bên cạnh đó, các cơ sở tâm lý của hoạt động dạy như thái độ, cảm xúc, tính cách, hành vi của nhà giáo trong lớp học, cơ sở tâm lý của dạy lý thuyết, thực hành và tích hợp, và các chiến lược dạy học hiệu quả trong lớp học cũng được đề cập sâu trong bài học này
Bài 3: Quá trình dạy - học nghề
Bài 3 tập trung phân tích những vấn đề chung của quá trình dạy học nghề như thành tố của quá trình dạy học nghề, bản chất, logic và nguyên tắc dạy học nghề Bài 3 còn trình bày các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học nghề
Bài 4: Hoạt động giáo dục nghề nghiệp
Các vấn đề về mục đích, nội dung hoạt động giáo dục nghề nghiệp; hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục nghề nghiệp đề trình bày trong Bài 4
Tài liệu Cơ sở chung của giáo dục nghề nghiệp được biên soạn bởi các giảng viên của
Viện Sư phạm Kỹ thuật - Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa, trích dẫn từ nhiều nguồn tài liệu của các nhà khoa học ở trong và ngoài nước đã công bố trên
ấn phẩm in hoặc trực tuyến Nhóm biên soạn xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các nhà khoa học
đã chia sẻ nguồn tư liệu khoa học được trích dẫn trong tài liệu học tập này Bên cạnh đó, tài liệu này cũng là sự tổng hợp các kinh nghiệm quý về chuyên môn của nhóm tác giả nhiều năm trực tiếp tham gia công tác đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
Trong quá trình biên soạn tài liệu, mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi các hạn chế nhất định Nhóm tác giả kính mong nhận được phản hồi từ người học và bạn đọc
về nội dung tài liệu này để tiếp tục chỉnh sửa và hoàn thiện
Trân trọng!
Trang 7MỤC LỤC
5 4 Hệ thống giáo dục nghề nghiêp Việt Nam và một số nước trên thế giới 13
7 BÀI 2 CƠ SỞ TÂM LÝ HỌC CỦA GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 17
8 1 Khái niệm, bản chất và tầm quan trọng của tâm lý học giáo dục nghề nghiệp đối với nhà giáo 17
13 1 Những vấn đề chung của quá trình dạy - học nghề 78
18 1 Mục đích và nội dung hoạt động giáo dục nghề nghiệp 89
19 2 Hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục nghề nghiệp 90
Trang 9BÀI 1 KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Thời gian thực hiện: 04 giờ
A MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này, người học có khả năng:
- Kiến thức: Trình bày được mục tiêu và đặc điểm của giáo dục nghề nghiệp; các mô hình và phương thức giáo dục nghề nghiệp; mô tả được hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam và mô hình giáo dục nghề nghiệp của một số nước trên thế giới
- Kỹ năng: Nhận diện được các mô hình và phương thức giáo dục nghề nghiệp tiên tiến theo định hướng phát triển năng lực người học; Áp dụng được mô hình và phương thức đào tạo nghề vào thiết kế và tổ chức dạy học trong giáo dục nghề nghiệp
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Chủ động, linh hoạt áp dụng các mô hình và phương thức giáo dục nghề nghiệp vào thiết kế và tổ chức dạy học trong giáo dục nghề nghiệp
B NỘI DUNG
1 Khái niệm nghề nghiệp và giáo dục nghề nghiệp
1.1 Nghề nghiệp
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người
có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội1 Nghề có các đặc trưng sau:
- Đó là hoạt động, là công việc thuộc lao động của con người có tính chu kỳ
- Là sự phân công trong lao động xã hội, phù hợp yêu cầu xã hội
- Nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để con người tồn tại và phát triển, là phương tiện sinh sống (làm thuê hoặc tự làm cho bản thân)
- Là lao động có kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt, có giá trị trao đổi trong xã hội
- Nghề nghiệp là một công việc được xã hội công nhận, tạo thu nhập cho cá nhân và mang lại lợi ích cho xã hội
1.2 Giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường
xuyên (Điều 3, Luật Giáo dục nghề nghiệp, 2014)
2 Mục tiêu và đặc điểm của giáo dục nghề nghiệp
2.1 Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp là một bộ phận của giáo dục nói chung, được xem là một quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới khơi dậy, biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của đối tượng được giáo dục theo hướng hoàn thiện và phát triển nhân cách nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội hiện đại GDNN bao gồm việc dạy và học, nó được ví như con đường cơ bản mà thông qua đó kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp sẽ được kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác
1 Chuyên trang giáo dục nghề nghiệp Khai niệm chung về nghề chung-ve-nghe-103.html
Trang 10https://gdnn.edu.vn/Huong-nghiep/khai-niem-Giáo dục nghề nghiệp luôn thể hiện tính lịch sử cụ thể và được ra đời trên một nền tảng kinh tế - xã hội, trình độ phát triển khoa học, công nghệ và sản xuất - kinh doanh nhất định Vì vậy, ở mỗi quốc gia đều có một hệ thống GDNN đặc thù Theo Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung (2009) của Việt Nam thì GDNN bao gồm: Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với dạy học nghề trình
độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với dạy học nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ được đào tạo Mục tiêu cụ thể đối với từng trình độ của giáo dục nghề nghiệp được quy định như sau:
a) Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề;
b) Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm;
c) Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc
2.2 Đặc điểm của giáo dục nghề nghiệp
GDNN không những mang các đặc điểm chung của GD và ĐT mà có những đặc điểm riêng Dưới đây là một số đặc điểm riêng chủ yếu của GDNN
GDNN gắn liền chặt chẽ và đáp ứng nhu cầu của TTLĐ và việc làm
Mục tiêu hàng đầu của GDNN là tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm thông qua dạy học, bồi dưỡng năng lực từng học viên, người lao động sao cho phù hợp với những nhu cầu và yêu cầu của thị trường lao động trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Hơn bất cứ phân hệ giáo dục nào, GDNN gắn liền chặt chẽ với nhu cầu lao động về số lượng, về cơ cấu trình độ, ngành nghề với nhu cầu học tập và việc làm của người lao động, đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ phát triển KT - XH trong phạm
vi toàn quốc lẫn vùng miền, địa phương Đó là một trong những vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với GDNN, đáp ứng quy luật cung - cầu của thị trường lao động và việc làm Nhu cầu của thị trường lao động và nhu cầu học tập trong xã hội làm nảy sinh và kéo theo sự hình thành và phát triển thị trường dịch vụ GDNN đa dạng, mà trong đó quan hệ cung và cầu giữ vị trí thống trị Quan hệ cung - cầu hợp lý giúp học viên, người lao động trong khoảng thời gian một hai năm, vài tháng, thậm chí chỉ cần vài tuần, thường là ngắn hơn nhiều so với thời gian học ở các phân hệ giáo dục khác, nhanh chóng tham gia vào TTLĐ và việc làm
Trang 11Quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh hay cơ chế cạnh tranh của thị trường lao động buộc GDNN phải lấy chất lượng dạy học là sự sống còn và coi dạy học làm sự gia tăng giá trị đích thực của nhân lực được dạy học để giành lợi thế trong thị trường lao động Chính tính linh hoạt và thích ứng của thị trường lao động đòi hỏi GDNN một mặt phải tập trung mọi nỗ lực trang bị các kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động mà người sử dụng lao động đang cần tuyển dụng, mặt khác phải thường xuyên điều chỉnh nội dung dạy học để nhằm đảm bảo tính linh hoạt giữa kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng cao hơn cho người lao động Điều đó đòi hỏi phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ sở GDNN với cơ sở sử dụng lao động dưới những hình thức đa dạng, phong phú và phù hợp
GDNN gắn kết chặt chẽ với quá trình lao động nghề nghiệp thực tế và công
việc hàng ngày của người lao động
Thực chất trong GDNN học viên được đào tạo để hình thành những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động nghề nghiệp cần thiết cho việc thực hiện thành công quá trình lao động thực tế sau khi tốt nghiệp Muốn vậy học viên phải được học lý thuyết và thực hành ngay trong quá trình lao động thực tế đó Có ba cách thức để thực hiện quá trình dạy học trong GDNN: Đưa quá trình lao động vào trong nhà trường; Học viên được tham gia vào quá trình lao động thực tế; kết hợp cả hai cách thức trên
Việc gắn kết chặt chẽ quá trình dạy học trong GDNN với quá trình lao động nghề nghiệp thực tế và công việc hàng ngày của người lao động có thể được thực hiện trước hết thông qua việc xây dựng ba loại mô hình: Mô hình hoạt động; Mô hình nhân cách và Mô hình nội dung dạy học và chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quan niệm dạy học theo năng lực thực hiện
Mô hình hoạt động thể hiện toàn bộ những nhiệm vụ và công việc cụ thể của người lao động ở một nghề/phần nghề nhất định với cấp độ năng lực nghề nghiệp tương ứng Mô hình hoạt động được xác định thông qua phân tích nghề một cách công phu, thường là do phía sử dụng lao động tiến hành để có một sơ đồ phân tích nghề với những phương pháp
và kỹ thuật phân tích nghề khác nhau Ngày nay trên thế giới người ta sử dụng phổ biến kỹ thuật phân tích nghề DACUM (Developing A Curriculum) - một kỹ thuật rất hiệu quả, kết hợp với phương pháp chuyên gia
Mô hình nhân cách thể hiện những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người lao động cần có để thực hiện được những nhiệm vụ, công việc mà quá trình lao động thực tế đòi hỏi
Mô hình nhân cách được xác định thông qua việc phân tích kỹ từng công việc, nhiệm vụ, đưa ra thông tin sát thực tế để thực hiện từng công việc theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn thực hiện và nêu rõ yêu cầu người lao động cần phải có các kiến thức, kỹ năng và thái độ gì
Mô hình nội dung dạy học trong GDNN thể hiện những nội dung cần được dạy và học giúp người học đạt được những kiến thức, kỹ năng và thái độ nhất định, từ đó hình thành nên nhân cách người lao động tương lai, tức là để hiện thực hóa mô hình nhân cách nói trên Nội dung dạy học có thể được cấu trúc theo môn học, môđun hoặc kết hợp môn học với môđun Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới đã và đang tổ chức GDNN theo hướng năng lực thực hiện (Competency based training) Theo đó đòi hỏi nội dung dạy học phải được cấu trúc theo môđun tích hợp hoàn toàn giữa lý thuyết và thực hành, giúp cho việc tổ chức dạy học được linh hoạt và liên thông dễ dàng giữa các trình độ của người học, trên
cơ sở đó tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho người học, người lao động dễ dàng tiếp cận Tuy nhiên, việc tổ chức dạy học theo môđun như vậy cũng đặt ra những yêu cầu cao về năng lực của GV cũng như về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguyên vật liệu, Đây cũng chính là những yêu cầu mà hiện nay rất nhiều cơ sở GDNN nước ta khó đáp ứng
GDNN tập trung trang bị năng lực thực hành nghề nghiệp và giáo dục đạo
Trang 12đức cho học viên
Mục tiêu của GDNN đòi hỏi nội dung GDNN phải tập trung giảng dạy những năng lực thực hành nghề nghiệp bao gồm kiến thức, kỹ năng lao động chung và kỹ năng thực hành nghề nghiệp trong một nghề cụ thể, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện tác phong công nghiệp “miệng nói tay làm” một cách thành thạo Có thể nói rằng GDNN là nơi thể hiện tập trung, cụ thể và triệt để nhất nguyên lý giáo dục lý luận đi đôi với thực tiễn và học
đi đôi với hành nhằm giúp cho học viên sau khi tốt nghiệp có được những năng lực thực hành nghề nghiệp đó
GDNN có tính mở, liên thông
Tính mở, liên thông trong GDNN thể hiện ở việc tổ chức quá trình dạy học hết sức linh hoạt, giúp cho học viên trong hệ thống GDNN có cơ hội học tập theo nhu cầu, điều kiện và khả năng của mình Học viên có thể học trọn vẹn một khóa học tập trung trong một khoảng thời gian quy định để lấy văn bằng chứng chỉ và cũng có thể học một phần của nghề để đi làm, khi điều kiện cho phép họ có thể quay lại học tiếp phần nghề khác, cho đến khi tích lũy đầy đủ các tín chỉ để được nhận văn bằng, chứng chỉ mong muốn Người lao động có thể được học liên thông lên các trình độ cao hơn, được tạo cơ hội học tập suốt đời trong hệ thống GDNN và trong hệ thống giáo dục quốc dân
GDNN ở Việt Nam một số năm vừa qua đã từng bước được củng cố và phát triển về quy mô và cơ cấu dạy học Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước với điều kiện nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa cũng như hội nhập quốc tế, GDNN nước ta còn có nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt là về chất lượng dạy học và đang phải đối mặt với những thách thức to lớn Cũng như các phân hệ giáo dục khác, GDNN đang đứng trước mâu thuẫn hết sức gay gắt giữa quy mô ngày càng tăng và các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học còn rất hạn chế Đòi hỏi cấp bách hiện nay đối với GDNN là bên cạnh việc tăng quy mô cùng với việc đảm bảo cơ cấu hợp lý thì cũng phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả dạy học đáp ứng được yêu cầu thực tế sử dụng lao động đã qua dạy học nghề
Chiến lược phát triển giáo dục 2021 - 2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã đề
ra mục tiêu giáo dục nghề nghiệp là: Phát triển đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề Hoàn thiện các chuẩn và chuẩn hóa nhà giáo, chú trọng kinh nghiệm thực tiễn và năng lực nghề nghiệp trong kỷ nguyên số, phương pháp dạy học hiện đại, tích hợp các kỹ năng cốt lõi mà thế kỷ 21 đòi hỏi cùng kỹ năng mềm, kỹ năng số, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp
Tóm lại, GDNN là một phần quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đào tạo đội ngũ lao động thực hành có trình độ sơ cấp và trung cấp về chuyên môn, nghiệp
vụ trong các hầu hết các ngành kinh tế - xã hội của đất nước Xu hướng phát triển chung của GDNN thời gian gần đây là: (1) Phân hóa chi tiết hơn về trình độ trong GDNN thành các cấp trình độ dạy nghề khác nhau, đó là ba cấp: Sơ cấp nghề; Trung cấp nghề; Cao đẳng nghề (2) Nâng cao trình độ tuyển sinh do ngày càng có nhiều HS tốt nghiệp THPT, trong khi đó năng lực tiếp nhận của các cơ sở GD đại học nước ta còn rất hạn chế, thời gian học
ở một số ngành nghề do đòi hỏi nâng cao trình độ nghề nghiệp Xu hướng chung trong những năm tới là một bộ phận lớn các ngành nghề TCCN và một bộ phận lớn các trường TCCN hiện nay sẽ được nâng cấp, phân hóa và chuyển sang hệ dạy học sau trung học (Post
- Secondary) Đồng thời với việc mở rộng phạm vi, các cấp trình độ dạy học dưới đại học phải liên thông với nhau cũng như với giáo dục phổ thông và đại học, điều này đòi hỏi phải điều chỉnh hay cơ cấu lại hệ thống GDNN hiện nay
Trang 133 Các mô hình và phương thức giáo dục nghề nghiệp
3.1 Các mô hình giáo dục nghề nghiệp
3.1.1 Các mô hình đào tạo cơ bản
Trên phạm vi thế giới, xét về mối quan hệ, vai trò của nhà nước và trường học cũng như danh nghiệp có thể tổng hợp gồm 4 mô hình đào tạo cơ bản như sau:
Hình 1 1 Các mô hình đào tạo nghề cơ bản 2
(1) Mô hình đào tạo truyền thống, không chính thức (informal model)
Nhược điểm :
Hình thức này thiếu tổ chức bài bản Học thông qua bắt chước lại, làm theo Phạm vi của phương thức đào tạo trong mô hình đào tạo nghề này diễn ra trong gia đình, làng xã hay các phân xưởng xí nghiệp theo kiểu bắt chước và diễn ra ở nơi làm việc (on the Job) Việc học không có chương trình hay lớp học cụ thể Đào tạo nghề không theo một chương trình kế hoạch đã được quy định Nhà nước hình như không có can thiệp vào nội dung, chương trình và kế hoạch thời gian đào tạo
Điều kiện áp dụng:
Các gia đình hay làng nghề truyền thống đều có thể là môi trường học tập cho các thế
hệ hoặc người lao động, học sinh muốn học nghề
(2) Mô hình đào tạo theo trường học (school model)
Đặc điểm:
Dạy và học nghề được diễn ra trong trường học, với sự tổ chức chặt chẽ theo hệ lớp bài Học lý thuyết diễn ra trong lớp học, còn dạy và học thực hành thì diễn ra trong xưởng trường hoặc tích hợp (Ví dụ các nước theo mô hình đào tạo này: Phần lan, Việt nam )
Ưu điểm:
Việc dạy và học diễn ra quy củ, nề nếp, khoa học, có mục tiêu rõ ràng và chuẩn đầu
ra
Nhược điểm:
Do thiếu liên kết với xí nghiệp hoặc liên kết rời rạc, phương thức này thường có các
2 Andreas Schelten (2010): Leitfaden zur Vorlesung Einführung in die Berufspädagogik nexus.de/wp-content/uploads/2018/04/lfeinfberufspaed-1.pdf)
Trang 14(https://www.nova-hạn chế như chương trình nội dung đào tạo không theo kịp yêu cầu của nghề nghiệp, nhưng học sinh được đào tạo cơ bản theo diện rộng Học sinh ít có kinh nghiệm với nghề nghiệp của mình sau khi học xong
Điều kiện thực hiện:
- Nhà nước lập kế hoạch, chuẩn chương trình đào tạo, tổ chức và kiểm soát việc đào tạo nghề Chất lượng đào tạo do đó được xác định bởi nhà nước và ít hướng tới nhu cầu của doanh nghiệp
- Đào tạo nghề được thực hiện ở cấp trung học phổ thông, sau trung học phổ thông
và gắn liền giáo dục nghề nghiệp với giáo dục phổ thông Nó là một phần của hệ thống giáo dục quốc dân
- Nhà trường tuyển sinh học sinh học nghề, chi phí học nghề có thể của nhà nước
- Bằng cấp phù hợp với hệ thống văn bằng của quốc gia, là cơ sở để xếp bậc lương
(3) Mô hình đào tạo nghề kép/song hành (Dual model)
Đặc điểm:
Mô hình đào tạo kép/song hành, còn được gọi là hệ thống giáo dục kép hoặc hệ thống đào tạo nghề kép, kết hợp học việc (đào tạo thực hành) với giáo dục chính quy (đào tạo lý thuyết), tạo ra những mối liên kết mật thiết giữa hệ thống giáo dục và ngành sản xuất kinh
- Phát triển sớm các kỹ năng liên quan đến công việc (đối với doanh nghiệp/ người lao động): lao động trẻ được học ngay từ khi còn trẻ cách thức áp dụng các kỹ năng cụ thể phù hợp với công việc và do đó làm tăng năng suất lao động
- Giảm gánh nặng đối với ngân sách (đối với chính phủ): vì phần lớn kinh phí do khu vực tư nhân chi trả nên chính phủ có thể phân bổ ngân sách một cách hiệu quả hơn cho các lĩnh vực khác điều này do bộ máy quản lý còn nhiều cồng kềnh
- Đào tạo người lao động trong chính môi trường làm việc của họ, với trang thiết bị tương tự cùng với người hướng dẫn giúp họ thu thập các kinh nghiệm thực tế và các tiêu chuẩn của chính công việc đó
- Đòi hỏi có sự ràng buộc trách nhiệm đối với công ty xí nghiệp trong đào tạo nghề
Nhược điểm:
Đào tạo kép có thể được điều chỉnh để phù hợp với tình hình kinh tế hiện tại, qua đó các công ty có thể đảm bảo rằng các kỹ năng được đào tạo là những kỹ năng cần thiết nhất cho nền kinh tế Tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn (đối với nền kinh tế): tỷ lệ thất nghiệp của các nước áp dụng hệ thống đào tạo kép có xu hướng thấp hơn, đặc biệt là tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động trẻ
Điều kiện áp dụng:
- HS-SV có thể bắt đầu nghề theo mô hình này sau khi hoàn thành trung học cơ sở và thời gian đào tạo sẽ kéo dài từ hai năm đến ba năm rưỡi HS-SV học lý thuyết trung bình
từ 1-2 ngày mỗi tuần ở trường và học các kỹ năng thực tế từ 3-4 ngày tại công ty, xí nghiệp
Sự phân bố thời gian học ở trường và công ty có thể thay đổi tùy chương trình Khi kết thúc khóa học, HS-SV phải chứng minh rằng họ đã đạt được những kiến thức cần thiết bằng cách vượt qua các kỳ thi lý thuyết và thực hành Hầu hết các hệ thống đào tạo này
Trang 15được tài trợ bởi khu vực tư nhân và chính phủ trong khi phần lớn các khoản đầu tư đến từ các công ty cung cấp các chương trình đào tạo
- Nhà nước kiểm soát, ban hành chương trình đào tạo cho trường học, chi trả lương
và chi phí đào tạo tại trường học Chương trình đào tạo nghề gắn liền với giáo dục phổ thông
- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước (Bộ phụ trách lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp)
và tư nhân (doanh nghiệp) trong việc tổ chức đào tạo Doanh nghiệp tuyển sinh học sinh học nghề, chi trả học phí cho học sinh và chi phí đào tạo tại doanh nghiệp
- Chương trình học thực hành tại doanh nghiệp theo quy định của tổ chức khu vực tư nhân (hiệp hội nghề nghiệp) Đối với các công ty xí nghiệp nhỏ thiếu cơ sở đào tạo cơ bản nghề thì hiệp hội nghề nghiệp sẽ tổ chức cho người học được đào tạo trong trung tâm dạy nghề lúc ban đầu, sau đó học thực hành tại doanh nghiệp Hình thức đào tạo tại doanh nghiệp khi người học đã học cơ bản về nghề theo hình thức học ngay tại chỗ lao động
- Nơi học tập nghề nghiệp được diễn ra tại những nơi riêng biệt dành cho giáo dục nghề (đào tạo cơ bản) và ngay tại vị trí làm việc sau khi đã xong phần đào tạo kỹ năng cơ bản
- Tổ chức học tập: hệ thống giảng dạy được thiết kế có chuyên môn, dựa trên một quy trình học tập có hệ thống gắn chặt với các quy luật quản lý học tập
- Người huấn luyện, giảng dạy: xây dựng kế hoạch giảng dạy, hướng dẫn và quản lý quá trình học tập giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp
(4) Mô hình đào tạo theo thị trường (Mark model)
Đặc điểm:
Đào tạo nghề được diễn ra ngay trong xí nghiệp hoặc trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các chương trình ngắn hạn có tính ứng dụng cao gắn liền với chỗ làm hoặc nhu cầu của người học Yêu cầu của phương thức đào tạo này là người học có một trình độ giáo dục phổ thông cao hoặc đã có đào tạo cơ bản (Ví dụ Anh, Nhật)
- Khóa đào tạo diễn ra trong thời gian ngắn
- Người học nhận được các công việc có tay nghề thấp, nếu chỉ sau khi tốt nghiệp phổ thông vào học
- Chỉ từ 23-25 tuổi trở lên mới tiếp tục bồi dưỡng nâng cao tay nghề
- Đào tạo nghề toàn thời gian tại các trường Cao đẳng hoặc Viện nghiên cứu, do vậy không gắn liền với thực tiễn nghề nghiệp, chỉ được thực hiện cho một phạm vi hẹp của một
số nghề nghiệp (nếu so sánh với mô hình đào tạo kép) để lấy chứng nhận
Điều kiện áp dụng:
- Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ cho hoạt động đào tạo, không kiểm soát
- Dạy nghề không chịu tác động của các dịch vụ công (không sử dụng kính phí từ nguồn nhà nước)
- Người học đã có trình độ phổ thông là đầu vào của mô hình này
- Các nhà cung cấp khóa đào tạo nghề này là các công ty, tổ chức để bồi dưỡng nhân viên của họ hoặc khách hàng
- Ngoài ra, các trường như trường Cao đẳng cộng đồng hoặc các Viện công nghệ cung
Trang 16cấp cơ hội giáo dục linh hoạt cho thị trường lao động
(5) Một số mô hình phối hợp
Trong thực tế, đào tạo nghề nhiều nước sử dụng kết hợp nhiều mô hình đào tạo khác nhau phù hợp với lịch sử, văn hóa và tình hình phát triễn kinh tế xã hội, không nhất thiết như 4 mô hình đào tạo nghề cơ bản trên mà kết hợp các mô hình đào tạo cơ bản với nhau như mô hinh đào tạo theo trường học với mô hình đào tạo kép (tiến dần đến mô hình đào tạo kép) hoặc kết hợp mô hình đào tạo trường học và mô hình thị trường (đào tạo theo nhu cầu của khách hàng) Hình dưới là các mô hình phối hợp các các nước EU Xu hướng chung về mô hình đào tạo nghề là gắn nhà trường với doanh nghiệp và chuyển từ nhà nước chi trả cho đào tạo nghề sang hoạt động đào tạo nghề theo thị trường, nhà nước hỗ trợ nhằm khắc phục các hạn của các mô hình riêng lẽ
Hình 1 2 Mô hình đào tạo nghề một số nước Châu Âu 3
Về hình thức tổ chức đào tạo phối hợp giữa nhà trướng và công ty xí nghiệp có thể theo hai mô hình: mô hình đào tạo nối tiếp và mô hình đào tạo luân phiên
3.1.2 Các mô hình đào tạo liên kết trường học (cơ sở dạy nghề) với doanh nghiệp
Trên thế giới và tại Việt Nam hiện có rất nhiều mô hình đa dạng về liên kết trong đào tạo giữa cơ sở dạy nghề (CSDN) hay trường nghề và Doanh nghiệp (DoN) Tuy nhiên lựa chọn áp dụng mô hình thích hợp lại phụ thuộc vào điều kiện của từng CSDN, từng giai đoạn phát triển và mối quan hệ của CSDN với các tổ chức kinh tế và các đơn vị khác Một
số mô hình liên kết đào tạo giữa CSDN và DoN thường áp dụng như sau:
(1) Mô hình cơ sở dạy nghề độc lập nằm ngoài doanh nghiệp
Đặc điểm :
- Theo mô hình này các CSDN độc lập có phạm vi hoạt động rộng, một CSDN có thể liên kết đào tạo với nhiều doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các DoN và nhu cầu xã hội
- Giữa CSDN và DoN không có nhiều ràng buộc, cơ chế phối hợp lỏng lẻo không phụ thuộc vào nhau, liên kết mang tính tự nguyện, chủ yếu căn cứ theo sự thỏa thuận, theo các hợp đồng, các đơn đặt hàng.Vì vậy thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa CSDN và DoN theo mô hình này là thách thức lớn đối với CSDN trong việc chủ động, sáng tạo xây dựng
kế hoạch, nội dung, các hình thức hợp tác với DoN cùng tác động đến quá trình đào tạo
- Điều quan trọng và quyết định là các CSDN phải tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, tạo dựng thương hiệu và thu hút DoN đến với CSDN Trong hệ thống đào tạo nghề,
mô hình này tương đối phổ biến
3 D Münck: Berufsausbildung in der EU zwischen Dualität und “Monalität” – eine Alternative ohne Alternativen? In: berufsbildung 51 (1997) 45, S.6 (modifiziert und erweitert)
Trang 17Hình 1 3 Liên kết trong mô hình CSDN độc lập với DoN
(2) Mô hình liên kết trong mô hình CSDN thuộc doanh nghiệp
Đặc điểm :
Theo mô hình này các CSDN thuộc DoN sẽ có thế mạnh trong việc xây dựng cơ chế
và duy trì các mối quan hệ với các đơn vị sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Đây là
mô hình rất hiệu quả, CSDN tổ chức đào tạo theo địa chỉ xác định tại các vị trí làm việc trong sản xuất, HSSV tốt nghiệp đáp ứng ngay các vị trí làm việc và thích ứng nhanh với công nghệ trong sản xuất Tuy nhiên hiện nay nhiều DoN chưa có điều kiện phát triển, chiến lược kinh doanh hạn hẹp, sức cạnh tranh yếu nên rất ít quan tâm đầu tư, do đó nhiều CSDN thuộc DoN phải tự bươn trải để tồn tại
Nội dung phối hợp liên kết được triển khai theo điều phối của chính DoN để tác động đến quá trình đào tạo Mặt khác, ngoài việc đào tạo cho các đơn vị sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, CSDN còn tổ chức các khóa đào tạo theo nhu cầu xã hội và hỗ trợ các DoN khác khi dư thừa năng lực
Trang 18Hình 1 4 Mô hình cơ sở dạy nghề trong doanh nghiệp
(3) Mô hình liên kết trong mô hình doanh nghiệp thuộc cơ sở dạy nghề
Đặc điểm:
Đây cũng là mô hình hoạt động hiệu quả gắn đào tạo với sản xuất kinh doanh cùng ngành nghề đào tạo Tuy nhiên mô hình này hiện nay chưa phát triển mạnh do các CSDN chưa mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, mặt khác cũng chưa có chính sách ưu đãi miễn giảm thuế và kinh nghiệm quản lý cơ sở sản xuất của lãnh đạo CSDN còn hạn chế
Điều kiện:
- Nghề đào tạo gắn với ngành nghề sản xuất và kinh doanh của các DoN;
- CSDN phải quan tâm đến phát triển DoN và biết quản lý DoN trong môi trường vừa kinh doanh vừa đào tạo;
- CSDN phải cân bằng lợi ích giữa đơn vị đào tạo và đơn vị kinh doanh lao động là nhân tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Hình 1 5 Mô hình liên kết DoN thuộc CSDN
(4) Mô hình liên kết đối với mô hình Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng tại các KCN
Đặc điểm:
Theo mô hình này các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng hoạt động độc lập tại các KCN nhằm một số mục tiêu chủ yếu sau:
- Đáp ứng nhu cầu lao động của các DoN trong một số KCN tập trung;
- Bồi dưỡng cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề cho HSSV sau đào tạo để tiếp cận với các vị trí việc làm của doanh nghiệp; dồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng thực hành nghề cho GVDN và cán bộ quản lý;
- Tiếp nhận đào tạo một số mô đun kỹ năng nghề ở những năm cuối của quá trình đào tạo (ở các CSDN độc lập hoặc CSDN thuộc doanh nghiệp);
- Chuyển giao công nghệ (công nghệ dạy học, công nghệ mới, ứng dụng triển khai công nghệ và kỹ thuật vào sản xuất); Trung tâm đào tạo bồi dưỡng hoạt động theo cơ chế dịch vụ và hình thành mạng liên kết (Với một số CSDN và doanh nghệp)
Điều kiện:
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng phải đặt tại KCN mạnh để có nhiều loại hình dịch vụ đào tạo
Trang 19Hình 1 6 Mô hình liên kết với Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng tại các khu công
nghiệp và các cụm công nghiệp
3.2 Các phương thức giáo dục nghề nghiệp
3.2.1 Đào tạo theo tiêu chuẩn nghề
Đào tạo theo năng lực nghề nghiệp là phương thức đào tạo theo tiêu chuẩn nghề Đặc điểm cơ bản nhất có ý nghĩa trung tâm của đào tạo theo NLTH là nó định hướng và chú trọng vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo nghề, điều đó có nghĩa là: Từng người học
có thể làm được cái gì trong một tình huống lao động nhất định theo tiêu chuẩn nghề Trong đào tạo theo NLTH, một người có NLTH là người:
- Có khả năng làm được cái gì đó (Điều này có liên quan tới nội dung chương trình đào tạo)
- Có thể làm được những cái đó tốt như mong đợi (Điều này có liên quan tới việc đánh giá kết quả học tập của người học dựa vào tiêu chuẩn nghề)
Chương trình đào tạo phải có sự xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả Mỗi người học làm được thông thạo cái gì đó sau một thời gian học tập dài, ngắn khác nhau tuỳ thuộc chủ yếu vào khả năng, nhịp độ học của người đó Người học thực sự được coi là trung tâm và có cơ hội phát huy tính tích cực, chủ động của mình, người học được phép tích luỹ tín chỉ về những gì đã học trước đó, không phải học lại những điều đã học một khi đã được công nhận là đã thông thạo, có khả năng thực hiện chúng theo tiêu chuẩn nghề
Tuy nhiên đào tạo theo mô hình này cũng có các hạn chế nhất định như sau :
- Người học khó thích ứng nhanh với thay đổi của công việc trong lao động nghề nghiệp do đào tạo hướng sâu vào một hoặc vài công việc cụ thể;
- Phải có điều kiện (trang thiết bị, vật liệu, tài liệu kỹ thuật) và môi trường gắn đào tạo với việc làm trực tiếp (tương tự như ở chỗ làm việc);
- Tổ chức đào tạo phức tạp do chương trình đào tạo linh hoạt, tính cá nhân hoá cao
Ưu điểm:
Đào tạo theo NLTH đáp ứng được nhu cầu của cả người học lẫn người sử dụng lao động qua đào tạo; Người tốt nghiệp chương trình đào tạo theo NLTH là người một mặt đạt được sự thành thạo công việc theo các tiêu chuẩn quy định, tức là đáp ứng yêu cầu sử dụng, đồng thời, mặt khác lại có thể dễ dàng tham gia các khoá đào tạo nâng cao hoặc cập nhật các NLTH mới để di chuyển vị trí làm việc
Hạn chế:
Trang 20Nội dung chương trình cấu trúc thành các môđun “tích hợp” dẫn tới, đó là người học không được trang bị một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các kiến thức theo lôgíc khoa học, không có đủ cơ hội hiểu sâu sắc bản chất lý thuyết của các sự vật, hiện t¬ượng như “truyền thống” lâu nay khi học theo các môn học lý thuyết, vì vậy sẽ có thể hạn chế phần nào năng lực sáng tạo trong hành nghề thực tế ở người học
Để hiểu rõ thêm về phương thức đào tạo theo NLTH ta có thể so sánh với phương thức đào tạo theo truyền thống, tức là phương thức quen thuộc lâu nay chúng ta thường vẫn sử dụng Giữa hai phương thức này có sự khác biệt rất cơ bản (Xem Bảng 1)
Bảng 1: Các đặc trưng cơ bản phân biệt đào tạo theo NLTH và đào tạo theo truyền thống
Đặc trưng Đào tạo theo NLTH Đào tạo theo truyền thống
Người học học cái gì?
Theo các kết quả riêng biệt, được trình bày chính xác (thường gọi là NLTH hoặc công việc) Chúng đã được xác định là then chốt để làm việc thành công
Những NLTH đó được xác định sẵn và mô tả chính xác về cái
mà người học sẽ có khả năng làm được khi học xong chương trình
Thường theo sách giáo khoa, đề cương khoá học hay các tài liệu tham khảo khác từ nghề đào tạo
Người học hiếm khi biết chính xác họ sẽ học cái gì trong mỗi phần của chương trình
Chương trình đào tạo thường được XD theo các môn học, phần, chương, mục … ít có ý nghĩa trong nghề GV tập trung vào bao quát tài liệu giảng dạy
Người học học như thế nào?
Người học được tổ chức hoạt động học tập, hướng vào người học Tài liệu học tập được thiết kế cẩn thận với chất lượng cao
Phương tiện và tài liệu giúp người học thông thạo công việc
Tài liệu được tổ chức sao cho mỗi người học có thể dừng lại,
đi chậm hoặc nhanh hoặc nhắc lại khi cần để học một cách có hiệu quả theo nhịp độ cá nhân
Có thông tin phản hồi đều đặn trong suốt quá trình học tập tạo
cơ hội cho người học điều chỉnh, sửa chữa sự thực hiện của mình
Dựa vào GV là chủ yếu, cá nhân giáo viên truyền đạt thông qua trình diễn sống động, diễn giảng, thảo luận hoặc các hoạt động lấy GV làm trung tâm
Người học ít có cơ hội kiểm tra quá trình và không gian giờ học
Thường có ít thông tin phản hồi đều đặn theo chu kỳ trong quá trình dạy học
Khi nào người học chuyển sang học
ND khác?
Cung cấp cho mỗi người học có
đủ thời gian cho phép để thông thạo hoàn toàn một công việc trước khi được phép chuyển sang học công việc tiếp sau
Thường đòi hỏi cả lớp hoặc nhóm người học trong cùng một lượng thời gian như nhau Cả nhóm sau đó mới chuyển sang đơn vị học tập tiếp sau một khoảng thời gian cố định Lúc
đó có thể quá sớm hoặc quá muộn đối với người học trong lớp, nhóm
Trang 213.2.2 Đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp
4 Hệ thống giáo dục nghề nghiêp Việt Nam và một số nước trên thế giới
4.1 Cơ sở pháp lý của hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam
Luật giáo dục nghề nghiệp
- Các hoạt động liên quan đến dạy nghề, giáo dục nghề nghiệp được điều chỉnh bởi luật dạy nghề số 76/2006/QH11 và hiện nay luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13
- Nghị định số 48/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề khác cho người lao động Hình thức đào tạo gồm có hình thức đào tạo chính qui và hình thức thường xuyên
4.2 Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam
4.2.1 Hệ thống giáo dục quốc dân:
Hệ thống giáo dục quốc dân được qui định trong luật giáo dục các phiên bản từ năm
2005 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc Hội quy định về hệ thống giáo dục quốc dân có hiệu lực hiện nay, cụ thể nội dung quy định như sau:
1 Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên
2 Cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông;
c) Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng
và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác;
d) Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ
4.2.2 Khung trình độ quốc gia
Khung trình độ quốc gia được qui định tại quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18 tháng
10 năm 2016 Cấu trúc Khung trình độ quốc gia Việt Nam như sau: Khung trình độ quốc gia gồm 8 bậc (8 bậc trình độ): Bậc 1 - Sơ cấp I; Bậc 2 - Sơ cấp II, Bậc 3 - Sơ cấp III, Bậc
4 - Trung cấp; Bậc 5 - Cao đẳng; Bậc 6 - Đại học; Bậc 7 - Thạc sĩ; Bậc 8 - Tiến sĩ Mỗi bậc trình độ được qui định về chuẩn đầu ra, khối lượng học tập tối thiệu, văn bằng chứng chỉ Các cấp bậc trình độ có nội dung sau:
- Bậc 1: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức phổ thông, cơ bản; kỹ năng thao tác cơ bản để thực hiện một hoặc một vài công việc đơn giản có tính lặp lại của một nghề xác định trong môi trường làm việc không thay đổi, với sự giám sát của người
Trang 22hướng dẫn Bậc 1 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 5 tín chỉ Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 1 được cấp chứng chỉ sơ cấp I
- Bậc 2: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế và lý thuyết về hoạt động trong phạm vi hẹp của một nghề, kiến thức phổ thông, cơ bản về tự nhiên, văn hóa, xã hội và pháp luật; kỹ năng thực hành nghề nghiệp dựa trên các kỹ thuật tiêu chuẩn
để thực hiện một số công việc có tính lặp lại trong môi trường rất ít thay đổi dưới sự giám sát của người hướng dẫn, có thể tự chủ trong một vài hoạt động cụ thể Bậc 2 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 15 tín chỉ Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 2 được cấp chứng chỉ sơ cấp II
- Bậc 3: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế và lý thuyết về một số nội dung trong phạm vi của một nghề đào tạo; kiến thức phổ thông về tự nhiên, văn hóa, xã hội và pháp luật; kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin; kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp ứng xử cần thiết để có thể làm việc độc lập trong các điều kiện ổn định và môi trường quen thuộc Bậc 3 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 25 tín chỉ Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 3 được cấp chứng chỉ sơ cấp III
- Bậc 4: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế và lý thuyết cần thiết trong phạm vi của một ngành, nghề đào tạo; kiến thức cơ bản về chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật và công nghệ thông tin; kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp ứng xử cần thiết để thực hiện các công việc có tính thường xuyên hoặc phức tạp, làm việc độc lập hay theo nhóm trong điều kiện biết trước và có thể thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân, và trách nhiệm đối với nhóm, có năng lực hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện công việc đã được định sẵn Bậc 4 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 35 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, 50 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 4 được cấp bằng trung cấp
- Bậc 5: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế, kiến thức lý thuyết rộng về một ngành, nghề đào tạo; kiến thức cơ bản về chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật và công nghệ thông tin; có kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp
và kỹ năng giao tiếp ứng xử cần thiết để giải quyết những công việc hoặc vấn đề phức tạp, làm việc độc lập hoặc theo nhóm trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm hướng dẫn tối thiểu, giám sát, đánh giá đối với nhóm thực hiện những nhiệm vụ xác định Bậc 5 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 60 tín chỉ Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 5 được cấp bằng cao đẳng
4.3 Mô hình giáo dục nghề nghiệp của một số nước trên thế giới
Mô hình đào tạo nghề ở Hàn Quốc
Từ năm 1996, Hàn Quốc xây dựng hệ thống giáo dục chuyên nghiệp từ bậc phổ thông đến đại học với nhiều phương thức đào tạo như từ xa, tại chức, chuyên môn hóa Chính sách phát triển giáo dục đào tạo của Hàn Quốc kế thừa và phát huy mặt tích cực của các giá trị văn hoá – giáo dục truyền thống; Coi trọng việc giáo dục quản lý con người, coi trọng sự học tập, rèn luyện - cơ sở của quá trình phát triển nhân cách và tài năng; đề cao giá trị truyền thống Giáo dục cao đẳng, đại học đang được tập trung vào các hướng đào tạo công nghệ cao, kỹ thuật mũi nhọn, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu chất xám, xuất khẩu công nghệ
Mô hình đào tạo nghề ở Trung Quốc
Trung Quốc đã lựa chọn 10 trường trọng điểm quốc gia trong số 100 trường đại học lớn để tập trung đầu tư phát triển có trình độ ngang tầm với cac trường đại học quốc tế trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ dựa vào chiến lược cải tổ mạnh mẽ theo hướng
Trang 23hiện đại hoá, phát triển mạnh các loại hình giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp Giáo dục chuyên nghiệp và kỹ thuật sau THCS bao gồm các trường và các trung tâm đào tạo như trường nông nghiệp, trường đào tạo phục phụ công nghiệp cũng như các khoá đào tạo ngắn về kỹ thuật và nghiệp vụ, kể cả khối dạy nghề sau tiểu học
Đào tạo nghề tại đơn vị sản xuất ở Nhật bản
Các mô hình và phương thức giáo dục nghề nghiệp tại Nhật Bản đa dạng và kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp Nhật Bản đã hình thành trên toàn quốc 14 cục, mỗi cục
có 3 thành phần đơn vị: trường học – Viện nghiên cứu – Xí nghiệp Các cục này có chức năng tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, tạo những công nghệ mới, phát minh mới và sản phẩm hàng hoá của thế kỷ 21 Thời gian đào tạo từ 2 đến 3 năm, 70% thời gian đào tạo dành cho việc truyền đạt kỹ năng nghề, 30% truyền đạt kiến thức chuyên môn Các trường Cao đẳng và dạy nghề đào tạo kỹ thuật viên và công nhân cho các xí nghiệp vừa
và nhỏ
Mô hình đào tạo nghề ở Pháp
Đào tạo thực hành ở nước Pháp thực hiện trong các loại hình trường lớp từ trình
độ thấp lên trình độ cao: trường trung học nghề, lớp kỹ thuật viên trong ban kỹ thuật viên cấp cao của trường trung học kỹ thuật hoặc Viện đại học công nghệ Đào tạo kỹ thuật thực hành ở nước Pháp đã có lịch sử trên một trăm nămvà được chuyên nghiệp hóa sớm Sau phổ thông được chia thành 2 luồng: phổ thông và công nghệ, chỉ có những học sinh
đi theo luồng công nghệ mới vào học trường trung học nghề, để sau này chủ yếu ra làm công nhân trong các ngành công nghiệp
Mô hình đào tạo song hành ở Cộng hoà liên bang Đức
Mô hình song hành trong đào tạo nghề về kỹ thuật của Đức là mô hình nổi tiếng thế
giới và có giá trị tham khảo rộng rãi với tất cả quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mô hình đào tạo song hành trong đào tạo nghề kỹ thuật ở Đức đưa các kỹ năng mềm vào chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo gồm: kỹ năng tổ chức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng vận dụng, kỹ năng độc lập, kỹ năng phê phán 4
Cơ sở pháp lý của hệ thống song hành:
+ Bộ giáo dục thông qua các Sở Giáo dục quản lý và chỉ đạo việc đào tạo của các
trường với cơ sở pháp lý là điều lệ trường
+ Các bộ ngành kinh tế điều hành bộ phận đào tạo của xí nghiệp thông qua các phòng kỹ nghệ - thương mại với cơ sở pháp lý là luật đào tạo nghề
+ Hai bên có trách nhiệm hợp tác với nhau trong đào tạo trên cơ sở pháp lý của các luật kể trên
5 Thực hành, thảo luận
5.1 Các mô hình và phương thức giáo dục nghề nghiệp
̵ Hãy phân tích hoạt động và qui trình tổ chức đào tạo tại doanh nghiệp Cho ví dụ thực tiễn
̵ Nêu các đặc điểm nhận diện, ý nghĩa của đào tạo nội bộ tại doanh nghiệp Cho ví
dụ thực tiễn
̵ Xác định các rào cản khi triển khai đào tạo tại doanh nghiệp Cho ví dụ thực tiễn
5.2 Cơ sở pháp lý của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam
Anh/chị hiểu thế nào về đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp nghề, cao đẳngnghề
4 Gibbons, D (2016) Developing core skills - lessons from Germany and Sweden Education + Traning, Vol 42,
24-32
Trang 24lên trình độ đại học, cao đẳng ? Phân tích về chương trình và thời gian đào tạoliên thông theo Thông tư số: 27/2010/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH ngày28/10/2011?
5.3 Mô hình giáo dục nghề nghiệp của một số nước trên thế giới
Hãy chọn 1 mô hình giáo dục nghề nghiệp trên thế giới để phân tích bài học kinh nghiệm áp dụng cho bối cảnh giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam
Trang 25BÀI 2
CƠ SỞ TÂM LÝ HỌC CỦA GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Thời gian thực hiện: 10 giờ
A MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này, người học có khả năng:
̵ Kiến thức: Phân tích được bản chất của tâm lý học giáo dục nghề nghiệp; Giải thích được cơ sở tâm lý của hoạt động dạy - học trong giáo dục nghề nghiệp
̵ Kỹ năng: Áp dụng được cơ sở tâm lý của hoạt động dạy - học vào thiết kế và thực
hiện dạy học trong giáo dục nghề nghiệp
̵ Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Chủ động, linh hoạt áp dụng cơ sở tâm lý của hoạt
động dạy - học vào thiết kế và thực hiện dạy học trong giáo dục nghề nghiệp
B NỘI DUNG
1 Khái niệm, bản chất và tầm quan trọng của tâm lý học giáo dục nghề nghiệp đối với nhà giáo
1.1 Khái niệm tâm lý học giáo dục nghề nghiệp
1.1.1 Khái niệm tâm lý học
a Khái niệm tâm lý
Trong cuộc sống hàng ngày, cụm từ “tâm lý” được dùng để nói về lòng người, về
cách cư xử của con người, về sự hiểu biết ý muốn, nhu cầu thị hiếu của người khác Chẳng
hạn, “Anh A rất tâm lý”, “Chị B là người trò chuyện tâm tình, cởi mở”… Đôi khi người ta còn dùng từ “tâm lý” như là khả năng chinh phục người khác…
Hiểu như thế đúng, nhưng chưa đủ Thực tế, tâm lý đâu chỉ là ý muốn, nhu cầu, thị hiếu và cách cư xử của con người, mà nó bao hàm vô vàn các hiện tượng khác như việc nhận thức để hiểu biết các sự vật, hiện tượng tồn tại xung quanh Sự biểu thị thái độ xúc cảm-tình cảm yêu thích hay không yêu thích các sự vật, hiện tượng con người nhận thức được
Thế giới tâm lý của con người vô cùng phong phú Nó luôn luôn gắn liền với hoạt động của con người Bất cứ một hoạt động nào, từ đơn giản đến phức tạp, cũng đều có tâm
lý Như vậy, tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần đang xảy ra trong đầu óc
con người Các hiện tượng này luôn tồn tại gắn liền và điều hành mọi hoạt động hành động của con người
Theo cách hiểu này thì, tâm lý của con người là nhận thức, tình cảm, ý chí, nghị lực, nhu cầu, ý thức, tự ý thức, động cơ, hành vi, hứng thú và cả khả năng sáng tạo của con
người
Các hiện tượng tâm lý luôn có vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống của con người cũng như trong quan hệ giữa con người với con người và cả xã hội
b Khái niệm tâm lý học
Mặc dù hiện tượng tâm lý đã có từ rất lâu, ngay cả khi loài người chưa xuất hiện, nhưng khoa học về tâm lý chỉ mới ra đời gần đây Tâm lý học ra đời với tư cách là một
khoa học độc lập vào nửa sau thế kỷ XIX (1879) Có thể hiểu: Tâm lý học là khoa học
nghiên cứu về các hiện tượng tâm lý, về hành vi và đời sông tinh thần của con người 1.1.2 Khái niệm tâm lý học giáo dục nghề nghiệp
Tâm lý học giáo dục nghề nghiệp là một chuyên ngành của tâm lý học nghiên cứu những quy luật phát sinh, phát triển và diễn biến tâm lý của con người dưới những tác động
Trang 26về mặt sư phạm Đặc biệt là nó tập trung nghiên cứu những điều kiện và quy luật tâm lý riêng của quá trình dạy học và giáo dục trong nhà trường
1.2 Bản chất của tâm lý học giáo dục nghề nghiệp
Bản chất của tâm lý học giáo dục nghề nghiệp được thể hiện qua hoạt động dạy nghề và hoạt động học nghề
1.2.1 Hoạt động dạy nghề
a Định nghĩa Hoạt động dạy nghề là quá trình hướng dẫn, tổ chức, điều khiển học sinh học nghề giải quyết hệ thống nhiệm vụ dạy học nhằm giúp cho các em lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng nghề và các phẩm chất đạo đức của nghề để hình thành năng lực, phẩm chất nhân cách cho người học nghề
Hoạt động dạy có những quy luật tâm lý - giáo dục sau:
̵ Tính quy định của xã hội, của nghề nghiệp đối với hoạt động dạy
̵ Có sự thống nhất biện chứng với hoạt động học nghề cũng như giữa dạy học với sự phát triển nhân cách của người học nghề
̵ Có sự thống nhất biện chứng giữa việc xây dựng nội dung, xác định phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức với việc tiến hành kiểm tra - tự kiểm tra trong hoạt động dạy nghề
b Đặc điểm hoạt động dạy nghề Trong nhà trường thầy giáo đóng vai trò là chủ thể của hoạt động dạy học Hoạt động dạy nghề của người giáo viên không có chức năng sáng tạo ra tri thức mới, cũng không tái tạo lại tri thức đã có mà là ra tổ chức và chỉ đạo hoạt động học của học sinh học nghề một cách khoa học nhằm tạo ra cái mới trong nhân cách học sinh học nghề Chính vì vậy, hoạt động dạy của người giáo viên dạy nghề cũng luôn mang tính khoa học, tính nghệ thuật, tính sáng tạo, tính phát triển nhân cách, tính mẫu mực, tính giao tiếp
- Mục đích của hoạt động dạy nghề là giúp người học nghề lĩnh hội nền văn hoá xã
hội, lĩnh hội, tiếp thu hệ thống kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp nhằm làm phát triển năng lực, phẩm chất nghề nghiệp cho người học nghề Để đạt được mục đích này, người giáo viên dạy nghề cần giúp đỡ, hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động học tập của học sinh, bởi
vì, bản thân học sinh không thể tự mình biến năng lực loài người thành năng lực của chính mình được Do đó, người giáo viên dạy nghề phải thật sự quan tâm, định hướng, chỉ đường cho người học, tránh để họ đi mò mẫm, đi theo con đường thử - sai như các nhà khoa học
đã từng đi trong quá trình tìm kiếm chân lý khoa học Nhưng để hoạt động dạy nghề được định hướng cụ thể, ta phải xác định được các mức độ người học nghề cần phải đạt được trong từng giai đoạn dạy học Người học nghề cần phải đạt được những nội dung gì về kiến thức, kỹ năng cũng như năng lực nghề nghiệp Những mục đích đó cần phải được cụ thể trong các nhiệm vụ học tập và người học sinh học nghề cần phải thực hiện
- Đối tượng của hoạt động dạy nghề chính là nhân cách của người học nghề (đầu
vào của quá trình dạy học) Học sinh đi học nghề mang trong mình hành trang là vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phẩm chất, năng lực mà họ đã hình thành được ở giai đoạn trước
đó Người giáo viên dạy nghề cần phải hiểu rõ và nắm vững các trình độ này ở người học nghề để coi đó là xuất phát điểm, là cơ sở tâm lý cần thiết trong quá trình định hướng, điều khiển, tổ chức hoạt động dạy của mình Người giáo viên trong quá trình dạy nghề cần phải tác động vào các khía cạnh đó để nâng cao dần chất lượng của hiểu biết, trình độ kỹ năng, năng lực nghề nghiệp và các phẩm chất đạo đức cho học sinh học nghề Đó cũng là sản phẩm của quá trình dạy nghề cần phải hướng tới - nhân cách phát triển toàn diện của người học nghề với những năng lực nghề nghiệp cụ thể (đầu ra của quá trình dạy nghề)
Trang 27- Phương tiện của hoạt động dạy nghề: Hoạt động dạy nghề buộc phải đưa tri thức
mà loài người đã phát hiện vào quá trình dạy Phòng học, xưởng thực hành, sân bãi, tài liệu giảng dạy, phấn, bảng, máy vi tính, máy chiếu.v.v cũng chính là những phương tiên cần thiết của hoạt động này Tuy nhiên, người giáo viên dạy nghề còn phải sử dụng một loại phương tiện đặc biệt quan trọng để thực hiện hoạt động dạy nghề đó là nhân cách nghề nghiệp của chính bản thân Tất cả các phẩm chất, trình độ, năng lực chuyên môn nghề nghiệp, sự sáng tạo sư phạm, sáng tạo nghề nghiệp và các đặc điểm tâm lý khác của người giáo viên dạy nghề đều được sử dụng trong quá trình dạy học Đó là công cụ, là phương tiện chủ yếu để tổ chức cho người học tái tạo tri thức, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp của nhân loại và hình thành những tri thức ấy, năng lực ấy cho học sinh thông qua đó tạo ra sự phát triển tâm lý học sinh Cho nên, hoạt động dạy nghề là dùng nhân cách của người giáo viên như một công cụ quan trọng để tác động và hình thành lên nhân cách cho học sinh học
nghề
c Các yếu tố tâm lý của hoạt động dạy nghề
Hoạt động dạy nghề nhằm giúp học sinh học nghề lĩnh hội được hệ thống kiến thức
lý thuyết của nghề, luyện tập, thực hành để hình thành những kỹ năng và phẩm chất của nghề nghiệp mà các em theo học Người giáo viên dạy nghề là chủ thể của hoạt động dạy nghề Việc thực hiện hoạt động dạy nghề của giáo viên không nhằm phát triển nhân cách của chính họ mà là hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo học sinh học nghề tái tạo nền văn hoá xã hội, tái tạo lại kiến thức nghề nghiệp cũng như con đường, cách thức, biện pháp khai phá
ra hệ thống các kiến thức đó của các nhà khoa học Trong quá trình đó, người giáo viên dạy nghề sẽ dần dần giúp học sinh học nghề hình thành, sử dụng, rèn luyện và phát triển các phẩm chất như tính tự giác, tích cực, chủ động, hăng say, sáng tạo.v.v ở chính người học nghề nhằm hình thành nên những hiểu biết, kỹ năng nghề, đạo đức nghề nghiệp một cách khoa học, logic, bài bản lần đầu tiên trong thế giới tâm lý của các em Thông qua đó, phẩm chất và năng lực nghề nghiệp sẽ dần dần được hình thành ở người học nghề
Hoạt động dạy có những thành phần cơ bản là hoạt động dạy cụ thể, hành động dạy
và thao tác dạy Cấu trúc của hoạt động dạy sẽ được cụ thể hoá bằng nội dung của sơ đồ
sau:
Hình 2.1 Sơ đồ: Cấu trúc của hoạt động dạy nghề
Khi thực hiện nhiệm vụ dạy nghề, người giáo viên dạy nghề ở các nghề khác nhau
sẽ phải thực hiện những hoạt động dạy nghề cụ thể Ví dụ như các giáo viên dạy nghề kỹ thuật sẽ có các hoạt động như dạy vẽ kỹ thuật, dạy cơ kỹ thuật, dạy điện kỹ thuật v.v Nội dung của hoạt động dạy cụ thể của người giáo viên dạy nghề là cấu trúc của đối tượng kỹ thuật cũng như nội dung của chương trình, kế hoạch dạy học và giáo trình, sách giáo khoa Tri thức về chuyên môn kỹ thuật cũng như giáo dục học nghề nghiệp, kỹ năng và phương pháp dạy học nghề được coi là những cơ sở, những tiền đề lý luận, chỉ đạo cho người giáo viên biết cách suy nghĩ đúng để tìm ra phương thức tiến hành các hoạt động dạy nghề một cách hiệu quả
Trang 28Hoạt động dạy cụ thể sẽ được người giáo viên thực hiện qua các hành động dạy Nhìn chung có ba loại hành động chuẩn bị dạy, tiến hành thực hiện nhiệm vụ dạy và kiểm tra - đánh giá quá trình cũng như kết quả dạy, cụ thể như sau:
- Trước khi dạy, người giáo viên sẽ phải tiến hành nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, giáo trình và tìm hiểu tâm - sinh lý học sinh lớp, nhóm mình sẽ dạy Trên cơ sở
đó, họ sẽ phải tiến hành soạn giáo án, viết đề cương bài giảng, xác định lịch trình giảng dạy, làm đồ dùng dạy học, chuẩn bị phương tiện - trang thiết bị kỹ thuật và tâm thế cần thiết cho việc dạy
- Khi dạy, người giáo viên phải biết tiến hành truyền thụ kiến thức, rèn kỹ năng, giáo dục nhân cách thông qua việc dùng hệ các phương pháp giảng thuật, giảng giải, giảng diễn, sử dụng sách giáo khoa - tài liệu tham khảo, luyện tập, ôn tập - củng cố - hệ thống hoá kiến thức, kiểm tra - đánh giá và phương pháp độc lập quan sát - làm thí nghiệm.v.v
Ở trên lớp, khi thực hiện nhiệm vụ dạy, người giáo viên phải có kỹ năng biết thực hiện tốt các hành động tổ chức lớp học, thiết kế, chỉ đạo việc thi công bài học và giao tiếp sư phạm Hành động dạy của người giáo viên sẽ phải tuân thủ được logic môn học cũng như logic của quá trình dạy học và có nghệ thuật sư phạm
Các hành động dạy sẽ được thực hiện bằng hệ thống các thao tác dạy Khi dạy kỹ thuật, người giáo viên phải có kỹ năng sử dụng các thao tác trí tuệ cũng như động tác đối tượng cảm tính như tay - máy, tay - máy điều khiển - máy sản xuất và động tác tay - chân
- cơ thể v.v Trong khi thực hiện các hành động dạy ở trên lớp, người giáo viên sẽ phải chú ý thực hiện tốt các động tác giao tiếp, quan sát lớp học, viết bảng, trình bày trực quan, theo dõi tiến độ dạy theo chương trình đã định trong giáo án, kết hợp hài hoà giữa thao tác dạy của mình với thao tác học của học sinh, thực hiện những cử động - thao động tác cho phù hợp với nội dung dạy và tổ chức bài học
Mỗi một hoạt động dạy cụ thể của người giáo viên sẽ được kích thích bằng hệ thống các động cơ Có động cơ kích thích và động cơ tạo ý Tất cả những gì về dạy học được người giáo viên nhận thức và do đó, nó kích thích chủ thể đi vào giải quyết một cách có hiệu quả toàn bộ nhiệm vụ dạy đều có thể trở thành động cơ dạy Tất cả vì sự hoàn thiện năng lực nhận thức cũng như kỹ năng hành động sáng tạo và sự phát triển các phẩm chất, năng lực nghề nghiệp trong nhân cách học sinh học nghề sẽ được coi là động cơ trong sáng, tích cực và cao đẹp nhất của người giáo viên dạy nghề Những động cơ này sẽ đóng vai trò quan trọng, kích thích hoạt động dạy và được thay đổi, phát triển và hoàn thiện hơn lên trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của hoạt động dạy cụ thể của người giáo viên dạy nghề
Trong hoạt động dạy, mỗi một hành động của người giáo viên dạy nghề đều hướng vào để đạt được những mục đích cụ thể Các mục đích dạy được xác định theo một cấu trúc - hệ thống, phù hợp với nhiệm vụ dạy lý thuyết nghề hay hướng dẫn thực hành nghề, vận dụng và kiểm tra - đánh giá một khi đã đạt được sẽ góp phần vào việc thực hiện mục đích dạy Động cơ dạy luôn chi phối mục đích dạy và các mục đích dạy một khi đã thực hiện được sẽ tạo điều kiện tâm lý cần thiết cho động cơ dạy trở thành hiện thực
Trong khi thực hiện các thao tác dạy, ở người giáo viên sẽ phải có đầy đủ được phương tiện vật chất - tinh thần nhất định cùng các điều kiện tâm - sinh lý cá nhân thuận lợi, tâm lý - xã hội tích cực và tiềm lực con người, tiền bạc cùng vật chất của nền kinh tế - văn hoá - xã hội cần thiết cho việc giải quyết nhiệm vụ dạy Các điều kiện, phương tiện dạy nghề khác nhau sẽ làm cho các thao, động tác dạy nghề của các giáo viên là khác nhau
1.2.2 Hoạt động học nghề
a Định nghĩa
Trang 29Hoạt động học nghề là quá trình học sinh, sinh viên tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo lĩnh hội, tiếp thu, rèn luyện những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và hình thành các phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của bản thân dưới sự hướng dẫn, tổ chức, định hướng, điều khiển của người giáo viên dạy nghề
Hoạt động học nghề luôn luôn là hoạt động của chủ thể người học nghề hướng vào tiếp nhận và giải quyết hệ thống các nhiệm vụ học để chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội - lịch
sử bằng cách tạo lại đối tượng học nhằm làm hình thành nên cái mới lần đầu tiên, vô cùng độc đáo cho nhân cách của chính mình Đó là năng lực nghề nghiệp, là các phẩm chất nhân cách của nghề mà trước khi học người học nghề chưa có được Sau một quá trình học nghề (từ vài tháng đến 2,3 năm), học sinh học nghề sẽ dần dần chiếm lĩnh được hệ thống các kiến thức lý thuyết, kỹ năng của nghề và làm cho mình đi từ chỗ chưa biết, chưa có kiến thức về nghề đến biết một ít rồi đến biết nhiều; từ chỗ chưa hiểu về cách thức hành động, làm việc đến chỗ hiểu đầy đủ, hiểu sâu sắc và tìm ra được cách làm việc, tác động; từ chỗ thao động tác nghề nghiệp còn vụng về, hay mắc sai sót đến chỗ thuần thục, nhuần nhuyễn; sản phẩm làm ra từ chỗ còn có thứ phẩm, phế phẩm đến chỗ có chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công việc, của nghề nghiệp.v.v
Chỉ có thông qua việc thực hiện hệ thống các nhiệm vụ học nghề, những tri thức khoa học, tri thức nghề nghiệp cùng tri thức về hoạt động - quan hệ kiểu người, kỹ năng,
kỹ xảo, tình cảm, ý chí và các thuộc tính tâm lý cá nhân của xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực nghề nghiệp ở người học nghề mới được hình thành Quan niệm của cha ông cho rằng, nhân bất học, bất tri lý đã chứng minh cho vài trò quyết định của hoạt động học đối với trình độ của từng nhân cách của con người
b Đặc điểm hoạt động học nghề
Mục đích của hoạt động học nghề Thông thường các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể (đối tượng của hoạt động) trong khi đó hoạt động học nghề lại làm cho chính chủ thể của hoạt động này thay đổi và phát triển Điều đó có nghĩa rằng: Hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp mà các nhà khoa học đã tìm ra không hề thay đổi sau khi bị học sinh học nghề chiếm lĩnh Sự thay đổi trong và sau quá trình học nghề lại chính là hiểu biết, năng lực của người học nghề thông qua quá trình tiếp thu, lĩnh hội và rèn luyện của chính họ Vì vậy, người học càng giác ngộ được sâu sắc mục đích này bao nhiêu thì sức mạnh vật chất và tinh thần của họ ngày càng được huy động bấy nhiêu, sự thay đổi và phát triển tâm lý của chính họ lại càng lớn lao và mạnh mẽ Tuy nhiên, ta cũng cần biết rằng, hoạt động học nghề cũng có thể làm thay đổi khách thể, nhưng đó không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà là lại phương tiện của hoạt động học
Đối tượng của hoạt động học nghề Đối tượng của hoạt động học nghề được coi là hệ thống tri thức chung, những kỹ năng khái quát, kỹ xảo hành động - quan hệ, phương thức thực hiện hoạt động - giao tiếp, cách tổ chức hành động nói chung và đặc biệt là hệ thống kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực nghề nghiệp Các đối tượng này luôn tồn tại khách quan trong nền văn hóa xã hội của loài người, trong các nghề nghiệp cụ thể và được chắt lọc, lựa chọn để đưa vào chương trình học trong các cơ sở dạy nghề Học sinh đi học nghề là chủ động chiếm lĩnh các đối tượng này và chuyển biến chúng thành những hiểu biết, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp chủ quan của bản thân
Trong khi tổ chức các hoạt động học nghề, các đối tượng học (tri thức, kỹ năng) được xây dựng sẽ phải tuân thủ đúng các yêu cầu của tâm lý học dạy học như sau:
Trang 30 Các tri thức, kỹ năng phải được sắp xếp một cách hợp lý, theo một hệ thống, phù hợp với cấu trúc thực của đối tượng kỹ thuật - quy trình công nghệ: tính phức tạp của chúng luôn tăng dần lên như tiến hành lắp ráp các yếu tố của bộ cơ theo sơ đồ rồi đến phát hiện
ra cái thừa - thiếu - sai trong sơ đồ về đối tượng và vận dụng sáng tạo các tri thức - kỹ năng
về cơ kỹ thuật đã biết để giải quyết nhiệm vụ kỹ thuật trong quá trình gia công ra sản phẩm;
Phương thức giải quyết các nhiệm vụ học sẽ luôn luôn ở trạng thái ẩn tàng vào trong đối tượng học tập mà chúng chỉ có thể được phát hiện ra và nhận thức thông qua chính hành động của chủ thể;
Hệ thống các tri thức, kỹ năng được xây dựng theo nguyên lý vừa - đủ và sắp xếp theo một logic xác định, sao cho, sau khi đã giải quyết chúng, học sinh học nghề hoàn toàn
có khả năng biết cách suy nghĩ và hành động đúng để tự tìm ra phương thức giải tối ưu - hợp lý nhất cho tất cả các bài toán kỹ thuật mới, cao hơn, khó hơn mà các em chưa từng biết Trong các quá trình sư phạm kỹ thuật, chúng ta cần chú ý đến tính vừa sức của người học nghề Nếu nhiệm vụ học đã nêu ra nhiều quá sẽ dễ gây mệt mỏi cho học sinh, còn chúng quá ít thì sẽ không có tác dụng làm cho các em có được đầy đủ những tiền đề tâm
lý cần thiết để nắm vững đối tượng kỹ thuật - quy trình công nghệ Điều này có nghĩa là chúng ta phải tăng cường nêu vấn đề để phát triển năng lực tư duy của người học, lưu tâm chỉ đạo một cách sát sao các hành động thực hành kỹ thuật của các em trong các quá trình dạy nghề
Nhiệm vụ của hoạt động học nghề Học sinh học nghề có nhiệm vụ tái tạo lại đối tượng để chuyển tải nội dung của chúng thành hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ đạo đức và năng lực nghề nghiệp của chính mình thông qua việc thực hiện các hành động học tập Các hành động này được thực hiện nhằm đạt mục đích học tập và mục đích thực hành Tổng thể các mục đích thực hành được hoàn thành sẽ góp phần thực hiện được mục đích học tập
Bản chất của hoạt động học nghề là người học nghề hướng vào làm thay đổi chính mình dưới sự điều khiển có ý thức của hoạt động dạy nghề nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, phương thức làm ra tri thức, thái độ, những chuẩn mực đạo đức và phương thức hành vi - ứng xử của nghề nghiệp Nghĩa là, người học nghề sẽ phải tiến hành thực hiện toàn bộ các nhiệm vụ tạo lại cái đã có để làm ra cái mới lần đầu tiên cho nhân cách của mình thông qua các hành động phân tích, đối tượng cảm tính, mô hình hoá như mô hình giống vật thật, mô hình biểu trưng, mô hình mã hoá, cụ thể hoá và kiểm tra Trong quá trình giải quyết hệ thống nhiệm vụ học nghề, chủ thể sẽ học được cả tri thức lẫn phương thức làm ra tri thức, thái độ và đạo đức trong hành vi - ứng xử cho mình Việc học của từng chủ thể sẽ luôn được diễn ra trong các điều kiện cụ thể của hoạt động dạy nghề ở những môi trường tâm lý - xã hội nhất định của một tập thể lớp cũng như nhóm học tập
Phương tiện học tập của học sinh, sinh viên học nghề Các nhiệm vụ học tập sẽ được học sinh học nghề giải quyết nếu họ biết cách thực hiện khi dựa vào các phương tiện vật chất và tinh thần như hệ thống tri thức, kỹ năng, thái
độ, tâm thế học tập đã có, bầu không khí tâm lý của tập thể lớp, ý chí, sự giác ngộ, tinh thần trách nhiệm và đạo đức trong học tập Trong đó, phương tiện quan trọng là hệ thống các kinh nghiệm đã có, đặc biệt là khả năng tiến hành các thao tác tư duy, tưởng tượng như: khả năng phân tích nhận định vấn đề; khả năng đọc, lý giải bản vẽ, hành động mẫu; khả năng quan sát, khả năng tổng hợp các nguồn thông tin, khả năng khái quát hóa, cụ thể hóa hệ thống các hành động, thao tác học tập; khả năng tưởng tượng; khả năng thực hiện công việc; khả năng kiểm tra, đánh giá.v.v… Bên cạnh đó, còn phải tính đến các phương tiện vật chất khác như phòng học, bàn, ghế, xưởng, sân bãi thực hành, ánh sáng.v.v Các phương tiện trên có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh học nghề
Trang 31c Các yếu tố tâm lý của hoạt động học nghề
Hoạt động học có những đặc điểm tâm lý như sau:
- Sự phát triển nhân cách của người học nghề luôn luôn được diễn ra trong một quá trình thống nhất với sự tiếp thu tri thức, kỹ năng và kỹ xảo của họ;
- Người học nghề thực hiện những tác động định hướng hoạt động tư duy của vào tiếp nhận và giải quyết hệ thống các nhiệm vụ học nhằm lĩnh hội được những đơn vị tri thức chung, những kỹ năng khái quát và quan hệ ứng xử kiểu người;
- Người học nghề phải biết cách thực hiện các quá trình tái tạo lại đối tượng bằng chính hành động của mình để phát hiện ra logic nội tại của chúng, nắm bắt và chuyển tải nội dung đó vào thế giới tinh thần của mình, qua đó, chúng được cấu tạo lại mà làm thành tri thức, kỹ năng, thái độ và đạo đức của chính mình
Trong các quá trình sư phạm kỹ thuật, giáo viên được coi là người chịu trách nhiệm thiết kế và thi công các loại hình bài học lý thuyết, thực hành rồi tổ chức lớp học và đưa học sinh vào đó mà chỉ đạo cho các em tiến hành giải quyết nhiệm vụ của bài học bằng chính hành động tích cực của mình Hành động học của học sinh rất quan trọng, có tác dụng làm cơ sở tâm lý cho việc hình thành hoạt động học và có vai trò quyết định phẩm chất trí tuệ cũng như nhân cách của các em
Hoạt động dạy nghề nhằm tạo ra cái mới trong tâm lý học sinh học nghề, do đó nó vận hành theo cơ chế sáng tạo, còn hoạt động học nghề lại vận hành theo cơ chế lĩnh hội Hai hoạt động này hoạt động theo hai cơ chế khác nhau nhưng chúng không tách rời nhau Hoạt động dạy nghề chỉ diễn ra khi có hoạt động học nghề và hoạt động học nghề chỉ diễn
ra khi có sự chỉ đạo và tổ chức của hoạt động dạy nghề Hai hoạt động này tồn tại cùng nhau, cho nhau và cùng hướng đến mục đích chung là hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp ở người học nghề
d Sự hình thành hoạt động học nghề
Hình thành động cơ học nghề Động cơ học tập của học sinh học nghề được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học, tức là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực của nghề nghiệp mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ Trong tâm lý học sinh, sinh viên học nghề, động cơ này được biểu hiện ra ngoài ở lòng khát khao đối với tri thức: yêu thích bộ môn mình học, nghề mình học, say mê nghiên cứu tìm tòi, phát hiện những điều mới lạ.v.v Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục nghề nghiệp, không ít học sinh đi học vì gia đình, vì bạn bè.v.v Vì vậy những học sinh này, sinh viên thường thờ ơ chán ghét những tri thức khoa học, tri thức nghề nghiệp Cho nên, ở những em này, động cơ học nghề còn chưa chính xác Động cơ học nghề không có sẵn, cũng không thể áp đặt từ ngoài mà phải được hình thành dần dần trong quá trình học sinh, sinh viên ngày càng đi sâu vào chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực nghề nghiệp dưới sự hướng dẫn, tổ chức của người giáo viên dạy nghề
Những phẩm chất tâm lý của nhận thức, tình cảm, ý chí, hứng thú, xu hướng, lý tưởng, nhu cầu kỹ thuật.v.v của học sinh, sinh viên góp phần tạo ra những động cơ học nghề Những phẩm chất dó sẽ điều chỉnh hoạt động học nghề, làm cho các em có được sức mạnh tinh thần to lớn trong việc giải quyết nhiệm vụ góp phần tạo ra được động cơ đối với hoạt động học nghề Dần dần, học tập trở thành một nhu cầu không thể thiếu tạo thành sức mạnh tinh thần thường xuyên thúc đẩy học sinh, sinh viên vượt qua mọi khó khăn để dành lấy kiến thức, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp Học nghề khi đó sẽ mang tính chất tự nguyện cao cả, say mê, hào hứng và có chất lượng
Như vậy, muốn hình thành động cơ học tập cho học sinh học nghề thì trong từng tiết học, từng ca thực hành, giáo viên phải tổ chức cho học sinh tự phát hiện ra những điều
Trang 32mới lạ, gây được những ấn tượng tốt đẹp cho học sinh đối với việc học tập Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải coi trọng việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc hình thành hứng thú - nhu cầu - kỹ năng - năng lực - xu hướng kỹ thuật cho học sinh, sinh viên thông qua việc cải tiến nội dung cũng như phương pháp, hình thức tổ chức, tích cực tìm kiếm phương tiện dạy học kỹ thuật và đổi mới tư duy sư phạm kỹ thuật
Hình thành mục đích học nghề Như trên đã nói, đối tượng học nghề là nơi hiện thân của động cơ học nghề Muốn cho hoạt động học nghề được thực hiện bởi động cơ đích thực thì đối tượng của hoạt động học nghề phải được cụ thể hoá thành hệ thống các khái niệm, các kỹ năng cụ thể Mỗi khái niệm, mỗi kỹ năng cụ thể của môn học được thể hiện trong từng tiết, từng bài chính là mục đích cần chiém lĩnh của hoạt động học nghề
Bản chất của hoạt động học nghề là hướng vào làm thay đổi chủ thể của nó Sự thay đổi này biểu hiện ở sự thay đổi mức độ làm chủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, thái
độ, giá trị, chuẩn mực, những quy luật và những phương thức hành vi Chính những cái đó làm thành nội dung của mục đích học tập Mục đích này chỉ bắt đầu được hình thành khi chủ thể bắt tay vào thực hiện hành động học tập Lúc đó chủ thể thâm nhập vào đối tượng, nhờ đó nó chiếm lĩnh được những tri thức, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp mới Tuy nhiên, kết quả của sự chiếm lĩnh này còn tuỳ thuộc sự thâm nhập của người học nghề vào đối tượng học diễn ra theo hướng nào Thường có 2 trường hợp xảy ra:
- Học sinh, sinh viên học nghề hướng vào chiếm lĩnh dấu hiệu chung bề ngoài của
sự vật, hiện tượng riêng lẻ, không có mối liên hệ tất yếu với nhau Cách thức này chỉ hình thành ở họ khả năng phân loại, nhận biết sự vật, hiện tượng khi cần thiết
- Học sinh, sinh viên học nghề hướng vào chiếm lĩnh phương pháp chung nhằm phát hiện ra những quy luật, những nguyên tắc khái quát Điều đó cho phép người học có thể giải quyết một loạt yêu cầu cụ thể trong quá trình học nghề cũng như thực tiễn nghề nghiệp sau này Cách thức này làm cho học sinh hình thành năng lực đi sâu vào bản chất của đối tượng
Trên đường đi tới đích cuối cùng luôn xảy ra hiện tượng chuyển hoá giữa mục đích
và phương tiện Một mục đích bộ phận khi đã được hình thành đầy đủ, nó lập tức trở thành phương tiện cho sự hình thành mục đích bộ phận tiếp theo Như vậy, để việc học nghề diễn
ra có hiệu quả, chất lượng, người học phải có được một cách rõ ràng các biểu tượng rõ ràng
về mục đích - mình học cái gì? Nó như thế nào? Học để làm gì? Học bằng những phương tiện - điều kiện gì? Quy trình học tập sẽ phải diễn ra như thế nào?.v.v Chính vì vậy, trong các quá trình sư phạm kỹ thuật, khi giao việc cho học sinh, chúng ta sẽ phải xác định cho các em biết rõ về mục đích, mục tiêu học tập và tổ chức - chỉ đạo cho các em thực hiện mục đích, mục tiêu học tập đó
Trang 33Trong quá trình học nghề, dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo viên người học nghề cần phải thực hiện những hành động học nghề cần thiết Tương ứng với 3 hình thức tồn tại của khái niệm như vừa kể trên, người học nghề phải thực hiện ba hình thức của hành động học nghề Đó là:
+ Hình thức hành động vật chất trên vật thật (hay còn gọi là vật thay thế) Có nghĩa rằng học sinh dùng thao tác tay chân để tháo, lắp, sắp xếp.v.v… vật thật Thông qua hành động này làm cho logic của khái niệm vốn trú ngụ trên vật thật được bộc lộ ra ngoài + Hình thức hành động với lời nói và các hình thức “mã hoá” khác tương ứng với đối tượng Mục đích của hành động này là dùng lời nói cũng như các hình thức mã hoá khác để chuyển logic của khái niệm đã phát hiện ở hành động vật chất vào trong tâm lý chủ thể hành động
+ Hình thức hành động tinh thần: Hành động diễn ra trong đầu bằng những ý nghĩ không cần vật thật, vật thay thế
Theo V.V.Đavưđôp muốn học tập tốt cần 3 hành động: hành động phân tích, mô hình hoá và cụ thể hoá
+ Hành động phân tích: Nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của khái niệm, nó
là phương tiện để đi sâu vào đối tượng Phân tích cũng diễn ra ở 3 hình thức hành động: Phân tích vật chất, phân tích dựa trên lời nói và phân tích tinh thần
+ Hành động mô hình hoá: Giúp con người diễn đạt logic khái niệm một cách trực quan Trong dạy học thường dùng những loại mô hình: Gần giống vật thật, tượng trưng,
mã hóa Hành động mô hình hoá có tác dụng giúp cho chủ thể biết cách diễn đạt khái niệm một cách trực quan Mô hình đã được coi là giai đoạn bắc cầu, quá độ, chuyển tiếp giữa cái vật chất tới cái tinh thần
+ Hành động cụ thể hoá: Giúp học sinh vận dụng phương thức hành động chung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực
Như vậy trong dạy học, hành động phân tích sẽ có tác dụng tìm ra mối quan hệ chung một cách khái quát về đối tượng, còn hành động mô hình hoá lại phản ánh đối tượng một cách trực quan dưới dạng mô hình và hành động cụ thể hoá được dùng để triển khai cái chung - cái trừu tượng ra cái cụ thể - đa dạng - phát triển trong thực tiễn Dạy học đi từ cái chung, cái trừu tượng đến cái riêng biệt, cụ thể được coi là phương hướng dạy học hiện đại, có khả năng làm phát triển đầy đủ những phẩm chất tâm lý của năng lực tư duy lý luận cho học sinh như khả năng phân tích, khả năng hành động trên bình diện trí tuệ
Thông qua sự hướng dẫn, tổ chức của người giáo viên dạy nghề, các hành động học
ở trên dần dần được hình thành và thể hiện trong quá trình học nghề của người học Thông qua đó, nó giúp học sinh hình thành thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, hiểu biết, trình độ kỹ năng, năng lực nghề nghiệp cần thiết Chúng ta phải làm cho họ biết tiến hành các việc sau:
- Tiến hành tốt các hành động phân tích nội dung đối tượng trên vật thật cũng như lời nói và tinh thần nhằm chuyển tải được logic của đối tượng kỹ thuật vào đầu óc các em thành ra khái niệm kỹ thuật;
- Tiến hành tốt hành động mô hình hoá nội dung của các đối tượng cũng như khái niệm và ngôn ngữ thành ra mô hình tư duy nhằm chuyển tải logic của chúng vào trong đầu
để nó được tồn tại dưới các dạng biểu tượng, hình ảnh kỹ thuật;
- Tiến hành tốt các hành động cụ thể hoá để đưa cái chung, cái trừu tượng của đối tượng ra dạng cụ thể, đa dạng và phát triển của nó trong thực tế mà thành các thành phần thực hành của tư duy kỹ thuật
1.3 Tầm quan trọng của tâm lý học giáo dục nghề nghiệp đối với nhà giáo
Trang 34Tâm lý học giáo dục nghề nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với nhà giáo nói chung và đối với người giáo viên nghề nghiệp nói riêng
Trước hết, tâm lý học nghề nghiệp cung cấp các cơ sở về mặt lý luận giúp cho người giáo viên tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục trong trường nghề một cách khoa học và hiệu quả Hoạt động dạy nghề và hoạt động học nghề diễn ra trong mối quan hệ mật thiết cùng với những quy luật nhất định của nó Những quy luật này chi phối hiệu quả của từng dạng hoạt động cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học nghề, Cụ thể: Tâm lý học nghề nghiệp cung cấp cho nhà giáo những quy luật nảy sinh, biến đổi và phát triển tâm lý của cá nhân, của nhóm dưới tác động của hoạt động sư phạm mà thực chất đó là những tác động về dạy học và giáo dục của quá trình dạy – học nghề
Bên cạnh đó, chuyên ngành tâm lý học này cũng giúp người giáo viên dạy nghề có cái nhìn khái quát về những nét đặc trưng của hoạt động dạy và hoạt động học nghề từ mục đích đến đối tượng và những phương thức hoạt động để từ đó giúp học sinh học nghề lĩnh hội được hệ thống kiến thức lý thuyết của nghề, luyện tập, thực hành để hình thành những
kỹ năng – kỹ xảo và phẩm chất của nghề nghiệp mà các em theo học Mặt khác, tâm lý học nghề nghiệp giúp người giáo viên tìm hiểu một cách chi tiết và thấu đáo về đặc điểm tâm lý của tuổi thanh niên học nghề để có thể đáp ứng những yêu cầu
cơ bản về việc dạy học tích cực và thích ứng Trên cơ sở đó, việc tổ chức các hoạt động mang tính đặc trưng, việc đáp ứng các yêu cầu về tâm lý lứa tuổi thanh niên học nghề được khai thác triệt để nhằm đáp ứng yêu cầu dạy học và giáo dục ở nhà trường
Ngoài ra, giáo viên được cung cấp những cơ sở tâm lý của việc dạy lý thuyết, thực hành và tích hợp để giúp người học hình thành khái niệm và rèn luyện kỹ năng - kỹ xảo nghề nghiệp Đây là cơ sở quan trọng để người giáo viên dạy nghề rèn luyện tay nghề cho người học và cho chính bản thân mình để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp bằng những giải pháp cụ thể: xây dựng kế hoạch dạy học tích cực, sử dụng hiệu quả các phương tiện và kỹ thuật dạy học, cải tiến các biện pháp đánh giá kết quả học tập
Như vậy, tâm lý học giáo dục nghề nghiệp nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy nghề, hoạt động học nghề và hướng đến hiệu quả dạy học ở các trường nghề đạt ở mức cao nhất
2 Cơ sở tâm lý của hoạt động học
2.1 Sự phát triển tâm lý của người học trong giáo dục nghề nghiệp
Học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thường bao gồm những thanh niên đã tốt nghiệp phổ thông trung học, một số ít tốt nghiệp trung học cơ sở có độ tuổi khoảng từ 15 đến 20, 21 tuổi Đó là những người ở độ tuổi sung sức, có thể chất phát triển nhất trong cuộc đời Thanh niên tuổi này không có sự khác biệt nhiều về cơ thể so với người đã trưởng thành
Trong gia đình, vị trí của thanh niên hoàn toàn khác trước Ở lứa tuổi này thanh niên được tham gia bàn bạc với cha mẹ, các anh chị về nội dung của một số việc chủ yếu trong gia đình Thanh niên có thể trực tiếp giải quyết một số công việc mà đặc biệt là các công việc nặng nhọc Thanh niên đã xác định được vị trí của mình cũng như mối quan hệ giữa mình và mọi người và có ý thức để thực hiện các yêu cầu của mối quan hệ đó Trong cư
xử với mọi người đã có sự thay đổi rõ nét về thái độ đối với thanh niên Quan hệ của thanh niên với người lớn trong nhà không phải là quan hệ hoàn toàn áp đặt từ bậc trên đến thanh niên nữa Đặc điểm nổi bật ở đó là do các em được tôn trọng hơn, các nhiệm mà vụ gia đình trao cho đều mang tính chất gợi ý để các em chủ động, tự lập và mọi người đã tin tưởng vào khả năng của thanh niên
Trang 35Ở ngoài xã hội, ở lứa tuổi này người thanh niên bắt đầu trở thành công dân một nước Trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội của mỗi cá nhân đã được xác định Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra với thanh niên học nghề cũng cao hơn và phong phú hơn trước đây
Quá trình học tập ở các trường dạy nghề thường từ 2 đến 3 năm Đây chính là thời
kỳ thay đổi lớn lao về nhiều mặt trong đời sống tâm lý của thanh niên, đặc biệt, sự phát triển và thay đổi về nhận thức, tình cảm và các đặc điểm tính cách giúp thanh niên phát triển, hoàn thiện nhân cách để trở thành những người lao động trong các ngành kinh tế và các lĩnh vực hoạt động xã hội sau này
2.1.1 Đặc điểm hoạt động nhận thức
Do sự hoàn thiện của hệ thần kinh mà khả năng nhận thức của thanh niên học nghề rất phát triển Sự tiếp thu tri thức nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp được gắn liền với việc rèn luyện các phẩm chất đạo đức của các em Tính chất và nội dung các môn học hoàn toàn thay đổi so với thời kỳ học phổ thông trước đó Các phương thức lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cũng hoàn toàn khác trước Điều đó không chỉ thể hiện ở số lượng, mức độ sâu sắc của các sự kiện được nhận thức,
mà còn ở chính bản thân các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý
Các quá trình nhận thức như tư duy, tưởng tượng, chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ, cảm giác, tri giác và biểu tượng kỹ thuật của các em đã được phát triển với chất lượng mới Khả năng phân biệt màu sắc, ánh sáng, độ tinh của thính giác cũng như sự tri giác không gian tăng lên rất nhiều so với lứa tuổi trước Khả năng tập trung và phân phối chú ý tăng lên rõ rệt nhờ sự ý thức được trong quá trình chú ý, nhờ khả năng tự kiềm chế mình Nhìn chung, thanh niên học nghề có có khả năng chú ý có chủ định tốt, nhưng cũng có hiện tượng vờ chú ý, một hiện tượng không có trong tuổi nhỏ Tư duy của họ khá phát triển, đặc biệt là
tư duy trừu tượng logic Thanh niên tuổi này có khả năng tìm hiểu, tự học, tự quan sát các
sự vật hiện tượng và rất nhạy cảm đối với các hành vi của những người xung quanh Nhờ khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh đã phát triển nên họ có khả năng nhìn ra những gì là chủ yếu, thứ yếu ở các đối tượng, các vấn đề đang được họ quan tâm Càng về cuối lứa tuổi, tính độc lập trong học tập, trong rèn luyện bản thân càng được bộc lộ rõ hơn
Do được sống và học tập trong trường dạy nghề với điều kiện mới mà động cơ học tập và khuynh hướng nghề nghiệp của các em được hình thành, phát triển, biểu hiện một cách tích cực Thông qua học nghề, các em được tiếp cận với kỹ thuật thông qua học các bài lý thuyết và thực hành cũng như tiếp xúc với giáo viên mà động cơ học nghề, ý hướng, khuynh hướng, lý tưởng nghề nghiệp đã phát triển Vì vậy, phần lớn các em đã có động cơ học tập đúng đắn, nguyện vọng lập thân, lập nghiệp
2.1.2 Đặc điểm tình cảm, ý chí
Tuổi thanh niên học nghề là lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời Chính vì vậy, ta thường gọi lứa tuổi này bằng một từ rất đẹp: tuổi xuân (tuổi thanh xuân) Đây là thời kỳ xuất hiện rất nhiều các loại cảm xúc, tình cảm như: tình yêu cuộc sống, yêu đời, yêu thích nghề nghiệp, yêu bạn bè, tình yêu nam nữ
Thanh nên học nghề thường rất yêu đời và lạc quan Tình yêu cuộc sống thường làm cho họ nhìn thiên về mặt thuận lợi, mặt “hồng” của cuộc sống Họ thường xuyên xây dựng
mơ ước của mình bẵng những thuận lợi, đẹp đẽ Tuổi này, các em thường ít lường trước những khó khăn, vấp váp trong cuộc sống Nhưng cũng nhờ có sự yêu đời, lạc quan mà ở thanh niên học nghề thường có một phẩm chất rất quý: đó là sự vươn tới phía trước, bất chấp những khó khăn thử thách, sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại để thực hiện mục đích đã được ý thức, đã được đặt ra
Trang 36Đây cũng là lứa tuổi có nhiều bạn hơn các lứa tuổi khác Do sự giao tiếp được mở rộng và tham gia các loại hoạt động xã hội đa dạng của tuổi trẻ mà ở thanh niên dễ dàng xây dựng và giữ lại tình bạn Trong đó, những thanh niên có xu hướng xã hội rõ ràng, tế nhị trong giao tiếp, rộng lượng, ân cần giúp đỡ người khác và có tâm hồn phong phú thường
là những người có nhiều bạn hơn những người khác Tình bạn của thanh niên học nghề chi phối và ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động cũng như sự hình thành nhân cách của họ Thanh niên học nghề cần có bạn và cần tình bạn, họ không thể sống một cách cô độc
mà không có bạn Loại tình cảm này ở họ được xây dựng trên nhiều cơ sở khác nhau: có khi từ cùng sở thích và hứng thú, có khi từ sự tương hợp các nét tính cách, có khi từ sự giống nhau về năng lực, cùng quê hương… Nhìn chung, tình bạn ở họ được xây dựng với thái độ chân thành, dễ thấy Khi đã là bạn thân, họ thường tâm sự với nhau những điều thầm kín nhất, cùng hành động, giúp nhau khi khó khăn, san sẻ với nhau những lúc vui, lúc buồn Tình bạn của thanh niên có nhiều biểu hiện cụ thể, dễ thấy Như: Gặp gỡ nhau trò chuyện, thư từ cho nhau, đi chơi, đi ăn cùng với nhau Những hành vi đó chúng ta thấy khá nhiều ở ngoài giờ lên lớp, người giờ thực tập ở trường và đôi khi cả ở trong lớp học Vì vậy, giáo viên cần giúp đỡ học sinh để họ xây dựng được tình bạn với mục đích chân chính Quan hệ bạn bè tốt đẹp phải là quan hệ bình đẳng, cùng giúp nhau học tập, tu dưỡng để tiến bộ Mọi sinh hoạt của các cặp bạn bè và các nhóm cũng phải theo hướng đó Chỉ có như vậy mới hạn chế được những lêch lạc trong tình bạn của các em
Trong thanh niên học sinh học nghề, còn có một loại tình cảm mới chớm nở nhưng khác hẳn thanh niên học sinh phổ thông là lòng yêu nghề Nhìn chung, lòng yêu nghề càng ngày càng được hình thành và phát triển đúng đắn trong quá trình học tập tại các trường dạy nghề và sau này khi trực tiếp tham gia lao động sản xuất Khi nguyện vọng của học sinh phù hợp với sự phân công công việc của tổ chức và khi thanh niên ý thức rõ ràng trách nhiệm của mình trước đòi hỏi của xã hội thì lòng yêu nghề có cơ sở để phát triển Nhờ có lòng yêu nghề mà học sinh yên tâm học tập, hăng say học tập và lao động, công tác cũng như tu dưỡng
Tuy nhiên, tình cảm nghề nghiệp này chỉ được xây dựng lành mạnh trên cơ sở cá nhân có nhận thức đúng đắn Khi mới bước chân vào các trương nghề, lòng yêu nghề của học sinh có khi chưa được hình thành hoặc nếu mới chớm nở thì cũng chỉ mơ hồ, chưa có
cơ sở đúng hướng vì họ chưa thực sự bước vào nghề Sự đánh giá về nghề nghiệp thường
là do dư luận xã hội và do những nhận thức sai lệch ở cùng lứa tuổi gây nên Mặt khác, họ thường có mơ ước vào học tiếp ở các trường Cao đẳng và Đại học Nhưng khi sự mơ ước không phù hợp với năng lực và trình độ hiện tại thì các em phải đi vào trường dạy nghề
Sự thất vọng thường bao trùm lên suy nghĩ làm cho các em không nhận ra được rằng nghề nào cũng cao quý trong xã hội là khi và chỉ khi nào con người làm nghề gì, việc gì phù hợp với khả năng, trình độ của mình thì người đó mới thật sự hạnh phúc Vả lại, con đường học tập và nghiên cứu của các em không phải đã chấm dứt khi bước vào các trường dạy nghề, con đường ấy vẫn mở ra cho các em và xã hội vẫn chờ đón những điều đó ở thanh niên học nghề Tuy nhiên, không phải tất cả mọi thanh niên học nghề đều nhận thức được đầy đủ điều đó Do đó, việc bồi dưỡng để có nhận thức đúng đắn về nghề đã học và xây dựng lòng yêu nghề là một yêu cầu rất quan trọng trong công tác giáo dục học sinh ở các trường dạy nghề Vì chỉ có yêu nghề, có hứng thú với nghề, học sinh học nghề mới say sưa học tập, lao động, tu dưỡng Từ đó, ở họ mới nảy sinh sự sáng tạo, tìm tòi và đi sâu vào ngành nghề mình học Và ngược lại, chỉ khi nào con người đi sâu vào nghề thì mới tìm thấy cái hay, cái hấp dẫn ở đó Do đó, lòng yêu nghề làm cho con người đi sâu vào nghề hơn và cũng nhờ quá trình tìm tòi, đi sâu vào nghề mà lòng yêu nghề càng có cơ sở để phát triển cao hơn nữa
Trang 37Một loại tình cảm nữa cũng được hình thành và phát triển ở thanh niên học nghề là tình yêu nam nữ Ở thanh niên học nghề, tình cảm này thường có màu sắc đặc biệt: thơ mộng, thuần khiết và dễ dãi Họ thường mến nhau vì cùng chung lý tưởng, cùng sở thích, hứng thú và vì sự hấp dẫn bởi vẻ đẹp của con người cũng như các phẩm chất đạo đức Trong tình yêu, họ không tính toán đến mặt vật chất và ít lường thấy hết những khó khăn Tình yêu nam nữ ở lứa tuổi này cũng có nhiều mặt tốt Chẳng hạn, vì người mình yêu, vì những nhận xét tác động của bạn bè cùng lứa tuổi mà nam nữ thanh niên thường ý tứ, e dè trong sinh hoạt Tình yêu được nhận thức đúng cũng sẽ giúp các em học tập tích cực hơn, biết giúp nhau học tập và tu dưỡng tốt hơn Tuy nhiên, những mặt hạn chế thường xảy ra nhiều hơn, đặc biệt ở những thanh niên chưa thực sự trưởng thành Các em bỏ ra nhiều thời gian cho việc gặp gỡ, thư từ, cho việc chăm sóc bề ngoài của mình Hơn nữa, các em chưa thực sự bước vào cuộc sống lao động, chưa có đủ kinh nghiệm và kiến thức thực tế cần thiết để xây dựng tình yêu nên tình yêu ở các em thiếu cơ sở chắc chắn, thiếu sự cân nhắc
kỹ lưỡng Cho nên, tình yêu trong họ thường khó thành công Điều đó đã làm tổn thương trong suy nghĩ, tình cảm ở các em và gây ảnh hưởng không tốt tới học tập, lao động và tu dưỡng
Vì vậy, các giáo viên trong các trường dạy nghề cần giúp thanh niên nhận thức rõ điều đó để các em có thể tập trung vào học tập, tu dưỡng, giúp các em có cơ sở để xây dựng tình yêu chân chính và tạo dựng cuộc sống hạnh phúc Biện pháp giáo dục phải tế nhị, tránh cấm đoán thô bạo, phải có thái độ tôn trọng tình cảm đó ở các em và có tác động khéo léo để giáo dục các em tôn trọng các chuẩn mực đạo đức, không nên quá dễ dãi, buông lỏng trong tình cảm Đó cũng là trách nhiệm của những người đi trước, những người làm công tác giáo dục
Một số nét ý chí của thanh niên học nghề như tính độc lập, tính kiên quyết hay lòng
tự trong cao.v.v cũng được bộc lộ khá rõ nét Các em thể hiện sự vươn tới vị trí ngang bằng với người lớn ở sự tự chủ Các em tách mình ra khỏi những người ở lứa tuổi thấp hơn,
cố gắng đặt mình trong hàng ngũ những người lớn, những người cùng tuổi Họ nhiều khi ngại ngùng khi đi cùng cha mẹ hoặc phải nghe cha mẹ hướng dẫn khi có những người lạ, những bạn bè cùng tuổi mới quen biết Họ muốn tự chủ trong mọi công việc Tính độc lập còn biểu hiện khá rõ nét ở việc phán đoán các hiện tượng xảy ra, trong việc quyết định hành động và trong việc biểu lộ các ý kiến, quan điểm của mình Nhờ ý thức bản ngã phát triển mà tính độc lập ở họ còn được biểu hiện ở sự tự kiểm tra và sự tự đánh giá các hành
vi ở chính bản thân mình Trong gia đình, tính độc lập biểu hiện rõ trong việc tự lo lắng và thu xếp công việc của bản thân và của những người thuộc lứa tuổi thấp hơn Thanh niên học nghề thường có ý kiến trái hẳn lại ý kiến của cha mẹ và điều đó thường gây ra sự “xung đột” trong quan hệ cha mẹ - con cái Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện thượng này là thanh niên học nghề có đặc điểm bồng bột, thẳng thắn và chân thành, những ý kiến của thanh niên thường có tính chất khẳng định, dứt khoát, họ cho rằng chỉ nên nói những điều mà mình nghĩ là đúng Một nguyên nhân nữa thường là sự không phù hợp giữa cách thức đối xử của cha mẹ với thanh niên, hầu như các bậc cha mẹ vẫn giữ cách tác động cũ khi thanh niên đã thay đổi hẳn so với tuổi thiếu niên
Thanh niên học nghề cũng thường rất quý trọng sự thẳng thắn, dũng cảm Đối với họ,
sự thẳng thắn và dũng cảm dám nhận trách nhiệm, dám nhận khuyết điểm có sức thuyết phục rất lớn và họ đòi hỏi ở nhau trong giao tiếp, trong quan hệ tình bạn, trong công việc những nét tính cách này Họ cũng rất nhạy cảm với sự đánh giá của người khác, đặc biệt là nhận xét, đánh giá của những người cùng lứa tuổi và những người có uy tín Chính vì vậy, nhiều khi họ hành động theo nhận xét của bạn bè và theo sự khuyên bảo của những người
mà họ quan niệm là “mẫu người” Do đó, giáo viên cần tạo ra các dư luận tập thể lành
Trang 38mạnh để giáo dục học sinh học nghề, mặt khác, giáo viên cần gương mẫu về mọi mặt để
có uy tín tốt trước các em
2.1.3 Một số đặc điểm của tính cách
Ở lứa tuổi này, thế giới quan được hình thành và phát triển khá rõ nét Thế giới quan
là toàn bộ “bức tranh” về thế giới trong ý thức con người Nhờ việc tiếp thu hàng loạt các kiến thức khoa học và kỹ thuật khác nhau mà ở thanh niên học nghề có những quan điểm đúng về hiện thực
Lý tưởng của thanh niên học nghề cũng được hình thành khá rõ rệt, nhất là sau khi
họ đã xác định được con đường lao động và học tập cho cả cuộc đời Sống để làm gì, cho
ai, đó là câu hỏi trả lời cho lý tưởng Niềm khát vọng vươn tới những điều đẹp đẽ, lớn lao thường có ảnh hưởng lớn hành vi của họ Những biểu hiện cụ thể trong học tập, tu dưỡng, công tác, lao động ở trường nghề chính là các hành vi thiết thực phấn đấu cho lý tưởng Sự
hi vọng dễ nảy sinh, dễ xây dựng nhưng khi gặp trở ngại, thất bại thì nỗi thất vọng cũng dễ làm cho họ khó định hướng trở lại Đó là biểu hiện của sự bồng bột, thiếu chín chắn, thiếu kinh nghiệm, chưa từng trải trong việc xây dựng các ước mơ, hoài bão ở thanh niên học nghề
Sự hình thành thế giới quan và lý tưởng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo nên các niềm tin trong thanh niên học nghề Nhờ có những hiểu biết nhất định mà niềm tin của thanh niên học nghề đã có cơ sở Mặt tình cảm của niềm tin biểu hiện ở họ khá rõ nét: khi
đã tin tưởng về một cái gì đó và được xác định là đúng đắn thì ở họ có những cảm xúc đặc biệt, đó là sự say sưa mang màu sắc lý tưởng Niềm tin của thanh niên học nghề dễ nhận thấy, không chỉ biểu hiện ở sự trao đổi, tranh luận mà còn biểu hiện cụ thể ở sự hăng hái, nhiệt tình trong hành động của họ Sở dĩ như vậy là vì niềm tin ở thanh niên khá tuyệt đối
và dứt khoát, ranh giới giữa cái tin và sự không tin biểu hiện khá rõ ràng Chính vì vậy, khi thanh niên học nghề đã tin vào cái gì, họ thường dốc hết tâm trí và hành động để thực hiện niềm tin ấy
Do đặc điểm của lứa tuổi, thanh niên học nghề thường có hứng thú riêng, trong đó nổi bật lên là hứng thú nhận thức Họ là những người ham hiểu biết, nên hứng thú của họ không chỉ bó hẹp trong việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn được mở rộng ở nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống Điểm nổi bật trong hứng thú của họ là rất thích những cái mới Vì thế, sự tiếp thu những cái mới ở họ thường rất nhanh (nhưng lại thường
ít có sự chọn lọc) Về mặt tích cực, lòng yêu thích cái mới thường làm nảy nở ở thanh niên học nghề tính nhạy bén và sự thích ứng trước những tác động của thay đổi bên ngoài Đặc biệt, thanh niên lứa tuổi này cũng rất trân trọng những sáng tạo, phát minh và sáng chế trong khoa học kỹ thuật Họ thường tỏ ra rất khó chịu với thói bảo thủ và lạc hậu Do đặc điểm dễ nắm bắt những cái mới nên những giáo viên trong các trường nghề phải làm cho các em thấy được những cái mới nào là có lợi, là phù hợp và cái mới nào là có hại, là xa lạ với chúng ta Có nhận thức đúng về cái mới thì ở các em mới có hành động theo cái mới một cách đúng đắn Mặt khác, khi những biểu hiện lệch lạc trong việc tiếp thu và hành động theo cái mới đã nảy nở ở thanh niên học nghề, ta cần tìm hiểu để nắm được nguyên nhân xảy ra, mức độ thể hiện và phạm vi có hại của nó để tìm các biện pháp thích hợp uốn nắn họ
Một đặc điểm nữa là thanh niên học nghề rất thích hoạt động tập thể Họ thường có khuynh hướng muốn khẳng định khả năng của mình trước tập thể Họ thích giao thiệp rộng rãi và thích giao du với bạn bè Điều đó thể hiện khả năng hiếu động của tuổi trẻ Cho nên, những hoạt động tập thể thường có tác dụng khích lệ họ rất cao Bởi lẽ, thông qua các hoạt động này thanh niên học nghề mới được trải nghiệm, được thử thách, có kinh nghiệm, làm phong phú và cân bằng nhân cách của mình, năng lực tổ chức, hoạt động tập thể của họ
Trang 39cũng được nâng cao, có bản lĩnh vững vàng hơn.v.v… Vì vậy, các trường dạy nghề cần tổ chức các hoạt động tập thể có tính đa dạng, phù hợp với khả năng của thanh niên học nghề
để cuốn hút các em như các hoạt động đấu tranh với các hiện tương tiêu cực trong học sinh, sinh viên; các hoạt động thi đua nâng cao tay nghề hay các hoạt động nâng cao đời sống văn hóa tinh thần.v.v…
Nhìn chung, ở thanh niên học nghề có nhiều phẩm chất tâm lý tốt, nhân cách của các
em cũng đã được định hình tương đối rõ nét Điều đó giúp chúng ta có thể phát huy các mặt này và từ đó, khắc phục các mặt nhược điểm vốn có của tuổi trẻ Tuy nhiên, cần hiểu rằng, các đặc điểm tâm lý lứa tuổi phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện lịch sử và xã hội
cụ thể Vì vậy, các đặc điểm này luôn thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử mặc dù trên cùng một lãnh thổ, một đất nước, cùng một chế độ xã hội Cho nên, việc giáo dục thanh niên học nghề cần tính đến những thay đổi của các đặc điểm tâm lý ở các giai đoạn lịch sử xã hội khác nhau và ở từng cá nhân cụ thể
2.2 Bản chất tâm lý của học tập
Thực tế cho thấy, để lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, có những cách học khác nhau, như
việc học một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày theo kiểu “Đi một ngày đàng,
học một sàng khôn” hay “Học ăn, học nói, học gói, học mở” như ông bà ta đã đúc kết Với
cách học này, việc nắm tri thức, kinh nghiệm, hình thành kỹ năng, kỹ xảo thông qua các hoạt động khác nhau trong cuộc sống như vui chơi, lao động sản xuất, hoạt động giao tiếp… Kết quả của việc học này chỉ là những kinh nghiệm lĩnh hội được không trùng hợp với những mục tiêu trực tiếp của chính hoạt động, mà chỉ lĩnh hội những gì liên quan trực tiếp tới các nhu cầu, hứng thú, các nhiệm vụ trước mắt của cá nhân, góp phần hình thành những tri thức tiền khoa học, có tính chất ngẫu nhiên, rời rạc và không hệ thống
Trong khi đó, thực tiễn lại đòi hỏi con người phải có những tri thức khoa học thực sự, những năng lực mới mà với cách học ngẫu nhiên không thể đem lại cho trẻ Để đạt được điều này, cần phải có một hoạt động đặc biệt, mà mục đích cơ bản của nó là học Hoạt động đặc thù của con người có mục đích trực tiếp là học gọi là hoạt động học (học có chủ định hay học theo phương thức nhà trường)
2.2.1 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học
2.2.1.1 Khái niệm hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự
giác, là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những
dạng hoạt động nhất định
Hoạt động học diễn ra không đồng đều, từ chỗ chưa biết, hoặc biết chưa sâu sắc đến chỗ biết đầy đủ, sâu sắc hơn; từ chỗ hoạt động chưa thành thạo đến thành thạo, tinh vi hơn
Có thể coi đây là sự hoạt động cả bên trong và bên ngoài, để đạt được mục đích đã định,
có nghĩa là nhờ vào hoạt động học, mà tạo ra sự biến đổi ở học sinh
Những biến đổi này có thể ở các cấp độ khác nhau, như cấp độ tri thức - khái niệm -
kỹ năng - kỹ xảo; hay cấp độ năng lực trí tuệ và nhân cách Đây là một hình thức chuyên biệt của tính tích cực ở học sinh, được hình thành từng bước, theo từng cấp học, bậc học,
từ thấp đến cao, dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên
2.2.1.2 Bản chất của hoạt động học Hoạt động học khác với các hoạt động khác được thể hiện ở các bản chất sau:
Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
với nó
Hoạt động học nhằm hướng tới mục đích là chiếm lĩnh tri thức xã hội, thông qua sự tái tạo ở mỗi cá nhân
Trang 40Sự tái tạo này sẽ không thực hiện được, nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư phạm Vậy, muốn học có kết qủa, người học phải tích cực tiến hành các hành động học tập, bằng chính ý thức tự giác và khả năng, kinh nghiệm của bản thân, có nghĩa học sinh phải thực sự là chủ thể của hoạt động học, còn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo là đối tượng của hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình
Thông thường, các hoạt động khác đều hướng vào làm thay đổi đối tượng của hoạt
động, trong khi đó hoạt động học lại làm thay đổi chính chủ thể hoạt động
Sở dĩ như vậy, vì tri thức mà loài người tích lũy được, là đối tượng của hoạt động học Nội dung của tri thức này không hề bị thay đổi sau khi chủ thể học sinh chiếm lĩnh
nó, và nhờ sự chiếm lĩnh này, nên tâm lý chủ thể học sinh biến đổi và phát triển
Do vậy, người học càng ý thức được mục đích học tập sâu sắc bao nhiêu, thì sự thay đổi và phát triển tâm lý diễn ra càng mạnh mẽ bấy nhiêu
Hoạt động học là hoạt động, được điều khiển một cách có ý thức, nhằm tiếp thu
tri thức kỹ năng, kỹ xảo
Trước hết, sự tiếp thu này có thể diễn ra trong hoạt động thực tiễn như lao động, vui chơi, giao lưu… Đó là sự tiếp thu diễn ra sau khi chủ thể hoạt động trong một tình huống
cụ thể Những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tiếp thu trong các tình huống này thường mang tính chất kinh nghiệm, chỉ giúp học sinh hoạt động có kết quả trong tình huống xác định giống như tình huống đã gặp Kinh nghiệm được hình thành như vậy không có tính hệ thống, chưa được khái quát và khó có thể giúp cho cá nhân giải quyết những nhiệm vụ đa dạng của thực tiễn
Trái lại, sự tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động học, được điều khiển bởi mục đích tự giác là mục tiêu đào tạo Đối tượng tiếp thu chính là mục đích của hoạt động học tập Hay nói khác đi, những tri thức học sinh cần phải tiếp thu, là những tri thức được chọn lọc, tinh chế và được tổ chức lại trong một hệ thống nhất định, được cụ thể hóa trong chương trình đào tạo Những tri thức này không chỉ cần thiết và thích hợp cho việc giải quyết một tình huống cụ thể nào đó, mà còn cần thiết và thích hợp để giải quyết những nhiệm vụ đa dạng của cuộc sống
Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, mà
tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động (phương pháp để giành tri thức
- cách học)
Muốn cho hoạt động học đạt được hiệu quả, người học phải biết cách học, nghĩa là phải có những tri thức về bản thân hoạt động học Tuy vậy, sự tiếp thu loại tri thức này, không thể diễn ra một cách độc lập, tách rời với tiếp thu tri thức, mà diễn ra đồng thời với việc tiếp thu tri thức
Do đó, khi tổ chức hoạt động học cho học sinh, người dạy vừa phải ý thức được những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nào cần hình thành ở học sinh; vừa phải ý thức được con đường, cách thức mà học sinh thực hiện để chiếm lĩnh tri thức đó, để thông qua việc tổ chức sự lĩnh hội cho học sinh, mà hình thành cách học ở họ
2.3 Phong cách học tập
Dạy học là quá trình thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của nhà giáo và hoạt động học của người học Hoạt động dạy và hoạt động học có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới phong cách học tập của người học Theo Dunn (1997) “Nếu một đứa trẻ không học theo cách chúng ta dạy, chúng ta buộc phải dạy theo cách đứa trẻ học - If the child is not learning the way you are teaching, then you must teach in the way the child learns” Theo Burris, Kitchel, Molina, Vincent và Warner (2008), phong cách học tập của sinh viên có