CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Đặc điểm tự nhiên tỉnh Bình Thuận
Theo thông tin từ Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Bình Thuận (2020), tỉnh Bình Thuận sở hữu những đặc điểm nổi bật về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cấu trúc đơn vị hành chính và đặc điểm dân cư.
Bình Thuận là tỉnh duyên hải nằm ở cực Nam Trung Bộ Việt Nam, thuộc khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam Tỉnh có tọa độ từ 10°33'42" đến 11°33'18" vĩ độ Bắc và từ 107°23'41" đến 108°52'18" kinh độ Đông Bình Thuận giáp tỉnh Lâm Đồng ở phía Bắc, tỉnh Ninh Thuận ở phía Đông Bắc, tỉnh Đồng Nai ở phía Tây, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ở phía Tây Nam, và có bờ biển dài 192 km tiếp giáp Biển Đông ở phía Đông và Nam.
2.1.2 Điều kiện tự nhiên Địa hình Bình Thuận chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo hướng đông bắc - tây nam, phân hoá thành 4 dạng địa hình chính gồm đất cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22%, đồng bằng phù sa chiếm 9,43%, vùng đồi gò chiếm 31,65% và vùng núi thấp chiếm 40,7% diện tích đất tự nhiên
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, khu vực này có nhiều nắng và gió, không có mùa đông và là nơi khô hạn nhất cả nước Khí hậu được phân hóa thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tuy nhiên, thực tế mùa mưa chỉ tập trung chủ yếu trong ba tháng.
8, 9 và tháng 10, vì vậy mùa khô thực tế thường kéo dài
Bình Thuận sở hữu 10 loại đất với 20 tổ đất khác nhau, bao gồm các kiểu rừng như rừng gỗ lá rộng, rừng rụng lá, và rừng hỗn giao lá kim Ngoài ra, vùng đất này còn có sự tích tụ đa dạng khoáng sản như vàng, wolfram, chì, kẽm, và nước khoáng, trong đó nước khoáng, sét, và đá xây dựng có giá trị thương mại và công nghiệp cao.
Bình Thuận có hệ thống sông ngòi ngắn và lượng nước không ổn định Tỉnh này nổi bật với bốn con sông lớn: sông Lũy, sông Lòng Sông, sông Cái và sông Cà Ty.
Tỉnh Bình Thuận bao gồm 1 thành phố là Phan Thiết, 1 thị xã Lagi và 8 huyện: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Đức Linh, Tánh Linh và Phú Quý.
Có 34 dân tộc cùng sinh sống ở tỉnh Bình Thuận, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh, tiếp đến là các dân tộc Chăm, Ra Glai, Hoa, Cơ Ho, Tày, Chơ Ro, Nùng, Mường
Tính đến năm 2019, tỉnh Bình Thuận có tổng dân số 1.232.267 người, trong đó dân số thành thị chiếm 38,08% với 469.276 người, và dân số nông thôn chiếm 61,92% với 762.991 người Dân số nam là 619.167 người (50,25%), trong khi dân số nữ là 613.100 người (49,75%) Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các huyện, thị xã và thành phố, với huyện Phú Quý có mật độ dân số cao nhất là 1.505,6 người/km², tiếp theo là thành phố Phan Thiết với 1.076,4 người/km² và thị xã Lagi với 578,1 người/km²; các huyện còn lại có mật độ dưới 230 người/km².
Năm 2019, tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 726,8 nghìn người, trong đó lao động nam chiếm 54,37% và lao động nữ chiếm 45,63% Tỷ lệ lao động ở khu vực thành thị là 36,86%, trong khi khu vực nông thôn chiếm 63,14% Đáng chú ý, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 16,34%, với khu vực thành thị là 21,09% và khu vực nông thôn là 13,09% (Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, 2020).
Biểu đồ 2.1 Phân loại lao động tỉnh Bình Thuận theo loại hình kinh tế năm 2019
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, 2020)
Năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi là 2,94%, với 5,20% ở khu vực thành thị và 1,58% ở khu vực nông thôn Tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi là 0,63%, trong đó khu vực thành thị là 0,82% và khu vực nông thôn là 0,52% (Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, 2020).
2.1.5 Đặc điểm tự nhiên huyện Bắc Bình
Theo thông tin từ Điện tử Đảng bộ huyện Bắc Bình (2021), huyện có tổng diện tích tự nhiên là 186.882,08 ha, được quản lý theo ranh giới hành chính.
Huyện Bắc Bình có 18 đơn vị hành chính, bao gồm 16 xã và 02 thị trấn, với trung tâm huyện lỵ tại thị trấn Chợ Lầu Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 186.881,08 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 93,24% (174.257,16 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 4,24% (7.920,24 ha) và đất chưa sử dụng chiếm 2,52% (4.704,68 ha).
Huyện Bắc Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng cho vùng bán khô hạn ở cực Nam Trung Bộ Nằm ở sườn Đông và Đông Nam dãy Trường Sơn, huyện không thuận lợi cho việc đón gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, dẫn đến lượng mưa thấp nhất tỉnh Bình Thuận Khí hậu tại đây chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, với nhiệt độ trung bình 26,7°C và không có mùa đông giá rét Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 818mm, cùng với độ ẩm không khí tương đối thấp.
Kinh tế nhà nước và kinh tế ngoài nhà nước đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế Khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ trung bình từ 75-80% Hai hướng gió chính ảnh hưởng đến khí hậu là gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 9 và gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Ngoài ra, gió khô xuất hiện vào các tháng 3-4 và tháng 7-8, gây ra tình trạng khô hạn kéo dài và thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống, cần được chú ý và giải quyết.
Đặc điểm của nhông cát Leiolepis guttata (Cuvier, 1829)
Leiolepis guttata là một loài thằn lằn trong họ Agamidae, được Cuvier mô tả khoa học đầu tiên năm 1829 Leiolepis guttata được phân loại khoa học như sau:
Bảng 2.1 Phân loại khoa học của Leiolepis guttata (Cuvier, 1829)
(Nguồn: Vitt & Caldwell, 2014; Rochette và cộng sự, 2015; Tran Tinh, 2015)
Ngô Đắc Chứng, Nguyễn Thành Hưng (2009) đã mô tả màu sắc nhông cát
Leiolepis guttata, một loài nhông cát tại ven biển Quy Nhơn - Bình Định, có đặc điểm nổi bật là cơ thể của con đực có màu phân ngựa với hai sọc màu xám kéo dài từ sau tai đến gốc đùi Thân của chúng có các chấm ovan màu phân ngựa viền đen, xếp xen kẽ hình mạng lưới Trong mùa sinh sản, con đực xuất hiện những vệt hồng ở gốc đùi và sau hai hố mắt Ngược lại, nhông cát cái có các chấm ovan trên lưng nhạt màu và mờ hơn, cũng với hai sọc màu xám tương tự Dãi bên hông của chúng có màu đen với các vệt trắng đục, trong khi mặt bụng có màu trắng đục Trong mùa sinh sản, các vệt màu hồng trên cơ thể nhông cát cái không xuất hiện.
Nhông con dưới 1 tháng tuổi có đầu màu xám đen, nhưng từ 2 tháng tuổi trở lên, màu đầu sẽ sáng hơn Hai bên cổ có nếp da sáng màu và xuất hiện các đốm không có đường viền Trên lưng, các đốm đa giác ngày càng rõ nét với ba phần: đường viền, phần trung tâm và khoảng giữa Màu đường viền và phần giữa của mỗi đốm tạo nên màu tổng thể của thân nhông con Chi trước có màu xám đen, trong khi chi sau có các đốm đa giác với đường viền rõ nét hơn, màu đường viền nghiêng về xám đen, phần trung tâm trắng đục, và khoảng giữa có màu nâu xám.
Nhông đực hậu bị và nhông cái hậu bị có sự khác biệt rõ rệt về màu sắc cơ thể Nhông đực có màu sắc sặc sỡ hơn, với phần cổ chuyển sang màu hồng cam đỏ và thân có nhiều đốm đa giác tạo thành hình mạng lưới Trong khi đó, nhông cái giữ màu sắc giống nhông con, với hoa văn mờ dần cho đến khi gần như mất hẳn Chi trước của nhông đực có sọc ngang màu xám đen và trắng ngà, trong khi mặt dưới chi sau đồng nhất màu trắng đục.
Nhông đực trưởng thành có màu sắc sặc sỡ và đậm dần từ phía tai đến sau cổ, với các đốm sáng màu hơn ở vị trí bên trong đường viền Hoa văn ở bụng của nhông đực trưởng thành rất rõ ràng và đậm nét, tương ứng với màu đường viền của đốm đa giác trên thân Các sọc của dải liên sườn có màu đen đậm hơn so với giai đoạn hậu bị Trong khi đó, nhông cái trưởng thành không có nhiều sự thay đổi về màu sắc ở các chỉ tiêu như đầu, thân, chi sau, bụng, dải dọc bên lưng, dải bên hông và dải liên sườn (Trần Tình và cộng sự, 2020).
Ngô Văn Bình (2020) đã mô tả đặc điểm hình thái của nhông cát Leiolepis guttata, bao gồm cả con đực và con cái trưởng thành, tại miền Trung Việt Nam, phù hợp với mô tả gốc của Cuvier.
Con đực có những đặc điểm nổi bật như vùng gáy, hai bên mạng sườn ở phía lưng và vùng hông với các đốm màu đỏ gạch, mạng sườn phía bụng và hai chi trước có sọc đen trắng xen kẽ, các đốm lưng sặc sỡ với điểm vàng ở giữa, vùng họng và ngực màu xanh xám, góc đuôi lớn và dài, tứ chi to với các đốm từ vàng đến đỏ gạch, và lỗ đùi màu đen rõ Ngược lại, con cái không có các đốm màu đỏ gạch ở vùng gáy, hai bên mạng sườn và vùng hông, không có sọc đen trắng ở mạng sườn phía bụng và hai chi trước, các đốm lưng mờ và màu trắng nhạt, vùng họng và ngực màu trắng, gốc đuôi nhỏ và thuôn dài, tứ chi mảnh và không có đốm hoặc chỉ có đốm rất mờ, lỗ đùi màu trắng mờ.
Bảng 2.2 Đặc điểm hình thái và khối lượng cơ thể của nhông cát Leiolepis guttata ở vùng cát ven biển miền Trung
TT Đặc điểm Ký hiệu Đơn vị
7 Chiều cao lỗ tai ngoài HE mm 6,26±0,84
8 Đường kính lỗ tai ngoài DE mm 4,04±0,62
9 Đường kính mắt DiE mm 7,02±0,71
10 Khoảng cách giữa 2 mũi DN mm 5,82±0,91
11 Khoảng cách nách-háng AG mm 68,76±9,81 67,73±5,63 68,35±8,41
TT Đặc điểm Ký hiệu Đơn vị
12 Dài chi trước FL mm 30,49±4,39
13 Dài cẳng tay FA mm 17,48±2,74
14 Dài chi sau HB mm 47,51±6,50
15 Dài cẳng chân TIB mm 28,56±3,68
16 Khối lượng cơ thể BM g 71,47±30,09
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Phương (2020), nhông cát Leiolepis guttata tại xã Hòa Thắng, tỉnh Bình Thuận có một số đặc điểm hình thái như sau:
Bảng 2.3 Đặc điểm hình thái và khối lượng cơ thể của nhông cát Leiolepis guttata tại xã Hòa Thắng
TB ± SD (min-max) Đực hậu bị
TB ± SD (min-max) Đực trưởng thành
3 Đường kính mắt DO (mm)
Khoảng cách miệng-tai HL
TB ± SD (min-max) Đực hậu bị
TB ± SD (min-max) Đực trưởng thành
10 Số vảy môi trên (vảy)
11 Số vảy môi dưới (vảy)
12 Số vảy dưới đùi (vảy)
Số bản mỏng dưới ngón I chi trước (lf.I)
Số bản mỏng dưới ngón IV chi trước
Số bản mỏng dưới ngón IV chi sau
18 Khối lượng cơ thể (gr)
196,17±46,81 (120,62- 281,39) (Nguồn: Nguyễn Thị Minh Phương, 2020)
2.2.3 Đặc điểm sinh thái và dinh dưỡng
Nhông cát Leiolepis guttata (Cuvier, 1829) là loài thích nghi với môi trường khô hạn, cần đủ ấm để trú ẩn trong mùa khô và rất nhạy cảm với ngập nước Trong mùa khô, chúng đào hang sâu từ 1,0-1,5m dưới mặt đất, trong khi vào mùa mưa, chúng thường nằm trong các hang ngách ở độ cao 0,5-0,7m Loài này có khả năng leo trèo xuất sắc, có thể nhảy từ cây này sang cây khác với khoảng cách từ 1,0-2,0m Đặc biệt, nhông cát có thể xảy ra hiện tượng ăn thịt lẫn nhau (cannibalisme) khi thiếu thức ăn.
Nhông cát chủ yếu ăn thực vật như rau muống, rau lang, cà chua, dưa hồng, lá, hoa và quả Món ăn ưa thích của chúng là giá đậu và các mầm cây Ngoài thực vật, nhông cát còn tiêu thụ côn trùng như bướm, sâu non, giun đất, kiến mối, cào cào, châu chấu, cũng như bọ cánh cứng và trứng của chúng Trong chăn nuôi, người dân thường bổ sung cám gạo, cám hỗn hợp và bắp để cung cấp dinh dưỡng cho nhông cát.
Nghiên cứu của Ngô Đắc Chứng và Nguyễn Thành Hưng (2008) chỉ ra rằng thức ăn của nhông cát đực, nhông cát cái và nhông con trong tự nhiên có sự khác biệt Sự khác biệt này được giải thích bởi kĩ năng bắt mồi khác nhau giữa nhông cát trưởng thành và nhông cát con Cụ thể, nhông cát đực trưởng thành có thể sử dụng 15 loại thức ăn, trong khi nhông cát cái trưởng thành sử dụng 14 loại và nhông cát con chỉ sử dụng 07 loại thức ăn.
Nghiên cứu của Tran Tinh (2015) cho thấy nhông cát tại Bình Thuận sử dụng đến 91 loài thực vật và 22 loài động vật làm thức ăn Các loài thực vật phổ biến mà nhông cát tiêu thụ bao gồm sam biển (Sesuvium portulacastrum L.), bồng bồng (Calotropis gigantea), dây mủ (Sarcostemma acidum), cúc mai (Tridax procumbens L.), thiết đinh lá bẹ (Markhamia stipulata), phong ba (Heliotropium foertherianum), móng bò Hậu Giang (Bauhinia bassacensis), rau đắng đất (Glinus oppositifolius), tơ hồng xanh (Cassytha filiformis), rau muống biển (Ipomoea pes-caprae L.), dây bình bát (Coccinia grandis L.), cam thảo dây (Abrus precatorius L.), mười giờ (Portulaca grandiflora), sim rừng (Rhodamnia rubescens), khoai lang (Ipomoea batatas L Lamk.), khoai mì (Manihot esculenta Crantz), cà rốt (Daucus carota L.), cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.), và giá đậu xanh (Vigna radiata L R.).
The article discusses various fruits and vegetables, including pineapple (Ananas comosus L Merr.), watermelon (Citrullus lanatus Thunb Matsum & Nakai), water yam (Pachyrhizus erosus L Urb.), pumpkin (Cucurbita moschata Duch ex Poiret), papaya (Carica papaya L.), and potato (Solanum tuberosum).
L.), khế (Averrhoa carambola L.), thanh long ruột trắng (Hylocereus undulatus Haw Britton ex Rose), Điều (Anacardium occidentale L.),… Các loài động vật nhông cát có thể sử dụng làm thức ăn như sâu bột (Tenebrio molitor), kiến (Formicidae), dế (Gryllulus chinensis), bọ cánh cứng (Melolonthinae sp.1), châu chấu (Acrididae), cào cào (Animalia),…
Tình hình nuôi nhông cát Leiolepis guttata tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận (2016), tỉnh có hơn 5.700 hộ nuôi nhông trên diện tích gần 100 ha, chủ yếu tại huyện Bắc Bình Nghề nuôi nhông cát phát triển mạnh mẽ nhờ tận dụng cồn và bãi cát, mặc dù huyện Bắc Bình có điều kiện khí hậu khô hạn, khắc nghiệt Hoạt động này không chỉ tạo ra nguồn thu nhập bổ sung cho người dân địa phương mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế của khu vực.
Tại xã Hòa Thắng, nhông cát Leiolepis guttata đã được thuần dưỡng từ môi trường tự nhiên và nuôi trong điều kiện bán hoang dã từ năm 2004, nhờ công của ông Dương Minh Công Mô hình nuôi nhông cát đã phát triển mạnh mẽ tại xã Hòa Thắng, giúp người dân tăng thu nhập trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của huyện Bắc Bình Đến năm 2013, huyện Bắc Bình đã có 665 ha diện tích nuôi dông với 402 hộ chăn nuôi, phân bố ở 14 xã và 2 thị trấn, bao gồm các địa phương như Phan Sơn, Phan Lâm, và Hòa Thắng.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
According to Theo Grismer and colleagues (2014), there are currently nine species within the sand lizard genus Leiolepis worldwide Among these, five species are bisexual, including Leiolepis belliana (Gray 1827), Leiolepis guttata (Cuvier 1829), Leiolepis ocellata (Peters, 1971), Leiolepis peguensis (Peters, 1971), and Leiolepis reevesii (Gray 1831), while the remaining four species are unisexual.
Leiolepis boehmei (Darevsky & Kupriyanova 1993); Leiolepis guentherpetersi
(Darevsky & Kupriyanova 1993); Leiolepis ngovantrii (Grismer & Grismer, 2010);
Leiolepis triploida (Peters, 1971) là một loài phân bố rộng rãi từ miền nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Thái Lan, kéo dài xuống bán đảo Malay và đến Pulau Bangka, Indonesia, dọc theo bờ biển phía đông Sumatra.
Nghiên cứu về loài nhông cát thuộc giống Leiolepis trên toàn cầu chủ yếu tập trung vào phân loại, đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố Bài viết sẽ lược khảo một số công trình nghiên cứu liên quan đến các loài nhông cát thuộc giống Leiolepis trên thế giới.
Pope (1935) đã phát triển một khóa phân loại để xác định các giống trong họ Agamidae tại Trung Quốc, bao gồm cả giống Leiolepis và loài Leiolepis belliana belliana Gray Loài này phân bố rộng rãi ở Đông Nam Á, từ Nam Miến Điện đến quần đảo Sumatra, và ở Trung Quốc, nó được tìm thấy tại Quảng Châu, Quảng Đông và Hải Nam.
Taylor (1963) cũng đã giới thiệu một số dẫn liệu về hình thái của Leiolepis belliana belliana trong công trình nghiên cứu ở Thái Lan và ghi nhận có 3 phân loài ở
Thái Lan là nơi phân bố của các loài thằn lằn Leiolepis belliana belliana Gray và Leiolepis belliana rubritaeriata Mertens ở khu vực phía Tây và Trung Bắc, trong khi Leiolepis belliana guttata Cuvier xuất hiện tại vùng Đông Bắc Thái Lan.
Varanya Aranyavalai (2003) đã mô tả Leiolepis spp tại Thái Lan, nổi bật với đặc điểm lưng có nhiều đốm lớn và nhỏ phân bố đều Vùng bên hông của loài này có các sọc màu tối, với sọc trắng hẹp, ngắn và dài ở con đực, hoặc màu nâu xám đồng nhất với các sọc màu nâu sậm hơn chạy song song với sọc sáng màu.
Peter Geissler và cộng sự (2011) đã mô tả hình thái của nhông cát Leiolepis guttata tại Mũi Né, Bình Thuận, với đặc điểm nổi bật là cổ và phần trước cơ thể nhông đực có màu nâu với đốm lớn màu hồng đỏ Phần sau lưng và đuôi có màu be với mạng lưới màu đen, viền bởi dải vây lưng màu hồng Sườn có màu đen hơi xanh với 7 thanh dọc, đôi khi bị gián đoạn, trong khi cổ bên có màu nâu đỏ với đốm trắng Chân trước có sọc ngang màu đen và trắng, còn chân sau có màu hồng với hoa văn màu đen có lưới.
Hình 2.1 Bản đồ phân bố 09 loài nhông cát thuộc giống Leiolepis
(Nguồn: Grismer và cộng sự, 2014) Lược khảo một số nghiên cứu ký sinh trùng trên các loài bò sát, thằn lằn trên thế giới có thể kể đến như:
Nghiên cứu của Simone và cộng sự (2009) chỉ ra rằng việc tiêu thụ sản phẩm từ thịt và trứng của bò sát, cả nuôi và hoang dã, có thể dẫn đến rủi ro sinh học Những rủi ro này bao gồm nhiễm trùng do vi khuẩn như Salmonella spp và Vibrio spp., nhiễm ký sinh trùng như Spirometra, Trichinella, Gnathostoma, pentastomids, cũng như nguy cơ nhiễm độc.
Fathy và cộng sự (2018) đã nghiên cứu loài Thelandros aegypti ký sinh trên thằn lằn đuôi gai Ai Cập, Uromastyx aegyptia, với 72% mẫu nghiên cứu (18/25) ghi nhận nhiễm ký sinh trùng Đặc điểm của loài này bao gồm miệng có 3 môi, đuôi con cái thu hẹp đột ngột sau hậu môn, con đực dài 3,0 mm (2,71-3,7) và rộng 0,24 mm (0,2-0,33) với 3 cặp gai nhú sau hậu môn, không có dây nối, và đuôi dẹp nhọn dài 0,052-0,072 mm Con cái có chiều dài 4,34 mm (3,32-4,73) và rộng 0,29 mm (0,24-0,39), trong khi trứng có hình dạng bầu dục, hơi dẹt, dài 65,4-79,2 µm và rộng 44,3-74 µm.
Hình 2.2 Ảnh chụp hiển vi Thelandros aegypti con cái (a), con đực (b), mặt cắt TS (c)
(Nguồn: Fathy và cộng sự, 2018)
Hassan và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng đường tiêu hóa trên 17 mẫu thằn lằn đá Laudakia nupta nupta (De Filippi, 1843) tại Iran, ghi nhận sự xuất hiện của 05 loài tuyến trùng, bao gồm 01 loài Parapharyngodon sp và 03 loài Thelandros spp.
01 loài Thubunea sp Đây là nghiên cứu ký sinh trùng đầu tiên trên loài thằn lằn đá Laudakia nupta nupta
Malgorzata và Rajmund (2015) đã tiến hành nghiên cứu về các loài ký sinh trùng trên 76 mẫu thằn lằn, 15 mẫu rùa và 10 mẫu rắn tại Ba Lan thông qua việc phân tích phân Kết quả cho thấy 63 mẫu (62,4%) có sự hiện diện của trứng ký sinh trùng và noãn nang, trong đó tế bào trứng của Isospora spp chiếm tỷ lệ từ 33-100% tùy thuộc vào loài bò sát, và trứng Oxyurids chiếm từ 10-70% Ngoài ra, noãn nang của Eimeria spp., Giardia intestinalis, cùng với trứng của Strongylus spp và Hymenolepis spp cũng được phát hiện Các tác giả nhận định rằng các loài bò sát thường xuyên bị nhiễm ký sinh trùng, trong đó một số loài có khả năng gây hại cho con người.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện Sau năm 1975, các hướng nghiên cứu chính tập trung vào khu hệ, phân loại, phân bố, địa động vật học, sinh học, sinh thái và bảo tồn.
Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, và Nguyễn Quảng Trường (2005) đã xác nhận rằng tại Việt Nam có 4 loài thuộc giống Leiolepis, bao gồm Leiolepis belliana, Leiolepis guttata, Leiolepis reevesii, và Leiolepis guentherpetersi Đến năm 2010, Ngô Văn Trí đã phát hiện thêm loài Leiolepis ngovantrii tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nâng tổng số loài nhông cát thuộc giống Leiolepis tại Việt Nam lên 5 loài.
Hình 2.3 05 loài nhông cát thuộc giống Leiolepis tại Việt Nam
Leiolepis belliana (a), Leiolepis guentherpetersi (b), Leiolepis reevesii (c), Leiolepis ngovantrii (d),Leiolepis guttata (e) (Nguồn: www.vncreatures.net)
Ngô Đắc Chứng và Nguyễn Thành Hưng (2008, 2009) đã nghiên cứu các đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản, hình thái và kiểu nhân của nhông cát Leiolepis guttata
(Cuvier, 1829) ở ven biển Quy Nhơn, tỉnh Bình Định a b c d e
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2019), thông tin về khu hệ ký sinh trùng ở các loài thằn lằn Việt Nam còn rất hạn chế, mặc dù có nhiều hoạt động nghiên cứu về khu hệ thằn lằn Hiện tại, chỉ có 10 loài thằn lằn được khảo sát về khu hệ ký sinh trùng, với 45 loài ký sinh được phát hiện, trong đó 80% (36 loài) được tìm thấy ở loài Thạch sùng.
Hemidactylus frenatus (Schlegel, 1836), Kỳ đà vân Varanus nebulosus (Gray, 1831) và
Kỳ đà hoa V salvator (Laurenti, 1768) là một loài thằn lằn phổ biến tại Việt Nam Nghiên cứu về ký sinh trùng ở thằn lằn Việt Nam đã bắt đầu từ hơn 50 năm trước, nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ điều tra và xác định thành phần loài trên hơn 10 loài khác nhau Hiện tại, vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu và mô tả về các loài ký sinh trùng gây bệnh.
Bảng 2.4 Thành phần loài thằn lằn được điều tra ký sinh trùng ở Việt Nam
STT Tên loài thằn lằn Số lượng mẫu Địa điểm Miền Bắc Miền Nam
III Họ thằn lằn bóng
5 Thằn lằn bóng đuôi dài
Calotes versicolor Không rõ Tây Ninh
(Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Ánh, 2019)
Tại Việt Nam, đã có 45 loài ký sinh trùng được công bố trên thằn lằn, bao gồm 11 loài sán dây (Cestoda), 12 loài sán lá (Trematoda), 18 loài giun tròn (Nematoda), 1 loài giun đầu gai (Acanthocephala) và 3 loài chân khớp (Pentastomida) (Nguyễn Thị Ngọc Ánh, 2019).
Nghiên cứu về tình hình nhiễm ký sinh trùng trên động vật nuôi đã được thực hiện bởi nhiều tác giả Điển hình, Nguyễn Hồ Bảo Trân và cộng sự (2015) đã tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng trên gà nuôi nhốt tại quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ Ngoài ra, Nguyễn Hữu Văn và cộng sự cũng đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu về kỹ thuật phòng và chữa bệnh cho tắc kè Gekko gecko trong điều kiện nuôi nhốt được thực hiện vào năm 2014 Năm 2016, Nguyễn Phi Bằng và cộng sự đã điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm giun sán trên chó nuôi tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Ngoài ra, Hà Duy Ngọ và cộng sự cũng đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ký sinh trên bộ cá vượt ở Vịnh vào năm 2011.
Hạ Long; Phan Địch Lân và cộng sự (2005) đã nghiên cứu và tổng hợp những bệnh giun tròn phổ biến trên động vật nuôi và các cách phòng trị
Tại tỉnh Bình Thuận, một số nghiên cứu đã được thực hiện trên loài nhông cát
Leiolepis guttata đã được thực hiện như sau:
Lương Thanh Sơn (2013) đã thực hiện nghiên cứu về mô hình nuôi dông sinh sản tại khu Lê, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, nhằm phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương Nghiên cứu này không chỉ góp phần phát triển nghề nuôi nhông cát mà còn giúp tăng thu nhập cho người dân trong khu vực.
Trần Tình và cộng sự (2014) đã phát triển hai mô hình chuồng nuôi nhông cát Leiolepis guttata, phù hợp với điều kiện nuôi và khả năng đầu tư tại huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Malaisse và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, thành phần thức ăn và vai trò của loài Leiolepis guttata trong các hệ sinh thái tự nhiên tại tỉnh Bình Thuận.
Rochette và cộng sự (2015) đã khảo sát tình hình nuôi nhông cát Leiolepis guttata tại huyện Bắc Bình, với việc nghiên cứu 40 trang trại ở nhiều xã để thu thập dữ liệu về lịch sử, quy mô, thực hành chăn nuôi, mô hình kinh tế thương mại và trữ lượng tự nhiên của loài này Nghiên cứu của Bui Thi Dung và cộng sự (2009) là nghiên cứu đầu tiên về ký sinh trùng trên giống Leiolepis tại Việt Nam, trong đó mô tả đặc điểm của Thelandros vietnamensis sp nov (Oxyuroidea, Pharyngodonidae) ký sinh trong ruột nhông cát Leiolepis reevesi tại Hà Tĩnh, với đặc điểm phân biệt là chiều dài gai sinh dục từ 485-536 µm ở con đực, dài hơn so với các loài khác.
Hình 2.4 Thelandros vietnamensis sp nov.: con cái (trên), con đực (dưới)
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào nhông cát Leiolepis guttata trưởng thành được nuôi trong điều kiện bán hoang dã tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Các loại ký sinh trùng được khảo sát bao gồm sán lá (Trematoda), sán dây (Cestoda), giun tròn (Nematoda) và giun đầu gai (Acanthocephala) Đối tượng khảo sát là những người chăn nuôi nhông cát tại địa phương này.
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 03/2020 đến tháng 09/2020.
Vật liệu nghiên cứu
- 40 nhông cát Leiolepis guttata trưởng thành trong điều kiện nuôi gồm: 20 nhông cát đực trưởng thành trọng lượng 250-300g/con và 20 nhông cát cái trưởng thành trọng lượng 100-150g/con (Hình 3.1);
- Dụng cụ giải phẫu hệ tiêu hóa nhông cát gồm: kéo, dao, khay inox, hộp đựng mẫu,… (Hình 3.2);
- Quan sát hệ thống tiêu hóa của nhông cát sau khi giải phẫu gồm: dạ dày, ruột non và ruột già (Hình 3.3)
Hình 3.1 Nhông cát Leiolepis guttata nghiên cứu
Hình 3.2 Dụng cụ thí nghiệm
Hình 3.3 Hệ thống tiêu hóa của nhông cát Leiolepis guttata
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu mẫu nhông cát
Mẫu nhông cát được nghiên cứu đã được thu thập từ các hộ dân chăn nuôi tại xã Hòa Thắng thông qua các phương pháp như đặt bẫy thòng lọng, bẫy lồng và giăng lưới.
40 mẫu nhông cát nghiên cứu bao gồm 20 nhông đực và 20 nhông cái có chiều dài thân và trọng lượng được mô tả trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Đặc điểm mẫu nhông cát nghiên cứu
Mẫu Chiều dài thân (mm) Trọng lượng (g)
Trung bình ± SD min-max Trung bình ± SD min-max
3.3.2 Phương pháp thu mẫu ký sinh trùng
Các mẫu nhông cát được giải phẫu theo phương pháp Sarpilo (1976) để tách các nội quan bên trong Sau khi giải phẫu, các nội quan được quan sát dưới kính lúp để thu thập mẫu ký sinh trùng Mẫu ký sinh trùng được xác định và phân loại tại chỗ, sau đó được tách riêng trong các đĩa petri chứa dung dịch nước muối sinh lý Các mẫu ký sinh trùng được chụp ảnh và dán nhãn với đầy đủ thông tin về tên vật chủ (Leiolepis guttata), cơ quan nhiễm, số lượng và loại ký sinh trùng, và được nhập dữ liệu vào phần mềm xử lý thống kê.
Hình 3.4 Mổ bụng nhông cát
Hình 3.5 Tách lấy nội tạng bên trong khoang bụng
Hình 3.6 Tách riêng dạ dày, ruột non, ruột già để kiểm tra ký sinh trùng 3.3.3 Phương pháp định loại ký sinh trùng
Theo Học viện Quân Y (2008), giun sán ký sinh được phân loại thành bốn nhóm chính: sán lá (Trematoda), sán dây (Cestoda), giun tròn (Nematoda) và giun đầu gai (Acanthocephala) Để định loại từng nhóm ký sinh trùng, cần dựa vào các đặc điểm hình thái cơ thể, cấu trúc và kích thước của các cơ quan sinh dục cũng như các cơ quan khác Cụ thể, sán lá được phân loại dựa vào hình thái cơ thể và vị trí sắp xếp của cơ quan sinh dục; sán dây dựa vào cấu trúc giác bám và sự phân đốt; giun tròn dựa vào cấu tạo miệng và gai giao phối; còn giun đầu gai dựa vào cấu trúc và kích thước của gai cũng như vị trí sắp xếp của các cơ quan sinh dục.
Khảo sát người chăn nuôi thông qua phiếu khảo sát đã được thiết kế để thu thập thông tin về quy trình chăn nuôi nhông cát, tình trạng nhiễm ký sinh trùng, và các biện pháp phòng trị hiện đang được áp dụng.
Căn cứ vào thời gian, kinh phí, số lượng hộ chăn nuôi nhông cát tại xã Hòa Thắng, quy mô mẫu khảo sát được xác định là 30 người
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi hoàn tất thu thập dữ liệu, các phiếu khảo sát sẽ được làm sạch bằng cách loại bỏ những bảng hỏi thiếu câu trả lời Tiếp theo, dữ liệu sẽ được nhập vào file Excel đã được thiết kế sẵn, và các công cụ thống kê cơ bản sẽ được sử dụng để kiểm tra, đảm bảo không có sai sót trong quá trình nhập dữ liệu.
Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát được tính theo công thức:
Tỷ lệ nhiễm (%) =Số mẫu nghiên cứu nhiễm ký sinh trùng
Cường độ nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát được tính theo công thức:
Cường độ nhiễm = Tổng số ký sinh trùng
Trong trường hợp nhiễm ký sinh trùng có kích thước nhỏ và không xác định chính xác số lượng cá thể, cường độ nhiễm được ước tính theo các mức độ sau: + (vài trùng/mẫu); ++ (10 đến vài chục trùng/mẫu); +++ (>100 trùng/mẫu); ++++ (rất nhiều trùng/mẫu) (Đỗ Thị Hòa, 1996).
Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của đề tài được thực hiện như sau:
Hình 3.7 Quy trình nghiên cứu 3.4.1 Xác định vấn đề nghiên cứu
Thực trạng nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát Leiolepis guttata chưa được nghiên cứu đầy đủ, ảnh hưởng đến hiệu quả hấp thụ thức ăn và sự phát triển của chúng, từ đó giảm hiệu quả kinh tế cho các hộ nuôi Hơn nữa, ký sinh trùng có khả năng lây nhiễm sang người trong quá trình chế biến nhông cát Do đó, nghiên cứu này nhằm làm rõ tình hình nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát Leiolepis guttata và đề xuất các biện pháp phòng, trị cho người nuôi tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
3.4.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Dựa trên các nghiên cứu về ký sinh trùng trên động vật của các tác giả trong và ngoài nước, đề tài này xây dựng phương pháp nghiên cứu và tra cứu phân loại ký sinh trùng trong quá trình thực nghiệm.
Xác định vấn đề nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thực nghiệm kiểm tra ký sinh trùng
Tổng hợp, phân tích dữ liệu định tính, thực nghiệm Đề xuất phòng, trị ký sinh trùng Đánh giá kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu định tính được thực hiện qua phiếu khảo sát với các câu hỏi đã được thiết kế sẵn, nhằm tìm hiểu quy trình chăn nuôi nhông cát tại xã Hòa Thắng và nhận thức của người dân về tình trạng nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát Đề tài đã thu thập 30 phiếu khảo sát từ 30 hộ nuôi nhông cát tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
3.4.4 Thực nghiệm kiểm tra ký sinh trùng
Quá trình thực nghiệm được tiến hành trên 40 nhông cát Leiolepis guttata, bao gồm 20 nhông đực và 20 nhông cái, được thu mua từ các hộ nuôi Nhông cát sẽ được giải phẫu để tách hệ thống tiêu hóa và kiểm tra tình trạng nhiễm ký sinh trùng, bao gồm các thông tin về cơ quan nhiễm, loại ký sinh trùng, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm.
3.4.5 Tổng hợp, phân tích dữ liệu định tính, thực nghiệm; Đề xuất phòng, trị ký sinh trùng
Kết quả nghiên cứu định tính và thực nghiệm sẽ được nhập vào phần mềm Excel để thống kê và phân tích các thông số nghiên cứu Dựa trên dữ liệu thu thập, đề tài đánh giá tình hình nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát tại xã Hòa Thắng Đồng thời, đề tài cũng đề xuất các biện pháp phòng và trị các loại ký sinh trùng phát hiện được, nhằm áp dụng vào quy trình nuôi nhông cát tại địa điểm nghiên cứu.
3.4.6 Đánh giá kết quả nghiên cứu
Dựa trên các kết quả nghiên cứu, bài viết đưa ra kết luận và khuyến nghị về tình hình nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát Leiolepis guttata tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN
Kết quả khảo sát người chăn nuôi nhông cát tại xã Hòa Thắng
4.1.1 Đặc điểm chuồng trại nuôi nhông cát
Kết quả khảo sát 30 hộ dân nuôi nhông cát tại xã Hòa Thắng, đặc điểm chuồng trại như sau:
Bảng 4.1 Đặc điểm chuồng trại nuôi nhông cát tại xã Hòa Thắng
STT Đặc điểm chuồng trại Đơn vị Trung bình ± SD (min - max)
2 Diện tích dành cho nhông cát trưởng thành % 85,8 ± 7,07 75 - 100
3 Diện tích dành cho nhông cát con % 14,2 ± 7,07 0 - 25
Ghi chú: tổng số mẫu khảo sát n = 30 mẫu
Các hộ nuôi nhông cát khảo sát có diện tích chuồng từ 200-2.500m², trong đó 85,8% diện tích dành cho nhông trưởng thành và 14,2% cho nhông con, nhằm ngăn chặn hiện tượng nhông trưởng thành ăn thịt nhông con Chuồng nuôi có chiều sâu từ 0,7-2m (trung bình 1,2 ± 0,32m) và chiều cao từ 1-1,5m (trung bình 1,11 ± 0,2m) Vật liệu làm chuồng chủ yếu là tôn (63,33%), gạch (3,33%) và kết hợp giữa gạch và tôn (33,33%) Do nhông cát có khả năng đào hang và leo trèo tốt, người nuôi thường cắm tôn xi măng sâu xuống đất và xây thêm tường phía trên, đồng thời sử dụng lưới để ngăn chặn nhông cát leo trèo và nhảy ra ngoài.
Theo Cao Tiến Trung (2009), hang nhông cát có 03 dạng đặc trưng: hang chỉ có
Hang nhông cát thường có một cửa chính và có thể có thêm cửa phụ, với chiều sâu từ 40 – 130 cm Để ngăn nhông đào hang ra ngoài khu vực chuồng nuôi, người nuôi thường cắm tôn tới độ sâu này.
Hình 4.1 Kết quả khảo sát vật liệu làm chuồng nuôi nhông cát
Hình 4 2 Hang nhông cái có 1 cửa chính
Tôn lượn sóng Gạch Kết hợp gạch và tôn
Hình 4.3 Hang nhông cát có 1 cửa chính và 1 cửa phụ
Hình 4.4 Hang nhông cát có 1 cửa chính và 2 cửa phụ
Kết cấu chuồng nuôi nhông cát chủ yếu nhằm tạo không gian sống tự nhiên cho chúng, với tỷ lệ thảm thực vật chiếm từ 10-30% diện tích Hầu hết chuồng không có thiết bị bổ sung, chỉ có một số cây nhỏ và bụi cỏ Chỉ có 6,67% chuồng được trang bị hệ thống tưới phun và 23,33% có máng ăn, uống Người nuôi thường cắt nhỏ thức ăn và rải trên mặt đất, điều này có thể tạo điều kiện cho ký sinh trùng xâm nhập vào hệ tiêu hóa của nhông cát.
Hình 4.5 Nhông cát ăn trong chuồng nuôi
(Nguồn: Nguyễn Thị Minh Phương, 2020)
Bảng 4.2 Cấu trúc bên trong chuồng nuôi nhông cát
STT Cấu trúc bên trong chuồng
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
3 Máng ăn và máng uống 7 23,33% 23 76,67%
4 Bẫy đánh bắt côn trùng 0 0% 30 100%
Ghi chú: tổng số mẫu khảo sát n = 30
4.1.2 Quy trình chăn nuôi nhông cát đang áp dụng
4.1.2.1 Tiêu chí chọn nhông cát giống
Người nuôi tại xã Hòa Thắng lựa chọn nhông cát giống dựa vào các tiêu chí chính như giống dông khu Lê, kích thước lớn, và màu sắc đỏ đặc trưng Họ thường chọn con cái nhiều hơn con đực, với tỷ lệ con đực chỉ chiếm khoảng 20-30% Tuy nhiên, một số người nuôi lại không áp dụng tiêu chí chọn giống cụ thể khi thả giống từ nhông con, dẫn đến việc chưa phân biệt được con đực và con cái.
Theo khảo sát, 93,33% hộ nuôi bổ sung con giống hàng năm, chủ yếu là thu mua nhông cát từ tự nhiên, hay còn gọi là dông rừng Trong quá trình nuôi, tỷ lệ nhông đực trong chuồng thường được giữ từ 10-40%, và rất ít người dân chú ý đến tỷ lệ đực-cái Tỷ lệ nhông đực thấp hơn nhông cái do một con đực có thể giao phối với nhiều con cái trong mùa sinh sản.
Hình 4.6 Tỷ lệ nhông đực trong chuồng nuôi
Xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình, là nơi tiên phong trong việc nuôi nhông cát từ năm 2004 Người dân chủ yếu học hỏi kinh nghiệm nuôi nhông cát từ gia đình, bạn bè và hàng xóm, với 8/30 hộ học hỏi từ người thân và 22/30 hộ (73,33%) từ bạn bè, hàng xóm Đặc biệt, tỷ lệ người nuôi tham gia hội thảo và tập huấn kỹ thuật nuôi nhông cát cũng rất cao, đạt 73,33%.
Kết quả khảo sát cho thấy người nuôi nhông cát chủ yếu sử dụng thực vật làm thức ăn, với thành phần đa dạng như rau muống, rau muống biển và các loại rau, dưa hấu, thanh long, cà chua, dưa leo, giá đỗ được thu mua từ chợ địa phương Ngoài thực vật, người nuôi cũng thỉnh thoảng bổ sung một số loại côn trùng như dế, sâu bột và mối.
Nhông cát có nhiều loại thức ăn thực vật phong phú, bao gồm rau muống (Ipomoea aquatica), rau muống biển (Ipomoea pes-caprae L.), trứng cá (Muntingia calabura) và khoai mì (Manihot esculenta Crantz).
Nhông cát tại Bình Thuận có thể sử dụng nhiều loại thức ăn động vật, bao gồm sâu bột (Tenebrio molitor) và dế (Gryllulus chinensis), theo nghiên cứu của Tran Tinh (2015).
Có 91 loài thực vật và 22 loài động vật được sử dụng làm thức ăn cho nhông cát Một số loài thực vật phổ biến bao gồm rau muống biển (Ipomoea pes-caprae L.), dây bình bát (Coccinia grandis L.), khoai lang (Ipomoea batatas L.), khoai mì (Manihot esculenta Crantz), cà rốt (Daucus carota L.), cà chua (Lycopersicum esculentum Mill.), giá đậu xanh (Vigna radiata L R Wilczek), thơm dứa (Ananas comosus L Merr.), dưa hấu (Citrullus lanatus Thunb Matsum & Nakai), sắn nước (Pachyrhizus erosus L Urb.), bí đỏ (Cucurbita moschata Duch ex Poiret), đu đủ (Carica papaya L.), khoai tây (Solanum tuberosum L.), khế (Averrhoa carambola L.), thanh long ruột trắng (Hylocereus undulatus Haw Britton ex Rose), và điều (Anacardium occidentale L.) Ngoài ra, sâu bột cũng là một loài động vật có thể được sử dụng làm thức ăn cho nhông cát.
(Tenebrio molitor), kiến (Formicidae), dế (Gryllulus chinensis), bọ cánh cứng (Melolonthinae sp.1), châu chấu (Acrididae), cào cào (Animalia),…
Người dân thu hoạch nhông cát từ tháng 3 đến tháng 9 bằng các loại bẫy như bẫy lưới, bẫy lồng và bẫy thòng lọng Trong mùa đông từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, nhông cát ít khi xuất hiện trên mặt đất, khiến việc thu hoạch trở nên khó khăn Theo khảo sát, trọng lượng trung bình của nhông đực là 270 ± 24,91g, trong khi nhông cái nặng khoảng 176,67 ± 20,9g.
4.1.2.4 Bệnh thường gặp trên nhông cát
Hình 4.9 Khảo sát tình trạng bệnh trên nhông cát
Kết quả khảo sát cho thấy, 60% người nuôi nhông cát (18/30) cho rằng nhông cát ít bị bệnh hoặc không bị bệnh, trong khi 40% (12/30) người nuôi đã liệt kê một số bệnh của nhông.
Lở miệng Mù mắt Sưng phù đầu, cổ
Sưng răng, rơi hết hàm
Tỷ lệ nhông mắc bệnh khá thấp, nhưng nhông cát vẫn có nguy cơ tử vong khi bệnh nặng Đáng chú ý, 100% người nuôi tham gia khảo sát chưa tìm hiểu cách điều trị và phòng ngừa bệnh cho nhông cát trong quá trình nuôi.
Trong khảo sát về tình trạng nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát, có 26,67% người nuôi (8/30) phát hiện ký sinh trùng trong hệ tiêu hóa của nhông cát khi chế biến thức ăn Tuy nhiên, 100% người nuôi chưa tìm hiểu về cách phòng và trị ký sinh trùng, cũng như không áp dụng biện pháp nào trong quá trình nuôi Điều này cho thấy sự thiếu quan tâm của người nuôi đối với tình trạng nhiễm ký sinh trùng, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nhông cát.
Kết quả khảo sát cho thấy tình trạng nhiễm ký sinh trùng chưa được quan tâm đúng mức Do đó, cần nghiên cứu cụ thể về tỷ lệ nhiễm, loại ký sinh trùng và cường độ nhiễm để đề xuất các biện pháp phòng ngừa và điều trị phù hợp.
Kết quả kiểm tra ký sinh trùng trong hệ tiêu hóa nhông cát
Kết quả thực nghiệm kiểm tra ký sinh trùng trên 40 mẫu nhông cát Leiolepis guttata (20 nhông đực, 20 nhông cái) tại xã Hòa Thắng như sau:
Thấy KST Không thấy KST
Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra ký sinh trùng trong hệ tiêu hóa nhông cát
STT Cơ quan nhiễm Loại ký sinh trùng Tỷ lệ nhiễm Đực Cái Chung
1 Ruột non Sán dây (Cestoda) 80% 85% 82,5%
2 Ruột già Giun tròn (Nematoda) 100% 100% 100%
Theo nghiên cứu tại bảng 4.3, tất cả 100% mẫu nhông cát đều nhiễm ký sinh trùng Cụ thể, 82,5% mẫu nhông cát nhiễm sán dây Cestoda tại ruột non, với 80% nhông đực và 85% nhông cái Ngoài ra, 100% mẫu nhông cát cũng nhiễm giun tròn Nematoda.
Hình 4.11 Sán dây Cestoda trong ruột non nhông cát Leiolepis guttata
Hình 4.12 Giun tròn Nematoda trong ruột già nhông cát Leiolepis guttata
Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng nhiễm ký sinh trùng trên nhông cát
Leiolepis guttata rất phổ biến tại xã Hòa Thắng, nhưng khảo sát cho thấy người nuôi không chú ý đến vấn đề ký sinh trùng của nhông cát, dẫn đến việc không áp dụng biện pháp phòng và trị trong quy trình chăn nuôi hiện tại.
Tình trạng ký sinh trùng ở nhông cát đang ở mức báo động khi 100% mẫu nghiên cứu đều bị nhiễm Tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng cao gây cản trở quá trình hấp thụ thức ăn, dẫn đến sự cạnh tranh dinh dưỡng Nếu tình trạng này kéo dài, nhông cát sẽ bị thiếu dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng của chúng.
4.2.1 Cường độ nhiễm ký sinh trùng tại ruột non
Hình 4.13 Ảnh chụp sán dây trong ruột non nhông cát Leiolepis guttata
Kết quả nghiên cứu ghi nhận 33/40 (82,5%) mẫu nghiên cứu nhiễm ký sinh trùng thuộc lớp sán dây (Cestoda) tại ruột non với cường độ nhiễm như sau:
- Cường độ nhiễm ký sinh trùng tại ruột non của nhông đực (n ):
- Cường độ nhiễm ký sinh trùng tại ruột non của nhông cái (n ):
- Cường độ nhiễm ký sinh trùng tại ruột non của 40 mẫu nghiên cứu:
(78+76)/40 = 3,85 ký sinh trùng/mẫu Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra ký sinh trùng tại ruột non nhông cát Leiolepis guttata
STT mẫu Số ký sinh trùng STT mẫu Số ký sinh trùng
Nhông đực Nhông cái STT mẫu Số ký sinh trùng STT mẫu Số ký sinh trùng
Kết quả nghiên cứu cho thấy 82,5% mẫu nhông cát bị nhiễm sán dây tại ruột non, với 33/40 mẫu dương tính Sán dây không chỉ ký sinh mà còn cạnh tranh dinh dưỡng, dẫn đến rối loạn tiêu hóa và chậm tăng trưởng trọng lượng ở nhông cát Nguyên nhân chính của tỷ lệ nhiễm cao này là do người dân tại xã Hòa Thắng chưa nhận thức rõ về vấn đề ký sinh trùng, dẫn đến việc không áp dụng biện pháp phòng ngừa và điều trị trong chăn nuôi.
Theo Richard (2016), sán dây trải qua ba giai đoạn: trứng, ấu trùng và sán dây trưởng thành Sán dây trưởng thành ký sinh trong ruột của động vật có vú, và một số loại sán dây như sán dây cá, bò, lợn được đặt tên theo vật chủ trung gian của chúng Khi con người tiêu thụ vật chủ trung gian, ký sinh trùng được giải phóng và phát triển thành sán dây trưởng thành, khởi động lại chu kỳ Sán dây trưởng thành thường gây ra các triệu chứng nhẹ như khó chịu ở bụng, tiêu chảy, giảm cân, thiếu vitamin B12 và thiếu máu cục bộ Ngược lại, ấu trùng có thể gây ra bệnh nghiêm trọng khi phát triển ở các cơ quan như não, gan, phổi, mắt, cơ và mô dưới da.
Sự hiện diện của sán dây trong ruột non của nhông cát cho thấy nguy cơ lây nhiễm sang người khi chế biến thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là khá cao Các phương pháp chế biến như phơi khô, hun khói và xử lý nhiệt dưới 57 độ C không hiệu quả trong việc ngăn ngừa nhiễm ký sinh trùng.
Hình 4.14 Cấu trúc tiêu biểu của một sán dây, dựa trên loài Taenia solium
4.2.2 Cường độ nhiễm ký sinh trùng tại ruột già
Nghiên cứu cho thấy 100% (40/40) mẫu đều nhiễm ký sinh trùng thuộc lớp giun tròn (Nematoda) tại ruột già, với số lượng lớn đến mức khó đếm chính xác Để đánh giá cường độ nhiễm ký sinh trùng, nghiên cứu áp dụng quy ước của Đỗ Thị Hòa (1996).
Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra ký sinh trùng tại ruột non nhông cát Leiolepis guttata
STT mẫu Số ký sinh trùng STT mẫu Số ký sinh trùng
Nhông đực Nhông cái STT mẫu Số ký sinh trùng STT mẫu Số ký sinh trùng
Ghi chú: + (vài trùng/mẫu); ++ (10 đến vài chục trùng/mẫu); +++ (>100 trùng/mẫu); ++++ (rất nhiều trùng/mẫu).
Hình 4.15 Ảnh chụp giun tròn trong ruột già nhông cát Leiolepis guttata
Kết quả nghiên cứu ghi nhận cường độ nhiễm giun tròn trong ruột già nhông cát
Leiolepis guttata cao, với số lượng trùng/mẫu lớn, khó xác định chính xác về số lượng
Nghiên cứu của Bui Thi Dung và cộng sự (2009) trên 20 nhông cát Leiolepis reevesi tại Hà Tĩnh đã phát hiện nhiễm giun tròn Nematoda thuộc loài Thelandros vietnamensis sp nov Các tác giả đã mô tả chi tiết đặc điểm cấu tạo của loài ký sinh trùng này Tuy nhiên, mục tiêu của đề tài hiện tại là xác định tình trạng nhiễm ký sinh trùng để đề xuất biện pháp phòng trị trong chăn nuôi, do đó không đi sâu vào đặc điểm hình thái của các loại ký sinh trùng Tình trạng nhiễm ký sinh trùng trên các loài nhông cát thuộc giống Leiolepis đã được ghi nhận tại nhiều địa phương khác trong nước, cho thấy việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp phòng, trị ký sinh trùng trong quy trình chăn nuôi nhông cát là rất cần thiết.
Theo Phan Địch Lân và cộng sự (2005), việc ứng dụng học thuyết Skrjabin trong phòng trị bệnh giun tròn bao gồm diệt giun trong cơ thể động vật để nâng cao sức khỏe và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường Các biện pháp như diệt trứng giun ở ngoại cảnh nhằm ngăn ngừa bệnh tật cho động vật, bao gồm xử lý phân và thực hiện chăn thả luân phiên, vệ sinh nơi uống nước Tuy nhiên, tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, việc diệt trứng giun ở ngoại cảnh gặp khó khăn do chuồng nuôi tạo môi trường sống giống như nhông cát tự nhiên, không thể dọn phân như các loại vật nuôi khác Do đó, biện pháp phòng trị ký sinh trùng hiệu quả nhất là sử dụng thuốc tẩy định kỳ dựa trên loại ký sinh trùng.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hưng và Nguyễn Hồ Bảo Trân (2014), thuốc Mebendazole với liều 30 mg/kg thể trọng có hiệu quả tẩy sạch giun tròn và sán dây 100% sau 7 ngày điều trị liên tục Trong khi đó, Albendazole cũng với liều 30 mg/kg thể trọng trong 7 ngày chỉ có hiệu quả tẩy trừ 100% trên sán dây nhưng không hiệu quả với giun tròn Albendazole được sử dụng rộng rãi để điều trị sán dây ở nhiều loài gia súc và gia cầm với hiệu quả cao, nhờ vào khả năng phá hủy lớp cơ, đặc biệt là lớp vỏ của sán dây, và tác động mạnh vào giai đoạn trưởng thành của chúng.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Văn và cộng sự (2014) về bệnh trên tắc kè
Tắc kè Gekko gecko (Linnaeus, 1758) trong điều kiện nuôi nhốt có thể bị nhiễm giun sán, dẫn đến tình trạng gầy yếu và bỏ ăn, ngay cả khi có thức ăn dư thừa Khi tắc kè chết, giun sán có thể được quan sát từ lỗ huyệt hoặc khi ấn nhẹ vào bụng Sự nhiễm giun sán không chỉ ảnh hưởng đến cá thể mà còn có thể lây lan trong chuồng, gây ra hiện tượng bỏ ăn đồng loạt và tử vong Nguyên nhân chính là do giun sán ký sinh trên thức ăn như gián và dế mèn, xâm nhập vào hệ tiêu hóa và gây thiếu hụt dinh dưỡng Để phòng bệnh, cần duy trì vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ và sử dụng vôi bột cùng dung dịch khử trùng để tiêu diệt vi khuẩn, nấm mốc và trùng ký sinh.
Bảng 4.6 Một số loại thuốc sử dụng tẩy trừ giun sán tham khảo
STT Loại thuốc Liều lượng (mg/kg cơ thể) Nguồn
Nguyễn Hữu Văn và cộng sự (2014)
STT Loại thuốc Liều lượng (mg/kg cơ thể) Nguồn
4 Mebendazole 30 Nguyễn Hữu Hưng và
Vấn đề phòng và trị ký sinh trùng trên nhông cát là rất quan trọng, do đó cần nghiên cứu thực nghiệm kỹ lưỡng về hiệu quả của các loại thuốc tẩy giun sán để đảm bảo hiệu quả trong chăn nuôi nhông cát.