1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình kinh tế lượng về quyết định chi tiêu của du khách nội địa tại điểm đến du lịch đảo phú quý bình thuận

118 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng Mô hình Kinh tế lượng về quyết định chi tiêu của du khách nội địa tại điểm đến du lịch đảo Phú Quý - Bình Thuận
Tác giả Đỗ Văn Vũ Vương
Người hướng dẫn TS. Đinh Kiệm
Trường học Trường Đại Học Phan Thiết
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Năm xuất bản 2020
Thành phố Bình Thuận
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu (12)
    • 1.1 Sự cần thiết của đề tài (12)
    • 1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài (14)
    • 1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (15)
      • 1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu (15)
      • 1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu (15)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (16)
      • 1.5.1 Nghiên cứu định lượng (16)
      • 1.5.2 Nghiên cứu định tính (17)
    • 1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (22)
    • 1.7 Bố cục của đề tài (22)
  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu (24)
    • 2.1 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan (24)
      • 2.1.1 Khái niệm về du lịch (24)
      • 2.1.2 Khái niệm khách du lịch nội địa (24)
      • 2.1.3 Khái niệm về điểm du lịch và điểm đến du lịch (25)
      • 2.1.4 Khái niệm tài nguyên du lịch (25)
      • 2.1.5 Khái niệm sản phẩm du lịch (26)
      • 2.1.6 Phân loại du lịch (26)
      • 2.1.7 Hành vi chi tiêu của khách du lịch (27)
      • 2.1.8 Quyết định mua của người tiêu dùng (29)
      • 2.1.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng (30)
      • 2.1.10 Quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách (35)
      • 2.1.11 Quyết định chi tiêu (35)
      • 2.1.12 Mô hình thuyết hành động hợp lý tra (theory of reasoned action) (37)
      • 2.1.13 Mô hình thuyết hành vi dự định tpb (theory of planned behavior) (37)
      • 2.1.14 Các nghiên cứu có liên quan (37)
    • 2.2 Mô hình nghiên cứu (39)
  • Chương 3: Thực trạng và phương pháp nghiên cứu (43)
    • 3.1 Khái quát về du lịch tỉnh Bình Thuận (43)
    • 3.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Phú Quý (45)
      • 3.2.1 Đặc điểm tự nhiên (45)
      • 3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội (50)
      • 3.2.3 Nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên (51)
      • 3.2.4 Nguồn tài nguyên du lịch nhân văn (53)
    • 3.3 Hiện trạng phát triển du lịch của phú quý (56)
      • 3.3.1 Thị trường khách du lịch (56)
      • 3.3.2 Tổng thu từ khách du lịch (57)
      • 3.3.5 Hệ thống sản phẩm du lịch (58)
    • 3.4 Phương pháp nghiên cứu và bảng hỏi khảo sát (60)
      • 3.4.1 Quy trình nghiên cứu (60)
      • 3.4.2 Phương pháp nghiên cứu (61)
  • Chương 4: Phân tích kết quả và kiểm định mô hình (63)
    • 4.1 Phân tích đánh giá thông tin khảo sát (63)
      • 4.1.1 Số lần dến phu quý – binh thuận (0)
      • 4.1.2 Đi Du lịch cùng với ai (65)
      • 4.1.3 Quy mô chuyến đi (66)
      • 4.1.4 Xuất xứ của du khách (66)
      • 4.1.5 Hình thức tổ chức chuyến đi (67)
      • 4.1.6 Mục đích của chuyến đi (67)
      • 4.1.7 Kết hợp viếng thăm (67)
      • 4.1.8 Thời gian lưu trú (68)
      • 4.1.9 Biết đến Phú Quý – Bình Thuận qua phương tiện thông tin đại chúng (68)
      • 4.1.10 Điều kiện thời tiết (69)
      • 4.1.11 Cảnh quan và môi trường (69)
      • 4.1.12 Nền văn hóa, cách sống và di sản địa phương (70)
      • 4.1.13 Tham gia các sự kiện chính trị - xã hội (70)
      • 4.1.14 Điểm du lịch biển đảo nổi tiếng (71)
      • 4.1.15 Giá cả phù hợp với chất lượng (71)
      • 4.1.16 Khả năng tiếp cận điểm đến (72)
      • 4.1.17 An toàn và an ninh trật tự (72)
      • 4.1.18 An toàn cá nhân (73)
      • 4.1.19 Sự thân thiện, mến khách của người dân (73)
      • 4.1.20 Các thức ăn và thức uống truyền thống (74)
      • 4.1.21 Các địa điểm di sản văn hóa, cảnh quan thiên nhiên (74)
      • 4.1.22 Những trung tâm để thăm viếng, mua sắm, vui chơi (75)
      • 4.1.23 Tổ chức những chuyến tham quan thuận lợi (75)
      • 4.1.24 Thời tiết trong vùng phù hợp cho hoạt động du lịch (76)
      • 4.1.25 Cơ sở lưu trú thuận lợi (76)
      • 4.1.26 Nhà hàng, quán ăn phục vụ đáp ứng yêu cầu ăn uống của du khách (77)
      • 4.1.27 Sự hỗ trợ của địa phương khi cần đến (77)
      • 4.1.28 Đánh giá sự đa dạng của sản phẩm du lịch tại địa phương (78)
      • 4.1.29 Đánh giá chất lượng dịch vụ (78)
      • 4.1.30 Sau chuyến đi sẽ giới thiệu cho bạn bè, người thân, đồng nghiệp đến phú quý du lịch (79)
      • 4.1.31 Quay lại Phú Quý (79)
      • 4.1.32 Chi tiêu trong thời gian du lịch tại Phú quý – Bình thuận (79)
      • 4.1.33 Mức thu nhập hàng tháng (80)
      • 4.1.34 Độ tuổi (80)
      • 4.1.35 Tình trạng hôn nhân (81)
      • 4.1.36 Giới tính (81)
      • 4.1.37 Nghề nghiệp (81)
      • 4.1.38 Trình độ học vấn (82)
    • 4.2 kết Quả ước lượng mô hình (82)
      • 4.2.3 Kiểm định mô hình nghiên cứu (83)
    • 4.3 Phân tích và thảo luận kết quả (86)
      • 4.3.1 Đặc điểm nhân khẩu học và quyết định chi tiêu của du khách (86)
      • 4.3.2 Đặc điểm chuyến đi và quyết định chi tiêu của du khách (87)
      • 4.3.3 Cảm nhận về sản phẩm dịch vụ du lịch và quyết định chi tiêu của du khách77 Chương 5: Kết luận và một số hàm ý quản trị (88)
    • 5.1 Kết luận (90)
    • 5.2 Hàm ý quản trị liên quan đến quyết định chi tiêu của du khách nội địa (91)
      • 5.2.1 Đầu tư và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ du lịch, chú trọng thu hút phân khúc du khách có mức chi tiêu cao (91)
      • 5.2.2 Cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch (92)
      • 5.2.3 Giải pháp về quảng bá và xúc tiến xây dựng thương hiệu du lịch (94)
    • 5.3 Hạn chế của đề tài (95)
    • 5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo (95)
  • tài liệu tham khảo (96)
  • Phụ lục (98)

Nội dung

Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Sự cần thiết của đề tài

Phú Quý, hay còn gọi là cù lao Thu hoặc cù lao Khoai Xứ, là một huyện đảo thuộc tỉnh Bình Thuận, có diện tích 1.791 ha và nằm cách thành phố Phan Thiết một khoảng xa.

Đảo Phú Quý, cách quần đảo Trường Sa 540 km về phía Đông và thành phố Cam Ranh 150 km về phía Tây Bắc, có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế và quốc phòng Nằm trên tuyến giao lưu giữa đất liền và Trường Sa, đảo cũng tiếp cận tuyến hàng hải quốc tế, đóng vai trò là căn cứ cho các đội tàu đánh bắt cá xa bờ Bên cạnh đó, Phú Quý còn là một khu du lịch lý tưởng của tỉnh Bình Thuận.

Phú Quý nổi bật với khí hậu trong lành và nhiều bãi biển hoang sơ như bãi vịnh Triều Dương, bãi Doi Dừa và bãi Nhỏ Gành Hang, đặc biệt là bãi vịnh Triều Dương với cát trắng mịn và nước biển trong xanh Nơi đây còn có nhiều danh lam thắng cảnh và các ngôi chùa, lăng miếu như Chùa Linh Quang, Vạn An Thạnh, Đền thờ Bà Chúa Ngọc và đình làng Triều Dương, cùng với các điểm tham quan nổi tiếng khác Du khách cũng có thể thưởng thức các món đặc sản như hải sâm, da cá mú bông, cua huỳnh đế và ốc vú nàng Với những tiềm năng này, Phú Quý hứa hẹn là điểm đến lý tưởng cho du lịch.

Theo Quy hoạch khu du lịch Phú Quý đến năm 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận nhấn mạnh rằng sự phát triển của Khu du lịch Phú Quý cần phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phú Quý cũng như Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh.

Bình Thuận hướng tới phát triển Khu du lịch Phú Quý thành khu du lịch cấp tỉnh đến năm 2030, khai thác hiệu quả tài nguyên sinh thái biển, văn hóa và con người địa phương để xây dựng thương hiệu du lịch đặc trưng Mục tiêu là biến Phú Quý thành điểm đến hấp dẫn, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, đặc biệt là du lịch biển đảo, nhằm nâng cao vị thế ngành du lịch tỉnh Bình Thuận Đồng thời, phát triển bền vững khu du lịch này cần gắn liền với bảo đảm quốc phòng - an ninh biển đảo, bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, chú trọng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước ngọt trên đảo.

Lượng khách du lịch và doanh thu từ du lịch tại huyện Phú Quý đã tăng nhanh trong những năm gần đây, với 16.600 lượt khách và doanh thu 41,5 tỷ đồng vào năm 2017, và 19.500 lượt khách cùng doanh thu 48,75 tỷ đồng vào năm 2018 Tuy nhiên, doanh thu hàng năm vẫn còn thấp so với tiềm năng du lịch của đảo Phú Quý Khách du lịch chủ yếu chi tiêu cho lưu trú và di chuyển, trong khi chi phí cho tham quan, giải trí và mua sắm còn hạn chế Họ không chỉ mong muốn thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên mà còn tìm kiếm các dịch vụ tốt nhất để phục hồi sức lao động Tuy nhiên, sự nghèo nàn trong các sản phẩm du lịch đã làm giảm sức hút của danh thắng và kéo theo mức chi tiêu của khách du lịch.

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu của du khách nội địa tại huyện đảo Phú Quý - Bình Thuận là cần thiết cho các công ty du lịch và cơ quan quản lý phát triển du lịch Việc này giúp thu hút khách, nâng cao mức chi tiêu, và khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch đặc sắc của khu vực Đồng thời, nó cũng đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, bảo vệ môi trường, tài nguyên du lịch, và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, hướng tới sự phát triển bền vững cho đảo Phú Quý và tỉnh Bình Thuận.

Xuất phát từ lý do đó, tôi đã quyết định chọn đề tài "Ứng dụng mô hình kinh tế lượng trong việc phân tích quyết định chi tiêu của du khách nội địa tại điểm đến du lịch đảo Phú Quý - Bình Thuận" cho luận văn tốt nghiệp của mình.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Để thực hiện hiệu quả đề tài "Ứng dụng mô hình kinh tế lượng về quyết định chi tiêu của du khách nội địa tại Điểm đến du lịch đảo Phú Quý - Bình Thuận", tác giả đã tiến hành nghiên cứu một số đề tài liên quan.

The study titled "Examining and Identifying the Determinants of Travel Expenditure Patterns" by Youcheng Wang, Paul Rompf, Denver Severt, and Nichakarn Peerapatdit (2006) explores the key factors influencing travel spending behaviors.

 Nghiên cứu “Đánh giá sự khác biệt và mối quan hệ giữa chất lượng, sự thỏa mãn và trung thành hành vi” của tác giả Svein Ottar Olsen (2002)

 Nghiên cứu “Các yếu tố quyết định Chi tiêu du lịch” (Determinants of Inbound Tourist Expenditures) của tác giả Choong-Ki Lee (1996)

 Nghiên cứu “Dự đoán ý định hành vi trong việc lựa chọn địa điểm du lịch” của tác giả Terry Lam, Cathy H.C.Hsu (2005)

 Nghiên cứu “Mô hình quyết định chi tiêu của du khách nội địa đến Nha Trang- Khánh Hòa” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Đào (2013)

Nghiên cứu "Mô hình nghiên cứu về quyết định chi tiêu của khách nội địa đến Mũi Né – Phan Thiết" của nhóm tác giả Đinh Kiệm và Đỗ Văn Phát (2017) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của du khách nội địa tại khu vực Mũi Né, Phan Thiết Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi tiêu dùng của khách du lịch, từ đó giúp các nhà quản lý và doanh nghiệp du lịch xây dựng chiến lược marketing hiệu quả hơn.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của du khách nội địa khi tham quan và nghỉ dưỡng tại đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận Nghiên cứu sẽ xây dựng mô hình kinh tế lượng để phân tích chi tiêu của khách du lịch nội địa, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khuyến khích du khách chi tiêu nhiều hơn và thu hút thêm du khách đến Bình Thuận, tăng cường số lượng và quy mô chuyến đi.

Mô hình kinh tế lượng được xây dựng nhằm nghiên cứu các yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của khách du lịch nội địa khi nghỉ dưỡng tại Phú Quý, Bình Thuận.

Phân tích và đo lường mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của khách du lịch nội địa khi tham quan và nghỉ dưỡng tại đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận là rất quan trọng Việc xác định những yếu tố này sẽ giúp hiểu rõ hơn về hành vi tiêu dùng của du khách và tối ưu hóa các chiến lược marketing cho ngành du lịch địa phương.

Đề xuất các giải pháp quản trị cho các công ty du lịch và cơ quan quản lý du lịch tại tỉnh Bình Thuận và huyện đảo Phú Quý nhằm xây dựng chính sách hiệu quả, thu hút du khách đến với Phú Quý.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của khách du lịch nội địa đối với du lịch Phú Quý - Bình Thuận bao gồm thu nhập cá nhân, sở thích du lịch, mức độ nhận thức về điểm đến, và các yếu tố xã hội như gia đình và bạn bè Những biến độc lập này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành quyết định chi tiêu của du khách, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch tại khu vực này.

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến quyết định chi tiêu của khách nội địa đối với du lịch Phú Quý - Bình Thuận?

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ các công ty du lịch, nhà hàng, khách sạn, Ban Quản lý khu du lịch Phú Quý, và lãnh đạo địa phương trong việc xây dựng các chính sách đầu tư và quản lý hiệu quả Mục tiêu là thu hút khách du lịch nội địa đến Phú Quý và Bình Thuận, từ đó nâng cao sự phát triển du lịch bền vững trong khu vực.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng khảo sát là du khách nội địa, bao gồm những người từ các tỉnh, thành phố khác đến tham quan và du lịch tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.

Đối tượng phân tích trong bài viết này là ứng dụng mô hình Kinh tế lượng để nghiên cứu quyết định chi tiêu của du khách nội địa tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.

 Về không gian: Nghiên cứu thực hiện tại các điểm có lượng khách tập trung lớn

(khu bến tàu cảng Phan Thiết-Phú Quý, địa bàn huyện đảo Phú Quý)

 Về thời gian: Tháng 4 năm 2019 đến tháng 9 năm 2019

 Về nội dung: Các yếu tố tác động đến quyết định chi tiêu của khách nội địa đối với du lịch Phú Quý Bình Thuận

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính, cụ thể như sau:

Nghiên cứu này được thực hiện chủ yếu tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, kết hợp với việc lấy mẫu thuận tiện tại Bến tàu Phan Thiết – Phú Quý.

Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng mô hình hồi quy đa bội dạng tuyến tính log-log để phân tích mức chi tiêu (Ln Expenditure) với 20 biến độc lập, bao gồm 1 biến định lượng (Ln income) và 19 biến định tính (biến giả).

Theo Fidell và Tabachnich (1998), cỡ mẫu trong nghiên cứu được xác định bằng công thức n = 8p + 50, trong đó p là số biến độc lập trong mô hình Số lượng mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu là 210 (với p) Để đảm bảo độ tin cậy cao cho tập dữ liệu sau khi loại bỏ các phiếu trả lời không hợp lệ, tác giả đã quyết định phát ra 300 phiếu khảo sát, bao gồm cả các phiếu không đạt yêu cầu.

Đối tượng của bài viết là du khách từ các tỉnh thành khác trên cả nước đã đến huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận để tham quan và chi tiêu trong chuyến du lịch của họ.

Mục tiêu của nghiên cứu định tính là xây dựng bảng hỏi phỏng vấn du khách nhằm thu thập cảm nhận và đánh giá về môi trường cũng như sản phẩm du lịch tại Phú Quý Kết quả từ nghiên cứu này sẽ là cơ sở để điều chỉnh và bổ sung thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của khách du lịch nội địa khi đến Phú Quý.

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp chuyên gia, bao gồm thảo luận tay đôi và thảo luận nhóm với 5 người, bao gồm các chuyên gia du lịch từ Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch tỉnh Bình Thuận cùng Trưởng phòng Nghiệp vụ Dựa trên thông tin thu thập được từ các cuộc thảo luận và các mô hình nghiên cứu trước đây, tác giả đã xây dựng bảng thang đo phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Phú Quý – Bình Thuận Sau khi thử nghiệm và thu thập ý kiến phản hồi, bảng hỏi đã được hiệu chỉnh và sẵn sàng cho nghiên cứu khảo sát chính thức Bảng câu hỏi thiết kế trong nghiên cứu sơ bộ là nền tảng cho nghiên cứu chính thức.

- Căn cứ từ thông tin của du khách ở phiếu kết quả khảo sát từ đó phân tích tổng hợp suy diễn thống kê

Dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Du lịch, Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch, Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Bình Thuận, Cục Thống kê, Phòng Văn xã huyện Phú Quý và UBND huyện Phú Quý sẽ được sử dụng để phân tích thống kê thực trạng du lịch tại huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, với trọng tâm là phân tích sâu về mức độ chi tiêu của khách nội địa.

 Mô hình hồi quy đa bội được trình bày dưới dạng đại số (log- log):

Hệ số chặn β₀ là hệ số tự do trong mô hình hồi quy, trong khi các hệ số hồi quy riêng β₁, β₂, , βₖ (với j = 1, k) đại diện cho ảnh hưởng của các biến độc lập Sai số ngẫu nhiên ui phản ánh sự biến động không thể giải thích trong mô hình.

Hệ số hồi quy \$\beta_j\$ thể hiện tác động riêng biệt của biến \$X_j\$ đến giá trị trung bình có điều kiện của \$Y_i\$ khi các biến độc lập khác được giữ nguyên.

 Mô hình hồi quy chứa biến định tính (biến giả - Dummy Variable):

Trong đó: Xi: là biến định lượng

Dji là biến định tính, là biến được mã hóa dưới dạng nhị nguyên (nhận giá trị 1 và

0) được định nghĩa: nếu có đặc điểm của i

Dji = 0 nếu không có đặc điểm i

 Các phép kiểm định mô hình a Kiểm định Wald:

Ho: β i = 0, với độ tin cậy (1-α) = 95 %

Với t kđ và tbảng = t /2 (n-k): n số quan sát, k: số biến

Nếu: tkd > tbảng => bác bỏ giả thiết Ho tức là: β i ≠ 0 nghĩa là biến liên quan Xj có ý nghĩa thống kê (biến tham gia phù hợp)

Khi giá trị \$|t_{kd}| \leq t_{bảng}\$, chúng ta chấp nhận giả thiết \$H_0\$, tức là \$\beta_i = 0\$, cho thấy biến \$X_j\$ không có ý nghĩa thống kê (biến tham gia phù hợp) Để kiểm định sự phù hợp của mô hình, chúng ta sử dụng kiểm định F.

Kiểm định giả thiết: Đặt cặp giả thuyết

Tính giá trị kiểm định F

Tra bảng để xác định giá trị tới hạn Fα,

So sánh F và Fα ,kết luận:

+ Nếu F > Fα : bác bỏ H0, tức là R 2 0 => mô hình hồi quy phù hợp

Nếu F ≤ Fα, ta chấp nhận giả thuyết H0, điều này có nghĩa là R² = 0, cho thấy mô hình hồi quy không phù hợp vì các biến độc lập không giải thích được biến Yj Để kiểm tra phần dư sai số của mô hình theo phân phối chuẩn, ta sử dụng kiểm định Jarque-Bera, thông qua kiểm định X².

Kiểm định giả thiết H0: ui có phân phối chuẩn, tiến hành như sau:

Với n là số quan sát

So sánh: Nếu JB > (2), Bác bỏ H0, ngược lại, chấp nhận H0 d Kiểm định phương sai phần dư thay đổi: (kiểm định White)

Giả sử ta xét hàm hồi quy ba biến:

(1) Ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính và từ đó thu được các phần dư ei Ước lượng mô hình hồi quy phụ như sau:

(2) Giả thiết hồi quy kiểm định white là

Tính toán trị thống kê nR 2 , trong đó n là cỡ mẫu và R 2 là hệ số xác định của mô hình hồi quy phụ (2)

Tra bảng phân phối Chi - bình phương, mức ý nghĩa α và bậc tự do là k (k là số tham số trong mô hình hồi quy phụ ở đây k = 5)

Nếu bác bỏ giả thiết H0, điều này cho thấy mô hình (1) có hiện tượng phương sai sai số thay đổi Ngược lại, nếu không bác bỏ H0, kết luận sẽ là không có hiện tượng phương sai thay đổi Kiểm định tương quan giữa các phần dư được thực hiện thông qua phương pháp Breusch – Godfrey (B - G).

Yt = 1 + 2Xt + ut (1) ut = 1ut-1 + 2ut-2 + … + put-p + vt

Chúng ta cần kiểm định giả thuyết H0: $\rho_1 = \rho_2 = \ldots = \rho_p = 0$, điều này có nghĩa là không có sự tự tương quan nào ở bất kỳ bậc nào từ bậc 1 đến bậc p trong các sai số của mô hình.

Phép kiểm định B-G gồm các bước:

+ Ước lượng (1) bằng OLS, tìm phần dư et

+ Dùng OLS để ước lượng mô hình et = 1 + 2Xt + 1et-1 + 2et-2 + … + pet-p + εt từ đây ta thu được R 2

Với n đủ lớn, (n-p)R 2 có phân phối xấp xỉ (p):

Nếu (n-p)R 2 > (p): Bác bỏ H0, nghĩa là có tự tương quan ít nhất ở một bậc nào đó

Nếu điều kiện \((n-p)R^2 \leq p\) được thỏa mãn, ta chấp nhận giả thuyết H0, tức là không có sự tự tương quan giữa các phần dư của mô hình Để kiểm tra tính chất đa cộng tuyến, ta sử dụng hệ số phương sai phóng đại (VIF - Variance Inflation Factor).

Xét mô hình hồi quy đa biến tổng quát (đa) có dạng như sau:

Y          Đối với hàm hồi quy 2 biến giải thích, VIF được định nghĩa như sau: j j R

  Ở đây R 2 j được tính từ hàm hồi quy quy phụ:

X i ki k i i ji x x x v x  1   2 2  3 3    (1) Đối với trường hợp tổng quát, có (k-1) biến giải thích thì:

R 2 j được tính từ hàm hồi quy phụ (1)

Giá trị R² trong hàm hồi quy của Xj theo (k-1) biến giải thích còn lại được ký hiệu là R²j Thông thường, nếu VIF lớn hơn 10, biến này được xem là có mối quan hệ cộng tuyến cao với ít nhất một trong các biến Xj còn lại.

Phép kiểm định được tiến hành cho lần lượt tất cả các biến Xj sau đó so sánh:

Nếu: VIF > 10 thì mô hình (1) xảy ra hiện tượng cộng tuyến

Tương tự xét lần lượt các VIFj cho các biến giải thích khác.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu này cung cấp những ý nghĩa thực tiễn quan trọng cho ngành du lịch huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận Dựa trên các tiềm năng đã được xác định, bài viết đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng du lịch của huyện đảo này.

Nghiên cứu này sẽ hỗ trợ chính quyền địa phương và các công ty lữ hành trong việc khai thác thế mạnh của khu vực, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường mức chi tiêu của khách du lịch.

Nghiên cứu này nhằm cung cấp những hàm ý quản trị cho chính quyền, doanh nghiệp du lịch và các cấp quản lý liên quan, giúp định hướng quảng bá và cải tiến chất lượng sản phẩm Mục tiêu là nâng cao mức chi tiêu của du khách tại các điểm du lịch.

Bố cục của đề tài

Luận văn nghiên cứu có kết cấu gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu;

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu;

Chương 3: Thực trạng và Phương pháp nghiên cứu;

Chương 4: Phân tích kết quả và kiểm định mô hình nghiên cứu;

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Ngoài ra, đề tài còn có danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đính kèm.

Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan

Theo Trần Đức Thanh (2006), du lịch ban đầu được hiểu là những chuyến đi xa khỏi nơi cư trú nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá thế giới xung quanh.

Thuật ngữ "du lịch" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, mang nghĩa là "đi một vòng", sau đó được Latinh hóa thành "tornus" và phát triển thành "tourisme" trong tiếng Pháp và "tourism" trong tiếng Anh Theo Robert Lanquar, từ "tourist" lần đầu xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 Trong tiếng Việt, "tourism" được dịch qua tiếng Hán, trong đó "du" có nghĩa là "đi chơi" và "lịch" có nghĩa là "từng trải" Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi "tourism" là "du lãm", mang ý nghĩa là "đi chơi để nâng cao nhận thức".

Tại Hội nghị Liên hiệp Quốc về du lịch diễn ra ở Roma, Italia từ ngày 21/8 đến 5/9/1963, các chuyên gia đã định nghĩa du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể bên ngoài nơi cư trú của họ, với mục đích hòa bình Nơi lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.

Theo Luật Du lịch năm 2017, du lịch được định nghĩa là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, với thời gian không quá một năm.

Trong suốt một năm liên tục, chúng tôi cam kết đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, cũng như tìm hiểu và khám phá tài nguyên du lịch, đồng thời kết hợp với các mục đích hợp pháp khác.

2.1.2 Khái niệm khách du lịch nội địa

Theo Trần Đức Thanh (2006), tại Hội nghị Liên hiệp Quốc về du lịch diễn ra ở Roma, Italia từ 21/8 đến 5/9/1963, đã thống nhất quan niệm về khách du lịch nội địa Định nghĩa này sau đó được Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) chính thức công nhận: "Khách du lịch nội địa là những người sống trong một quốc gia, không phân biệt quốc tịch, đi thăm một địa điểm khác không phải nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó, với thời gian ít nhất 24 giờ và không quá một năm, nhằm mục đích khác ngoài việc kiếm tiền tại nơi đến."

Theo Luật Du lịch năm 2017, khách du lịch nội địa được định nghĩa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam khi tham gia du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.

2.1.3 Khái niệm về điểm du lịch và điểm đến du lịch

Theo Luật Du lịch năm 2017, điểm du lịch được định nghĩa là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư và khai thác phục vụ khách du lịch Điểm đến du lịch là một khái niệm rộng, chỉ những địa điểm thu hút du khách nhờ vào sự đa dạng tài nguyên, chất lượng dịch vụ và các tiện nghi, hoạt động phong phú Các yếu tố sơ cấp như khí hậu, sinh thái và văn hóa kết hợp với các yếu tố thứ cấp như khách sạn, giao thông và khu vui chơi tạo nên một hệ thống điểm đến hấp dẫn Điểm đến có thể là các công viên chủ đề, câu lạc bộ khách sạn hoặc làng du lịch, phục vụ cho các chuyến đi ngắn hoặc dài ngày.

2.1.4 Khái niệm tài nguyên du lịch

Theo Luật Du lịch năm 2017, tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa, là nền tảng để phát triển sản phẩm du lịch, khu du lịch và điểm du lịch nhằm phục vụ nhu cầu du khách Tài nguyên du lịch được chia thành hai loại: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố như địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, sinh thái và cảnh quan thiên nhiên, tất cả đều có thể được khai thác để phục vụ cho ngành du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các yếu tố như truyền thống văn hóa, khảo cổ học, kiến trúc, di tích lịch sử - văn hóa, cùng với các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác, tất cả đều được khai thác nhằm phục vụ cho ngành du lịch.

2.1.5 Khái niệm sản phẩm du lịch

Theo Luật Du lịch năm 2017, sản phẩm du lịch được định nghĩa là tập hợp các dịch vụ được phát triển dựa trên việc khai thác giá trị tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.

Sản phẩm du lịch bao gồm cả hàng hóa cụ thể như phòng ngủ khách sạn, tiện nghi, thực phẩm và đồ uống, cũng như hàng hóa không cụ thể như điều kiện thiên nhiên tại điểm nghỉ dưỡng và chất lượng dịch vụ của các công ty vận chuyển hành khách Trong nhiều trường hợp, sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa các yếu tố cụ thể và không cụ thể.

Có thể phân chia loại hình du lịch theo các căn cứ như sau:

Du lịch nội địa đề cập đến hoạt động du lịch của cư dân trong nước khi họ rời khỏi nơi cư trú của mình để khám phá các địa điểm khác trong nước.

Du lịch có thể được phân loại theo thời gian, bao gồm du lịch ngắn ngày và du lịch dài ngày Du lịch ngắn ngày thường diễn ra vào cuối tuần, kéo dài từ 1 đến 2 ngày, và thường chỉ đến những điểm du lịch gần nơi cư trú Ngược lại, du lịch dài ngày là những chuyến đi kéo dài từ một đến vài tuần, thường hướng đến những điểm du lịch xa hơn.

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên các nghiên cứu về quyết định chi tiêu và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của khách du lịch, tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu mới Mô hình này không chỉ kế thừa các lý thuyết và mô hình đã được tham khảo mà còn bổ sung thêm yếu tố khách du lịch đến từ các tỉnh Nam bộ khi đi du lịch tại Phú Quý.

Hình 2.3 Sơ đồ về các yếu tố liên quan làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu

* Mô hình phân tích hồi quy:

Mô hình kinh tế lượng sẽ sử dụng các biến định lượng được biểu diễn dưới dạng số lượng, trong khi các biến chất lượng sẽ được thể hiện qua biến giả (biến Dummy) Tác giả trình bày mô hình nghiên cứu dưới dạng hàm hồi quy log-log.

Ln(Chitieu i ) = β 0 + β 1 Ln(Thunhap i ) + β 2 Tuoi1 i + β 3 Tuoi2 i + β 4 Gioi i + β 5 Honnhan i + β 6 Hocvan1 i + β 7 Hocvan2 i + β 8 Job1 i + β 9 Job2 i + β 10 Luutru1 i + β 11 Luutru2 i + β 12 Landen i + β 13 Dicung 1 + β 14 Kethop 1 + β 15 Tour i + β 16 Sanpham1 i + β 17 Sanpham2 i + β 18 Dichvu1 i + β 19 Dichvu2 i + β 20 Xuatxu i + ui (1)

Biến mục tiêu Ln(Chitieu) i đại diện cho logarit tự nhiên của mức chi tiêu bình quân hàng ngày của du khách tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, với sai số ngẫu nhiên u i tuân theo phân phối chuẩn N(0,δ 2 ).

- Hôn Nhân ĐẶC ĐIỂM CHUYẾN ĐI

- Số ngày lưu trú - Số lần đến du lịch

- Người đi cùng - Kết hợp các điểm đến

CẢM NHẬN CỦA DU KHÁCH

- Về sự đa dạng của sản phẩm du lịch

- Về chất lượng của sản phẩm du lịch

QUYẾT ĐỊNH CHI TIÊU CỦA

Các biến độc lập được định nghĩa như sau:

Mô tả và mã hóa các biến độc lập:

* Tổ chức phân tầng theo giá trị hoặc cấp độ đặc trưng của các biến độc lập

+ Số lần đến Phú Quý: 3 mức: Lần đầu, lần thứ hai, từ 3 lần trở lên

+ Số người cùng tham gia chuyến đi: Có 4 nội dung: Đi một mình, đi cùng gia đình, đi với bạn bè và dạng khác

Du khách được phân chia theo 5 khu vực địa lý: các tỉnh miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, các tỉnh Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Hình thức tổ chức chuyến đi: Đăng ký theo tour lữ hành hoặc tự tổ chức + Kết hợp đi tham quan nơi khác ngoài Phú Quý: Có hoặc không

+ Thời gian lưu trú: Gồm 3 cấp: 1-2 ngày, 3 ngày, hơn 3 ngày

Đánh giá sự hài lòng về sự đa dạng và chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch được phân thành ba cấp độ: hài lòng, bình thường và không hài lòng.

+ Mức chi tiêu: Giá trị biến được chia làm 3 cấp độ: Dưới 2 triệu, từ 2-4 triệu và trên 4 triệu

+ Mức thu nhập: Giá trị biến chia làm 4 cấp độ: Dưới 5 triệu, từ 5-10 triệu, từ 10-20 triệu; trên 20 triệu

+ Tuổi: Có 3 cấp độ: Dưới 26 tuổi; từ 26-55 tuổi và trên 55 tuổi

+ Tình trạng hôn nhân: Đã lập gia đình và độc thân

+ Giới tính: Nam và nữ

+ Trình độ học vấn: Có 5 cấp độ: Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, trung cấp - cao đẳng, đại học, sau đại học

+ Nghề nghiệp: Chia 5 dạng: Học sinh - sinh viên, công chức - viên chức nhà nước, kinh doanh, nghỉ hưu và dạng khác

* Thiết lập các biến theo các tầng nấc dưới dạng biến giả (biến nhị nguyên có giá trị 0 và 1)

Biến nhân khẩu học được xác định qua thu nhập bình quân hàng tháng của du khách, được tính bằng logarit tự nhiên của thu nhập (Ln(Thunhap)) Các biến giả bao gồm độ tuổi, với Tuoi1 = 1 nếu du khách dưới 26 tuổi và 0 nếu không; Tuoi2 = 1 nếu du khách từ 26 đến 55 tuổi và 0 nếu không Giới tính được biểu thị qua Gioi = 1 nếu là nam và 0 nếu là nữ Tình trạng hôn nhân được xác định qua Honnhan = 1 nếu đã kết hôn và 0 nếu không Trình độ học vấn được phân loại với Hocvan1 = 1 nếu tốt nghiệp đại học và 0 nếu không; Hocvan2 = 1 nếu tốt nghiệp sau đại học và 0 nếu không Xuất xứ của du khách được thể hiện qua Xuatxu = 1 nếu đến từ Nam bộ và 0 nếu từ các tỉnh khác Cuối cùng, nghề nghiệp được phân loại với Job1 = 1 nếu là công viên-chức nhà nước và 0 nếu không; Job2 = 1 nếu là kinh doanh và 0 nếu không.

Biến đặc điểm chuyến đi bao gồm thời gian lưu trú, với Luutru1 i bằng 1 nếu chỉ ở lại 1-2 ngày và 0 nếu khác; Luutru2 i bằng 1 nếu lưu trú 3 ngày và 0 nếu không; và Landen i thể hiện số lần du lịch đến Phú Quý, với giá trị 1 nếu là lần đầu tiên và 0 nếu là lần thứ hai trở lên.

Dicung i thể hiện việc du khách có đi cùng người khác hay không, với giá trị 1 nếu đi một mình và 0 nếu có người đi cùng Kethop i chỉ ra việc kết hợp chuyến đi với các điểm đến khác ngoài Phú Quý, với giá trị 1 nếu có kết hợp và 0 nếu không Tour i xác định hình thức tổ chức chuyến đi, với giá trị 1 nếu du khách đăng ký theo tour và 0 nếu tự tổ chức chuyến đi.

Biến cảm nhận của du khách về sản phẩm và dịch vụ du lịch bao gồm các yếu tố như Sanpham1 i, thể hiện mức độ phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch, với giá trị 1 nếu bình thường và 0 nếu khác Sanpham2 i phản ánh sự hài lòng của du khách, cũng với giá trị 1 nếu hài lòng và 0 nếu không Bên cạnh đó, Dichvul i đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch, với 1 là bình thường và 0 là khác Cuối cùng, Dichvu2 i cho biết mức độ hài lòng về dịch vụ, với 1 là hài lòng và 0 là không hài lòng.

Thực trạng và phương pháp nghiên cứu

Khái quát về du lịch tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận là một địa phương quan trọng trong quy hoạch phát triển du lịch quốc gia Theo Quyết định số 1772/QĐ-TTg ngày 18/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ, Mũi Né và các khu vực lân cận đã được chọn làm khu vực ưu tiên phát triển du lịch của Việt Nam, với mục tiêu hoàn thiện quy hoạch đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

Khu du lịch quốc gia Mũi Né, tỉnh Bình Thuận, được thể hiện trong sơ đồ vị trí Hình 3.1, có vai trò quan trọng trong mối liên hệ du lịch quốc gia và vùng, theo quy hoạch tổng thể đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

(Nguồn: Theo Quyết định số 1772/QĐ-TTg ngày 18/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ)

Bản đồ hiện trạng phát triển du lịch khu du lịch quốc gia Mũi Né, tỉnh Bình Thuận, thể hiện mối liên hệ giữa du lịch quốc gia và vùng, theo quy hoạch tổng thể đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

(Nguồn: Theo Quyết định số 1772/QĐ-TTg ngày 18/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ)

Theo Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, năm 2018, tỉnh đã đón 5,8 triệu lượt khách, trong đó có 5,1 triệu lượt khách nội địa và 700 ngàn lượt khách quốc tế Doanh thu du lịch ước đạt 8,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,4% GRDP của tỉnh, cho thấy du lịch đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Bình Thuận.

Vào năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đã ban hành Kế hoạch số 785/KH-UBND nhằm thực hiện Quyết định số 1772/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Kế hoạch này đặt mục tiêu tăng số lượng du khách từ 5,8 triệu năm 2018 lên gần 12 triệu vào năm 2025, tương đương với mức tăng gần 100% Trong đó, dự kiến có 1,3 triệu lượt khách quốc tế, tăng 13%, và doanh thu du lịch sẽ đạt 23 nghìn tỷ đồng, tăng hơn so với trước.

Đến năm 2030, tỉnh Bình Thuận dự kiến sẽ đón gần 18 triệu lượt khách, trong đó có 2,5 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14% Doanh thu từ du lịch ước đạt 45 nghìn tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 260%.

Bình Thuận thu hút du khách với gió biển mát lạnh và 192 km bờ biển cát trắng tuyệt đẹp Tỉnh được xem là một trong những điểm đến có khí hậu lý tưởng cho du lịch, với nhiệt độ trung bình trên 25°C Du khách có thể tìm thấy nhiều cơ sở lưu trú giá cả hợp lý và nhà hàng phục vụ ẩm thực ngon Ngoài ra, Bình Thuận còn nổi tiếng với các môn thể thao biển như lướt ván diều và lướt ván buồm.

Du khách đến Bình Thuận hiện nay được chia thành ba phân khúc chính: (1) Du khách nội địa từ khu vực phía Nam, thường đến nghỉ cuối tuần và lễ với chi phí hợp lý; (2) Du khách quốc tế và nội địa từ các tỉnh phía Bắc, đi dọc theo bờ biển đến “Tam giác vàng” Đà Lạt, Phan Thiết và Thành phố Hồ Chí Minh; (3) Du khách quốc tế tham gia các môn thể thao biển.

Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Phú Quý

Phú Quý, hay còn gọi là cù lao Thu hoặc cù lao Khoai Xứ, là một huyện đảo thuộc tỉnh Bình Thuận, có diện tích 1.791 ha Huyện đảo này bao gồm 10 hòn đảo lớn nhỏ với quy mô và đặc điểm tự nhiên đa dạng Đặc biệt, đảo Phú Quý là hòn đảo chính trong khu vực này.

Cù Lao Thu là đảo lớn nhất, nơi tập trung dân cư và hoạt động kinh tế - xã hội của huyện Các đảo nhỏ khác chủ yếu là núi đá và có vai trò an ninh, như Hòn Hải xác định đường cơ sở lãnh hải quốc gia Địa hình đảo Phú Quý không bằng phẳng, với độ cao trung bình từ 15m đến 20m, có 3 ngọn núi chính: núi Cấm cao 108m và núi Cao Cát cao 85m ở phía Bắc, cùng các cồn cát phía Nam cao từ 35m đến 48m, trong đó núi ông Đụn cao 44,9m Núi Cấm là phao tiêu thiên nhiên quan trọng cho ngư dân Trung tâm đảo có dãy đồi lượn sóng, thuận lợi cho phát triển du lịch Tuy nhiên, địa hình không bị chia cắt bởi sông lớn, nhưng các cồn cát bị gió tác động mạnh, làm thu hẹp diện tích canh tác và ảnh hưởng đến giao thông Do đó, cần bố trí đất hợp lý để trồng rừng chắn gió, bảo vệ cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch.

Nằm giữa biển khơi nên Phú Quý chịu ảnh hưởng sâu sắc chế độ khí hậu của biển rất rõ rệt:

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 27 0 C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất

30 0 C (tháng 5), thấp nhất 24 0 C (tháng 12), biên độ nhiệt dao động trong năm không lớn (4 0 C), không có mùa đông lạnh

Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.200 mm, nhưng phân bố không đồng đều Mùa mưa diễn ra từ tháng 6 đến tháng 12, với tháng 10 có lượng mưa cao nhất lên tới 422,3 mm Ngược lại, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 5 năm sau chỉ có lượng mưa trung bình khoảng 18 mm mỗi tháng.

Gió trên đảo hoạt động gồm 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc từ tháng

Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tốc độ gió trung bình đạt 5 m/s, với tốc độ cực đại vào tháng 1 có thể lên tới 16 - 18 m/s Gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, với tốc độ trung bình từ 3,8 đến 4,7 m/s Vào buổi chiều từ 17 đến 20 giờ, thường xuất hiện giông và gió giật mạnh từ 14 đến 18 m/s, có lúc đạt 20 đến 22 m/s Những thời điểm có gió mùa và gió lớn thường tạo ra sóng lớn, ảnh hưởng đến hoạt động khai thác hải sản và giao thông của huyện đảo.

Vùng đảo Phú Quý thường chỉ trải qua mùa bão trong hai tháng 10 và 11, với tần suất bão thấp hơn so với các khu vực khác, chỉ khoảng 0,66 lần mỗi năm trong 60 năm qua.

Mặc dù đảo Phú Quý ít bị bão, nhưng thường xuyên chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, loại nhiễu động thời tiết mạnh mẽ trong khu vực Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra sóng lớn, mưa to và biển động mạnh, dẫn đến xói lở bờ biển và thay đổi đường bờ, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Khi áp thấp nhiệt đới kéo dài, nhiều tàu thuyền không thể ra khơi, gây bất lợi cho du lịch Độ ẩm không khí trung bình hàng năm dao động từ 83% đến 84%, với mức thấp nhất vào tháng 5 (79%) và cao nhất vào tháng 12 (89%), cho thấy không khí quanh năm thường khô.

Khí hậu đảo Phú Quý có đặc trưng đại dương với nắng nhiều, khô ráo và gió mạnh, tạo điều kiện lý tưởng cho các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển và lướt ván.

Bảng 3.1 Số liệu khí hậu huyện Phú Quý

(Nguồn: UBND huyện Phú Quý, 2018)

Toàn huyện đảo không có sông, suối hay kênh mương, nước mưa chảy theo các đường tụ thủy và thoát ra biển Với diện tích nhỏ và dòng chảy ngắn, nước thường hết ngay sau khi mưa tạnh do độ che phủ thấp.

Vùng biển Phú Quý có chế độ thủy triều hỗn hợp, chủ yếu là nhật triều, với biên độ dao động mực nước thường nhỏ hơn 2m Thủy triều tại đây có chu kỳ nửa ngày đêm (bán nhật triều) thường thấp hơn chu kỳ một ngày đêm (nhật triều), với khoảng 18 đến 20 ngày nhật triều trong tháng Do địa hình cao so với mực nước biển, thủy triều ít ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất trên đảo.

Đảo Phú Quý, với diện tích nhỏ và bao quanh bởi biển, đang đối mặt với tình trạng khan hiếm nước ngọt, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân Nguồn nước ngọt không chỉ là yếu tố sống còn cho sự phát triển kinh tế và xã hội mà còn là một trong những giới hạn chính đối với sự phát triển toàn diện của huyện đảo, bao gồm cả lĩnh vực du lịch.

Nguồn nước mặt trên đảo Phú Quý chủ yếu phụ thuộc vào việc tích trữ nước mưa qua lớp phủ thực vật, nhưng hiện tại không có sông, hồ hay ao chứa nước Phần lớn nước mưa thẩm thấu vào lòng đất không nhiều và chảy ra biển qua các dòng chảy mặt Nguồn sinh thủy bị ảnh hưởng bởi lượng mưa và độ che phủ của cây rừng Hiện nay, việc tích tụ nước mưa chủ yếu do các hộ gia đình tự thực hiện, với kết quả không đáng kể Để cải thiện nguồn nước mặt, cần xây dựng hồ chứa và trồng thêm cây rừng để giữ nước và giảm bốc hơi Đảo cũng đối mặt với nguy cơ xâm nhập nước mặn vào các tầng nước nông, gây khó khăn cho nguồn nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế, dân sinh và du lịch.

Nguồn nước ngầm là tài nguyên quý giá, đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất trên đảo Các bể chứa nước ngầm nằm dưới mặt đất có khả năng trữ nước mưa, đảm bảo nguồn cung cấp nước cho cư dân đảo.

Theo thống kê, huyện Phú Quý có diện tích đất lâm nghiệp là 124,73 ha, chiếm 6,96% tổng diện tích tự nhiên Mặc dù tài nguyên rừng không phong phú, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, bảo vệ đất đai, chống xói mòn và duy trì nguồn nước ngầm.

Huyện Phú Quý nằm trong khu vực biển có hai ngư trường lớn: ngư trường vùng thềm lục địa và ngư trường biển khơi Động, thực vật dưới biển phong phú với các loài như đồi mồi, tôm hùm, cua huỳnh đế, cua mặt trăng hoa đỏ nền vàng, ốc xà cừ ngọc nữ và bào ngư Những loài này không chỉ đa dạng về màu sắc mà còn được sử dụng để chế tác các mặt hàng mỹ nghệ hấp dẫn và có giá trị cao.

Biển Phú Quý nổi bật với sự phong phú về các loại đồn đột (hải sâm) như táo, gấm, huyết, mít, lựu, sâu chóc, hoa thơm, vú đen và vú trắng, hầu hết nằm cách bờ khoảng 1.000 m Bên cạnh đó, ven bờ biển còn có nhiều loại rong như rong đông sương, rong chân vịt, rong cổ ống, rong lá mơ, rong câu, rong câu chỉ, rong sa, rong sói (mức) và rong sà lách, được sử dụng để chế biến thành nhiều món ăn phục vụ cho con người.

Hiện trạng phát triển du lịch của phú quý

3.3.1 Thị trường khách du lịch

Năm 2017, đảo Phú Quý đón 16.600 lượt khách du lịch, và con số này đã tăng lên 19.500 lượt vào năm 2018 Sự gia tăng lượng khách du lịch trong những năm gần đây được thúc đẩy bởi chính sách hướng về biển đảo và các hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch hiệu quả Nguồn khách chủ yếu đến từ các tỉnh trong khu vực, bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Nam Bộ và miền Bắc.

Khách du lịch đến Phú Quý chủ yếu là người Việt Nam, trong khi khách quốc tế chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Mỗi năm, khoảng 100 - 200 Việt kiều trở về thăm quê hương Đặc biệt, giới trẻ chiếm khoảng 60 - 70% tổng số khách du lịch nội địa, thường tập trung vào các dịp lễ hội, ngày lễ, Tết, cũng như vào các ngày cuối tuần.

Trong những năm qua, lượng khách du lịch đến đảo Phú Quý không ổn định và mang tính tự phát, do nhiều nguyên nhân như cơ sở vật chất và hạ tầng còn hạn chế, phương tiện tiếp cận đảo khó khăn và đang được đầu tư Thêm vào đó, điều kiện khí hậu cũng ảnh hưởng đến việc thu hút du khách, trong khi công tác xúc tiến quảng bá du lịch vẫn còn nhiều hạn chế.

Lượng khách đến Phú Quý Ngàn lượt 2,2 4,2 7,05 16,6 19,5

Bảng 3.2 Thực trạng lượng khách du lịch đến huyện Phú Quý

(Nguồn: Uỷ ban nhân dân Phú Quý, 2018)

3.3.2 Tổng thu từ khách du lịch

Tổng thu từ khách du lịch huyện Phú Quý đã tăng trưởng rõ rệt qua các năm, mặc dù không đồng đều Cụ thể, năm 2017, tổng thu đạt 41,5 tỷ đồng, trong khi năm 2018, con số này đã tăng lên 48,75 tỷ đồng.

Doanh thu du lịch của Phú Quý Tỷ đồng 4,4 7,56 17,62 41,5 48,75

Bảng 3.3 Thực trạng doanh thu từ khách du lịch tại huyện Phú Quý

(Nguồn: Uỷ ban nhân dân Phú Quý, 2018)

3.3.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Hiện tại, huyện Phú Quý có 31 cơ sở dịch vụ lưu trú với tổng số 249 buồng, bao gồm 21 nhà nghỉ và 10 cơ sở lưu trú khác Mặc dù số lượng cơ sở lưu trú đã đáp ứng nhu cầu khách trong mùa thấp điểm, nhưng vào các dịp lễ, tình trạng thiếu buồng vẫn có thể xảy ra Đặc biệt, Phú Quý chưa có cơ sở lưu trú nào được xếp hạng để phục vụ khách du lịch có khả năng chi trả cao hoặc khách quốc tế, và chỉ có một số ít homestay quy mô nhỏ.

Huyện Phú Quý hiện có 13 cơ sở karaoke, trong đó có 10 cơ sở tại xã Tam Thanh, 3 cơ sở tại xã Long Hải

Huyện có 31 nhà hàng và 3 khu vui chơi giải trí, bao gồm Trung tâm văn hóa huyện Quý Thạnh (xã Ngũ Phụng), Khu vui chơi trẻ em Quang Linh (Mỹ Khê, xã Tam Thanh) và CLB Thiếu nhi tại Trung tâm văn hóa thông tin xã Long Hải.

Huyện Phú Quý hiện có 03 chợ đạt tiêu chuẩn cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, bao gồm chợ Tam Thanh, chợ Long Hải và chợ Ngũ Phụng, cùng với 01 chợ huyện Ngũ Phụng Ngoài ra, huyện còn có 04 cửa hàng xăng dầu trên đất liền và 05 tàu dầu trên biển, trong đó có 02 tàu phục vụ hậu cần nghề cá Huyện Phú Quý đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo Quyết định số 1916/QĐ-TTg ngày 05/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, với tiêu chí đạt chuẩn vào năm 2015.

3.3.4 Lao động ngành du lịch

Lao động du lịch tại huyện Phú Quý đã tăng trưởng rõ rệt qua các năm, với tốc độ bình quân đạt 10,74%/năm trong giai đoạn 2010 - 2017 Đến năm 2017, số lượng lao động du lịch đạt 621 người, gấp đôi so với năm 2010, chiếm 4% tổng lao động du lịch của tỉnh Bình Thuận Mặc dù nguồn nhân lực du lịch tương đối dồi dào, nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động vẫn còn thấp.

3.3.5 Hệ thống sản phẩm du lịch

Du lịch sinh thái biển: Ngắm các bãi san hô,…

Du lịch văn hóa và tâm linh ngày càng thu hút khách du lịch với nhiều điểm tham quan nổi bật như Chùa Linh Sơn, Chùa Linh Bửu, Di tích Lăng cô Mỹ Khê, và Đền thờ Bà Chúa Ngọc - Vạn Thương Hải, Vạn An Thạnh Những địa điểm này không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn đáp ứng nhu cầu khám phá văn hóa tâm linh của du khách.

Du lịch cộng đồng mang đến cho du khách cơ hội nghỉ ngơi tại nhà của người dân địa phương, đồng thời khám phá các lễ hội truyền thống đặc sắc của họ.

Du lịch tham quan: Tham quan các điểm du lịch như Hòn Tranh, Phong điện Phú Quý, Hải Đăng Phú Quý, Bãi Đá, Bãi Nhỏ…

Du lịch tắm biển tại Vịnh Triều Dương, Bãi Nhỏ Gành Hang,…

Du lịch trải nghiệm: Thăm quan và trải nghiệm làng nghề nuôi thủy hải sản tại Lạch Dù…

* Về dịch vụ du lịch:

Mới chỉ đáp ứng các loại dịch vụ cơ bản cho khách du lịch về chỗ ăn, chỗ ngủ, đi lại bằng tàu cao tốc, thuyền mủng, xe máy,…

Chưa có các dịch vụ vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch

Chưa hình thành các sản phẩm giá trị gia tăng khai thác từ tài nguyên

Sản phẩm hàng hóa trên đảo Phú Quý chủ yếu là nông sản và thủy sản, tuy nhiên, hiện tại chưa có các sản phẩm lưu niệm độc đáo nào gắn liền với địa phương này.

Không gian phát triển du lịch

Các điểm du lịch: Vịnh Triều Dương, Bãi Nhỏ - Gành Hang, Chùa Linh Sơn - Núi Cao Cát, Vạn An Thạnh, Vạn Liên Thành, Mộ Thầy,…

Các tuyến du lịch chính như: Chùa Linh Sơn - Núi Cao Cát - Hải Đăng Núi Cấm - Vịnh Triều Dương - Bãi Doi Dừa - Gành Hang - Bãi Nhỏ,…

Du lịch vẫn chưa được đầu tư đúng mức, vẫn chỉ ở mức tiềm năng với nhiều hạn chế như quy mô nhỏ lẻ và tính tự phát Việc khai thác du lịch còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.

Cơ sở vật chất du lịch chưa được đầu tư đầy đủ, dẫn đến chất lượng dịch vụ hạn chế Đặc biệt, cần phát triển phương tiện vận chuyển khách du lịch từ đất liền ra đảo, cùng với việc cải thiện cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống.

Hiện tại, đảo Phú Quý có hai dự án đầu tư du lịch Dự án đầu tiên là Nhà hàng Khách sạn Sài Gòn - Đảo của Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Sail Travel, đang trong quá trình xây dựng với diện tích 1,9 ha Dự án thứ hai, Khu du lịch sinh thái biển Long Vĩ của Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Long Vĩ, đã đi vào hoạt động và có diện tích 1 ha.

Sản phẩm du lịch hiện nay còn nghèo nàn, chủ yếu tập trung vào nghỉ dưỡng biển và tham quan di tích, danh thắng Nhiều nguồn tài nguyên du lịch chưa được đầu tư để phát triển thành sản phẩm có giá trị cao, đặc biệt là các giá trị văn hóa địa phương chưa được khai thác Hoạt động du lịch lữ hành phát triển chậm, trong khi các dịch vụ như y tế, vận tải và mua sắm cũng chưa đáp ứng nhu cầu Chưa có khu ẩm thực đặc trưng nào được hình thành, và chất lượng dịch vụ cũng như tính chuyên nghiệp trong ngành du lịch còn thấp Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, dẫn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch bị hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tính hiệu quả của ngành du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Phương pháp nghiên cứu và bảng hỏi khảo sát

Phân tích thống kê: Phân tích tính chất các biến tham gia, các hệ số hồi quy và phần dư được ước lượng trong mô hình

Phân tích hồi quy là quá trình kiểm định độ phù hợp và khả năng giải thích của mô hình, bao gồm việc đánh giá các hệ số hồi quy và kiểm tra các giả thuyết liên quan đến mô hình cùng với các nhân tố ảnh hưởng.

Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan

Xây dựng bảng hỏi tạm thời

Phỏng vấn nhóm Phỏng vấn chuyên gia

Phân tích thống kê, hồi quy

Lập mô hình Bảng hỏi chính thức

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố nhân khẩu học, đặc điểm chuyến đi và cảm nhận của du khách có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chi tiêu Kết luận này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các yếu tố này để xây dựng các chính sách và chiến lược quản trị hiệu quả, nhằm tối ưu hóa trải nghiệm du lịch và tăng cường sự hài lòng của khách hàng Đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp sẽ giúp cải thiện quyết định chi tiêu của du khách, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch.

Phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm cả định tính và định lượng Nghiên cứu bắt đầu bằng việc tham khảo các mô hình hiện có trong và ngoài nước, từ đó tổng hợp và phân tích lý thuyết về hành vi chi tiêu của khách du lịch nội địa tại một điểm đến, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức chi tiêu Dựa trên lý thuyết nền và các mô hình tham khảo, nhóm tác giả đã lập bảng hỏi sơ bộ và trao đổi với chuyên gia Sau khi thiết kế bảng câu hỏi khảo sát du khách, nhóm đã tiến hành phỏng vấn thử 20 du khách nội địa tại một số điểm du lịch ở khu vực Phú Quý-Bình Thuận Cuối cùng, bảng câu hỏi được xem xét và điều chỉnh để đảm bảo tính logic và bổ sung thông tin phản hồi từ quá trình khảo sát.

Bảng câu hỏi chính thức thu thập thông tin từ ba nhóm biến: biến nhân khẩu học, biến đặc điểm chuyến đi và biến cảm nhận của du khách về sản phẩm và dịch vụ Thông tin từ các bảng hỏi được mã hóa và phân nhóm để tạo ra các biến giả, trong đó biến mức chi tiêu và thu nhập bình quân của du khách được logarit hóa, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn cho mô hình hồi quy trong nghiên cứu theo Fredman.

Mô hình chi tiêu của khách du lịch nên sử dụng hàm tuyến tính log để phản ánh chính xác mối quan hệ giữa các biến Theo N Gujarati (2003), với dữ liệu có thang đo biến thiên lớn, các mô hình log-log, semi-log hoặc xử lý sai phân là phù hợp Mô hình hồi quy tuyến tính log giúp kiểm soát vấn đề dữ liệu không phân phối chuẩn và hiện tượng thay đổi phương sai (Heteroskedasticity) Nghiên cứu này sử dụng phép kiểm định Reset của Ramsey để kiểm tra sự phù hợp của mô hình tuyến tính log Hệ số góc β trong mô hình này biểu thị hệ số co giãn của biến phụ thuộc đối với biến độc lập, và hệ số này không thay đổi Ngoài ra, vấn đề đa cộng tuyến cũng được kiểm định do mô hình có nhiều biến độc lập Phân tích định lượng chủ yếu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 24.0 và Eviews 10.0.

Mô tả cách lấy mẫu:

Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được áp dụng cho khách du lịch nội địa tại huyện Đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, với các điểm khảo sát là nơi có lượng khách tập trung như Bến cảng Phú Quý-Phan Thiết, Bến cảng Phan Thiết-Phú Quý, đảo Hòn Tranh và núi Cấm Kích thước mẫu tối thiểu cho mô hình hồi quy bội là n = 8p + 50, trong đó p là số biến độc lập, dẫn đến yêu cầu tối thiểu là 210 mẫu cho nghiên cứu Để đảm bảo độ tin cậy cao hơn cho dữ liệu, kích thước mẫu ban đầu được chọn là 300 mẫu.

Phân tích kết quả và kiểm định mô hình

Ngày đăng: 27/07/2023, 23:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w