Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu và phân tích quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội (DNXH) nhằm đề xuất các giải pháp khả thi Qua đó, bài nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật đối với mô hình DNXH tại Việt Nam Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu cần giải quyết ba vấn đề chính.
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về DNXH;
Thứ hai, chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật về DNXH;
Thứ ba, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, thúc đẩy sự phát triển DNXH tại Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu
3.1 Các công trình nghiên cứu doanh nghiệp xã hội trong nước
Cho đến nay, đã có những công trình nghiên cứu hoạt động của DNXH như sau:
- Bài viết của đồng tác giả Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm với bài nghiên cứu “Doanh nghiệp xã hội tại Việt
Bài viết "Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách" được công bố năm 2012 tại Hà Nội, đã phân tích khái niệm và thực trạng của doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Việt Nam Từ những phân tích này, bài viết đưa ra các khuyến nghị và chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của DNXH trong nước.
Bài nghiên cứu đã phân tích các quan điểm khác nhau về khái niệm Doanh nghiệp xã hội (DNXH) từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước DNXH đã tồn tại trên thế giới từ lâu, nhưng tại Việt Nam, khái niệm này còn mới mẻ và được quy định tại điều 10 của Luật Doanh nghiệp 2014 Đây là loại hình doanh nghiệp được hình thành từ các sáng kiến xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể của cộng đồng, với sự dẫn dắt của người sáng lập DNXH.
DNXH có những đặc điểm cơ bản như hoạt động kinh doanh, đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu, tái phân phối lợi nhuận, sở hữu mang tính xã hội và phục vụ nhu cầu của nhóm đáy Bài viết cũng tập trung nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện DNXH tại Việt Nam, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm từ các nước có phong trào DNXH phát triển mạnh mẽ như Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Thái Lan và Singapore.
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thường Lạng với đề tài “Tiềm năng phát triển DNXH ở Việt Nam” được công bố năm 2012, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tại
Hà Nội Bài viết nêu bật vai trò của doanh nghiệp xã hội (DNXH) trong nền kinh tế thị trường và phân tích tiềm năng phát triển của DNXH tại Việt Nam Từ đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển DNXH phù hợp với sự biến đổi của nền kinh tế hiện đại.
Bài viết của tác giả Lê Nguyễn Đoan Khôi, mang tiêu đề “Giải pháp phát triển doanh nghiệp xã hội qua các trường Đại học tại Đồng Bằng Sông Cửu Long”, được công bố vào năm 2014 và đăng trên Tạp chí Khoa học số 31 Nội dung bài viết tập trung vào việc đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp xã hội thông qua sự hỗ trợ và hợp tác từ các trường đại học trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu và phân tích vấn đề giáo dục và phát triển doanh nghiệp xã hội (DNXH) Bài viết cũng đề xuất các định hướng nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy cho sinh viên, không chỉ tại Cần Thơ mà còn trên toàn quốc.
Bài viết của Phan Thị Thanh Thủy, mang tên “Hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam”, được công bố năm 2015 trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Tác giả phân tích các quan điểm và hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Anh, đồng thời so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa DNXH ở Việt Nam và Anh Qua đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình DNXH tại Việt Nam.
Bài viết của Phùng Thị Yến, mang tiêu đề “So sánh pháp luật về doanh nghiệp xã hội của Trung Quốc và Việt Nam - Một số kiến nghị hoàn thiện”, được công bố vào năm 2019 trên Tạp chí lý luận Chính trị số 8, phân tích sự khác biệt trong quy định pháp lý về doanh nghiệp xã hội giữa hai quốc gia và đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật này.
Bài viết năm 2019 tại Hà Nội phân tích pháp luật về doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho DNXH, từ đó thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này tại Việt Nam.
Bài viết của Đặng Thành Lê, mang mã số 130.3TrEM.32, với tiêu đề “Phát triển doanh nghiệp xã hội ở một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam”, được công bố năm 2019 trên Tạp chí khoa học thương mại số 130/2019 của trường Đại học Thương Mại, Hà Nội Bài viết này thống kê số lượng hoạt động của doanh nghiệp xã hội (DNXH) và nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của chúng trong việc giải quyết việc làm cho xã hội, từ đó đưa ra những giá trị tham khảo quan trọng cho Việt Nam.
Bài báo cáo của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) tại Việt Nam nghiên cứu hiện trạng doanh nghiệp xã hội, nhằm đánh giá và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này trong bối cảnh kinh tế hiện nay.
Báo cáo "Việt Nam" được công bố vào tháng 3 năm 2020 tại Hà Nội, đã tóm tắt quy mô và phạm vi hiện tại của doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Việt Nam Bài báo cũng phân tích thực trạng và bối cảnh tổng thể, từ đó đưa ra những khuyến nghị và chính sách nhằm phát triển DNXH trong tương lai.
Các nghiên cứu trong nước đã phân tích và giải quyết các vấn đề liên quan đến Doanh nghiệp xã hội (DNXH), nêu rõ các đặc trưng và quan điểm khác nhau về khái niệm DNXH, hiện đang gây tranh cãi và chưa thống nhất Những nghiên cứu này đã đưa ra các kinh nghiệm, giải pháp và chính sách nhằm hoàn thiện DNXH tại Việt Nam Tuy nhiên, các công trình vẫn chưa đạt được sự đồng nhất trong cách định nghĩa DNXH, đặc biệt là trước và sau khi Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, và vẫn còn thiếu các định hướng, giải pháp cụ thể cho DNXH hiện nay.
3.2 Các công trình nghiên cứu doanh nghiệp xã hội nước ngoài
- Defourny, J & Nyssens (2008), M (eds.), “Social Enterprise in Europe: Recent Trends and Developments”, Working Papers Series No 08/01,
University of Liège: EMES European Research Network
Bài nghiên cứu này được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu về doanh nghiệp xã hội tại Châu Âu, tổng hợp những diễn biến quan trọng trong quá trình phát triển doanh nghiệp xã hội ở khu vực này Nó cũng nêu rõ những khó khăn và thách thức mà các doanh nghiệp xã hội phải đối mặt Bên cạnh đó, nghiên cứu cung cấp cái nhìn chi tiết về xu hướng phát triển và các cuộc tranh luận liên quan đến doanh nghiệp xã hội tại các quốc gia trong cộng đồng Châu Âu như Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức và Anh.
- Antonella Noya, “Social enterprises: what can policies do to support them?”, Forum on Social innovations, OECD/LEED
Nghiên cứu của Antonella Noya trong Diễn đàn Đổi mới xã hội đã đưa ra
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế và môi trường, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng toàn diện và tăng cường sự gắn kết xã hội tại Châu Âu Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng cần hoàn thiện hệ thống chính sách để DNXH có nhiều cơ hội phát triển hơn, từ đó tối đa hóa những lợi ích mà nó mang lại.
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả dựa trên tổng hợp quy định từ Bộ luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014, Nghị định 78/2015/NĐ-CP và Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT, đồng thời áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Phương pháp phân tích: nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về DNXH, phân tích những bất cập để nêu giải pháp hoàn thiện;
Phương pháp so sánh là việc đối chiếu quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Việt Nam với các quy định tương tự ở một số quốc gia khác Đồng thời, phương pháp này cũng bao gồm việc so sánh các quy định về DNXH trong Luật Doanh nghiệp với các văn bản pháp luật khác liên quan.
Phương pháp điều tra, khảo sát:
Để đánh giá thực trạng các vấn đề xã hội và môi trường mà doanh nghiệp xã hội (DNXH) tác động tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu điều tra với các hộ dân ở các khu vực xã Tiến Thành, phường Phú Hài, phường Phú Thủy, phường Hàm Tiến và phường Mũi Né Kết quả từ cuộc khảo sát này sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp chính xác và phù hợp, nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về DNXH tại Việt Nam.
- Quan sát thực trạng hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường… cũng như hoạt động của các DNXH tại Việt Nam
- Thu thập phân tích số liệu thống kê, báo cáo sẵn có
Phương pháp tổng hợp được áp dụng để tổng hợp số liệu và kết quả phân tích, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc giải quyết những bất cập trong thực hiện mô hình doanh nghiệp xã hội (DNXH).
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thông qua việc nghiên cứu các điển hình về doanh nghiệp xã hội từ các bài viết trước đây giúp tác giả học hỏi và rút ra những bài học quý giá để hoàn thiện bản thân.
Đóng góp của nghiên cứu
Bài nghiên cứu của tác giả kế thừa những thành tựu lý luận và thực tiễn từ các công trình khoa học trước đây về doanh nghiệp xã hội, đồng thời đóng góp những khía cạnh lý luận và thực tiễn cụ thể.
Thứ nhất, bài nghiên cứu đã tìm hiểu, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của mô hình DNXH;
Bài nghiên cứu đã tiến hành phân tích và đánh giá pháp luật hiện hành, chỉ ra những điểm mới cũng như những bất hợp lý, từ đó đưa ra các nhận định hợp lý nhằm làm cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Thứ ba, bài nghiên cứu đã so sánh những quy định về DNXH của Việt Nam và quy định của một số nước trên thế giới;
Bài nghiên cứu đã đưa ra những nhận định quan trọng về việc áp dụng pháp luật liên quan đến doanh nghiệp xã hội (DNXH) trong thực tiễn, từ đó rút ra các kết luận và bài học quý giá nhằm phát triển DNXH tại Việt Nam hiện nay.
Thứ năm, bài nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật DNXH nhằm thúc đẩy sự phát triển DNXH tại Việt Nam.
Kết cấu nội dung bài nghiên cứu
Ngoài Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Phần mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, Kết luận, đề tài được cấu trúc thành 2 chương như sau:
Chương 1 : Tổng quan về doanh nghiệp xã hội
Chương 2 : Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
Khái quát chung về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam
Khái niệm doanh nghiệp xã hội
DNXH là một xu thế mới đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây tại Việt Nam Kể từ những năm 1990, một số mô hình DNXH như Trường Hoa Sữa và Nhà hàng KOTO đã xuất hiện, nhưng vẫn còn ở quy mô nhỏ và chưa thu hút được nhiều sự quan tâm từ các nhà đầu tư Sự thiếu tin tưởng và ủng hộ từ đối tượng phục vụ cũng là một rào cản lớn, do lo ngại về lợi ích mà DNXH mang lại.
Năm 2008, các doanh nghiệp xã hội (DNXH) đã phát triển mạnh mẽ thông qua sự liên kết chặt chẽ, hình thành một cộng đồng vững mạnh Họ nhận được sự hỗ trợ, vốn đầu tư và định hướng từ nhiều tổ chức uy tín như Hội Đồng Anh, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) và Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP).
Theo Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ cộng đồng (CSIP) của Việt Nam, DNXH là khái niệm chỉ hoạt động của các doanh nghiệp xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào mục đích và điều kiện cụ thể DNXH tập trung vào lợi ích xã hội như mục tiêu chính, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân để đạt được cả mục tiêu xã hội/môi trường và mục tiêu kinh tế.
Khái niệm về Doanh Nghiệp Xã Hội (DNXH) của CSIP rất rộng, giúp thúc đẩy sự phát triển của hệ thống DNXH còn non trẻ tại Việt Nam Từ định nghĩa này, có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật.
CSIP kết nối doanh nghiệp xã hội (DNXH) với doanh nhân xã hội (DNhXH) để nhấn mạnh vai trò quan trọng của người sáng lập, người mà có khả năng kết hợp hài hòa giữa sáng kiến xã hội và tinh thần doanh nhân.
Thứ hai, DNXH có thể đang hoặc sẽ hoạt động dưới nhiều hình thức tổ chức
1 Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, trang 6.
9 và địa vị pháp lý khác nhau, vốn phù hợp với thực trạng phong phú của khu vực
“xã hội dân sự” 2 ở Việt Nam
Tiêu chí chính để xác định DXNH là cần theo đuổi đồng thời cả mục tiêu xã hội/môi trường và mục tiêu kinh tế, trong đó mục tiêu xã hội/môi trường đóng vai trò chủ đạo.
Khái niệm Doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Việt Nam bắt đầu hình thành từ năm 2008, mặc dù một số DNXH đã xuất hiện từ những năm 1990 Đến năm 2014, DNXH lần đầu tiên được công nhận về mặt pháp lý trong Luật Doanh nghiệp 2014, cụ thể tại khoản 1 điều 10 Mô hình DNXH đã đạt được nhiều thành tựu và mang lại lợi ích đáng kể cho cộng đồng, với ba tiêu chí hoạt động cần được đảm bảo.
1 Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
2 Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề cộng đồng, môi trường vì lợi ích cộng đồng;
3 Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký 3
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) phải tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, bao gồm việc có tên riêng, tài sản độc lập và trụ sở giao dịch rõ ràng DNXH cần được đăng ký thành lập theo pháp luật với mục đích kinh doanh cụ thể và phải duy trì các tiêu chí hoạt động liên quan đến giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường Một số mục tiêu mà DNXH hướng đến bao gồm bảo vệ môi trường, cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch và xử lý rác thải vì lợi ích cộng đồng.
Xã hội dân sự là một môi trường trong đó các mối quan hệ giữa con người được xây dựng dựa trên tự do thảo luận, từ đó tạo ra sự đồng thuận về các vấn đề trong cuộc sống.
3 Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực 01/7/2015.
10 đáp ứng các quyền cơ bản của con người thông qua việc tạo ra công ăn việc làm cho các nhóm người khó hòa nhập và dễ bị tổn thương.
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) không phân chia lợi nhuận như các doanh nghiệp thông thường; thay vào đó, phần lớn lợi nhuận được tái đầu tư để giải quyết các vấn đề xã hội DNXH phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm cho mục tiêu xã hội và môi trường đã đăng ký, trong khi 49% còn lại không bị pháp luật quy định, cho phép công ty tự quyết định cách sử dụng Quy định 51% này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho DNXH.
Hành lang pháp lý điều chỉnh doanh nghiệp xã hội (DNXH) ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ, với Luật Doanh nghiệp năm 2014 không cung cấp định nghĩa cụ thể về DNXH, nhưng lại đưa ra các tiêu chí tại Điều 10.
Để xác định hoạt động của doanh nghiệp xã hội (DNXH) hiện nay, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về DNXH một cách chi tiết Điều này sẽ thúc đẩy sự quan tâm đầu tư từ các DNXH trong và ngoài nước.
Phân loại các doanh nghiệp xã hội
Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về phân loại các loại hình doanh nghiệp xã hội (DNXH) Tuy nhiên, thực tế cho thấy có một số dạng DNXH như: doanh nghiệp hoạt động xã hội phi lợi nhuận, doanh nghiệp hoạt động xã hội không vì lợi nhuận, và doanh nghiệp có định hướng xã hội nhưng vẫn có lợi nhuận.
Doanh nghiệp hoạt động xã hội phi lợi nhuận
Phi lợi nhuận là khái niệm không chỉ đơn thuần là việc chia sẻ lợi nhuận cho các cổ đông, mà là việc tái sử dụng lợi nhuận của tổ chức, doanh nghiệp cho các mục tiêu xã hội Những tổ chức, doanh nghiệp nào đáp ứng tiêu chí này sẽ được xem là doanh nghiệp hoạt động xã hội phi lợi nhuận.
Khái quát chung về doanh nghiệp xã hội trên thế giới
Khái niệm doanh nghiệp xã hội ở một số nước
DNXH mặc dù đã xuất hiện từ lâu, nhưng đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về loại hình doanh nghiệp này trên thế giới, cụ thể:
Tại Anh, theo Chiến lược phát triển Doanh nghiệp Xã hội (2002), Chính phủ định nghĩa Doanh nghiệp Xã hội (DNXH) là mô hình kinh doanh được thành lập với mục tiêu xã hội, sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho các mục tiêu xã hội hoặc cộng đồng, thay vì chỉ tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Theo khái niệm trên, DNXH có ba đặc điểm sau:
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) cần hoạt động kinh doanh để đảm bảo sự tồn tại và tạo ra lợi nhuận, giống như bất kỳ doanh nghiệp nào khác DNXH phải tham gia vào việc sản xuất và cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho thị trường, do đó cần có mô hình kinh doanh, mục tiêu, chiến lược và các giải pháp cụ thể Hơn nữa, DNXH cũng chịu ảnh hưởng bởi các quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu trong thị trường.
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) luôn lấy mục tiêu xã hội làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình Mục tiêu này không chỉ là sứ mệnh quan trọng mà còn là nền tảng trong quá trình hình thành và phát triển của DNXH Thực tế, DNXH được thành lập chủ yếu vì mục tiêu xã hội, và chính mục tiêu này ảnh hưởng đến hoạt động cũng như cách phân bổ lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận của doanh nghiệp xã hội (DNXH) chủ yếu được phân phối cho cộng đồng, nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội mà doanh nghiệp theo đuổi, thay vì tập trung vào việc chia sẻ lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Tại Italy, quốc gia tiên phong ở Châu Âu trong việc áp dụng mô hình pháp lý về doanh nghiệp xã hội (DNXH), Luật số 381 được ban hành vào năm 1991, đánh dấu sự ra đời của quy định về hợp tác xã xã hội Sau 14 năm, Điều 1 của Luật số 118, ban hành ngày 13/6/2005, đã tiếp tục củng cố khung pháp lý cho DNXH tại nước này.
12 Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và Chính sách, trang 4.
A social enterprise is defined as a private non-profit organization that primarily engages in economic activities related to the production or exchange of goods and services that provide social utility, with the aim of achieving common interest goals According to Decree No 155 dated March 24, 2006, a social enterprise operates in a stable and principled manner, focusing on economic activities that produce or exchange goods or services for social benefit, while pursuing objectives that serve the general interest.
Do đó, DNXH cần đáp ứng ba tiêu chí chính: là tổ chức tư nhân, hoạt động kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ mang lại tiện ích xã hội, và hoạt động vì lợi ích chung mà không vì mục đích lợi nhuận.
Ông Bambang Ismawan, người sáng lập Quỹ Bina Swadaya - một trong những tổ chức tín dụng vi mô lớn nhất Indonesia từ năm 1967, cho rằng "Doanh nghiệp xã hội (DNXH) là việc đạt được sự phát triển và mục tiêu xã hội thông qua các giải pháp kinh doanh."
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa doanh nghiệp xã hội (DNXH) là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau, kết hợp tinh thần doanh nhân để đạt được cả mục tiêu xã hội và kinh tế DNXH thường cung cấp dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành phố và nông thôn, đồng thời cung cấp các dịch vụ cộng đồng trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa và môi trường.
13 Article 1, Law No 118 of June 13th 2005 Italy (Điều 1 Luật số 118 ngày 13/6/2005 nước Italy)
14 Article 1, Legislative Decree No 155 of 24 March 2006 Italy (Nghị định 155 ngày 24/3/2006 nước Italy)
15 Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và Chính sách, trang 6
16 Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và Chính sách, trang 4.
Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu (2011), doanh nghiệp xã hội (DNXH) là một đơn vị trong nền kinh tế tập thể, với mục tiêu chính là tạo ra tác động xã hội thay vì lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp hoặc cổ đông DNXH theo đuổi cả mục tiêu xã hội và kinh tế, trong đó mục tiêu kinh tế vẫn là chủ đạo DNXH hoạt động không phân biệt khu vực địa lý hay ngành nghề, mà tập trung vào việc sử dụng ý tưởng của doanh nhân để phát triển bền vững xã hội, giúp đỡ cuộc sống và sự chủ động của tầng lớp đáy xã hội DNXH cung cấp sản phẩm và dịch vụ qua những cách kinh doanh sáng tạo, và sử dụng lợi nhuận để đạt được các mục tiêu xã hội, đồng thời được quản lý một cách mở và trách nhiệm, với sự tham gia của công nhân, người tiêu dùng và các bên liên quan.
Theo các cơ quan chính phủ ở châu Á: “DNXH là doanh nghiệp được thành lập nhằm tạo cơ hội đào tạo và việc làm cho các đối tượng yếu thế”
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) có nhiều định nghĩa và hình thức pháp lý khác nhau giữa các quốc gia Tuy nhiên, DNXH được hiểu chung là một doanh nghiệp, bất kể hình thức pháp lý, với sứ mệnh xã hội được thực hiện thông qua phương thức kinh doanh.
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) ở mỗi quốc gia và khu vực có định nghĩa khác nhau, nhưng điểm chung là không hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận DNXH được thành lập nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể, với phần lớn lợi nhuận được sử dụng để phục vụ cho mục tiêu xã hội DNXH vẫn là một mô hình kinh doanh sinh lợi, nhưng sứ mệnh xã hội được đặt ở vị trí trung tâm, trong đó lợi nhuận chỉ đóng vai trò hỗ trợ.
17 Antonella Noya, “Social enterprises: what can policies do to support them?”, Forum on Social innovations, OECD/LEED.
31 Đặc điểm về doanh nghiệp xã hội trên thế giới
Định nghĩa về Doanh Nghiệp Xã Hội (DNXH) rất đa dạng, phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và khu vực, cũng như đặc thù của từng tổ chức Tuy nhiên, có thể tổng hợp một số đặc điểm nổi bật của DNXH được công nhận như sau:
Thứ nhất, phải có hoạt động kinh doanh, cơ cấu tổ chức mang tính xã hội
Hoạt động kinh doanh và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp xã hội (DNXH) mang tính chất xã hội, tạo nên sự khác biệt và thế mạnh so với các tổ chức và loại hình doanh nghiệp khác DNXH không giống như các tổ chức phi chính phủ hay từ thiện, mà chủ yếu dựa vào tài trợ; thay vào đó, họ tạo ra nguồn thu nhập từ hoạt động kinh doanh để duy trì hoạt động Với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, DNXH gắn kết chặt chẽ với cộng đồng và các bên hưởng lợi, sẵn sàng chia sẻ quyền lực với tất cả các bên liên quan, thay vì chỉ dựa vào quyền bỏ phiếu theo vốn góp.
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) ưu tiên mục tiêu xã hội, điều này không chỉ là một thách thức lớn mà còn giúp DNXH có được vị thế nổi bật hơn so với các doanh nghiệp truyền thống.
Thứ hai, đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu, phục vụ nhu cầu cho nhóm đáy xã hội