Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước trong q
Trang 1LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
PH N M Đ U 1
CHƯƠNG 1 CƠ S LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 6
1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 6
1.1 Khái niệm, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 6
1.1.1 Khái niệm cán bộ 6
1.1.2 Khái niệm Công chức 8
1.1.3 Đội ngũ cán bộ, công chức 9
1.1.4 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 10
1.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 12
1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 14
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 21 1.4.1 Nhân tố chủ quan 21
1.4.2 Nhân tố khách quan 22
2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 26
2.1 Kinh nghiệm tại một số địa phương 26
2.2 Những bài học rút ra cho huyện Đồng Hỷ 34
3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 36
Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN 39
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Đồng Hỷ 39
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39
Trang 22.2.1 Thực trạng số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
huyện 42
2.2.2 Thực trạng về công tác bầu cử, tuyển dụng và bố trí sử dụng 47
2.2.3 Thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng 50
2.2.4 Thực trạng về đãi ngộ và tạo cơ hội phát triển 50
2.2.5 Thực trạng về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2015-2017 tại huyện Đồng Hỷ 51
2.2.6 Thực trạng về trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2015-2017 tại huyện Đồng Hỷ 52
2.2.7 Thực trạng về trình độ tin học, ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Đồng Hỷ 54
2.2.8 Thực trạng về trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Đồng Hỷ 56
2.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã huyện Đồng Hỷ 57
2.3.1 Thực trạng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ CBCC cấp xã huyện Đồng Hỷ 57
2.3.2 Thực trạng công tác quản lý về thể chất đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 58
2.3.3 Thực trạng công tác quản lý về văn hóa công sở 59
2.4 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã huyện Đồng Hỷ 59
2.4.1 Những kết quả đạt được 59
2.4.2 Những hạn chế 62
2.4.3 Nguyên nhân 65
Kết luận chương 2 66
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN 67
Trang 33.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2018 – 2020 67
3.1.2 Định hướng cải cách hành chính giai đoạn 2018– 2020 67
3.2 Định hướng phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2018-2020 68
3.2.1 Quan điểm, mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2018-2020 68
3.2.2 Định hướng phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Đồng Hỷ 70
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 71
3.3.1 Tăng cường nhận thức về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 71
3.3.2 Nâng cao nhận thức về pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức 72
3.3.3 Giải pháp tuyển dụng và quy hoạch 74
3.3.4 Giải pháp trong sử dụng, đánh giá cán bộ công chức 79
3.3.5 Giải pháp đãi ngộ và tạo cơ hội cho cán bộ công chức 84
3.3.6 Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức 86
3.3.7 Giải pháp xây dựng văn hóa công sở 89
Kết luận chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 4Bảng 2.1 Số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Đồng Hỷ 44
Bảng 2.2 Số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã 45
của huyện Đồng Hỷ phân th o độ tuổi tính đến tháng năm 2017 45
Bảng 2.3 Số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã 47
của huyện Đồng Hỷ phân th o dân tộc tính đến tháng năm 2017 47
Bảng 2.4 Trình độ đào tạo chuyên môn của cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Đồng Hỷ 2015-2017) 51
Bảng 2.5 Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức cấp xã huyện Đồng Hỷ 53
Bảng 2.6 Trình độ tin học, ngoại ngữ của CBCC cấp xã huyện Đồng 54
Bảng 2.7 Trình độ quản lý nhà nước của CBCC cấp xã huyện Đồng Hỷ 56
Bảng 2.8 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của CBCC cấp xã huyện Đồng Hỷ 57
Trang 5Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ 40Hình 2.2 Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Đồng Hỷ th o giới tính 44Hình 2.3 Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Đồng Hỷ phân th o độ tuổi 46Hình 2.4 Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Đồng Hỷ phân th o dân tộc 47Hình 2.5 Trình độ đào tạo chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Đồng Hỷ 2015-2017) 52Hình 2.6 Trình độ đào tạo lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Đồng Hỷ 2015-2017) 54Hình 2.7 Trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Đồng Hỷ 2015-2017) 55Hình 2.8 Trình độ Quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC cấp xã huyện Đồng Hỷ (2015-2017) 56Hình 2 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của CBCC cấp xã huyện Đồng Hỷ 58
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB : Cán bộ
CC : Công chức CBCC : Cán bộ, công chức
CQ : Chính quyền CNH – HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
PL : Pháp luật
TC : Trung cấp UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém"
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu, thách thức đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu thế hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra như hiện nay Cùng với việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải được đào tạo một cách bài bản, chuyên nghiệp, phải được trang bị một cách có hệ thống các kiến thức pháp luật, thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần công vụ cao để có thể xử lý kịp thời các vấn đề xảy ra trong thực tiễn
Trong thời gian qua, việc thực hiện các Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về cán bộ, công tác cán bộ đặc biệt được quan tâm Đã có nhiều quyết sách rất đúng về cán bộ và công tác cán bộ Hội nghị Trung ương 3 Khóa VII đã chỉ rõ trong
công cuộc đổi mới: “ Cán bộ có vai trò quan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới ”; Hội nghị Trung ương 3 Khóa VIII đã ban hành Nghị quyết về chiến
lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH – HĐH đất nước,
tiếp tục nhấn mạnh: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng,của đất nước và chế độ”; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn" ; Hội nghị Trung ương 6 khóa XII ban hành
4 Nghị quyết quan trọng trong đó có Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Đây là bước phát triển rất quan trọng về công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và về công tác cán bộ Gần đây nhất là Hội nghị Trung ương 7, khóa XII đã tiến hành tổng kết 20 năm 1 7 - 2017 thực hiện Nghị quyết Trung ương
Trang 83 khoá VIII về "Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Nhờ đó, đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn rèn luyện, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém Đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị đông nhưng chưa mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã Trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn không ít những vấn
đề đáng lo ngại, kiến thức và trình độ hiểu biết về lý luận, một bộ phận cán bộ, công chức chưa th o kịp yêu cầu của tình hình thực tiễn hiện nay; khi thực hiện nhiệm vụ còn
quan liêu, cửa quyền hoặc lúng túng trong giải quyết công việc
Xã, thị trấn là cấp thấp nhất, gần dân nhất, giữ vị trí và vai trò quan trọng, là nền tảng của hệ thống chính trị, là cấp trực tiếp tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống nhân dân, là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới ngày nay
Cũng như vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên cả nước, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cũng nắm giữ vai trò quan trọng góp phần vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội của huyện Bên cạnh vai trò không thể phủ nhận thì chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, hiệu quả thực thi nhiệm vụ chưa cao Việc đánh giá, tổng kết một cách có hệ thống về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện chưa được tiến hành thường xuyên và chưa có các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng cũng như năng lực công tác, hiệu quả thực thi nhiệm vụ Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Trang 9Nguyên hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã? Các giải pháp nào để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Đồng Hỷ?
Để trả lời những câu hỏi trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên" để làm luận văn thạc sĩ Đây là vấn đề cấp bách, phù hợp với yêu cầu
cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay, phù hợp với thực tiễn của địa phương
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất một số giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cũng như bộ máy quản lý nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của Huyện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
b Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã và các yếu tố ảnh hưởng
- Phạm vi về không gian: Tại các xã, thị trấn của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi về thời gian: Số liệu phục vụ cho việc phân tích của đề tài luận văn được tổng hợp trong giai đoạn từ năm 2015- 2017 Những giải pháp được đề xuất đến năm
2020
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập tài liệu số liệu;
Trang 10- Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý tài liệu, số liệu;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp chuyên gia;
- Một số phương pháp kết hợp khác để giải quyết các vấn đề liên quan đến quá trình nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về công tác quản lý chất lượng cán bộ, công chức và làm cơ sở đề xuất giải pháp trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
b Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đưa ra các giải pháp giúp huyện Đồng Hỷ trong công tác quản lý chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, qua đó góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện có chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại các huyện khác trong tỉnh Thái Nguyên
6 Kết quả dự kiến đạt được
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
- Làm rõ thực trạng về cán bộ, công chức cấp xã của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Đánh giá những mặt mạnh cũng như hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó làm tiền đề để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Đồng Hỷ
- Đề xuất và đưa ra những giải pháp phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Đồng Hỷ trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 117 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1.1 Khái niệm, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
1.1.1 Khái niệm cán bộ
Thuật ngữ “cán bộ” đã được nhiều nhà nghiên cứu và biên soạn nhưng nhìn chung
đều được hiểu th o những nghĩa sau:
Th o từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Cán bộ: 1 Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước – cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học 2 Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ” [15, tr 8] Như vậy, th o định nghĩa này, cán bộ là người làm công
tác có nghiệp vụ chuyên môn hay có chức vụ trong cơ quan Nhà nước hay một tổ chức
Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam do Nguyễn Lân chủ biên: “Cán bộ: Người phụ trách một công tác của chính quyền hay đoàn thể” [13, tr.224]
Th o Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikip dia: “Cán bộ trong Tiếng Việt thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính) và thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Trong Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên cũng đưa ra khái niệm về “cán bộ” như sau: “Cán bộ: 1 Người trong cơ quan Nhà nước - cán bộ Nhà nước 2 Người
giữ chức vụ phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước” [20; tr.105]
Trong thời kỳ CNH – HĐH, khái niệm về cán bộ trong một số đề tài nghiên cứu được
định nghĩa như sau: “Cán bộ là một khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động
Trang 13của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng cho sự phát triển của tổ chức” [16, tr.20]
Luật cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh th o nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau đây gọi chung là cấp tỉnh , ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sau đây gọi chung là cấp huyện , trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Cán bộ xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ th o nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp
vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách NN
Th o Nghị định số 2/200 /NĐ-CP ngày 22/10/200 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xã bao gồm các chức vụ sau:
a Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
b Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
d Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam ;
Trang 14h Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
1.1.2 Khái niệm Công chức
Th o Từ điển Tiếng việt phổ thông, thuật ngữ “công chức” được hiểu: “Người được tuyển dụng và bổ nhiệm, làm một công việc thường xuyên trong cơ quan NN, hưởng lương do ngân sách NN cấp”[15, tr.188]
Trong Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, tác giả Nguyễn Lân đã đưa ra định nghĩa “công
chức”: “Nhân viên cơ quan Nhà nước” [13, tr.416]
Th o Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikip dia, “Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước”
Th o quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công
an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập , trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn
vị sự nghiệp công lập th o quy định của pháp luật
Th o Nghị định số 2/200 /NĐ-CP ngày 22/10/200 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau:
Trang 15a Trưởng Công an;
b Chỉ huy trưởng Quân sự;
Có nhiều quan niệm và nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ Trong các tổ chức chính
trị -xã hội, khái niệm “đội ngũ” được sử dụng một cách rộng rãi như: “Đội ngũ giáo viên”; “Đội ngũ y bác sĩ”; “Đội ngũ công nhân lành nghề”;…Tất cả những khái niệm
này đều xuất phát từ cách sử dụng từ ngữ trong quân sự về “đội ngũ” nhằm chỉ khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ
Mặc dù có nhiều cách diễn tả nhưng đều có được hiểu th o một khái niệm thống nhất,
đó là: Đội ngũ là một nhóm tập hợp người được tổ chức và tập hợp lại thành một đội, một lực lượng, có cùng mục đích và chí hướng
Tóm lại, cách hiểu chung nhất có thể được dùng là: Đội ngũ là một nhóm người được tập hợp lại dưới sự dẫn dắt và điều hành của một người, hay nhóm người đứng đầu, có cùng lý tưởng, có cùng mục đích, gắn bó và đoàn kết với nhau cả về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần
Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức có thể hiểu là tập hợp lực lượng cán bộ, công chức trong một tổ chức nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà tổ chức giao phó Đội ngũ CB, CC là tập hợp lực lượng CB, CC được bầu cử, được tuyển dụng, bổ nhiệm hay được phân công làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong cơ quan của Đảng,…
Trang 161.1.4 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Khi nói về vai trò của người lãnh đạo phong trào cách mạng, trong tác phẩm“Những nhiệm vụ bức thiết của phong trào chúng ta”, Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" Tổng kết những năm đầu của cách mạng, Lênin còn khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm những người cán bộ có bản lĩnh hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn”
Là người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, khi nói đến vấn đề cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và coi đây là vấn đề
th n chốt Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" Vai trò hết sức
quan trọng của cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng còn thể hiện ở chỗ nếu thiếu họ thì không có cách mạng, mục tiêu đề ra không thể hoàn thành, cán bộ có vai trò quyết định
đối với công việc như chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”
Cán bộ, công chức có vị trí, vai trò quan trọng đối với cơ quan, tổ chức Cán bộ, công chức là thành viên cấu thành tổ chức bộ máy Cán bộ, công chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động của tổ chức Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán bộ Cán bộ, công chức tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt
động nhịp nhàng, CB,CC kém sẽ làm cho bộ máy tê liệt "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt"
Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước, Đảng nhận định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là cán bộ Cán bộ là một
Trang 17trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng
Cán bộ, công chức cấp xã có một ví trí vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý điều hành ở cơ sở Cán bộ, công chức cấp xã là người đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước th o đúng chính sách và thẩm quyền được giao; Là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng Nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ CBCC cơ sở, Hội nghị
lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra nghị quyết về: “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”
Trên thực tế CBCC cấp xã hàng ngày cọ sát với thực tiễn rất phức tạp, thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có bề dày kinh nghiệm và hiểu biết Song họ lại
ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và thông tin về chính sách pháp luật Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với họ cũng chưa tương xứng Thực tế này là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng lực, trình độ quản lý điều hành CBCC chính quyền ở cơ sở Như vậy, cán bộ, công chức là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là khâu th n chốt trong công tác xây dựng Đảng Với vị trí quan trọng như vậy, vai trò của CBCC cấp xã được thể hiện qua các mối quan hệ: với đường lối, chính sách và pháp luật; với
bộ máy chính quyền; với công việc và với quần chúng nhân dân, cụ thể ở các phương diện sau:
Một là, CBCC cấp xã vừa là người đại diện Nhà nước, vừa là người đại diện cộng
đồng, vừa là người cùng làng, cùng xóm, cùng tổ dân phố, cùng họ hàng.v.v vừa là người dân, là người gần gũi dân, sát dân nhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân để phản ánh lên các cấp chính quyền, từ
đó các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng
Hai là, CBCC cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối
của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước cho nhân dân, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách, pháp luật đó trong cuộc sống Là người tiên phong
Trang 18gương mẫu trong việc thực hiện chính sách pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở khu dân cư, CBCC cấp xã cũng là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân
Ba là, CBCC cấp xã là người am hiểu các phong tục tập quán, truyền thống dân tộc của
địa phương, họ là người tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở, là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư Vì vậy, CBCC cấp xã phải mềm dẻo, linh hoạt khi tiếp xúc, làm việc với dân; Phải đáp ứng nhu cầu đòi hỏi đa dạng của người dân sao cho vừa đúng pháp luật, vừa phù hợp với truyền thống và điều kiện của mỗi người dân, mỗi địa phương
Bốn là, CBCC cấp xã là những người gần dân nhất, có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ
cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành
vi vi phạm pháp luật; là lực lượng đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Thông qua hoạt động của cán bộ, công chức cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền làm chủ của mình
Như vậy, cán bộ, công chức cấp xã là người có vị trí, vai trò rất quan trọng ảnh hưởng
trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, góp phần thực hiện
có hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương
1.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Th o Từ điển tiếng Việt thì “chất lượng” hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc" [48, tr.44]
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu chất lượng đối với mỗi người trong xã hội nói chung vốn đã cao thì yêu cầu đối với chất lượng CBCC càng cao hơn - đòi hỏi người CBCC phải gương mẫu, tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; giữ vững phẩm chất và tư cách của người cán bộ, đảng viên Mỗi
Trang 19CBCC không thể tồn tại một cách biệt lập mà phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ CBCC
Trước hết, quan niệm về chất lượng CBCC phải được đặt trong mối quan hệ biện
chứng giữa chất lượng của từng CBCC với chất lượng của cả đội ngũ Chất lượng của
cả đội ngũ không phải là sự tập hợp giản đơn số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có bên trong của mỗi cán bộ và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức, của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý, của kỷ luật Như vậy, có thể nói chất lượng CBCC bao gồm chất lượng của từng CBCC Cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ Chất lượng của từng CBCC là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của cả đội ngũ Chất lượng của cả đội ngũ với tư cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấu của đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý
Thứ hai, chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có số lượng,
cơ cấu hợp lí so với nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra Tính hợp lí được thể hiện ở sự tinh giảm
ở mức tối ưu, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, trong đó mỗi cá nhân phải phát huy hết năng lực, sở trường của mình, hoàn thành tốt công việc được giao Đội CBCC cấp xã quá đông sẽ gây trì trệ, ỉ lại trong công việc, trong điều hành, gây ra sự dư thừa, lãng phí nhân lực…
Thứ ba, chất lượng CBCC cấp xã được thể hiện ở hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động
của bộ máy chính quyền cấp xã Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã phụ thuộc vào các yếu tố: cơ sở vật chất, tính tổ chức khoa học, tính hợp lí trong hoạt động của bộ máy…trong đó, chất lượng hoạt động của CBCC cấp xã là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã
Từ những đặc điểm trên có thể khái niệm: Chất lượng CBCC cấp xã là một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện được thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực công tác, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức và cơ cấu, số lượng, độ tuổi, thành phần của cả đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao trong các mặt, lĩnh vực công tác
Trang 20Chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã được thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn phản ánh trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý của cán bộ, công chức Chất lượng cán bộ, công chức còn bao hàm tình trạng sức khoẻ của công chức trong thực thi công vụ Chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã càng cao thì khả năng hoàn thành chức năng, nhiệm vụ, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội càng lớn; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước và cũng là điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật trong công tác quản lý nhà nước Tuy nhiên, mỗi chức danh, mỗi vị trí công tác, mỗi cán bộ, công chức khác nhau có yêu cầu chất lượng ở mức độ chuyên sâu khác nhau Nhưng nhìn chung ở bất cứ vị trí và lĩnh vực nào thì yêu cầu về tố chất chính trị của cán bộ, công chức phải được đặt lên hàng đầu Tố chất đạo đức là cái gốc; trình độ, kiến thức, năng lực làm việc là nhân tố quyết định đến hiệu quả công tác Chất lượng hoạt động quản lý hành chính nhà nước cấp xã suy cho cùng chính là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại cấp xã Do vậy, khi nói đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là nói đến tổng thể những phẩm chất, năng lực của người cán bộ, công chức đang làm việc tại cấp xã, những phẩm chất và năng lực này thể hiện khả năng và kết quả thực hiện công việc của họ, cụ thể hơn là kết quả thực hiện những nhiệm vụ mà họ được cấp có thẩm quyền phân công
Tóm lại, trong luận văn này th o quan điểm của tác giả thì chất lượng cán bộ, công chức
cấp xã được hiểu là: Những tiêu chuẩn phản ánh trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức, tình trạng sức khỏe của người cán bộ, công chức cho phép cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ, công việc được giao
1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Chất lượng cán bộ, công chức được thể hiện qua các tiêu chí như: bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn, năng lực công tác trong thực tiễn, tuổi tác, tình trạng sức khoẻ, vv Dựa vào những tiêu chí này, tác giả luận văn đưa ra một số nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức như sau:
Trang 21a Nhóm tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ, công chức
* Tiêu chí về trình độ:
- Một là về trình độ văn hoá: Trình độ văn hoá là mức độ học vấn, giáo dục mà cán bộ,
công chức cấp xã đạt được Hiện nay, trình độ văn hoá của cán bộ, công chức nước ta được phân thành 3 cấp với mức độ khác nhau từ thấp đến cao: Tiểu học, Trung học cơ
sở, Trung học phổ thông Đây là những kiến thức phổ thông về tự nhiên, xã hội làm nền tảng cho nhận thức, tư duy và hoạt động của con người Trình độ học vấn không phải là yếu tố quyết định đến toàn bộ năng lực và hiệu quả làm việc nhưng là yếu tố cơ bản, nó ảnh hưởng đến năng lực và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức cấp xã
- Hai là về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán
bộ, công chức là trình độ được đào tạo qua các trường lớp có văn bằng chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công việc Trình độ chuyên môn đào tạo ứng với hệ thống văn bằng hiện nay và được chia thành các trình độ như: sơ cấp; trung cấp; đại học và trên đại học Tuy nhiên, khi x m xét về trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức cần phải lưu ý đến sự phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với yêu cầu thực tế của công việc
- Ba là về trình độ ngoại ngữ, tin học: Ngoại ngữ, tin học có vai trò vô cùng quan
trọng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đây cũng là điều kiện, tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức khi tham gia dự tuyển hoặc khi tham gia ứng cử vào các chức danh bầu cử Th o quy định tại Thông tư số 05/2017/TT-BNV ngày 15/8/2017 của Bộ Nội
vụ sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2014/TT-BNV ngày 09/10/2014 và Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn nghiệp
vụ chuyên môn, bổ nhiệm ngạch và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và việc tổ chức thi nâng ngạch công chức thì công chức phải có chứng chỉ ngoại ngữ với trình độ tương đương bậc 1, 2, 3,4 th o tiêu chuẩn từng ngạch công chức cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam th o quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam và có chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng
Trang 22sử dụng công nghệ thông tin cơ bản th o quy định tại Thông tư số BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng
03/2014/TT-sử dụng công nghệ thông tin hoặc tương đương;
- Bốn là trình độ lý luận chính trị: Trình độ lý luận chính trị là mức độ đạt được trong
hệ thống những kiến thức lý luận về lĩnh vực chính trị bao gồm các kiến thức về quyền lực chính trị, đảng phái chính trị, đấu tranh chính trị… Hệ thống kiến thức này trang bị
và củng cố lập trường giai cấp, lập trường quan điểm của Đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam Nó giúp cho người cán bộ, công chức có quan điểm và lập trường đúng đắn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Hiện nay, trình độ lý luận chính trị ở Việt Nam được chia thành các cấp độ: cử nhân, cao cấp, trung cấp và sơ cấp
- Năm là trình độ quản lý nhà nước: Là mức độ đạt được trong hệ thống tri thức về
lĩnh vực quản lý nhà nước, bao gồm các kiến thức về hệ thống bộ máy nhà nước, pháp luật, nguyên tắc, công cụ quản lý nhà nước Hệ thống kiến thức này giúp cho người cán bộ, công chức hiểu rõ quyền hạn, nghĩa vụ của mình là gì và thực hiện như thế nào, cụ thể là họ được làm gì và không được làm những gì; công cụ quản lý, kỹ năng
và phương pháp điều hành ra sao, hiểu được sự vận hành của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và ở cơ sở nói riêng, từ đó thực thi công việc đúng pháp luật và có hiệu quả Trình độ quản lý nhà nước được bồi dưỡng th o yêu cầu của từng ngạch công chức như bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình Chuyên viên, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình Chuyên viên chính; bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình Chuyên viên cao cấp
* Tiêu chí về kỹ năng nghề nghiệp:
Kỹ năng là một nhân tố vô cùng quan trọng, đảm bảo cho sự thành công trong thực thi nhiệm vụ của người cán bộ, công chức cấp xã Kỹ năng là khả năng vận dụng khéo léo, thành thạo những kiến thức và kinh nghiệm vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ trên từng lĩnh vực Kỹ năng nghề nghiệp bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng tuyên truyền phổ biến pháp luật, kỹ năng phát
Trang 23hiện, xử lý phát sinh trên địa bàn Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích luỹ kinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác
Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ Người cán bộ, công chức cần có những kỹ năng nhất định để thực thi nhiệm vụ Tuy nhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi cán bộ, công chức
và có những kỹ năng không thể thiếu đối với một nhóm nhất định, nó phụ thuộc vào tính chất công việc mà họ đảm nhận Việc phân chia kỹ năng nghề nghiệp thành các nhóm là cơ sở để xác định nội dung bồi dưỡng kỹ năng cho các nhóm cán bộ, công chức khác nhau Căn cứ vào mục tiêu mà các kỹ năng hướng đến thì kỹ năng nghề nghiệp đối với cán bộ, công chức cấp xã có thể chia thành các nhóm sau:
- Kỹ năng quản lý: Bao gồm các kỹ năng hoạch định, tổ chức, điều hành cơ quan và tổ
chức Hoạch định là quá trình thiết lập các mục tiêu, xây dựng các chiến lược và kế hoạch để thực hiện các mục tiêu Trong quá trình này, người cán bộ, công chức cấp xã nhất là cán bộ chuyên trách cấp xã phải dự kiến được các khó khăn, trở ngại, những vấn đề có thể xảy ra và phương án giải quyết; đặc biệt là nhận thức và định hướng được con đường phát triển của địa phương
- Kỹ năng ứng xử và giao tiếp: Đây là kỹ năng giúp cho người cán bộ, công chức nâng
cao sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở nhận diện và công nhận các giá trị, nhu cầu của các đối tượng giao tiếp Khả năng này đòi hỏi sự tinh tế, linh hoạt về kiến thức cũng như kinh nghiệm xã hội của người cán bộ, công chức Đây là cơ sở quan trọng của giao tiếp, xử lý mâu thuẫn và thương lượng trong khi giải quyết công việc, nhất là khi xử lý tình huống phức tạp, tế nhị thường gặp khi người cán bộ, công chức cấp xã thực thi nhiệm vụ
- Kỹ năng thuyết phục: Là kỹ năng làm cho người khác thấy được tính ưu việt, hợp lý
trong ý tưởng của mình Có ý tưởng nhưng không thuyết phục được người khác tin và làm th o thì chắc chắn sẽ thất bại Mô hình các nhà quản lý "lẳng lặng mà làm" không còn chỗ đứng trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế
Ngoài ra, người cán bộ, công chức cấp xã còn phải có kỹ năng công tác Đó là tổng hợp những khả năng của công chức trong việc tham mưu, kỹ năng sử dụng những công cụ,
Trang 24phương tiện làm việc để hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách thành thạo, dễ dàng và hiệu quả Khả năng này được tích luỹ thông qua đào tạo, bồi dưỡng và tự trải nghiệm trong quá trình làm việc Đó có thể là kỹ năng sử dụng tin học, ngoại ngữ, hoặc là kỹ năng điều tra, kiểm tra, giám sát, kỹ năng trả lời chất vấn vv Đối với mỗi cán bộ, công chức cần phải thông thạo các kỹ năng phục vụ trực tiếp cho công việc của mình
Một người cán bộ, công chức có kỹ năng là người giải quyết công việc một cách chuyên nghiệp, giải quyết tốt ngay từ khâu đặt vấn đề cho đến kết thúc vấn đề Như vậy, yêu cầu cán bộ, công chức cấp xã phải am hiểu sâu sắc về kiến thức thuộc lĩnh vực mình phụ trách và phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những
vụ việc cụ thể, đó là yêu cầu cơ bản và rất cần thiết
* Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống :
Đây là tiêu chí vô cùng quan trọng đối với cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng Nó là “cái gốc” của người cán bộ, công chức Đối với cán
bộ, công chức cần phải có:
- Bản lĩnh chính trị vững vàng, trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Hiểu biết sâu sắc và thực hiện đúng chủ trương, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, PL của NN; nội quy, quy chế của đơn vị;
- Hiểu biết về tình hình thế giới và những diễn biến, khó khăn của đất nước trong thời
Trang 25- Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và chống các biểu hiện tiêu cực, lạc hậu; kiên quyết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CB, CC;
- Ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm kỷ luật lao động; tác phong dân chủ; trung thực, không cơ hội; gương mẫu về đạo đức, lối sống;
- Tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước công việc được giao;
b Nhóm tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức
Tính chuyên nghiệp của người cán bộ, công chức cấp xã thể hiện ở kết quả thực hiện công việc được giao, khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn khi thực thi công vụ với tính kỷ luật cao, vô tư không vụ lợi trong việc chấp hành và thừa hành pháp luật được đặt trong mối quan hệ và sự hợp tác với đồng nghiệp, công dân, tổ chức Việc đánh giá tính chuyên nghiệp của công chức có thể căn cứ vào các tiêu chí sau:
* Đầu ra của công việc: là toàn bộ sản phẩm có thể đánh giá được về chất lượng, số lượng mà cán bộ, công chức đã thực hiện Đây là tiêu chí quan trọng nhất vì nó liên quan trực tiếp tới việc hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan phụ thuộc chủ yếu vào số lượng, chất lượng công việc do cán bộ, công chức thực hiện Tiêu chí này phản ánh mức độ hiệu lực, hiệu quả của từng cá nhân khi sử dụng các nguồn lực sẵn có Đầu ra của công việc được đánh giá
th o 5 hướng: số lượng công việc hoàn thành; chất lượng của các công việc đã hoàn thành; tính hiệu quả của chi phí; tính kịp thời của từng công việc đã hoàn thành; thực hiện các quy định và chỉ thị hành chính
* Tính hành chính: là tiêu chí đặc thù để đánh giá tính chuyên nghiệp của người cán
bộ, công chức Hoạt động của cán bộ, công chức khi thực thi công vụ là hoạt động có
tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc Tính hành chính thể hiện thông qua tính kịp thời khi thực thi nhiệm vụ, việc thực hiện nghiêm túc các quy định, tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, khả năng chịu được áp lực cao, thích ứng với sự thay đổi trong công việc
* Tỷ lệ cán bộ, công chức được đào tạo bài bản về quản lý nhà nước: việc đào tạo này khác với đào tạo nghề nghiệp ở chỗ nó trang bị cho cán bộ, công chức những kiến
Trang 26thức về nhà nước, pháp luật Việc đào tạo này cần có bài bản và hệ thống, tránh hiện tượng chắp vá
* Nếp sống văn hoá công sở và hành vi ứng xử trong công vụ: hoạt động của cán bộ, công chức chủ yếu tại công sở, nơi trực tiếp thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, tổ chức Để đảm bảo đúng bản chất của nhà nước phục vụ nhân dân, nếp sống văn hoá công sở phải được thực hiện nghiêm túc bằng các quy định của Nhà nước Bên cạnh đó, hành vi ứng xử của công chức trong công vụ, trong mối quan hệ với công dân,
tổ chức cũng rất quan trọng, thể hiện ở thái độ, tác phong, cách ăn nói, lắng ngh Điều này được đánh giá qua hoạt động thanh tra công vụ và của xã hội qua báo chí, dư luận
Trang 27công chức, mà còn phải là yêu cầu được duy trì trong suốt quá trình công tác của cán
bộ, công chức cho đến khi về nghỉ chế độ
Tóm lại: Một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có chất lượng là đội ngũ có phẩm chất
chính trị, đạo đức cách mạng, có trình độ năng lực và có khả năng vận dụng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước một cách có hiệu quả nhất nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân tại địa phương góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, trong đó
có cả những nhân tố chủ quan và những nhân tố khách quan, tuy nhiên nhìn một cách tổng thể chất lượng cán bộ, công chức chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố chủ yếu sau:
1.4.1 Nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Về nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của đất nước trong tình hình mới đòi hỏi các cấp lãnh đạo trong các cơ quan, ban, ngành từ trung ương đến địa phương phải tuyên truyền và giáo dục cán bộ, công chức nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức mình trước tình hình mới; làm cho tự bản thân mỗi CBCC có ý thức rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, tính tổ chức kỷ luật, tinh thần đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện sai trái; yêu ngành yêu nghề và cam kết gắn
bó lâu dài với công việc; tin tưởng tuyệt đối vào đường lối lãnh đạo của Đảng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
* Việc lãnh đạo, chỉ đạo về công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng phải được triển khai thực hiện thường xuyên trong hệ thống, đảm bảo tính hiệu quả cao; tuyên truyền, giải thích, chấn chỉnh CBCC có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, động cơ làm việc, không có chí cầu tiến, đi làm với mục đích chỉ để nhận lương
* Bản thân CBCC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phải phát huy tính tiên phong gương mẫu, chấp hành kỷ luật, kỷ cương, tinh thần trách nhiệm, tận tâm, tận lực làm việc có
Trang 28năng suất, chất lượng cao và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được phân công; cần chủ động làm tốt công tác dự báo và tham mưu, đề xuất kế hoạch để triển khai thực hiện đảm bảo đạt hiệu quả cao
* CBCC khi thấy bản thân năng lực còn hạn chế thì phải không ngừng học tập nâng cao trình độ mọi mặt,…; phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao
1.4.1.2 Về tính tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức
Tinh thần tự học, tính cầu tiến, ý chí phấn đấu, nỗ lực tự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực của người CBCC cũng như nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC
1.4.2 Nhân tố khách quan
1.4.2.1 Thể chế quản lý cán bộ, công chức cấp xã
Thể chế quản lý cán bộ, công chức cấp xã bao gồm hệ thống pháp luật, chính sách, chế
độ liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đào tạo và phát triển…, thể chế quản
lý cán bộ, công chức còn bao gồm bộ máy tổ chức nhà nước và các quy định về thanh tra, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ công chức chi phối đến chất lượng và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
Do đặc điểm của cán bộ, công chức có tính thống nhất cao trong toàn bộ hệ thống, chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật hiện hành Luật cán bộ công chức và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn ; nên chất lượng và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã chịu sự tác động và chi phối của thể chế quản lý này
1.4.2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng quyết định trực tiếp tới chất lượng của cán bộ, công chức Đây là nhân tố tác động quan trọng, là nền tảng quyết định nhất đến nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức Trong chiến lược xây dựng công chức nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc, thì công tác đào tạo, bồi dưỡng càng trở nên cấp bách và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục Thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng, mỗi cán bộ, công chức được trang bị kiến
Trang 29thức cơ bản, có tính hệ thống, liên thông, kiến thức về khoa học kỹ thuật Đào tạo, bồi dưỡng nhằm trang bị kiến thức để người cán bộ, công chức có đủ năng lực, tự tin thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và đáp ứng được yêu cầu của công việc Không phải trong suốt thời gian công tác, người cán bộ, công chức chỉ học một lần mà ngược lại, cần được đào tạo, bồi dưỡng bổ sung và cập nhật kiến thức một cách liên tục trước yêu cầu nhiệm vụ mới Đào tạo, bồi dưỡng không chỉ giới hạn ở đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, mà cần đặc biệt quan tâm tới đào tạo nâng cao kỹ năng, kỹ xảo thực hiện công việc và những kiến thức có liên quan đến công việc của người công chức, góp phần tạo nên tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ
Điều quan trọng hơn là cần phải xác định chính xác nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng; đối tượng cần được đào tạo, bồi dưỡng, chương trình và phương thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng được xác định dựa trên việc phân tích, đánh giá công việc, trình độ của CBCC
1.4.2.3 Chế độ, chính sách
Việc thực hiện các chế độ, chính sách, đãi ngộ, chính sách bảo vệ CBCC và việc tổ chức thực hiện tốt cơ chế chính sách sẽ là nguồn động viên và tạo động lực rất lớn về vật chất cũng như tinh thần đối với CBCC Nó khuyến khích CBCC nỗ lực vươn lên trong công tác, không ngừng học tập nâng cao trình độ Ngược lại nếu cơ chế, chính sách, đãi ngộ không được thỏa đáng sẽ làm cho CBCC không yên tâm công tác và không quyết tâm gắn bó lâu dài với tổ chức
Như vậy có thể nói, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức là chính sách rất quan trọng Nó vừa là công cụ, vừa là động lực làm việc cho CBCC vừa là cơ sở để xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC Hoàn thiện chính sách này có ý nghĩa thúc đẩy quá trình cống hiến, bảo đảm công bằng xã hội, khắc phục tình trạng bình quân trong việc trả lương đối với CBCC và không ngừng nâng cao mức sống cho CBCC khuyến khích CBCC năng động sáng tạo trong thực thi công vụ
1.4.2.4 Công tác bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch cán bộ, công chức
Trang 30* Đối với công tác bầu cử: Cán bộ chuyên trách cấp xã được thực hiện th o cơ chế Đảng cử, dân bầu do vậy nếu công tác cán bộ không được quan tâm, không làm tốt công tác nhân sự trước khi bầu cử sẽ dễ dẫn đến tình trạng “phân chia” chức vị mà không chú trọng đến năng lực của người được đề cử
* Tuyển dụng cán bộ, công chức là quá trình tuyển dụng những người phù hợp và đáp ứng được yêu cầu vị trí công việc cụ thể Việc tuyển dụng đúng người, đáp ứng yêu cầu công việc là một trong những khâu quan trọng đối với cơ quan nhà nước hiện nay Tuyển dụng là khâu quan trọng, quyết định tới chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức Nếu công tác tuyển dụng được thực hiện tốt sẽ tuyển được những người thực sự
có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt để bổ sung cho lực lượng công chức trong cơ quan, đơn vị Ngược lại nếu công tác tuyển dụng không được quan tâm đúng mức sẽ không lựa chọn được những người có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức tốt bổ sung cho lực lượng này Tuy nhiên, việc tuyển dụng cán bộ, công chức dù bằng bất kỳ hình thức nào thì việc tuyển dụng công chức cũng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Một là, tuyển dụng CBCC phải căn cứ vào nhu cầu, vị trí công tác của cơ quan, đơn vị
và đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn th o quy định
Hai là, việc tuyển dụng công chức cấp xã phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh
bạch, công bằng, chất lượng, đáp ứng đủ nguồn lực và được thực hiện th o đúng các quy định của pháp luật Người đăng ký dự tuyển phải có phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ th o quy định của chức danh công chức cần tuyển và chỉ tuyển dụng công chức tại các vị trí còn thiếu so với chỉ tiêu biên chế được giao, đảm bảo số lượng, chức danh công chức cần tuyển
* Sử dụng cán bộ, công chức là một khâu rất quan trọng trong công tác quản lý cán bộ, công chức Trong những năm qua nhà nước ta đã có nhiều tiến bộ trong việc sử dụng cán bộ, công chức Tuy nhiên, so với thực tiễn hiện nay, đây vẫn là khâu còn bộc lộ nhiều hạn chế Vì vậy, các cơ quan, đơn vị sử dụng CBCC cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề này Đặc biệt là phải nắm bắt được các chủ trương mới, hiểu rõ và thực hiện đúng các quy định của Nhà nước, mặt khác, cần thấy rằng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, các chủ trương
Trang 31chính sách và chế độ đối với CBCC phải luôn được đổi mới, hoàn thiện Vấn đề đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách, chế độ đối với CBCC cần được quan tâm đúng mức bởi đây là đội ngũ gắn liền với từng bước đi của công cuộc đổi mới kinh tế, với yêu cầu phát triển đất nước trong quá trình CNH, HĐH và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta
* Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC phải gắn công tác dự báo, gắn với kế hoạch và chiến lược phát triển của đơn vị nhằm xây dựng đội ngũ CBCC có
đủ phẩm chất, năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, hoàn thành tốt nhiệm vụ Công tác quy hoạch phải gắn với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, từng đơn vị; đồng thời việc thực hiện quy hoạch cán bộ phải bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Ðảng
1.4.2.5.Công tác đánh giá cán bộ, công chức
Công tác đánh giá cán bộ, công chức có ý nghĩa quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực nói chung và trong nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng Đánh giá mức độ hoàn thành công việc không chỉ là cấp trên đánh giá cấp dưới
mà còn là việc tự đánh giá mức độ hoàn thành công việc của từng cán bộ, công chức
và sự đánh giá của cấp dưới đối với cấp trên
Hiện nay, thực hiện Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 0 /6/2015 của Chính phủ quy định về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 0 /6/2015 của Chính phủ quy định về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, việc đánh giá CBCC được thực hiện 1 năm một lần Việc đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng nhằm làm
rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong quản
lý, sử dụng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức Kết quả đánh giá, phân loại cán
bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng là căn cứ quan trọng để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch hoặc thăng hạng chức danh nghề nghiệp, quy hoạch,
bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, kh n thưởng, kỷ luật và thực hiện các
Trang 32Đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng phải đảm bảo đúng thẩm quyền, khách quan, công bằng, chính xác, không nể nang, trù dập, thiên vị, hình thức, phản ánh đúng phẩm chất, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng Đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng phải căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ được giao và kết quả thực hiện nhiệm vụ Việc đánh giá cần làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, tồn tại, hạn chế về phẩm chất, năng lực, trình độ của cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng Việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý phải dựa vào kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; việc đánh giá, phân loại viên chức quản lý phải dựa vào kết quả hoạt động của đơn vị được giao quản lý, phụ trách
2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
2.1 Kinh nghiệm tại một số địa phương
* Tỉnh Đồng Tháp
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, tỉnh đồng Tháp đã thực hiện một số giải pháp tập trung vào các nội dung:
- Thực hiện việc bầu cử, tuyển dụng cán bộ, công chức đủ năng lực, từng bước trẻ hóa
và được đào tạo cơ bản, hạn chế tối đa việc bố trí cán bộ, công chức chưa qua đào tạo chuyên môn Việc bố trí, sử dụng cán bộ, công chức đúng quy định, bố trí đúng người, đúng việc, đúng trình độ năng lực, bố trí đúng chỗ, đúng nhu cầu và đòi hỏi của công việc
- Tạo bước đột phá trong công tác bố trí cán bộ, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức
th o đúng chức danh, tiêu chuẩn; tăng cường cán bộ cho cơ sở; thay thế cán bộ, công chức trì trệ, năng lực yếu, uy tín thấp; thực hiện chính sách tinh giản biên chế; đẩy mạnh công tác điều động, luân chuyển cán bộ, công chức cho cơ sở; đào tạo chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức; góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính và chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Cán bộ, công chức được xếp lương th o ngạch, bậc, hệ số tương ứng với trình độ đào tạo; đây chính là động lực để cán bộ, công chức chủ động đi đào tạo, bồi dưỡng để
Trang 33nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý nhà nước.v.v nhờ đó mà chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được nâng lên, năm sau cao hơn năm trước
- Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được các cấp, các ngành quan tâm và tập trung đầu tư; tạo nguồn nhân lực cán bộ, công chức; gắn đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch từng chức vụ, chức danh cán bộ, công chức chính quyền Để trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, Tỉnh đã thực hiện chủ trương tuyển sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học tại địa phương hoặc từ nơi khác tình nguyện
về công tác tại xã, bố trí giữ các chức danh công chức ở xã; tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng
để đạt chuẩn th o quy định; nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn, uy tín thì giới thiệu bầu giữ chức vụ cán bộ chuyên trách cấp xã
- Đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước đối với cán bộ, công chức cấp xã đương nhiệm đang ở độ tuổi dưới 30, có điều kiện và khả năng phát triển Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; gắn đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch từng chức vụ, chức danh Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng th o từng chức vụ, chức danh cán bộ, công chức th o Quyết định số 1 56/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 200 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã phải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, chức danh, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch từng chức vụ, chức danh Cán bộ, công chức thiếu tiêu chuẩn nào thì đào tạo, bồi dưỡng tiêu chuẩn đó; đối với công chức có bằng cấp chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên nhưng chưa phù hợp với chức danh đang đảm nhiệm thì kiện toàn, sắp xếp, chuyển đổi vị trí công tác cho phù hợp Đào tạo, bồi dưỡng bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho những người cán bộ kiêm nhiệm chức danh th o hình thức vừa làm vừa học Đào tạo
bổ sung trình độ lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức chính quyền hiện đang công tác nhưng chưa đảm bảo tiêu chuẩn th o quy định
- Gắn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với đào tạo cán bộ dự nguồn bảo đảm
Trang 34nguồn thay thế kịp thời cán bộ, công chức khi thôi việc hoặc nghỉ hưu Đào tạo, bồi dưỡng những người hoạt động không chuyên trách đã đưa vào diện quy hoạch để thay thế, bổ sung khi cần thiết
Thực hiện tốt công tác quy hoạch, chuẩn bị đội ngũ cán bộ, công chức kế cận, từng bước thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nên tỷ lệ cán bộ, công chức trẻ tuổi dưới 30 tuổi ngày càng tăng
* Tỉnh Nghệ An
Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết của Trung ương và các Nghị định của Chính phủ; Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An đã có nhiều giải pháp tích cực để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Các cấp ủy, chính quyền đã coi trọng
và đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và không ngừng nâng cao trình
độ, kiến thức các mặt cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Nghệ An từng bước phát triển cả số lượng và chất lượng Việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở và đưa sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về xã, phường, thị trấn công tác đã từng bước trẻ hóa và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh được nâng lên cả về trình độ văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị và kinh nghiệm thực tiễn Hệ thống chính trị ở cơ sở đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần to lớn trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, góp phần quan trọng đảm bảo ổn định quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội
Để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, Tỉnh ủy đã chỉ đạo triển khai thu hút,
ưu tiên sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học và thạc sĩ về công tác tại xã, phường, thị trấn; trong 3 năm 2015-2017 , đã có 803 người về công tác tại cơ sở Cùng với đó, các địa phương đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa CBCC cấp xã Từ năm 2015 đến nay, toàn tỉnh đã cử đi đào tạo, chuẩn hóa 7 2 lượt CBCC cấp xã, từ trung cấp đến đại học; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ khác cho 25.600 lượt CBCC; tỉnh cũng đã tổ chức chỉnh huấn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt đang công tác tại 484 xã, phường, thị trấn với 68 đồng chí tham gia Công tác luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm,
Trang 35chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ cơ sở được thực hiện ngày càng tốt hơn, mạnh dạn hơn Các huyện Đô Lương, Diễn Châu , thành phố Vinh đã luân chuyển 6-9 đồng chí cán bộ huyện về làm cán bộ chủ chốt ở xã Đến nay, đội ngũ CBCC cấp xã tăng cả về số lượng và chất lượng; trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo, quản lý từng bước được nâng lên; kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng phát triển, cải thiện dân sinh, tăng cường Quốc phòng, an ninh, làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn, thành thị, góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Nhiều cán
bộ cơ sở đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, sâu sát nhân dân, bám sát địa bàn dân cư, nhạy bén với thực tiễn, kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong đời sống, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn đã đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển của tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây
Để thực hiện tốt các mục tiêu trên, địa phương đã tập trung vào các giải pháp sau:
- Về công tác quy hoạch cán bộ
Xác định quy hoạch cán bộ, bao gồm cả quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, là nhiệm vụ, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng
th o nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp và tuyệt đối về công tác cán bộ, trong đó có công tác quy hoạch cán bộ
Trang 36Tỉnh đã thực hiện quy hoạch cán bộ thật sự dân chủ, công khai, không khép kín trong phạm vi một cơ quan, đơn vị mà kết hợp giữa quy hoạch của cơ quan quản lý cấp trên
và cấp dưới; đồng thời mở rộng ở phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương Quy hoạch đảm bảo động và mở một người quy hoạch không quá 3 chức danh, mỗi chức danh quy hoạch từ 2 đến 4 người Nhận xét, đánh giá dân chủ, công khai cán bộ trong quy hoạch, kịp thời điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp, mạnh dạn dưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không bảo đảm th o tiêu chuẩn, khắc phục tình trạng nể nang, ngại va chạm
Thực hiện tốt quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý chuẩn bị và tạo nguồn cán bộ làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị Cán bộ, công chức chuyên môn có tài năng nhưng không muốn hoặc không có sở trường lãnh đạo, quản lý được quy hoạch, bồi dưỡng họ nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Về luân chuyển cán bộ: Thực hiện việc điều động, luân chuyển cán bộ gắn với bố trí, sắp xếp cán bộ th o năng lực cán bộ và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của cơ quan có thẩm quyền
- Xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức chuyên môn: Các cấp ủy đã tập trung xây dựng, cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức chuyên môn th o vị trí việc làm, trên cơ sở đó xác định rõ yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng và đề bạt cán bộ Đồng thời, xây dựng quy chế và kiên trì thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ th o quy hoạch, đào tạo bảo đảm tiêu chuẩn rồi mới tiến hành bố trí, bổ nhiệm; bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, giới thiệu ứng cử cán bộ trên cơ sở quy hoạch và đủ các tiêu chuẩn đã quy định, không có tình trạng đề bạt, bổ nhiệm rồi mới đưa đi đào tạo hoàn thiện
Thành lập hội đồng thẩm định về xây dựng vị trí chức danh chuyên môn của các cơ quan, đơn vị Thực hiện thí điểm, rút kinh nghiệm và nhân rộng
- Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng:
Thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn tỉnh Tập trung đổi mới phương pháp giảng dạy, sửa đổi, bổ sung,
Trang 37đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy, gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học Hạn chế mở các lớp đào tạo tại chức đối với các ngành khoa học kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Tăng cường xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, chuẩn về chất lượng, có phương pháp sư phạm cho các cơ
sở đào tạo, nhất là các trường chuẩn bị nâng cấp
- Cơ chế, chính sách:
+ Sửa đổi, bổ sung chính sách hỗ trợ đào tạo, thu hút bảo đảm đủ mạnh, hấp dẫn để thu hút cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao và nghệ nhân về làm việc tại Lào Cai và tạo động lực cho cán bộ, công chức tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Bổ sung chính sách hỗ trợ cán bộ, công chức viên chức cử đi đào tạo lý luận chính trị - hành chính hệ tập trung tại các học viện, đồng thời, thay đổi hình thức hỗ trợ th o giai đoạn để khuyến khích động viên thiết thực cán bộ đi đào tạo chuyên sâu
+ Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với luân chuyển cán bộ nhằm nâng cao hiệu quả công tác luân chuyển cán bộ; đồng thời tạo điều kiện về tinh thần, vật chất cho cán
bộ hoàn thành nhiệm vụ
- Đầu tư cơ sở vật chất:
+ Tập trung huy động nguồn vốn phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Chú trọng đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, bổ sung, trang bị mới các thiết bị giảng dạy đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo
+ Đầu tư xây dựng nhà công vụ cho cán bộ luân chuyển ở huyện, thành phố và tỉnh Trước mắt, xây dựng mỗi huyện, thành phố và tỉnh một nhà công vụ để cán bộ luân chuyển yên tâm công tác
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và quản lý:
+ Thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, gắn với
kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo
và các cơ quan, đơn vị
Trang 38+ Quản lý chặt chẽ cán bộ trong diện luân chuyển, tăng cường phối hợp quản lý cán bộ giữa cơ quan cử cán bộ và cơ quan tiếp nhận cán bộ luân chuyển
* Tỉnh Hưng Yên:
Thời gian qua, công tác nâng cao chất lượng các đảng bộ xã ở tỉnh Hưng Yên đã được chú trọng và đạt được những kết quả nhất định, qua đó, rút ra được một số bài học kinh nghiệm Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX
“Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 02/02/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, các nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác xây dựng Đảng, công tác xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong toàn tỉnh Hưng Yên nói chung và tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn Hưng Yên nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực Chất lượng hoạt động và năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, cấp ủy từng bước được nâng lên, tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh tăng, công tác phát triển đảng viên thường xuyên được quan tâm chú trọng… Hiện nay, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có tổng số 1.787 chi bộ trực thuộc, trong đó chi bộ khối nông thôn là 1.053, ở 161 đảng bộ có 46.637 đảng viên Nhìn chung, các đảng bộ cơ sở xã, phường, thị trấn giữ vững, phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương Nhiều tổ chức cơ sở đảng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, giữ nghiêm kỷ luật Đảng, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu của người đảng viên Các cấp ủy đảng, trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố và Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ
cơ sở Thời gian qua, toàn tỉnh Hưng Yên đã mở hàng nghìn lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng, chính quyền và các đoàn thể cơ sở cho hơn 163 nghìn lượt cán bộ Đến nay, cơ bản các chức danh công chức xã đã đạt chuẩn th o quy định của Bộ Nội vụ Các
xã, phường, thị trấn đều đã xây dựng, bổ sung quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015, xây dựng mới quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2015 - 2020 Cán bộ được đưa vào quy hoạch
Trang 39cơ bản đáp ứng yêu cầu về độ tuổi, trình độ, cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ Bên cạnh đó, các cấp ủy đảng thường xuyên chăm lo xây dựng và tạo nguồn phát triển đảng viên Trung bình mỗi năm toàn tỉnh kết nạp được hơn 1.600 đảng viên mới, trong đó, đảng viên kết nạp ở xã, phường, thị trấn chiếm khoảng 30% Để đạt được những kết quả trên, các đảng
bộ xã đã có vai trò không nhỏ Đảng bộ các xã chính là nền tảng của Đảng, có vị trí quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng Vì vậy, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các đảng bộ xã, nâng cao chất lượng các đảng bộ xã, để mỗi đảng bộ xã ở Hưng Yên thực sự là hạt nhân chính trị ở cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo của Tỉnh ủy trên tất
cả các lĩnh vực hoạt động của đờisống xã hội, nhất là ở các xã trọng yếu, còn nhiều khó khăn chính là làm tốt công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, góp phần giữ vững
ổn định chính trị, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững Từ thực tế ở Hưng Yên cho thấy,
để nâng cao chất lượng của các đảng bộ xã ở tỉnh Hưng Yên, cần thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ:
Một là, cấp ủy và đảng viên ở các đảng bộ xã phải nghiên cứu, nắm rõ về chức năng,
nhiệm vụ của đảng bộ xã; nắm vững, hiểu sâu các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm vững tình hình cơ sở, nhất là các động thái tư tưởng của nhân dân trên địa bàn, từ đó chủ động, sáng tạo đề ra các kế hoạch, biện pháp thúc đẩy các mặt sản xuất, đời sống, an ninh, văn hóa, xã hội phù hợp với đặc điểm, tình hình của đảng bộ xã
Hai là, tập trung nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ, bảo đảm tính lãnh đạo,
tính giáo dục, tính chiến đấu của chi bộ; xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng Làm tốt công tác dân vận của Đảng, đổi mới phương thức hoạt động của mặt trận và các đoàn thể th o tinh thần “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; công khai hóa các hoạt động của địa phương với tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Ba là, cấp ủy đảng bộ xã phải làm tốt công tác tổ chức cán bộ, xây dựng, quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có có trình độ về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phù hợp với lĩnh vực công tác và có kinh nghiệm thực tiễn để đáp ứng được yêu cầu của công việc và nhiệm vụ được giao Cùng với đó, cần phải tăng cường công tác đào
Trang 40tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của các đảng bộ xã, chú trọng bồi dưỡng th o chức danh Thường xuyên rà soát quy hoạch, kiện toàn đội ngũ cán
bộ của đảng bộ gắn với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ
Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên phải gắn với thực hiện Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thịsố 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm th o tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thực hiện tốt các nhiệm vụ, như giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng đảng viên, phân công công tác cho đảng viên, công tác phát triển đảng viên
Năm là, đổi mới nội dung, phương pháp đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng và đảng
viên hằng năm Tăng cường việc kiểm tra, thẩm định và quyết định việc đánh giá phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên đúng thực chất, khắc phục tình trạng chạy
th o thành tích Sáu là, cấp ủy cấp trên cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đối với các chi bộ, đảng bộ; phân công cấp ủy viên phụ trách cơ sở, bám sát cơ
sở, tham dự các buổi sinh hoạt chi bộ… đặc biệt tập trung chỉ đạo củng cố các đảng bộ, chi bộ yếu kém./
2.2 Những bài học rút ra cho huyện Đồng Hỷ
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương trong nước trong việc xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
* Nhà nước phải ban hành đồng bộ các văn bản pháp quy để thống nhất việc xây dựng, quản lý, sử dụng đội ngũ công chức nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng Chính những văn bản này là cơ sở cho việc tuyển chọn, sử dụng và đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
* Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải là những người được qua đào tạo cơ bản trong các trường đại học và được đào tạo, bồi dưỡng liên tục sau khi tuyển dụng Được rèn luyện qua các cương vị cần thiết trong thực tế và hội tụ đầy đủ những tố chất đạo đức cơ bản của một công chức nhà nước